nhân của tình trạng trên ở khía cạnh lĩnh vực ngân hàng, có thể thấy bên cạnh nguyên nhân từ phía người dân khả năng hấp thụ vốn kém, quy mô và trình độ quản lý kinh doanh còn yếu,… còn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ XUÂN HỒNG
PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CHI NHÁNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Lạt – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ XUÂN HỒNG
PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CHI NHÁNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân Hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ANH TUẤN
Đà Lạt – 2012
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHTM VÀ MẠNG LƯỚI CHI NHÁNH CỦA CÁC NHTM 7
1.1 Ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng thương mại 7
1.1.1 Ngân hàng thương mại 7
1.1.2 Chi nhánh ngân hàng thương mại 12
1.1.3 Phân loại chi nhánh ngân hàng 15
1.2 Mối quan hệ giữa trụ sở chính và chi nhánh của NHTM 17
1.2.1 Các mô hình tổ chức mối liên hệ giữa chi nhánh và trụ sở chính 17
1.2.2 Vai trò của chi nhánh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM 20
1.3 Các chiến lược phát triển hệ thống chi nhánh ngân hàng thương mại: 22
1.3.1 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh tại thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống 22
1.3.2 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống của ngân hàng 23
1.3.3 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển 23
1.3.4 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh, PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển 24
1.3.5 Mở rộng chi nhánh thông qua hoạt động M&A: 24
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chi nhánh 25
1.4.1 Các nhân tố chủ quan 25
1.4.2 Các nhân tố khách quan 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI EXIMBANK TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN 32
2.1 Vài nét khái quát về Eximbank 32
2.1.1 Lịch sử và cơ cấu tổ chức 32
2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của Eximbank 36
2.2 Phát triển mạng lưới chi nhánh của Eximbank trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 41
2.2.1 Khái quát về sự phát triển chi nhánh của Eximbank trên toàn quốc giai đoạn 2007 đến nay 41
Trang 42.2.2 So sánh sự phát triển chi nhánh của Eximbank với một số ngân hàng
thương mại khác 45
2.2.3 Quá trình phát triển các chi nhánh của Eximbank trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 47
2.2.4 Hiệu quả hoạt động của các chi nhánh của Eximbank trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 49
2.3 Đánh giá những thành công và những tồn tại trong quá trình phát triển các chi nhánh của Eximbank 52
2.3.1 Thành công 52
2.3.2 Những tồn tại 53
2.3.3 Nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI EXIMBANK TẠI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 57
3.1 Chiến lược và định hướng phát triển của Eximbank trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 57
3.1.1 Chiến lược 57
3.1.2 Định hướng 58
3.2 Những thuận lợi và thách thức trong việc phát triển chi nhánh ngân hàng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 59
3.2.1 Những thuận lợi 59
3.2.2 Những thách thức 61
3.3 Những giải pháp phát triển hệ thống chi nhánh của Eximbank 64
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện về chiến lược mở rộng mạng lưới chi nhánh 64
3.3.2 Giải pháp về nguồn nhân lực 66
3.3.3 Giải pháp về tài chính 69
3.3.4 Giải pháp về mô hình tổ chức 70
3.4 Kiến nghị 73
3.4.1 Kiến nghị với NHNN 73
3.4.2 Kiến nghị với Chính phủ 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5i
DANH MỤC BẢNG
3 Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của Eximbank giai đoạn 2007-20112 39
5 Bảng 2.5 Chỉ tiêu vốn điều lệ lợi nhuận sau thuế và mạng lưới hoạt động của Eximbank năm 2007-2011 và, ACB 45
6 Bảng 2.6 Lợi nhuận trước thuế của Eximbank Đà Lạt và Eximbank Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2011 49
7 Bảng 2.7 So sánh về quy mô và thời gian hoạt động của Eximbank và Sacombank, ACB trên địa bàn Lâm Đồng 50
8 Bảng 2.8 So sánh về quy mô và thời gian hoạt động của Eximbank và Sacombank, ACB trên địa bàn Đăk Lăk 51
9 Bảng 2.9 Kết quả hoạt động của Eximbank CN Buôn Ma Thuột năm 2011 51
10 Bảng 2.10 Kết quả hoạt động của Eximbank CN Đà Lạt năm 2011 52
11 Bảng 3.1 Dự toán chi phí – thu nhập của chi nhánh Buôn
Mê Thuột
67
12 Bảng 3.2 Kế hoạch nguồn vốn – sử dụng vốn của chi nhánh
Buôn Mê Thuột
67
Trang 6DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Mô hình tổ chức hoạt động của ngân hàng Vietinbank 19
2 Hình 1.2 Mô hình tổ chức hoạt động của NHTM phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ 19
3 Hình 1.3 Mô hình tổ chức hoạt động của NHTM phân cấp
quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ
20
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
7 Biểu đồ 2.7 So sánh chỉ LNST giữa Eximbank, Sacombank và ACB giai đoạn 2007 – 2011 46
8 Biểu đồ 2.8 So sánh chỉ LNST giữa Eximbank, Sacombank
