1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu về hòa GIẢI TRONG tố TỤNG dân sự tại tòa án VIỆT NAM

59 2,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 896,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, theo tinh thần quy định của Điều 10 BLTTDS về hòa giải trong tố tụng dân sự, thì Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận

Trang 1

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chính phủ Việt Nam - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc Government of Viet Nam - United Nations Development Programme

“Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”

“Strengthening Access to Justice and Protection of Rights in Viet Nam”

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN LIÊN HỢP QUỐC

BÁO CÁO

“NGHIÊN CỨU VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM

Bản quyền của Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và vệ quyền tại Việt Nam

Những quan điểm trong Báo cáo này là quan điểm của tác giả và không phải là

quan điểm của Dự án hay của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)

Hà Nội - 2014

Trang 3

MỤC LỤC

I BỐI CẢNH 3

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN DỰ TẠI TÒA ÁN 6

2.1 Khái quát chung về hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án 6

2.2 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án 13

III THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM 23

3.1 Kết quả thi hành pháp luật hòa giải các vụ việc dân sự tại Tòa án

3.2 Những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành pháp luật hòa giải các vụ việc dân sự tại Tòa án 23

IV MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM 35

4.1 Thành lập bộ phận chuyên trách về hòa giải vụ việc dân sự 36

4.2 Hoàn thiện pháp luật về hòa giải vụ việc dân sự

4.3 Nâng cao trình độ, kỹ năng của người tiến hành hòa giải vụ việc dân sự 38

4.4 Đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phục vụ cho công tác hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án 39

4.5 Một số khuyến nghị khác 39

V KẾT LUẬN 40

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Phụ lục 1 Sơ lược quy định của một số nước trên thế giới về hòa giải tranh chấp dân sự tại Tòa án

Trang 4

Pháp luật tố tụng dân sự xác định hòa giải vừa là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng dân sự, vừa là thủ tục tố tụng mà Tòa án, các đương sự có trách nhiệm tiến hành khi giải quyết vụ việc dân sự Hòa giải tranh chấp tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới Bởi theo nguyên tắc “việc dân sự cốt ở đôi bên”, thì pháp luật luôn có xu hướng tạo điều kiện để các bên đương sự tự thương lượng, thỏa thuận giải quyết tranh chấp của mình Hòa giải tranh chấp tại Tòa án là một trong những chế định nhằm thực hiện nguyên tắc này Ở Việt Nam, trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, các bên vẫn có quyền quyết định và tự định đoạt việc giải quyết tranh chấp không trái pháp luật và đạo đức xã hội Cụ thể là:

Theo tinh thần quy định của khoản 2 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, thì trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Đồng thời, theo tinh thần quy định của Điều 10 BLTTDS về hòa giải trong tố tụng dân sự, thì Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này

Ngoài ra, tại điểm g khoản 2 Điều 58 BLTTDS quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, thì các đương sự có quyền và nghĩa vụ tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành

Tuy nhiên, thực tiễn công tác hòa giải tại Tòa án cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập liên quan đến chế định hòa giải như: quy định của pháp luật về hòa giải còn chưa đầy đủ, một số quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn, chưa khuyến khích các bên tham gia hòa giải; trình tự, thủ tục hòa giải còn chưa đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan; chưa quy định thủ

Trang 5

tục hòa giải đối với những vụ án dân sự có tính chất đặc thù như: tranh chấp về hôn nhân gia đình, tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh doanh thương mại, Do đó, dẫn đến nhiều vụ án không được Thẩm phán tổ chức tiến hành hòa giải theo đúng quy định của pháp luật và đã bị Tòa án cấp trên sửa, hủy bản án/quyết định; tỷ lệ vụ án phải đưa ra xét xử vẫn cao do tỷ lệ hòa giải thành thấp hoặc việc hòa giải được thực hiện không hiệu quả Vì vậy, thực tiễn đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về chế định hòa giải cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án

Hòa giải trong tố tụng dân sự là vấn đề hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý Cho đến nay đã có nhiều công trình mang dấu ấn của việc nghiên cứu về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự của các tác giả như: Bùi

Đăng Huy, “Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện”,

Luận án thạc sĩ luật học, Hà Nội – 1996; Vũ Mạnh Thông, Nguyễn Ngọc Điệp, Lê

Thị Kim Nga, “Tìm hiểu ngành luật tố tụng dân sự”, Nxb Mũi Cà Mau, 1999; TS Trần Văn Quảng, “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam –

cơ sở lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội – 2004; Ths Đức Thị

Hòa, “Các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2004 về hòa giải vụ việc

dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội – 2009 Đặc biệt ở Tòa án nhân dân tối

cao tính đến nay có hai công trình nghiên cứu liên quan gồm: Công trình nghiên

cứu khoa học cấp Bộ “Tòa án với việc giải quyết những vụ việc về hôn nhân và

gia đình – những tồn tại, vướng mắc và hướng hoàn thiện” do TS Đặng Quang

Phương là Chủ nhiệm đề tài, Tòa án nhân dân tối cao – 2001; Công trình nghiên

cứu khoa học cấp cơ sở “Thực tiễn thi hành chế định hòa giải trong quá trình giải

quyết vụ án dân sự - những tồn tại, vướng mắc và kiến nghị” do Cn Nguyễn Thị

Tú là Chủ nhiệm đề tài, Tòa án nhân dân tối cao – 2002;…

Qua nghiên cứu những công trình này, có thể nhận thấy, ít nhiều các tác giả

đã có những nghiên cứu và phân tích về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự hoặc về thực tiễn hòa giải trong một số loại vụ án đặc thù như vụ án hôn nhân gia đình Tuy nhiên, đây đều là những công trình nghiên cứu trong bối cảnh của những quy định pháp luật cũ Đến nay, BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 và các Nghị quyết hướng dẫn BLTTDS năm 2004 đã được thay thế bằng các Nghị quyết mới ban hành năm 2012

Đồng thời, ngày 18-6-2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua Nghị quyết số 45/2013/QH13 về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 đã bổ sung Dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) vào Chương trình chính thức; ngày 09-7-2013 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 616/NQ-UBTVQH13 về triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, theo đó Tòa án nhân dân tối cao được giao là cơ quan

Trang 6

chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan soạn thảo, xây dựng và trình Quốc hội

Dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) Do đó, việc nghiên cứu về chế định hòa giải một cách công phu, đặc biệt chú trọng đến công tác tổng kết từ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hòa giải trong tố tụng dân sự nhằm đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng dân sự là yêu cầu bức thiết trong bối cảnh mới, phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần của

Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: “Khuyến khích việc giải quyết một số

tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó” Đồng thời, việc nghiên cứu và ứng dụng kết

quả nghiên cứu về hòa giải trong tố tụng dân sự cũng phù hợp và đảm bảo thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23-11-2012 của Quốc hội

về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013, trong đó

khẳng định rằng: Tòa án nhân dân tối cao cần chỉ đạo các Tòa án “… Nâng cao tỷ

lệ hòa giải thành các vụ việc dân sự…”

Định hướng của Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết

số 37/2012/QH13 của Quốc hội như nêu trên hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của

Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” do Chính phủ Việt Nam và Chương trình phát triển Liên hợp quốc phối hợp thực hiện Đó là

tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tụng tại Tòa án; bảo đảm quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp thông qua các phương thức nhanh chóng, hiệu quả

