1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc hiểu văn bản Hai đứa trẻ theo hướng thi pháp học

18 1,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 233 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Đình Sử đã khẳng định rõ: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN HUẾ

TRƯỜNG THPT GIA HỘI

-*** -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BỘ MÔN: NGỮ VĂN

Tên đề tài:

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ

THEO HƯỚNG THI PHÁP HỌC

Họ và tên: TRẦN THỊ THU HÀ Chức vụ: GIÁO VIÊN Đơn vị: TRƯỜNG THPT GIA HỘI

Trang 2

Huế, tháng 3 năm 2013

Trang 3

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ THEO HƯỚNG

THI PHÁP HỌC

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề dạy học môn Văn trong trường phổ thông có ý nghĩa thời sự nóng hổi, luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới trong xã hội GS Trần Đình Sử đã khẳng định rõ: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn Văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn

học” Luận điểm này đã đặt lại vấn đề: “Trở về với văn bản văn học nghệ thuật là con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn hiện nay” Văn chương vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, là lĩnh vực để con người

hóa thân và thăng hoa Vì thế nó vô cùng tinh vi và phức tạp Môn Ngữ văn trong nhà trường là môn khoa học nhân văn Tuy vẫn mang tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu, song là một môn học thì nó phải đòi hỏi những chuẩn mực khoa học để đánh giá các hoạt động giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh Việc đọc hiểu văn bản là những thao tác đầu tiên của hình thức tập dượt nghiên cứu văn học Nghiên cứu văn học là để hiểu văn học, đối tượng cụ thể là tác phẩm văn học Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đối thoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng Về tác phẩm văn học, nhất thiết phải có khái niệm tác phẩm văn học xây dựng trên cơ sở khái niệm văn bản mà lí luận văn học hiện hành còn thiếu Ở đó văn bản chỉ được coi như cái vỏ ngôn ngữ bên ngoài Tác phẩm văn học phải được cắt nghĩa theo lí

thuyết tiếp nhận hiện đại” Như vậy, tư tưởng trở về với văn bản là một luận

điểm khoa học khá nhất quán trong phương pháp dạy và học văn hiện nay

Tác phẩm văn học mang đặc trưng riêng của cấu trúc tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Đó là một chỉnh thể bao gồm các thành tố nhà văn – văn bản - người đọc tương tác với nhau Nội dung thẩm mĩ của tác phẩm văn học gắn liền với tầm đón nhận của người đọc Tiếp nhận văn học tức là đọc hiểu để biến văn bản thành một thế giới hình tượng sinh động và nắm bắt được ý nghĩa của nó Những năm gần đây vấn đề tiếp nhận văn học cũng đã bước đầu được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn bậc THPT, ở những mặt cơ bản nhất như: Vai trò chủ động, tích cực của người đọc; Tính chủ quan và khách quan trong việc tiếp nhận tác phẩm; Tác động qua lại giữa người đọc và tác phẩm; Người đọc và “tầm đón nhận”… Như vậy là ít nhiều học sinh cũng đã được tiếp cận với

lí thuyết tiếp nhận hiện đại, đã có những cơ sở bước đầu để tiếp thu văn bản tác

Trang 4

phẩm theo hướng thi pháp học Việc dạy học văn theo hướng thi pháp học đã

bắt đầu được chú ý từ sau thời kì Đổi mới và nhanh chóng được đưa vào vận dụng trong trường học, như có tác giả đã khẳng định: “Tinh thần thi pháp học đang thấm dần trong sách giáo khoa, trong giờ giảng văn và trong bài làm văn học sinh Thi pháp học đang thu hút sự quan tâm của giới học đường”…

Xuất phát từ mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng và đề cao ý thức chủ thể của học sinh, từ mục đích của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, nhằm giúp các em học sinh vừa nắm được những kiến thức cơ bản, vừa hình thành thái độ và kĩ năng thực tiễn mà môn Văn đặt ra, đồng thời góp phần rèn luyện, phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh trong giờ đọc –

hiểu tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn bậc THPT, tôi chọn đề tài: Đọc

– hiểu văn bản Hai đứa trẻ theo hướng thi pháp học.

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

1 Cơ sở lý luận.

a Thế nào là thi pháp học ?

