1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị hóa học 11 nâng cao

12 648 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học sư phạm tp.hồ chí minh võ thị kiều hương Xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị hóa học 11 nâng cao chuyên ngành: lí luận và phương pháp dạy học môn hóa học

Trang 1

BO GIAO DUC VA DAO TAO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM TP HO CHi MINH

Võ Thị Kiều Hương

SU DUNG HINH VE, SO BO, BIEU BANG,

ĐÔ THỊ - HÓA HỌC II NÂNG CAO

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Hóa học

Mã số : 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LE PHI THUY

Thành phố Hồ Chí Minh — 2010

Trang 2

( LỜI CẢM ƠN

Lời đấu tiên tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trịnh Văn Biéu cing cdc thay cé khoa Hoá học trường Đại học Sự phạm thành pho Hồ Chỉ Minh và trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp tôi có thêm nhiễu kiến thức và kỹ năng sự phạm trong suốt khoá học

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học - trường Đại học Sư phạm thành pho Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiễn độ

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Phi Thúy - người đã hướng dẫn, dìu dắt, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thây cô giáo và các em học sinh các trường trung học phổ thông Trương Định, Chợ Gạo, Chuyên Tiên Giang và Trấn Văn Ơn — Bén Tre cùng các anh chị em đông nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình đã nhiệt tình động viên, giúp đỗ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tác giả

Võ Thị Kiều Hương

Trang 3

MO DAU

1 Li do chon dé tai

Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng Chính điều này đã đặt ra thách thức sống còn cho đất nước ta là làm thế nào tìm ra con đường đi sáng tạo để nhanh chóng hoà nhập cùng với khu vực và thế giới tiễn vào nền văn minh nhân loại?

Muốn vậy, trước hết cần phải có một nên giáo dục toàn diện và hiện đại đủ sức tạo ra chất lượng và hiệu quả thật sự trong sứ mệnh “nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và bồi dưỡng nhân

tài”

Do đó, ngành giáo dục nước nhà đã và đang từng bước đôi mới toàn diện để đào tạo những con người vừa “hồng” vừa “chuyên” đáp ứng nhu cầu xã hội

Nói riêng về hoá học — môn khoa học thực nghiệm — là môn học mà những con người “công nghiệp” trong tương lai cần phải vận dụng rất nhiều vào thực tiễn Vì thế, học sinh cần phải được rèn luyện kỹ năng thực hành, có vốn kiến thức sâu rộng về sản xuất hóa học ngay từ khi còn ngồi

trên ghế nhà trường phổ thông

Thế nhưng, vì lí do nào đó mà không phải lúc nào người thầy cũng dạy được cho các em theo

kiểu “học đi đôi với hành” Cho nên, những hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị sẽ là ngôn ngữ diễn tả

ngắn gọn nhưng rất hiệu quá bản chất của thực tiễn hóa học, để giúp học sinh gắn lí thuyết với thực

tiễn nhiều hơn

Tuy nhiên, những bài tập hóa học có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị trong chương trình hóa học phố thông hiện nay còn rất ít và cũng chưa được nhiều giáo viên sử dụng

Như vậy, vẫn đề là làm thế nào để học sinh sử dụng ngày càng nhiều và có hiệu quả những bài tập hóa học có hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị?

Với mong muốn cải thiện phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh nên chúng tôi đã chọn van đề “Xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng

hình vẽ, sơ đô, biểu bảng, đồ thị - hoá học L1 nâng cao” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiền cứu

Xây dựng hệ thống bài tập có sử đụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thê: quá trình dạy học hoá học ở trường trung học phô thông

- Đối tượng: bài tập hoá học 11 nang cao có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị

4 Phạm vỉ nghiên cứu

Bài tập hoá học l1 nâng cao chương “Nhóm mitơ” và “Nhóm cacbon”

Trang 4

5, Nhiém vu dé tai

- Tim hiéu hé thong lí luận về bài tập hoá học; phương tiện trực quan; bài tập có sử dụng hình vẽ,

sơ đồ, biéu bang, dé thi

- Phan tich hé thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị trong SGK, SBT trung học phổ thông