Với vị trí là trung tâm của hoạt động tư pháp, Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao luôn xác định tinh thần Tòa án có trách nhiệm quan trọng trong việc đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa công tác hòa giải tại Tòa án, nhằm: (i) Thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có yêu cầu về đổi mới và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án; hoạt động tư pháp mà trọng tâm

là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao; (ii) Thực hiện Chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2012-2016 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (Chương trình số 05-CTr/CCTP ngày 28-

12-2011), Tòa án nhân dân tối cao đang thực hiện Đề án “Nghiên cứu xây dựng

cơ chế mở rộng phạm vi hòa giải trong hoạt động tư pháp nhằm giảm số lượng các vụ án phải đưa ra xét xử tại Tòa án” theo Quyết định số 174/CTTr-BCS của

Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao ngày 11-10-2012 về chương trình thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo sự phân công của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương từ nay đến năm 2016, dự kiến trình Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương năm 2014 Khẳng định tinh thần luôn nghiên cứu và định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nói chung và quy định về hòa giải trong tố tụng dân

sự nói riêng, gần đây, tại Chỉ thị số 01/2014/CT-CA ngày 14-01-2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo: Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, giao cho Viện khoa học xét xử tham mưu cho lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao trong việc rà soát các quy định của pháp luật hiện hành và khẩn trương xây dựng các dự

Trang 7

án Luật, Pháp lệnh mà Tòa án nhân dân tối cao được giao chủ trì soạn thảo, trong

đó có các dự án luật tố tụng, đảm bảo thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng

về cải cách tư pháp Đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử; thường xuyên rà soát để tham mưu cho lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử của Tòa án

Được sự hỗ trợ của Dự án "Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại

Việt Nam ", tiểu hợp phần này đánh giá thực trạng hòa giải tranh chấp tại Tòa án;

đưa ra những đề xuất, khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện những quy định về hòa giải tại Tòa án, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền của các chủ thể tại Tòa án Việt Nam

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN

2.1 Khái quát chung về hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án

2.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án

Hòa giải theo Từ điển Tiếng Việt1

là “Thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt

xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa”; theo Từ điển Luật học: “Hòa giải là

sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải, hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ Việc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua người trung gian hòa giải” 2

Hòa giải, theo nghĩa chung nhất, là một phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua sự tác động, giúp đỡ của chủ thể thứ ba đóng vai trò trung gian hòa giải, các bên tranh chấp tự nguyện chấm dứt tranh chấp bằng thỏa thuận Nội dung thỏa thuận của các bên không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Đề cập tới thủ tục hòa giải tại Tòa án là chỉ những hoạt động dưới sự chủ trì của Thẩm phán Tòa án nhân dân để các bên đương sự giải quyết tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự Hòa giải bắt nguồn từ sự giao lưu dân sự theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên đương sự, hòa giải thể hiện quyền tự định đoạt của các bên đương sự khi tham gia tố tụng dân sự Theo quy định của BLTTDS, hòa giải vừa là nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết vụ

án theo thủ tục tố tụng dân sự, vừa là chế định quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự, là phương thức giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của đương sự mà mang lại hiệu quả thi hành án cao và góp phần giảm kinh phí giải quyết tranh chấp cho cả nhà nước và các đương sự nếu việc hòa giải thành

công Tại Điều 10 của BLTTDS quy định: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà

giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Như vậy, trong việc giải

quyết vụ án dân sự, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên

Trang 8

đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án Điều này có nghĩa, hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án với sự giúp đỡ của Tòa án nhân dân nhằm hướng sự thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự đúng pháp luật và chính sách… Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một thủ tục đặc trưng và mang tính bắt buộc đối với Tòa án trước khi

mở phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án mà pháp luật quy định phải hòa giải3

Khi tiến hành hòa giải, Tòa án thực hiện theo một trình tự và thủ tục nhất định, Tòa án giải thích pháp luật làm cho các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ tranh chấp nhằm mục đích hướng các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp giữa họ

Từ quy định của pháp luật và các định nghĩa nêu trên, hòa giải trong tố tụng dân sự được hiểu là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương

sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, hướng dẫn, động viên các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc đang có tranh chấp và đi đến kết quả giải quyết vụ án một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam có một số đặc thù sau đây:

Thứ nhất, hòa giải vụ việc dân sự là một hoạt động tố tụng được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định

Việc hòa giải vụ việc dân sự là một thủ tục bắt buộc (trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải) trong quá trình tố tụng của một vụ việc dân sự và được quy định tại các điều từ Điều 180 đến Điều 188 của BLTTDS Với ý nghĩa là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, mọi vấn đề phát sinh trong quá trình hòa giải vụ án dân sự được pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở để tiến hành hòa giải các vụ án dân sự và bắt buộc Tòa án, những người khác tham gia hòa giải phải tuân thủ

Thứ hai, Tòa án (Thẩm phán) là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải

Khác với các loại hòa giải khác (như hòa giải tại cơ sở do Hòa giải viên cơ

sở tiến hành, hòa giải tiền tố tụng tại Ủy ban nhân dân do Ủy ban nhân dân tiến hành), hòa giải vụ án dân sự do Tòa án là cơ quan duy nhất tiến hành Tòa án tiến hành hòa giải với vai trò chủ thể trung gian giúp đỡ các bên tranh chấp trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự để các bên đạt được sự thỏa thuận, đồng thời đảm bảo tính pháp lý của hòa giải

Thứ ba, kết quả của hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết các vấn đề của vụ việc dân sự

Các đương sự trong vụ việc dân sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp trên tinh thần tự nguyện, trung thực, không bị bất kỳ một sự cưỡng ép hay can thiệp nào khác Chỉ đương sự mới có quyền quyết định về việc giải quyết quyền và lợi ích của họ trong quá trình hòa giải Khi các đương sự thỏa thuận

3

Bùi Đăng Huy (1996), Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện, Luận án thạc sĩ luật học,

Hà Nội

Trang 9

được với nhau về vấn đề giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên không thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Tòa án ra quyết định công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự

Có thể nói đây là một trong những điểm đặc thù nhất của hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án Nếu không đảm bảo nguyên tắc các bên tự thỏa thuận và quyết định về việc hòa giải vụ việc của mình, mà có bên bị nhầm lẫn, đe dọa, cưỡng ép thỏa thuận, tức là quá trình hòa giải đã bị vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, là căn cứ để bị Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Thứ tư, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là quyết định

có hiệu lực thi hành ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Đồng thời, theo quy định của Điều 106 Hiến pháp năm

2013, thì “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải

được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

2.1.2 Ý nghĩa của hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án

a) Bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết vụ

việc dân sự

Trong giao lưu dân sự, các bên được tự do giao kết và thực hiện quyền, nghĩa vụ mà họ đặt ra không trái với pháp luật và đạo đức xã hội Khi có tranh chấp trong quá trình giao kết và thực hiện giao kết đó, các bên cũng được tự do lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp của mình, đó có thể là Trọng tài, Tòa án, hòa giải bằng cá nhân hoặc tổ chức ngoài Tòa án… Do đó, có thể hiểu hòa giải được bắt nguồn từ sự giao lưu dân sự theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên đương sự, hòa giải thể hiện quyền tự định đoạt của các bên đương sự khi tham gia tố tụng dân sự