Thi pháp học là bộ môn khoa học cũ mà mới Cũ là bởi vì nó đã xuất hiện

ở Hy Lạp từ thời cổ đại với Nghệ thuật thi ca của Aristote Nhưng Thi pháp học

với tư cách là một bộ môn khoa học chỉ hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Âu – Mỹ và phổ biến khắp thế giới Ở Việt Nam trước 1975, Thi pháp học đã thâm nhập vào miền Nam nhưng chưa có điều kiện phổ biến ở miền Bắc Mãi đến sau Đổi mới, nó mới được chú ý và nhanh chóng trở thành

“mốt” thời thượng được nhiều người vận dụng Thi pháp học được dạy ở bậc Cao học, Đại học và có trong sách bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học Tinh thần Thi pháp học đang thấm dần trong sách giáo khoa, trong giờ giảng văn và trong bài làm văn học sinh Thi pháp học đang thu hút sự quan tâm của giới học đường

Thi pháp học truyền thống giải thích văn học bằng các nguyên nhân làm ra văn học ở bên ngoài Đó là tự nhiên, hiện thực xã hội, trí tưởng tượng, tình cảm,

cá tính sáng tạo, thế giới quan Những nguyên nhân đó có vai trò không thể thiếu của chúng song không phải đã là tất cả Thi pháp học hiện đại muốn tìm một con đường khác, thâm nhập vào bản thể văn học

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học Nhưng trong nhà trường, nên

có một cách hiểu thống nhất vì tất cả học sinh phải học chung một sách giáo khoa, thi chung một đề, một đáp án Có thể hiểu, thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật,

Trang 5

giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần Đình Sử)(1) Phương pháp chủ yếu của Thi pháp học là phương pháp hình thức Dạy Văn theo hướng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm

b Các phạm trù của thi pháp học

* Một trong những phạm trù quan trọng hàng đầu của Thi pháp học là thể loại Trong giờ giảng văn, cần chú ý đến thể loại vì nó chi phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tác phẩm Mỗi thể loại có một đặc điểm riêng và yêu cầu phân tích theo một phương pháp riêng Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa thường sắp xếp tác phẩm theo thể loại

Chẳng hạn, trong sách Ngữ văn 11, nâng cao, tập 1, học sinh được học và đọc thêm liền mạch các tác phẩm truyện như: Hai đứa trẻ, Cha con nghĩa nặng, Chữ người tử tù, Vi hành, Số đỏ, Việc làng, Chí Phèo, Tinh thần thể dục Dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cần chỉ ra vẻ đẹp hình thức của thể văn biền ngẫu

như: các vế phải đối nhau về số tiếng, thanh điệu, nhịp, nội dung, tất cả các câu đều gieo theo một vần, sử dụng nhiều điển cố và từ ngữ giàu hình ảnh…Có như vậy học sinh mới thấy được kỳ công của Nguyễn Đình Chiểu và ngưỡng mộ tài năng nghệ thuật của ông

* Nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm Thi pháp học xem xét nhân vật ở ba khía cạnh: tính cách nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật miêu tả nhân vật Khi phân tích tính cách nhân vật, cần lưu ý đến kiểu nhân vật để có cách phân tích cho phù hợp Chẳng hạn, phân tích truyện ngắn hiện đại thì cần chú ý đến kiểu nhân vật tính cách, còn phân tích truyện cổ tích thì nên chú ý loại hình nhân vật chức năng Phần quan niệm nghệ thuật về con người thường ít được đặt thành mục riêng mà chỉ nói lướt qua ở phần tiểu dẫn, chủ đề hoặc kết luận Vì trong thực tế, không phải tác phẩm nào cũng thể hiện rõ nét nội dung này Nhưng đối với những tác phẩm thể hiện khá rõ quan niệm nghệ thuật về con người thì cần phải đặt nó thành mục riêng, như: Thơ Nguyễn Công Trứ, truyện ngắn Nam Cao…

* “Hình tượng thế giới” không chỉ có nhân vật mà còn có không gian, thời gian Thi pháp học chỉ chú ý những chi tiết không gian, thời gian nào có ý nghĩa, góp phần thể hiện cuộc sống con người, chúng vừa mang tính quan niệm lại vừa như một thủ pháp nghệ thuật (lấy cảnh tả tình) Không gian và thời gian thường

Trang 6

gắn liền với nhau, chi phối, cộng hưởng lẫn nhau tạo ra một “thế giới mang tính quan niệm” Cần chú ý đặc điểm của chúng trong mỗi thể loại, mỗi giai đoạn văn học, mỗi tác giả, tác phẩm Nó có thể được phân tích ở tầm bao quát nhưng cũng có thể được phân tích ở các chi tiết nhỏ