- Điều tra cơ bản tình hình sử dụng bài tập hoá học có hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị ở trường phô thông hiện nay

- Tuyến chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị chương “Nhóm mitơ” và “Nhóm cacbon” lớp I1 nâng cao

- Đề xuất việc sử dụng hệ thống bài tập có hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị trong dạy học hóa học

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập đã đề xuất

6 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng tốt các bài tập có hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị sẽ góp phần đa dạng hệ thống bài tập hóa học và nâng cao kết quả học tập cho học sinh

7 Điểm mới của đề tài

- Tuyển chọn và xây đựng hệ thống bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đỗ thi

chương “Nhóm nmitơ” và “Nhóm cacbon” - hoa hoc 11 nang cao

- Đề xuất phương thức sử đụng bài tập có hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị để nâng cao hiệu quá dạy học hóa học nói chung và hóa học I1 nói riêng

8 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: tra cứu các tài liệu sư phạm, các văn bản có liên quan đến

đề tài

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê toán học: xử lí kết quả thực nghiệm

Trang 5

Chirong 1

CO SO LI LUAN VA THUC TIEN CUA DE TAI

1.1 Tổng quan về vẫn đề nghiên cứu

Bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị hiện nay còn rất ít, nhất là bài tập về hình

vẽ và đồ thị Chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về máng bài tập này Chúng tôi xin giới thiệu

một vài công trình có liên quan đến đề tài như sau:

1.1.1 Các tài liệu đã xuất bản

e Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hóa học — tập 1- hóa học vô cơ - của tác giả Cao Cự Giác

(2009), NXB Giáo dục

Tác phẩm gồm 7 chương viết về các bài tập lí thuyết và thực nghiệm hóa học vô cơ Đáng chú ý là ở chương 7, tác giả đã viết về “Bài tập hóa học thực nghiệm có sử dụng các hình vẽ mô

phóng thí nghiệm ” O day, tác giả đã đưa ra 35 bài tập có sử dụng hình vẽ để giúp đọc giả thấy được

việc khai thác các bài tập hóa học có sử dụng hình vẽ mô phỏng thí nghiệm là việc rất cần thiết để rèn luyện kĩ năng thực hành và tăng cường tính thực tiễn của môn học

© Giúp trí nhớ chuỗi phản ứng hóa học — của tác giả Ngô Ngọc An (2008), NXB Dai học Sư phạm

Trong quyên sách này, tác giả đã đưa ra các sơ đồ phản ứng hóa học cả phần vô cơ lẫn hữu

cơ để giúp các em học sinh lớp 10, 11, 12 dễ hệ thống kiến thức và thấy được mối liên hệ giữa các

chất với nhau từ đó nhớ bài được lâu hơn

© On tập và hệ thông hóa nhanh giáo khoa hóa vô cơ — của tác giả Quan Hán Thành (2003),

NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Trong tác phẩm, tác giả chia theo từng vấn đề, mỗi vấn đề tác giá hệ thống hóa kiến thức sau

đó đưa ra các sơ đồ phản ứng hóa học để học sinh vận dụng, khắc sâu và hoàn thiện kiến thức đã

lĩnh hội

1.1.2 Luận văn thạc sĩ

Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện kiến thức — kĩ năng thí nghiệm trong chương trình hoá học 10 nâng cao cho học sinh theo hướng dạy học tích cực - của tác giả Đỗ Thị Bích

Ngọc (2009), trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

Trong luận văn này, tác giả đã nêu ra 5 biện pháp nâng cao chất lượng, kĩ năng thí nghiệm cho học sinh, trong đó có hai biện pháp đáng chú ý là:

- Sử dụng bài tập có hình vẽ, đô thị theo hướng phát huy tính tích cực cho HS;

- Sử dụng đề kiểm tra có hình vẽ, bài tập thực nghiệm và bài tập thực tiên để rèn luyện kĩ năng thi nghiệm cho học sinh

Trang 6

Với hai biện pháp này, tác giả đã đề xuất 34 bài tập và 10 đề kiểm tra có sử dụng hình vẽ, đồ thị thuộc chương trình hoá học lớp 10 nâng cao