Việc BLTTDS quy định hòa giải các vụ việc dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự là nhằm bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của đương

sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tòa án với vai trò là trung gian hòa giải, không can thiệp vào nội dung giải quyết vụ án của các đương sự Các đương

sự tự quyết định việc giải quyết toàn bộ các vấn đề của vụ án

b) Hòa giải thành giúp giải quyết nhanh chóng, hiệu quả vụ việc dân sự, tiết

kiệm được tiền của, công sức, thời gian của Nhà nước và nhân dân trong trường hợp hòa giải thành

Trang 10

Giải quyết vụ việc dân sự là một quá trình kéo dài qua các thủ tục tố tụng theo quy định của BLTTDS Mỗi thủ tục tố tụng được quy định thời hạn riêng nhất định và phải trải qua một thời gian người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng mới hoàn thành Hòa giải là thủ tục tố tụng nằm trong giai đoạn đầu của quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm Nếu hòa giải thành, sẽ giúp việc giải quyết vụ việc nhanh chóng kết thúc ngay ở giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ việc Nếu các đương sự không thể thỏa thuận được về việc giải quyết vụ việc, việc hòa giải không thành, vụ việc sẽ phải đưa ra xét xử sơ thẩm Sau khi được xét xử sơ thẩm, bản án/quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị giải quyết theo thủ

tục phúc thẩm Theo quy định của khoản 6 Điều 279 BLTTDS, thì “Bản án phúc

thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án” Tuy nhiên, việc giải quyết vụ

việc vẫn có thể bị kéo dài hơn nữa, bởi theo quy định của BLTTDS, bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Thậm chí, việc giải quyết vụ việc còn có thể phải trải qua thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Quyết định Giám đốc thẩm, Quyết định Tái thẩm) khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó (Điều 310a BLTTDS) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị tuyên hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại, thì việc giải quyết vụ án lại phải quay vòng thêm một quy trình tố tụng nữa theo quy định của BLTTDS mà chưa biết bao giờ mới kết thúc

Khi các đương sự thỏa thuận được về việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ việc, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nếu hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó Quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thường được thi hành nhanh chóng do xuất phát từ những cam kết tự nguyện của các đương sự nên họ tự giác thi hành Việc khiếu nại, kháng nghị quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thường ít xảy

ra Trong khi đó, như trình bày ở trên, thực tiễn xét xử nhiều vụ án dân sự thường

có xu hướng bị các bên đương sự kháng cáo hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị dẫn đến việc giải quyết những vụ án này kéo dài, phức tạp và tốn kém tiền của, công sức, thời gian của nhà nước và đương sự Hòa giải trong tố tụng dân sự nằm

ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, do đó, nếu các bên có thể đi đến thống nhất, hòa giải thành, thì việc giải quyết vụ án đã được rút ngắn rất nhiều thời gian so với một vụ án thông thường, từ đó giúp giảm nhiều loại chi phí tố tụng, thời gian, công sức cho cả Nhà nước và các đương sự

c) Khôi phục và củng cố đoàn kết trong nội bộ nhân dân

Trong lĩnh vực dân sự, trước khi khởi kiện, phần lớn các bên đương sự là những người có quan hệ với nhau (quan hệ huyết thống, quan hệ bè bạn, quan hệ kinh doanh,…) nhưng vì một lý do nào đó đã nảy sinh tranh chấp với nhau Nếu được sự hướng dẫn, giúp đỡ, giải thích của Tòa án, có thể các đương sự sẽ tìm ra cách thỏa thuận chung để giải quyết tranh chấp Việc quy định hòa giải là một thủ

Trang 11

tục trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, một phần cũng xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam, đó là truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái và tình cảm con người được đặt lên hàng đầu mỗi khi xem xét một vấn đề nào đó liên quan đến tranh chấp Hòa giải giúp cho các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau, giảm bớt mâu thuẫn, tranh chấp, ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp dân sự

d) Nâng cao ý thức pháp luật của công dân

Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án, các đương sự nắm được quy định của pháp luật liên quan đến quan hệ tranh chấp, hiểu được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình Trên cơ sở đó, họ tuân thủ đúng quy định của pháp luật

e) Giúp Tòa án xác định rõ tình tiết, sự kiện, yêu cầu của các bên tranh

chấp, từ đó xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng đắn vụ việc

Trong trường hợp hòa giải không thành, thì việc tiến hành hòa giải vụ việc dân

sự cũng giúp Tòa án có điều kiện tìm hiểu sâu hơn nội dung tranh chấp, hiểu biết rõ hơn tâm tư, nguyện vọng cũng như các vướng mắc của các đương sự để từ đó có thể xác định phương hướng giải quyết vụ án đúng đắn hơn khi đưa vụ án ra xét xử Qua đó, đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được ban hành và thi hành nhanh chóng, có hiệu quả

2.1.3 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Là một bộ phận quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự, chế định hòa giải được hình thành trên cơ sở kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử và chịu tác động sâu sắc của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đương thời Quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự mang tính liên tục, kế thừa và phát triển nhằm đáp ứng với yêu cầu của cuộc sống hiện đại Chế định hòa giải đã xuất hiện trong hệ thống cổ luật Việt Nam từ thời Lý, Trần, Lê… Tuy nhiên, trong phạm vi báo cáo này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam giai đoạn từ những năm 1945 đến nay

a) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989:

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng đã bước sang trang mới, nền tư pháp của chế độ dân chủ nhân dân được hình thành và từng bước kiện toàn

Trong những ngày đầu tiên của chính quyền Cách mạng non trẻ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành những Sắc lệnh xóa bỏ bộ máy nhà nước của chế độ cũ, trong đó có Sắc lệnh số 18 ngày 08-9-1945 bãi bỏ ngành học quan, Sắc lệnh số 32 ngày 13-9-1945 bãi bỏ ngạch quan hành chính và quan tư pháp Đồng thời, nhà nước đã khẩn trương bắt tay xây dựng bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, trong

đó hệ thống các cơ quan tư pháp đã nhanh chóng được thiết lập Ngày 13-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33 thành lập các Tòa án quân sự, hệ thống

Trang 12

các cơ quan xét xử từng bước được kiện toàn Tuy nhiên, không thể một sớm, một chiều hệ thống pháp luật của chế độ dân chủ nhân dân được hình thành Do đó, Sắc

lệnh ngày 10-10-1945 quy định “Cho đến khi ban hành được các bộ luật cho toàn

cõi Việt Nam, các luật lệ tiến hành ở Bắc, Trung, Nam vẫn được giữ nguyên như cũ với điều kiện là những quy định pháp luật chỉ được thi hành nếu không trái với những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa”

Với tinh thần của Sắc lệnh này, các quy định pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có các quy định về hòa giải nếu không trái với những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam là chính thể cộng hòa thì tiếp tục được áp dụng Cùng với việc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự nói riêng từng bước được hình thành

và hoàn thiện Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự đã được nhà nước

ta hết sức chú trọng Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán quy định: Ban Tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân

sự và thương sự Nếu hòa giải được, Ban Tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải

có các ủy viên, đương sự ký

Điều 4 Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án quy định: Ban Tư pháp xã hòa giải tất

cả các việc hộ và thương mại do người đương sự muốn mang ra trước ban Tư pháp ấy Biên bản hòa giải ấy chỉ có hiệu lực như chứng thư Điều 9 Sắc lệnh này quy định: Khi nhận được đơn khởi kiện về dân sự hay thương sự, ông Thẩm phán

sơ cấp phải đòi hai bên đến để thử hòa giải Biên bản hòa giải có hiệu lực như chứng thư Điều 12 Sắc lệnh này cũng quy định: Những việc kiện dân sự và thương sự thuộc về thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về cho ông Thẩm phán sơ cấp thử hòa giải

Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL ngày 22-5-1950 về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng quy định: Tòa án nhân dân hòa giải tất cả các vụ kiện về dân sự và thương sự, kể cả việc xin ly dị, trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều chỉnh Theo Điều 10 Sắc lệnh này, thì biên bản hòa giải thành do Thẩm phán lập có giá trị là một công chính chứng thư có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên, cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong, nếu biện lý xét biên bản phạm đến trật tự chung thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi lại hoặc bác bỏ những điều mà hai bên thỏa thuận Phòng biện lý được quyền kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản hòa giải thành Thông tư số 556/TTg ngày 24-12-1958 của Thủ tướng Chính phủ về tăng

cường sự lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truy tố, xét xử đã nhấn mạnh: “Đối với xích

mích, xung đột, thưa kiện giữa nhân dân với nhau thì phải kiên trì dàn xếp ổn thỏa”

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn, đất nước tạm thời chia cắt 2 miền, tình hình đất nước có nhiều thay đổi, để đáp ứng với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm

1946 là một tất yếu khách quan Tại kỳ họp thứ 11 (ngày 31-12-1959) Quốc hội Khóa I đã chính thức thông qua Hiến pháp sửa đổi, ngày 01-01-1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh công bố Hiến pháp Hiến pháp năm 1959 bao gồm lời nói

Trang 13

đầu, 10 chương với 112 điều, là sự kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946, trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam Nó là cơ sở, nền tảng để xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sau khi Hiến pháp năm 1959 ra đời, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960

và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được ban hành Điều 16 Luật Tổ chức Tòa

án nhân dân quy định: “Tòa án nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc huyện, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ hòa giải những tranh chấp về dân sự …và hướng dẫn công tác hòa giải ở xã và khu phố”

Để triển khai nhiệm vụ này, Tòa án nhân dân tối cao đã ra Thông tư số

1080-TATC ngày 25-9-1961 quy định: “Trong khi thực hiện thẩm quyền mới các Tòa

án nhân dân … Cần đề phòng khuynh hướng đưa ra xét xử nhiều việc và thiếu kiên trì hòa giải, giáo dục các đương sự và nhân dân”

Thông tư số 2421-TATC ngày 29-12-1961 cũng nêu rõ: “Về nguyên tắc việc

hòa giải của Tòa án không có Hội thẩm nhân dân tham gia”

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 1959 quy định: “khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm

quyền sẽ điều tra và hòa giải, hòa giải không được, Tòa án sẽ xét xử”

Báo cáo tổng kết công tác năm 1966 của ngành Tòa án đã nhấn mạnh việc tiếp tục tăng cường công tác hòa giải của Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Để khắc phục những bất cập của chế định hòa giải trong hệ thống pháp luật, đáp ứng với yêu cầu giải quyết các vụ án dân sự, ngày 30-11-1974, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự Thông tư này đã quy định thẩm quyền, trình tự và phương pháp hòa giải các vụ án dân sự

Có thể nói, Thông tư số 25-TATC ngày 30-11-1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế định hòa giải Các quy định trong Thông tư này có những điểm khác biệt so với các quy định trước đó, thủ tục và phương pháp tiến hành hòa giải đã được quy định một cách chi tiết, rõ ràng, cụ thể

Thông tư số 81-TATC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân địa phương giải quyết tranh chấp về thừa kế quy định:

“Cần kiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và phát triển tình đoàn kết thương

yêu trong nội bộ gia đình, đảm bảo sản xuất và công tác,… và phải quán triệt phương châm hòa giải, khuyến khích sự tương trợ lẫn nhau giữa các đương sự đảm bảo cho việc xét xử có lý, có tình và tạo thuận lợi cho việc thi hành án”

b) Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004:

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước, ngày 29-12-1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Pháp lệnh này quy định cụ thể thủ tục giải quyết vụ án dân sự, trong đó hòa giải được ghi nhận là một nguyên tắc, một

Trang 14

thủ tục mà Tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án Đây là một bước phát triển mới của Pháp luật tố tụng dân sự nói chung và của chế định hòa giải nói riêng

Sau khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có hiệu lực thi hành, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong đó đã hướng dẫn về thủ tục, phạm vi của hòa giải Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao cũng ban hành nhiều Công văn nhằm hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, trong đó có pháp luật về hòa giải trong tố tụng dân sự, như:

- Công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự ở nước ngoài;

- Công văn số 43/KHXX ngày 21-4-1998 của Tòa án nhân dân tối cao trả lời

về hiệu lực của Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm và hướng dẫn áp dụng khoản 1 Điều 52 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự;

- Công văn số 81/TATC ngày 10-6-2002 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về công tác xét xử, trong đó có hướng dẫn về thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm…

Ngoài ra Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 88) cũng quy định “Sau

khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”, tức là Tòa án phải tiến hành hòa giải các trường hợp

ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm; Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 11 về nguyên tắc hòa giải, Điều 171 về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện) cũng có những quy định liên quan đến hòa giải

Các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn có liên quan nêu trên

đã quy định cụ thể về hòa giải như: Nguyên tắc hòa giải; thẩm quyền hòa giải của Tòa án nhân dân các cấp; thủ tục hòa giải; …

c) Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2011:

Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTDS năm 2004 Sau khi BLTTDS được ban hành, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này như:

- Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS;

- Nghị quyết số 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24-12-2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của BLTTDS cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất: “Những quy định chung” của BLTTDS;

Trang 15

- Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS

về “chứng minh và chứng cứ”;

- Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai

“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS;

- Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy trong Phần thứ ba

“thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS

BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự và thủ tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; trình tự và thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng… đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật Ngoài việc kế thừa những điểm hợp lý của các quy định trong các văn bản trước đây về hòa giải, BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này còn bổ sung nhiều quy định mới như quy định về thành phần hòa giải, việc thông báo hòa giải, trình tự thủ tục hòa giải… Các quy định của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này về hòa giải vụ việc dân sự là một bộ phận chủ yếu của chế định hòa giải trong pháp luật dân sự hiện hành Việc ban hành BLTTDS đánh dấu bước phát triển quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng

d) Giai đoạn từ năm 2011 đến nay:

Để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp dân sự trong tình hình mới, khắc phục những tồn tại trong hệ thống pháp luật, ngày 26-3-2011, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày

01-01-2012 Tại Điều 5 của BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc

dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”

Điều này có nghĩa là các đương sự hoàn toàn có quyền tự mình quyết định việc có tham gia tố tụng hay không Khi tham gia tố tụng các đương sự có quyền tự mình thỏa thuận với nhau về các vấn đề tranh chấp, miễn sao sự thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội Tuy nhiên, BLTTDS cũng quy định trách nhiệm

của Tòa án đối với việc hòa giải Tại Điều 10 quy định: “Tòa án có trách nhiệm

tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau

về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Vì tính chất

quan trọng của hòa giải cho nên BLTTDS đã dành Chương XIII quy định về hòa giải và chuẩn bị xét xử, trong đó các điều từ Điều 180 đến Điều 188 quy định

Trang 16

nguyên tắc, thành phần, nội dung, trình tự, biên bản hòa giải cũng như quyết định công nhận, không công nhận sự thỏa thuận của các bên

Như vậy, các quy định về hòa giải của BLTTDS đã được hoàn thiện trên cơ

sở kế thừa, pháp điển hóa các quy định về hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động Các quy định này là chuẩn mực chung cho hòa giải các vụ