* Trong văn học có nhiều loại kết cấu: không gian – thời gian – điểm nhìn – nhân vật – chi tiết – ngôn từ… nhưng quan trọng hơn cả là kết cấu cốt truyện Lâu nay, trong giờ giảng văn, thầy và trò thường có thao tác tìm hiểu bố cục tác phẩm để dễ phân tích Nhiều truyện hiện đại thường theo lối trần thuật

phi tuyến tính, đa tuyến nên chia bố cục không dễ dàng Chẳng hạn, truyện Chí Phèo không thể chia đoạn theo thời gian trần thuật được mà phải chia theo hình

tượng nhân vật: Chí Phèo – Bá Kiến, rồi trong Chí Phèo lại chia theo thời gian

sự kiện: lúc còn lương thiện – lúc bị lưu manh hóa – lúc ý thức phục thiện Ngoài ra, cần phải cho thấy dụng ý của tác giả khi đảo lộn thứ tự sự kiện Chú ý khai thác các chi tiết đắt có vai trò quan trọng trong việc tạo tình huống truyện như chi tiết bát cháo hành

* Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng của Thi pháp học Không phải ngẫu nhiên

mà những người khởi xướng Thi pháp học là những nhà ngôn ngữ học

Ngôn ngữ văn học có tính tổ chức cao, giàu hình ảnh, đa nghĩa và mang dấu ấn riêng của tác giả Khi phân tích ngôn ngữ thơ, cần lưu ý nhạc điệu, các phương tiện và biện pháp tu từ, cách dùng từ, giọng thơ, tứ thơ… Ngôn ngữ thơ hiện đại mang tính tự do, không bị gò bó vào khuôn khổ nào, lời nhân vật trữ tình cũng tự nhiên và mang dấu ấn cá nhân rất rõ Tác giả coi trọng cách diễn đạt

mới mẻ nên thường có nhiều cách kết hợp ngữ nghĩa lạ thường (Đây mùa thu tới, Vội vàng, Tràng giang, ) Khi phân tích ngôn ngữ văn xuôi cần chú ý cách

sử dụng các kiểu câu, chủ thể phát ngôn, cách xưng hô, giọng điệu kể, sự cá thể hóa ngôn ngữ của nhân vật và tác giả … Có thể chia ngôn ngữ văn xuôi thành hai tính chất trái ngược nhau Một là giọng điệu tiểu thuyết, thể hiện đậm đặc trong văn xuôi hiện thực phê phán Vũ Trọng Phụng có giọng trào phúng, Nam Cao có giọng lạnh lùng, Nguyễn Công Hoan có giọng hóm hỉnh…

* Điểm nhìn còn được gọi là điểm quan sát, vị trí người kể chuyện, nhãn quan, cách nhìn đời… Điểm nhìn nghệ thuật có quan hệ với mọi yếu tố trong tác phẩm Điểm nhìn còn được gọi là điểm quan sát, vị trí người kể chuyện, nhãn quan, cách nhìn đời… Điểm nhìn nghệ thuật có quan hệ với mọi yếu tố trong tác phẩm nên ta có các loại điểm nhìn sau: 1 Điểm nhìn tác giả: được thể hiện ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba vô nhân xưng và ở cách tác giả xưng hô nữa; 2 Điểm nhìn nhân vật: là cách mà nhân vật nhìn nhận, đánh giá sự việc,

Trang 7

có khi, nhân vật được trao điểm nhìn trần thuật; 3 Điểm nhìn tâm lý: tức là nói đến điểm nhìn bên trong hay bên ngoài, chủ quan hay khách quan; 4 Điểm nhìn tư tưởng: là thái độ, lập trường, cách nhìn đời của tác giả hay nhân vật; 5 Điểm nhìn không gian: gồm có vị trí nhìn, khoảng cách nhìn, trường nhìn, cách nhìn…; 6 Điểm nhìn thời gian: nhìn liền mạch hay đứt quãng, nhìn kỹ hay nhìn lướt, cách sắp xếp các thời quá khứ - hiện tại – tương lai…; 7 Điểm nhìn

tu từ: là cách nhìn độc đáo mang tính phát hiện của tác giả về sự vật hiện

tượng Ví dụ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Con gió xinh thì thào trong lá biếc”… (Vội vàng)…

* Thi pháp học cũng nghiên cứu cả hình tượng tác giả Người xưa nói:

“Văn như kỳ nhân”, xem văn là biết được người, đọc tác phẩm là biết ngay tác giả Nhà văn có thể xuất hiện trong tác phẩm qua cách xưng “tôi” hoặc có thể