1.1.3 Bài viết trên tạp chí Hoá học và ứng dụng

e Giải toán nhanh bằng phương pháp đồ thị - của tác giả Trần Thị Tố Quyên (số 8 (80)/2008), trang 9-10;

e Sứ dụng phương pháp kháo sát đỗ thị đễ nhấm nhanh kết quá trong bài tập trắc nghiệm - của

tác giá Từ Sỹ Chương (số 9 (81/2008), trang 3-4;

e Sử dụng đồ thị hàm số bậc nhất khi giải bài tập hóa học - của tác giả Trịnh Quang Cảnh (số 8 (116)/2010), trang 9-16

Các bài viết trên đã nêu lên phương pháp giải bằng đồ thị cho các dạng bài tập như: CO,/SO,

tác dụng với dung dịch Ca(OH);/Ba(OH);; muối Al”'/Zn”” tác dung với dung dich OH’; mudi

Cu” /Zn” tác dụng với dung dịch (khí NHạ); dung dịch HỶ tác đụng với muối AlO;/ZnO;”; dung

dịch H” tác dụng với phức chất [Cu(NH;)¿]”'/[Zn(NH;)„]””

Các tác giả trên đều có cùng mục đích chung là đưa ra phương pháp giải bằng đồ thị nhằm giải

nhanh một sỐ dạng bài tập, nhất là bài tập trắc nghiệm

e Một số sơ đồ phản ứng vui nhằm giúp học sinh củng cố - bố sung những kiến thức đã học - của tác giả Bùi Xuân Đông (số 3 (111)/2010), trang 22-24

Trong bài viết này, tác gia da dua ra 8 so đồ vui, lạ mắt về mối quan hệ của các loại hợp chất nhằm kích thích sự hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời giúp học sinh tiếp thu kiến thức thoải

mái hơn và dễ nhớ bài hơn

1.1.4 Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh

© Rèn luyện kỹ năng vẽ hình và sử dụng hình vẽ cho sinh viên khoa hoá trường Đựụi học Sư phạm - của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc (1998) - đã nêu một số nội dung đáng chú ý:

- Những ưu điểm của việc sử dụng hình vẽ trong dạy học;

- Một số biện pháp sử dụng hình vẽ trong dạy học hoá học: khi truyền thụ kiến thức mới, khi củng có kiến thức, kết hợp hình vẽ với lời giảng và thí nghiệm

© Siw dụng tranh ảnh, hình vẽ trong giảng dạy hoá học ở phố thông trung học - của tác giả

Nguyễn Thị Thuỳ Trang (2000) - có nêu lên một số điểm đáng chú ý:

- Lợi ích, vai trò của tranh ảnh, hình vẽ trong dạy học hóa học;

- Phạm vi và phương pháp sử dụng tranh ánh, hình vẽ để dạy học

e Sứ dụng sơ đô, bảng biểu và hình vẽ trong giải bài tập hoá học ở phố thông trung học - của tác giả Trương Đăng Thái (2001) - đã đề cập đến:

- Tác dụng của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ trong giải BTHH;

Trang 7

- Các loại bài tập có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ để giải cùng với phương pháp sử dụng chúng

Các khóa luận tốt nghiệp trên đã nêu lên vai trò, tác dụng, phạm vi và một số phương pháp sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, sơ dỗ, biểu bảng trong dạy học hóa học

Nhận xét chung:

Các tài liệu trên đã:

- Phần nào khái quát được vai trò, tắc dụng của hình vẽ, so đồ, biểu bảng, đồ thị;

- Đưa ra một số phương pháp sử dụng HV, SD, BB, DT trong day hoc hóa học;

- Giới thiệu một số BTHH có sử dụng HV, SD, BB, DT

Tuy nhiên, các tài liệu trên

- Chưa giới thiệu được nhiều bài tập, nhất là bài tập có sử dụng hình vẽ, đỗ thị hóa hoc 11;

- Chưa nêu lên tác dụng của bài tập có sử dụng HV, SÐ, BB, ĐT;