án dân sự, hôn nhân, kinh tế, lao động; đồng thời tạo cơ sở để đa dạng hóa các hình thức hòa giải tranh chấp dân sự nói chung nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự và thể hiện trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức, đồng thời quy định về hòa giải của BLTTDS đã khắc phục được sự tản mạn, phân tán của các quy định về hòa giải trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật trước đây BLTTDS cũng đã cá thể hóa trách nhiệm của Thẩm phán trong việc hòa giải Trước đây pháp luật chỉ quy định chung chung trách nhiệm hòa giải của Tòa án dẫn đến quan niệm cho rằng bất cứ cán bộ nào của Tòa án cũng có thể tiến hành hòa giải được

Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã xác định trách nhiệm của Tòa án trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự là giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc; đồng thời tạo cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong quá trình hòa giải Để đảm bảo cho việc hòa giải được tiến hành nhanh chóng, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai

“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi,

bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự Theo

đó, các điều 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21 của BLTTDS hướng dẫn về những vụ án dân sự không được hòa giải, những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được, thành phần phiên hòa giải, trình tự hòa giải, biên bản hòa giải, quyết định công nhân sự thỏa thuận của các đương sự

2.2 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án

BLTTDS dành nhiều quy định để điều chỉnh chế định hòa giải trong tố tụng dân sự, bắt đầu từ việc đưa ra những quy định mang tính nguyên tắc cơ bản như tại Điều 5 về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, Điều 10 về hòa giải trong tố tụng dân sự; đồng thời đưa ra những quy định chi tiết cụ thể hơn nhằm bảo đảm thực hiện những nguyên tắc đó, cụ thể là những quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 180), quy định về nội dung, phạm vi, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải (Điều 181, Điều 182, Điều 183, Điều 184, Điều 185, Điều 186), quy định về hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành (Điều 187, Điều 188)

2.2.1 Nguyên tắc hòa giải

Trang 17

a) Hòa giải là một thủ tục tố tụng dân sự

Tại Điều 10 BLTTDS quy định: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải

và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết

vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”

Việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự do Tòa án tiến hành Thủ tục này có tính chất bắt buộc đối với Tòa

án, trừ trường hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải theo quy định của pháp luật Nếu Tòa án không thực hiện thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm mà đưa vụ án ra xét xử là vi phạm thủ tục tố tụng

b) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không dùng vũ lực

hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình

Đây là nguyên tắc được quy định tại khoản 1 Điều 180 của BLTTDS Sự tự nguyện của các đương sự là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự nói chung

và hòa giải các vụ án dân sự nói riêng Nguyên tắc này xuất phát từ quyền tự định đoạt của các đương sự Sự tự nguyện này được thể hiện ở hai nội dung: Tự nguyện tham gia hòa giải và tự nguyện thỏa thuận nội dung giải quyết vụ án

- Tự nguyện tham gia hòa giải: Đương sự có quyền lựa chọn có tham gia hòa giải hay không Nếu bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì có nghĩa là bị đơn từ chối hòa giải Trong trường hợp này, Tòa án không được ép buộc bị đơn tham gia hòa giải, Tòa án sẽ lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung

- Tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải: Trong quá trình hòa giải, các bên tranh chấp được bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp Nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận và việc thỏa thuận này là do hành

vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí chủ quan của đương sự làm cho họ phải lựa chọn cách thức thỏa thuận để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản của mình thì cũng không được coi là tự nguyện thỏa thuận

Trong quá trình hòa giải, Tòa án với vai trò trung gian giúp các đương sự hiểu về quyền và nghĩa vụ liên quan tới các tranh chấp, tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Tòa án không được can thiệp vào thỏa thuận của các đương sự nếu nội dung thỏa thuận đó không trái pháp luật Các đương sự là chủ thể của các tranh chấp nên chính họ mới là người có quyền định đoạt về việc giải quyết quyền lợi của họ trong tranh chấp đó Giá trị pháp lý của việc hòa giải chỉ được công nhận và ý nghĩa, tác dụng của nó chỉ trở thành hiện thực khi thỏa thuận của các đương sự xuất phát từ chính nguyện vọng của họ

c) Nội dung thỏa thuận không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

Quy định này được nêu tại khoản 2 Điều 180 của BLTTDS Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó,

Trang 18

trong quá trình hòa giải, các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau, nhưng các thỏa thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật và trái đạo đức xã hội thì thỏa thuận đó cũng không được công nhận Mặt khác, là một hoạt động tố tụng, hòa giải chỉ được tiến hành trên cơ sở của pháp luật và mọi sự thỏa thuận về giải quyết vụ án phải phù hợp với quy định của pháp luật

2.2.2 Phạm vi hòa giải

Theo Điều 180 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật này” Theo đó, hòa giải

được tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án và được thực hiện đối với việc giải quyết hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp sau đây:

a) Những vụ án không được hòa giải theo quy định tại Điều 181 BLTTDS

Những vụ án không được hòa giải theo quy định tại Điều 181 bao gồm:

(1) Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của nhà nước

Đối với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của nhà nước, Tòa án không được hòa giải vì tài sản của nhà nước thuộc sở hữu toàn dân Mọi hành vi gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước đều là trái pháp luật và phải bồi thường, người gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước không có quyền điều đình và thỏa thuận với Nhà nước về trách nhiệm và mức bồi thường Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc bất khả xâm phạm đối với tài sản của Nhà nước, phòng ngừa những trường hợp thỏa thuận gây hại đến tài sản Nhà nước

Theo hướng dẫn tại Điều 18 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP4

, thì:

“Tài sản của Nhà nước” được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước quy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự năm 2005 và được điều chỉnh theo các quy định tại mục 1 Chương XIII của Bộ luật dân sự năm 2005

“Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước” là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu,

do vi phạm nghĩa vụ dân sự, gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường

Khi thi hành quy định tại khoản 1 Điều 181 của BLTTDS cần phân biệt:

(i) Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị

vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Toà án không được hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

(ii) Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh

4

Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 19

nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Toà án tiến hành hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ

án theo thủ tục chung

(2) Những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

Toà án không được hoà giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hoà giải nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó Trường hợp các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch

vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó5

Giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội đã vô hiệu ngay từ khi giao kết Các bên tham gia giao dịch không thể thỏa thuận để giải quyết hành vi trái pháp luật của mình Ví dụ, trường hợp kiện đòi tài sản vay là Đôla Mỹ, kiện đòi tiền nợ do sinh con thuê…Tuy nhiên, thực tiễn, nhiều giao dịch dân sự trái pháp luật do những nguyên nhân khách quan, nên khi giải quyết vụ án, Tòa án phải xem xét thận trọng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự Khi giải quyết loại vụ án này, Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật

b) Những vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 182

Việc pháp luật quy định Tòa án phải tiến hành hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án dân sự là nhằm tạo điều kiện cho các đương sự có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu để từ đó tự thương lượng thỏa thuận với nhau về mọi vấn đề cần giải quyết trong vụ án Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị kiện, bị nguyên đơn cho rằng

Trang 20

đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của họ và bị buộc phải tham gia tố tụng Tòa

án triệu tập bị đơn đến tham gia phiên hòa giải là muốn hai bên đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau Việc bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên hòa giải mà vắng mặt, thì chứng tỏ họ đã từ bỏ việc tham gia hòa giải Tòa