ẩn mình Để biết phong cách của nhà văn, có thể căn cứ vào ngôn ngữ trần thuật, cách xưng hô, giọng điệu, cảm hứng đề tài, không gian – thời gian sự kiện, cách bố cục và cách sử dụng các chi tiết trong tác phẩm… Nhà văn trong tác phẩm có thể không đồng nhất với nhà văn ở ngoài đời Để khách quan, ta cần bám vào văn bản là chính Ta có thể nghiên cứu phong cách của từng nhà văn lớn, có đặc điểm riêng rõ nét như: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Xuân Diệu…

2 Cơ sở thực tiễn

Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn và hoạt động dự giờ thao giảng trong nhiều năm nay, tôi nhận thấy:

-Việc dạy học môn Ngữ văn đã có tình trạng “thế bản” lấn át, thay thế văn bản của nhà văn Văn bản quan trọng nhất mà học sinh phải/bị học không phải là văn bản tác phẩm mà là bài giảng của giáo viên, là văn bản các bài phân tích, bình giảng về tác phẩm văn học Nghĩa là một số giáo viên áp đặt kiến thức đối với người học

-Điều đó dẫn đến việc học sinh xem nhẹ việc đọc văn bản tác phẩm, hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo nảy sinh từ văn bản của học sinh, khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo Vấn đề đặt ra ở đây là học sinh đọc trực tiếp hay “đọc” qua người khác, đọc hiểu văn bản của nhà văn ở mức độ nào là việc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với việc dạy học văn

-Trong dạy học môn Ngữ văn, một số giáo viên chỉ chú ý làm rõ phương diện nội dung, ít khai thác các yếu tố nghệ thuật được các nhà thơ, nhà văn sử dụng trong tác phẩm Điều này là một thiếu sót lớn, nếu không muốn nói rằng

Trang 8

giáo viên nhất là đối với các bài thơ trữ tình Bởi khi tìm hiểu tác phẩm thơ, một

kỹ năng rất quan trọng mà người giáo viên phải dẫn dắt, khơi gợi cho các em đó

là khai thác từ nghệ thuật để lẩy ra nội dung

-Có một thực tế là nhiều học sinh không biết kĩ năng phân tích, cảm nhận nội dung tác phẩm thông qua các hình thức nghệ thuật của tác phẩm đó Phần lớn các em chỉ “xăm xăm” tìm hiểu nội dung mà quên rằng nội dung nào cũng được chứa đựng trong một hình thức thích hợp

-Thực tế hiện nay, học sinh học môn Ngữ Văn một cách nghiêm túc rất ít, các em hứng thú, say mê môn học lại càng hiếm Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh và được đề cao thì những vấn đề trong văn học với không ít người là viễn vông, phi thực tế; nhiều khi khô khan, khó hiểu, không hấp dẫn nên không khơi gợi được cảm xúc của người đọc, người nghe nên kết quả giảng dạy hạn chế

- Sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay chứa đựng rất nhiều tri thức về thi pháp học Các đề thi và đáp án môn văn thời gian qua đã yêu cầu học sinh chú trọng, phân tích hình thức nghệ thuật Nhưng những vấn đề nói trên phần lớn còn nằm

ở dạng lí thuyết

3 Vận dụng thi pháp học vào Đọc – hiểu văn bản Hai đứa trẻ

Trên đây là các thành tố tạo nên cấu trúc tác phẩm văn học Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng phân tích đầy đủ các yếu tố trên mà chỉ chú trọng những yếu tố nào quan trọng, đặc sắc, thể hiện rõ ý đồ nghệ thuật của tác giả Ta

có thể thiết kế một bài giảng văn theo mô hình Thi pháp học Như phân tích

bài Tràng giang, có thể chia theo điểm nhìn không gian: khổ 1 (gần), khổ 2 (xa),

khổ 3 (gần), khổ 4 (xa)

Truyện ngắn Hai đứa trẻ có thể được chia theo các bước đi của hình tượng

thời gian – không gian: 1 Cảnh phố huyện lúc chiều tối, 2 Cảnh phố huyện ban đêm, 3 Cảnh phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua

Trang 9

TIẾT 37 Đọc văn hai đứa trẻ

(Thạch Lam)

A MỤC TIấU

1 Kiến thức: Giỳp học sinh nắm được:

- Tấm lũng nhõn ỏi sõu sắc của Thạch Lam đối với những kiếp người nghốo khổ và sự cảm thụng, trõn trọng của nhà văn trước mong ước của họ về cuộc sống tươi sỏng hơn

- Nột độc đỏo trong bỳt phỏp nghệ thuật của Thạch Lam

2.Về kĩ năng: phõn tớch truyện ngắn trữ tỡnh

3 Về thỏi độ: biết cảm thụng, yờu thương con người

B PHƯƠNG PHÁP: phỏt vấn, giảng bỡnh.