- Chưa đề xuất phương pháp sử dụng các bài tập có HV, SÐ, BB, ĐT trong dạy học hóa học Đây là những vấn đề chúng tôi sẽ nghiên cứu trong đề tài này

1.2 Phương tiện trực quan trong dạy học hoá học

1.2.1 Khái niệm

Phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất (sách vở, đồ dùng, máy móc, thiết bị, .)

dùng đề dạy học [5]

Phương tiện trực quan trong dạy học hóa học là những đối tượng vật chất bao gom moi dung

cụ, đồ dùng, thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình đạy học với tư cách là

mô hình đại diện cho sự vật, hiện tượng, là nguồn phát ra thông tin về sự vật hiện tượng đó, làm cơ

sở và tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh

1.2.2 Phần loại phương tiện trực quan [Š|

Tùy theo cơ sở mà có nhiều cách phân loại khác nhau, ở đây chúng tôi phân chia phương tiện trực quan trong nhà trường gồm ba nhóm:

1.2.2.1 Nhom thí nghiệm trong nhà trường

- Các thiết bị, đụng cụ thí nghiệm;

- Hóa chất;

- Kĩ thuật tiến hành thí nghiệm trong nhà trường

1.2.2.2 Nhóm đồ dùng trực quan

Bao gồm:

- Sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo:

+ Sách giáo khoa (dùng cho học sinh và giáo viên);

+ Sách giáo viên;

Trang 8

+ Sách tham khảo;

+ Sách tra cứu, các tài liệu hướng dẫn;

+ Tạp chí chuyên đề;

+ Sách báo các loại;

+ Thư viện điện tử;

+ Các thông tin trên mạng internet;

- Các đỗ dùng day hoc:

+ Bang các loại (bảng đen, bảng gấp, bảng di động, bảng nỉ, .);

+ Tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, bán đồ, đồ thị;

+ Mô hinh;

+ Mẫu vật

1.2.2.3 Nhóm phương tiện kỹ thuật

Bao gồm các máy dạy học và các phương tiện nghe nhìn:

- Máy chiếu hình và bản trong;

- Máy ghi âm;

- TIvI;

- Máy vi tinh;

- Máy ảnh;

- Video cassete;

- Camera;

1.2.3 Vai trò của phương tiện trực quan [22]

Phương tiện đạy học có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, nó thay thế cho những sự vật, hiện tượng, các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thê tiếp cận trực tiếp được Phương tiện dạy học giúp cho HS phát huy tối đa các giác quan trong quá trình tiếp thu kiến thức,

do đó HS dễ dàng tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Phương tiện trực quan trong dạy học hóa học có các vai trò quan trọng sau đây:

- Cung cấp cho học sinh các kiến thức một cách chắc chăn và chính xác giúp học sinh nhớ lâu hơn

- Giúp cho việc giảng dạy của GV trở nên cụ thể hơn, giúp HS dễ dàng tiếp thu sự vật, hiện tượng

và các quá trình phức tạp mà bình thường HS khó năm vững được

- Giúp GV tiết kiệm thời gian

- Giúp GV đỡ vắt vả (giảm khối lượng lớn công việc tay chân)

- Dễ dàng gây được cảm tình và sự chú ý của HS, giúp cho bài giảng hấp dẫn, HS hứng thú học tập

- Giúp cho lớp học sinh động

Trang 9

- Giúp GV có thê kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hình thành

kĩ năng, kĩ xảo của HS

1.2.4 Sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học hoá học [22]

Có ba nguyên tắc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học hóa học:

1.2.4.1 Su dung dung luc

- Trình bày phương tiện lúc cần thiết, lúc HS mong muốn nhất được quan sát, gợi nhớ trong trạng

thái tâm sinh lí thuận lợi nhất

- Theo đúng trình tự bài giảng, đúng nội dung và phương pháp dạy học

- Phân biệt thời điểm sử dụng của từng phương tiện dạy học

- Cân cân đối và bố trí lịch sử dụng phương tiện hợp lí, đúng lúc, thuận lợi nhằm tăng hiệu quả sử

dụng

1.2.4.2 Sử dụng đúng chỗ

- Tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trên lớp học hợp lí nhất, giúp HS có thể sử dụng nhiều giác

quan nhất đề tiếp xúc với phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp

- Tìm vị trí lắp đặt sao cho toàn lớp có thể quan sát rõ ràng

- Đảm bảo các yêu cầu về chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kĩ thuật khác

- Các phương tiện phải được giới thiệu ở vị trí an toàn cho cả GV và Hồ

- Đối với các phương tiện được lưu giữ tại nơi bảo quản, phải sắp xếp ngăn nắp, trật tự để khi cần

lây không mắt nhiêu thời gian và công sức

- Phải bố trí chỗ cất phương tiện dạy học tại lớp sau khi dùng để không phân tán tư tưởng HS

1.2.4.3 Sứ dụng ẩu cường độ

- Phù hợp nội dung và phương pháp giảng dạy, phù hợp trình độ tiếp thu và lứa tuổi HS

- Tùy từng loại phương tiện có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu kéo dài việc trình diễn phương tiện hoặc dùng lặp lại quá nhiều lần trong một buổi giảng, hiệu quả của chúng sẽ giảm sút

1.3 Bài tập hoá học

1.3.1 Khái niệm

Theo từ điển Tiếng Việt, bài tập là bài ra cho học sinh làm dé tập vận dụng những điều đã học

[60]

Theo Thái Duy Tuyên, bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học có một lời giải đáp mà lời giải đáp này

về toàn bộ hoặc từng phần không có sẵn ở thời điểm bài tập được đặt ra [57]

Bài tập hóa học là bài ra cho học sinh được giải quyết nhờ những suy luận lôgic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học 1.3.2 Phần loại bài tập hóa học [49]

Trang 10

1.3.2.1 Cơ sở phân loại

Có nhiều cơ sở để phân loại BTHH Có thể dựa vào các cơ sở sau:

- Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập: BT lí thuyết và BT thực nghiệm

- Dựa vào tính chất của BT: BT định tính và BT định lượng

- Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài: BT xác định công thức phân tử, tính thành phần phần trăm,

nhận biết, tách chất,

- Dựa vào nội dung: BT nồng độ, điện phân, ap suất,

- Dựa vào chức năng: BT kiểm tra sự hiểu và nhớ, BT đánh giá các khả năng vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, bài tập rèn luyện tư duy khoa học (phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, .)

- Dựa vào khối lượng kiến thức hay mức độ đơn giản, phức tạp của BT: BT cơ bản, BT tổng hợp

1.3.2.2 Phân loại chỉ tiết bài tập hóa học ở trường phổ thông

- Bài tập lí thuyết, định tính bao gồm:

+ Viết công thức electron, công thức cầu tạo, đồng phân,

+ Viết phương trình phản ứng biểu điễn dãy biến hóa của các chất

+ Bài tập bằng hình vẽ

+ Nhận biết hay phân biệt các chất

+ Tách các chất ra khỏi hỗn hợp

+ Điều chế một chất

+ Xác định cẫu tạo của một chất dựa vào tính chất của nó

+ Trình bày tính chất hóa học của một chất

+ Trình bày các định luật, học thuyết, các khái niệm HH cơ bản

- Bài tập lí thuyết định lượng hay bài tập tính toán:

+ Tính khối lượng phân tử của một chất

+ Tính theo công thức HH: tính tỉ lệ khối lượng giữa các nguyên tố, tính phần trăm khối lượng

các nguyên tố trong hợp chất, tính khối lượng nguyên tử của một nguyên tố,

+ Tính theo phương trình HH

+ Hoàn thành các phương trình phản ứng hạt nhân, tính chu kỳ bán hủy,

+ Tính lượng chất tan và lượng dung môi để pha chế một dung dịch

+ Xác định nguyên tố HH

+ Xác định công thức phân tử của hợp chất

+ Tính thành phần phần trăm về khối lượng hoặc thê tích của hỗn hợp

+ Tính tốc độ phản ứng hóa học

+ Tính độ điện li; hằng số axit, bazơ.

Ngày đăng: 17/03/2015, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w