án không có quyền ép buộc bị đơn phải tham gia hòa giải, song nếu bị đơn vắng mặt thì nguyên đơn không còn đối tác để thỏa thuận việc giải quyết vụ án nên Tòa

án sẽ không tiến hành hòa giải được

(2) Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng

Trường hợp này được áp dụng đối với cả hai bên đương sự Khi các đương

sự có lý do chính đáng để từ chối tham gia phiên hòa giải thì Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải được Chẳng hạn, đến ngày tham gia phiên hòa giải mà đương sự bị bệnh nặng phải nằm viện điều trị hoặc trên đường đương sự đến Tòa

án tham gia phiên hòa giải mà không may bị thương tích nặng do tại nạn giao thông và phải vào viện cấp cứu thì Tòa án phải hoãn phiên hòa giải, đương nhiên trường hợp này phải có giấy tờ hợp lệ của bệnh viện

(3) Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực

Đối với những vụ án mà Tòa án không tiến hành hòa giải được trong quá trình giải quyết vụ án thì không thể có quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Tuy nhiên, trong những trường hợp các đương sự tự hòa giải và rút đơn khởi kiện mà qua việc kiểm tra thấy hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với những quy định của pháp luật, thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Đối với những trường hợp không thể hòa giải được, thì Tòa án phải lập biên bản không hòa giải được, nêu rõ lý do để lưu vào hồ sơ vụ án làm căn cứ tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

2.2.3 Thành phần phiên hòa giải

Theo quy định tại Điều 184 BLTTDS thì thành phần phiên hòa giải bao gồm:

(1) Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải;

(2) Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải;

(3) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

Trang 21

Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương

sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất

cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hoà giải và việc mở lại phiên hoà giải cho đương sự biết

(4) Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan,

tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải;

(5) Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt

Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, thì:

“1 Toà án phải triệu tập tất cả những người có liên quan đến việc giải quyết vụ

án quy định tại khoản 3 Điều 64 và Điều 184 của BLTTDS tham dự phiên hoà giải

2 Nếu việc hoà giải vụ án có liên quan đến tất cả các đương sự trong vụ án

mà có đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải để mở lại phiên hoà giải khác có mặt tất cả các đương sự Thẩm phán thông báo hoãn phiên hòa giải theo Mẫu số 06b ban hành kèm theo Nghị quyết này

3 Nếu trong vụ án có nhiều quan hệ pháp luật mà quan hệ pháp luật này liên quan đến đương sự này, quan hệ pháp luật kia liên quan đến đương sự khác

và việc giải quyết quan hệ pháp luật đó chỉ liên quan đến các đương sự có mặt, không liên quan đến các đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hoà giải những vấn đề có liên quan đến các đương sự có mặt

Trường hợp nêu trên mà các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt

và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt Trường hợp thoả thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì thoả thuận này chỉ có giá trị nếu đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải đồng ý bằng văn bản

Trường hợp trước khi tiến hành hòa giải đương sự vắng mặt đã có ý kiến bằng văn bản nhưng sau khi kết thúc phiên hòa giải, nội dung thỏa thuận của các đương sự có mặt khác với nội dung văn bản thể hiện ý chí của đương sự vắng mặt, thì Tòa án phải lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt về thỏa thuận của các đương sự tại phiên hòa giải Thủ tục và thời hạn lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Trường hợp đương sự đồng ý với kết quả hoà giải thì ngày nhận được ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt được xác định là ngày các đương sự thỏa thuận được với nhau

về vấn đề phải giải quyết trong vụ án.”

Rõ ràng, pháp luật tố tụng dân sự quy định trách nhiệm hòa giải của Tòa án nhưng thực chất đó là trách nhiệm của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc, Thẩm phán được phân công luôn là người chủ động, bố trí thời gian và nội dung của các buổi làm việc Thẩm phán cũng là người trực tiếp chịu trách nhiệm

Trang 22

trước cấp trên và nhà nước về kết quả giải quyết vụ việc dân sự Do vậy, trong phiên hòa giải chính thức, bắt buộc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải giữ vai trò là người chủ trì Hơn nữa, chỉ có Thẩm phán giải quyết vụ việc mới là người nắm rõ nhất về toàn bộ những vấn đề cần giải quyết và những vấn

đề liên quan trong vụ việc Do đó, với vai trò là người thứ ba trung gian hòa giải, Thẩm phán phải có mặt mới có thể đưa ra được những đề nghị hợp lý để các bên đương sự có thể hòa giải được với nhau

Sự có mặt của Thư ký trong phiên hòa giải là để ghi biên bản hòa giải Thư

ký có trách nhiệm ghi lại toàn bộ nội dung phiên hòa giải, phản ánh trung thực toàn bộ nội dung phiên hòa giải vào biên bản hòa giải Đồng thời, sự có mặt của Thư ký trong phiên hòa giải cũng là để đảm bảo tính khách quan, trung thực của phiên hòa giải Nếu để cho Thẩm phán vừa hòa giải, vừa ghi biên bản thì rất có thể Thẩm phán sẽ ghi theo ý chí chủ quan của họ Vì vậy, sự có mặt của Thư ký trong phiên hòa giải cũng là bắt buộc

Các đương sự là chủ thể chính của phiên hòa giải, sự có mặt của các đương

sự khi hòa giải là yêu cầu bắt buộc Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, chỉ có đương sự mới có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Một trong những quyền, nghĩa vụ của đương sự được quy

định tại điểm e khoản 2 Điều 58 của BLTTDS là: “Tự thỏa thuận với nhau về việc

giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành”

Đương sự theo quy định tại Điều 56 của BLTTDS bao gồm: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người tham gia thủ tục tố tụng khởi kiện

vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách hoặc được người khác khởi kiện vụ án dân

sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Nguyên đơn tham gia

tố tụng mang tính chủ động hơn các đương sự khác Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ tố tụng

Bị đơn trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do

bị nguyên đơn hoặc người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật Việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính bị động chứ không phải là chủ động Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng dân sự, hoạt động của bị đơn cũng có thể làm thay đổi quá trình giải quyết vụ án

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham gia

tố tụng và vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc tham gia tố tụng của người có quyền, nghĩa vụ liên quan có thể do họ chủ động hoặc bị yêu cầu Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý để khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ

Trang 23

gặp khó khăn hơn Yêu cầu của họ có thể chống lại cả nguyên đơn và bị đơn Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không độc lập có quyền và lợi ích phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn nên việc tham gia tố tụng của họ phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn Tuy nhiên, khi tham gia tố tụng họ vẫn có quyền quyết định trong phạm vi quyền hạn của họ

Ngoài Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, pháp luật cũng quy định thành phần tham gia phiên hòa giải còn bao gồm cả người phiên dịch nếu đương sự không biết tiếng Việt, cá nhân, tổ chức khác có liên quan vụ việc dân sự

2.2.4 Nội dung hòa giải

Nội dung hòa giải được quy định theo Điều 185 của BLTTDS:“Khi tiến

hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án”

Theo hướng dẫn tại Điều 18 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, hướng dẫn về nội dung hòa giải như sau:

“1 Toà án xem xét các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ án phải giải

quyết để tiến hành hoà giải từng yêu cầu theo thứ tự hợp lý

Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, có cả tranh chấp về nuôi con, chia tài sản thì Toà

án cần hoà giải về quan hệ hôn nhân trước, nếu hoà giải đoàn tụ không thành thì tiếp tục tiến hành hoà giải việc nuôi con và sau đó hoà giải việc chia tài sản