C CHUẨN BỊ GIÁO CỤ

1 GV: Đọc tài liệu, thiết kế giỏo ỏn

2 HS: Đọc sgk, soạn bài

D TIẾN TRèNH LấN LỚP

1 Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số

2 Kiểm tra bài cũ: Trỡnh bày những thành tựu chủ yếu của VHVN từ đầu thế kỉ

XX đến cỏch mạng thỏng Tỏm 1945?

3 Bài mới:

a Đặt vấn đề: Thạch Lam là nhà văn xuất sắc của nhúm Tự lực văn đoàn Người đọc khi đến với ụng sẽ tỡm thấy toàn bộ bức tranh cuộc sống với sự hiện diện đầy đủ mọi hạng người, đặc biệt là những người nghốo khổ sống lam lũ, tối tăm bằng tỡnh yờu thương nhẹ nhàng đằm thắm Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" là một vớ dụ

b Triển khai bài:

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ

TRề

NỘI DUNG KIẾN THỨC

Hoạt động 1: H/d hs tỡm hiểu vài

nột về tỏc giả

Đọc TD và cho biết vài nột về tỏc

giả?

Định hướng:

- Những yếu tố ảnh hưởng đến sự

nghiệp của TL

- Điểm khỏc biệt của TL với cỏc

nhà văn Tự lực văn đoàn

I.TÁC GIẢ (1910- 1942)

- Tuổi thơ và tuổi trẻ sống ở phố huyện Cẩm Giàng- Hải Dương: phố huyện nghốo cú một cỏi chợ, ga xộp đờm đờm một chuyến tàu chạy qua, lự mự mấy ỏnh đền hàng phở, hàng nước chố tươi in đậm trong tõm trớ

TL Về sau, phố huyện nghốo này là khụng gian nghệ thuật, trở đi trở lại trong sỏng tỏc của TL

Trang 10

- Đặc sắc về nghệ thuật viết truyện

ngắn của TL

- Quan điểm nghệ thuật của TL

- Các tác phẩm tiêu biểu

Hoạt động 2: H/d hs đọc.

- Phát biểu cảm nhận chung?

- Cách phân tích?

Hoạt động 3: H/d học sinh tìm hiểu

chi tiết

Cảm nhậ của em về âm thanh trong

truyện?

GV tham gia bình, liên hệ câu thơ

của Hồ Xuân Hương "Đêm khuya

văng vẳng trống canh dồn" -> tăng

cái yên tĩnh, quanh vắng -> con

người cô đơn, trơ trọi hơn

- Thông minh, điềm đạm, trầm tĩnh, tinh tế

- Xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương

- Là thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng văn chương Thạch Lam đi theo hướng

riêng: viết về những người lao động cơ cực,

bế tắc với tấm lòng thương cảm sâu sắc

- Thạch Lam sở trường về truyện ngắn - truyện không có cốt truyện mà thiên về tâm trạng, đem chất thơ đó vào văn xuôi Nhân vật của Thạch Lam là nhân vật của cảm xúc, tâm trạng nhiều hơn là tư duy

- Có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, lành mạnh, đặc biệt là khẳng định chức năng cao quý của văn chương đối với cuộc sống

- Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị:

"Gió lạnh đầu mùa"; "Nắng trong vườn";

"Sợi tóc"; " Hà Nội 36 phố phường”; và là

cây bút phê bình văn học xuất sắc

II ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN

1 Xuất xứ: Rút từ tập “Nắng trong vườn”

2 Đọc- cảm nhận chung

3 Phân tích.

a Bức tranh phố huyện:

*Cảnh ngày tàn, chợ tàn:

- Tiếng trống thu không: thứ âm thanh chất

chứa nỗi niềm của con người -> tiếng trống vang xa gọi chiều về và gợi cả nỗi niềm xao xác -> điểm nhịp cho cuộc sống nặng nề trôi

-Làm nền cho tiếng trống là "bản nhạc dân dã" quen thuộc, buồn bã, rên rĩ của côn trùng, ếch nhái, muỗi, tiếng đàn bầu rời rạc

=> không đủ sức khuấy động không khí lặng

lẽ, tù đọng của phố huyện

* Thời gian: "Chiều, chiều rồi Một chiều

Ngày đăng: 17/03/2015, 18:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w