2 Khi tiến hành hoà giải, ngoài việc tuân thủ nguyên tắc quy định tại Điều

184 của BLTTDS, tùy theo các quan hệ pháp luật, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án

để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình mà tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành cho các đương sự biết (như mối quan hệ giữa các đương sự, việc chịu án phí,…) Thẩm phán không được nói trước với các đương sự ai sai, ai đúng ở chỗ nào hoặc nếu các đương sự không thoả thuận được, thì hướng xét xử của Toà án như thế nào,…”

Như vậy, nội dung hòa giải của Thẩm phán là phổ biến cho các đương sự các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án, bao gồm phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành cho các đương sự, việc chịu án phí, Tùy theo quan hệ pháp luật, yêu cầu của đương sự trong vụ án cụ thể mà có nội dung hòa giải tương ứng

2.2.5 Trình tự thủ tục hòa giải

a) Chuẩn bị phiên hòa giải

Điều 183 của BLTTDS quy định: “Trước khi tiến hành phiên hoà giải, Tòa án

phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải"

Trang 24

Việc gửi Thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự phải được thực hiện theo các quy định từ các điều từ 46 đến 156 của BLTTDS Theo đó, tùy trường hợp mà Tòa án có thể tống đạt trực tiếp cho đương sự, gửi qua bưu chính, niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác định rõ những vấn đề quan trọng cần hòa giải và thông báo nội dung các vấn đề cần hòa giải cho đương sự

b) Tiến hành phiên hòa giải

Theo quy định tại Điều 185a của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 19 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án tiến hành việc hòa giải theo trình tự như sau:

(1) Thẩm phán khai mạc phiên hòa giải và kiểm tra căn cước của những

người tham gia phiên hòa giải

- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải khai mạc phiên hòa giải như sau: “Hôm nay, ngày, tháng, năm, Toà án nhân dân… tiến hành tổ chức hòa giải vụ án về…, tôi tuyên bố khai mạc phiên hòa giải”

- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải giới thiệu họ, tên những người tiến hành

tố tụng, người giám định, người phiên dịch, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác tham gia phiên hòa giải (nếu có)

- Thư ký Toà án báo cáo với Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án và lý do vắng mặt Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải kiểm tra lại sự có mặt và kiểm tra căn cước của những người tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án (quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 184 của BLTTDS)

- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải phải phổ biến đầy đủ quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác quy định tại điều luật tương ứng của BLTTDS

Ví dụ: Đối với nguyên đơn phải giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ của họ quy định tại Điều 58 và Điều 59 của BLTTDS,… Đối với người phiên dịch, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải yêu cầu họ phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ; đối với người làm chứng là người thành niên, thì yêu cầu họ cam đoan khai báo trung thực

(2) Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải theo nội dung hoà giải quy định tại

Điều 185 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 18 của Nghị quyết này

(3) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến

của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải

Trang 25

và vấn đề chưa thống nhất

Phiên hòa giải phải được ghi biên bản theo quy định tại Điều 186 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 20 của Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP, trước khi kết thúc phiên hòa giải, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải xem xét (lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành…) về việc giải quyết vụ án tại phiên hòa giải Cụ thể như sau :

- Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải có đầy đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 186, có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người quy định tại khoản 2 Điều 186 của BLTTDS và theo Mẫu số 07 ban hành kèm theo Nghị quyết này

- Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong

vụ án, thì Thẩm phán hoặc Thư ký Toà án lập biên bản hoà giải thành Biên bản hoà giải thành phải ghi cụ thể nội dung thoả thuận của các đương sự theo Mẫu số 08a ban hành kèm theo Nghị quyết này

Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải ký tên và đóng dấu của Toà án vào biên bản Các đương sự tham gia phiên hoà giải phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản hoà giải thành Biên bản hoà giải thành phải được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải

Đối với các đương sự vắng mặt mà việc hoà giải thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 184 của BLTTDS, thì Toà án phải gửi ngay biên bản hoà giải thành cho các đương sự vắng mặt

- Trong biên bản hoà giải thành cần ghi: “Trong thời hạn bảy ngày, kể từ

ngày lập biên bản hoà giải, nếu đương sự nào có thay đổi ý kiến về sự thoả thuận, thì phải làm thành văn bản gửi cho Toà án” Trong trường hợp đương sự trực tiếp

đến Toà án thay đổi thoả thuận, thì Thẩm phán phải lập biên bản ghi ý kiến thay đổi thoả thuận của họ Biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự và lưu vào hồ sơ vụ án Việc thay đổi ý kiến về sự thoả thuận này phải được Tòa án thông báo cho các đương sự khác có liên quan đến thoả thuận đó

c) Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự quy định tại Điều 187 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 21 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, cụ thể như sau:

Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó, thì về nguyên tắc chung Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương

sự Nếu vì trở ngại khách quan mà Thẩm phán không ra quyết định được, thì Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán khác ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (các quan

hệ pháp luật, các yêu cầu của các đương sự trong vụ án) và có thể cả về án phí Việc thỏa thuẩn về án phí phải tuân theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí

Trang 26

Tòa án Theo tinh thần quy định của Điều 28 và Điều 30 Pháp lệnh này, thì Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm thì đương sự kháng cáo phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm Về án phí dân sự sơ thẩm, nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau thì các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án xác định lại án phí dân sự sơ thẩm theo nội dung thỏa thuận

về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm thì những người khác vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của Pháp lệnh này Đối với án phí dân sự sơ thẩm, các đương sự có thể thỏa thuận để một bên chịu án phí hoặc cả hai bên đều phải nộp án phí Trường hợp các đương sự thỏa thuận để bên được miễn, giảm hoặc không phải nộp án phí sẽ chịu trách nhiệm nộp án phí, thì người được miễn, giảm hoặc không phải nộp án phí đó sẽ không được miễn, giảm án phí nữa mà nộp như các bên đã thỏa thuận với nhau

Như vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã khép lại quá trình tố tụng giải quyết vụ án dân sự Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (theo quy định tại Điều 188 của BLTTDS)

d) Thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự

e) Giải quyết trường hợp hòa giải không thành hoặc không tiến hành hòa

giải được

Trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án, còn phần khác không thoả thuận được, thì Toà án ghi những vấn đề mà các đương sự thoả thuận được và những vấn đề không thoả thuận được vào biên bản hoà giải theo quy định tại khoản 1 Điều 186 của BLTTDS

Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với trường hợp hòa giải không thành hoặc không tiến hành hòa giải được, trừ trường hợp có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án

Trang 27

III THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN

SỰ TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM

3.1 Kết quả thi hành pháp luật hòa giải các vụ việc dân sự tại Tòa án 7

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 01-01-2005 đến ngày 30-12-2013, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 1.802.381 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Trong đó, ngành Tòa án đã giải quyết 1.619.372 vụ việc, số vụ việc được công nhận hòa giải thành là 304.910 vụ việc, chiếm 18,8 % tổng số vụ việc dân sự đã giải quyết (số liệu này chưa bao gồm những vụ việc dân sự mà Tòa án đã hòa giải thành nhưng sau đó đương sự rút đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu nên vụ việc dân sự bị đình chỉ giải quyết theo quy định của BLTTDS) Như vậy, có thể thấy, ngành Tòa án đã thực hiện khá hiệu quả công tác hòa giải tranh chấp dân sự tại Tòa án Cụ thể, về công tác hòa giải tại Tòa án đối với một số loại tranh chấp đặc thù như sau:

3.1.1 Về công tác hòa giải các vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm

đã thụ lý

Công nhận thỏa thuận/ % trên

số vụ việc đã giải quyết

Số vụ việc đã thụ lý

Số vụ việc đã giải quyết/ % trên số vụ việc

đã thụ lý

Công nhận thỏa thuận/ % trên số

vụ việc đã giải quyết

7

Số liệu thống kê từ ngày 01-01-2005 đến hết ngày 31-12-2013 do Vụ Thống kê – Tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao cung cấp theo đề nghị của Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao tại Công văn số 29 ngày 07-02-2014

Trang 28

hoà giải thành tại Toà án nhân dân cấp huyện là 36%, tại Toà án nhân dân cấp tỉnh là 8,3% số vụ việc dân sự đã giải quyết Số vụ việc dân sự hòa giải thành ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện tăng giảm không đồng đều giữa các năm, nhưng tỷ lệ công nhận hoà giải thành ở Toà án nhân dân cấp huyện luôn cao hơn

ở Toà án nhân dân cấp tỉnh Kết quả này phần nào phản ánh hiệu quả của công tác hoà giải tại các Toà án cấp huyện Đồng thời, theo thẩm quyền được quy định trong BLTTDS, thì Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết những vụ việc dân sự có tính chất phức tạp hơn, và việc tổ chức hòa giải khi có đương sự ở nước ngoài là ít khả thi nên phần nào việc hoà giải là khó khăn hơn

3.1.2 Về công tác hòa giải các vụ việc hôn nhân và gia đình

đã thụ lý

Hòa giải thành/ % trên số vụ việc đã giải quyết

Số vụ việc đã thụ lý

Số vụ việc đã giải quyết/ % trên số

vụ việc đã thụ lý

Hòa giải thành/

% trên số vụ việc đã giải quyết

Trang 29

có mâu thuẫn quá trầm trọng, không thể sống chung mới khởi kiện ra Toà án đề nghị giải quyết ly hôn Khi trình độ dân trí được nâng cao, đời sống kinh tế - xã hội thay đổi, việc tranh chấp về quyền nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con và phân chia tài sản vợ chồng ngày càng nhiều Đồng thời, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, nhiều luồng văn hoá hiện đại nhưng đôi khi đi ngược với truyền thống đạo đức cũng như xu hướng sống hướng nội (vì gia đình) của người phương đông đang du nhập vào Việt Nam một cách dễ dàng và ngày càng phổ biến Hơn nữa, các vụ việc hôn nhân, gia đình không chỉ liên quan đến vấn đề hôn nhân giữa

vợ và chồng, mà nó còn liên quan chặt chẽ với các mối quan hệ như cha-mẹ-con cái (con chung, con riêng), tài sản chung, tài sản riêng, tại sản cố định trong gia đình, tài sản lưu động trong kinh doanh,… Những mối quan hệ này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như pháp luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật doanh nghiệp, bảo hiểm,… Đây là lý do lớn góp phần làm cho những tranh chấp về hôn nhân gia đình ngày càng phổ biến và phức tạp Hơn nữa, theo quy định của BLTTDS và Luật Hôn nhân và gia đình, thì Toà án chỉ ra quyết định công nhận hoà giải thành khi các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết đối với toàn bộ ba mối quan hệ hôn nhân, nuôi con và tài sản Do đó, tỷ lệ hoà giải thành trong vụ việc hôn nhân gia đình thường rất thấp, không đảm bảo được mục tiêu của ngành Toà án trong việc thực hiện quan điểm giải quyết đối với vụ việc hôn nhân gia đình, đã được khẳng định từ Thông

tư 25/TATC ngày 10-11-1974 về hòa giải trong tố tụng dân sự và các kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án hàng năm,

đó là mỗi vụ án hôn nhân, gia đình không được hòa giải dưới 02 lần, Thẩm phán cần kiên trì hoà giải đến cùng, nhằm góp phần giúp các bên đương sự hàn gắn hạnh phúc gia đình, đảm bảo sự ổn định trong quan hệ hôn nhân, gia đình

Bên cạnh đó, việc thực hiện hòa giải vụ việc hôn nhân, gia đình của Tòa án còn được thể hiện thông qua số liệu về công nhận thuận tình ly hôn Bởi qua thực tiễn giải quyết vụ việc hôn nhân, gia đình, sau khi Tòa án tiến hành hòa giải, nhiều cặp vợ chồng từ đang có tranh chấp về con cái hoặc tài sản có thể thỏa thuận được với nhau giải quyết những vấn đề này và được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn Đồng thời, nhiều trường hợp, sau khi Tòa án tiến hành hòa giải, các bên đồng ý quay về đoàn tụ, nguyên đơn rút đơn khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Do đó, để có con số chính xác về hiệu quả của công tác hòa giải vụ việc hôn nhân, gia đình tại Tòa án thì cần thống kê đối với cả hai trường hợp này Hiện nay, ngành Tòa án chưa có số liệu thống kê, phân biệt rõ, cụ thể như thế nào là hòa giải thành trong hôn nhân gia đình Do đó, phần nào chưa đánh giá được hết hiệu quả của việc hòa giải vụ việc hôn nhân, gia đình tại Tòa án

3.1.3 Về công tác hòa giải các vụ án kinh doanh thương mại

Tòa án nhân dân cấp tỉnh Tòa án nhân dân câp huyện Năm Số vụ

án đã

thụ lý

Số vụ án đã giải quyết/ % trên số vụ án

Hòa giải thành/ % trên

số vụ án đã

Số vụ

án đã thụ lý

Số vụ án đã giải quyết/ % trên số vụ án

Hòa giải thành/

% trên số vụ án

đã giải quyết

Ngày đăng: 17/03/2015, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất: “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “chứng minh và chứng cứ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “chứng minh và chứng cứ
25. Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm
26. Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy trong Phần thứ ba“thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm
29. Bùi Đăng Huy, “Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện”, Luận án thạc sĩ luật học, Hà Nội – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện
30. Vũ Mạnh Thông, Nguyễn Ngọc Điệp, Lê Thị Kim Nga, “Tìm hiểu ngành luật tố tụng dân sự”, Nxb Mũi Cà Mau, Cà Mau – 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ngành luật tố tụng dân sự
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
31. TS. Trần Văn Quảng, “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam – cơ sở lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội – 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam – cơ sở lý luận và thực tiễn
32. Ths. Đức Thị Hòa, “Các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
33. Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tòa án với việc giải quyết những vụ việc về hôn nhân và gia đình – những tồn tại, vướng mắc và hướng hoàn thiện” do TS. Đặng Quang Phương là Chủ nhiệm đề tài, Tòa án nhân dân tối cao – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án với việc giải quyết những vụ việc về hôn nhân và gia đình – những tồn tại, vướng mắc và hướng hoàn thiện
34. Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Thực tiễn thi hành chế định hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án dân sự - những tồn tại, vướng mắc và kiến nghị” do Cn. Nguyễn Thị Tú là Chủ nhiệm đề tài, Tòa án nhân dân tối cao – 2002;… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn thi hành chế định hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án dân sự - những tồn tại, vướng mắc và kiến nghị
21. Công văn số 81/TATC ngày 10-6-2002 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về công tác xét xử, trong đó có hướng dẫn về thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm,… Khác
23. Nghị quyết số 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24-12-2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của BLTTDS cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w