và ACB giai đoạn 2007 – 2011
47
9 Biểu đồ 2.9 So sánh mạng lưới giữa Eximbank, Sacombank
và ACB giai đoạn 2007 – 2011
47
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Xây dựng và mở rộng mạng lưới hoạt động là một vấn đề có tính chiến lược ở mỗi
tổ chức kinh tế nói chung và của mỗi ngân hàng nói riêng Mỗi một ngân hàng tùy theo hình thức kinh doanh, năng lực điều hành và thế mạnh sản phẩm của họ sẽ có những chiến lược mở rộng mạng lưới hoạt động khác nhau Trong những năm gần đây do kinh
tế thị trường phát triển, đặc biệt là khi thị trường tài chính Việt Nam đang dần mở cửa theo lộ trình cam kết WTO, tốc độ mở rộng mạng lưới các ngân hàng thương mại diễn
ra một cách nhanh chóng trên địa bàn cả nước Bên cạnh mục tiêu mang lại sản phẩm dịch vụ phục vụ tốt hơn cho người sử dụng và cung cấp nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế địa phương cuộc chạy đua mở rộng mạng lưới của các ngân hàng hiện nay còn
vì do nguyên nhân của áp lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường với các ngân hàng bạn trên thị trường
Tây Nguyên là một trong bảy vùng kinh tế - sinh thái của nước ta, gồm có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng với tổng diện tích khá rộng lớn chiếm khoảng gần 16.8% diện tích cả nước và khoảng 6 triệu dân Giá trị tổng sản phẩm (GDP) năm 2010 của Tây Nguyên đạt 83,100 tỷ đồng tăng 2,8 lần so với năm 2001, đạt mức tăng bình quân là 11,9%/năm bằng 4.2% GDP cả nước Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là 15,5 triệu đồng trong khi đó bình quân cả nước là 22 triệu đồng So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiều khó khăn, như là thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển, sự chung đụng của nhiều sắc dân trong một vùng đất nhỏ và với mức sống còn thấp Tuy nhiên Tây Nguyên có lợi điểm về tài nguyên thiên nhiên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, cao su, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà Chính điều này đã tạo nên đặc thù kinh
tế và cũng là thế mạnh của các tỉnh Tây Nguyên trong hoạt động kinh tế thương mại Hoạt động thương mại của Tây Nguyên chủ yếu tập trung ở các cây công nghiệp kể trên trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến là cà phê, cao su, điều, tiêu Tuy nhiên, có thể thấy tiềm lực kinh tế cũng như trình độ phát triển kinh tế-xã hội ở vùng Tây Nguyên còn ở mức thấp chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô của vùng Giải thích về nguyên
Trang 8nhân của tình trạng trên ở khía cạnh lĩnh vực ngân hàng, có thể thấy bên cạnh nguyên nhân từ phía người dân (khả năng hấp thụ vốn kém, quy mô và trình độ quản lý kinh doanh còn yếu,…) còn có nguyên nhân về phía các ngân hàng (chất lượng dịch vụ chưa cao, trình độ cán bộ tác nghiệp còn hạn chế, sản phẩm, chiến lược đưa ra cho các chi nhánh trong vùng thiếu tính linh hoạt…)
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (sau đây gọi tắt là Eximbank) là một trong những ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt Nam, được thành lập vào ngày 24/05/1989 và chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam sau đổi thành Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam Thế mạnh ban đầu của Eximbank là lĩnh vực bán sĩ với các gói sản phẩm dịch vụ phục vụ chủ yếu cho hoạt động thanh toán quốc tế và xuất nhập khẩu Nhưng đến nay trước những chuyển biến của tình hình kinh tế thế giới và trong nước Eximbank đã bắt đầu chiến dịch mở rộng mạng lưới nhằm phục vụ cho kênh phân phối bán lẻ sắp tới Tính đến ngày 31/12/2010, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đã có 183 chi nhánh trên cả nước và đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 852 Ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới Song nếu xét số lượng và mật độ các điểm hoạt động của Eximbank trên cả nước so với các ngân hàng thương mại cổ phần khác có cùng quy mô và bề dày lịch sử hoạt động có thể kể đến như ACB, Sacombank thì mạng lưới Eximbank hiện vẫn còn khá thưa thớt chưa xứng tầm Trong đó, đến nay, trên địa bàn năm tỉnh Tây Nguyên Eximbank chỉ mới mở chi nhánh hoạt động tại 2 tỉnh là Lâm Đồng và Đăk Lăk Hơn thế nữa, hai chi nhánh vẫn hoạt động riêng lẻ độc lập chưa có tính liên kết hỗ trợ cao nên chưa phát huy hết tiềm năng của địa bàn hoạt động, thiếu tính cạnh tranh so với các ngân hàng bạn
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giải đã quyết định lựa chọn vấn đề “Phát triển mạng lưới chi nhánh của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam trên địa bàn Tây Nguyên” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Tình hình nghiên cứu:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Trang 9Nghiên cứu về vấn đề phát triển hệ thống chi nhánh ngân hàng, chiến lược cho việc mở rộng chi nhánh và các vấn đề liên quan như địa điểm, phạm vi, quy mô của chi nhánh đã được khá nhiều học giả nước ngoài nghiên cứu, có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu sau đây :
Bài nghiên cứu của hai tác giả Bevery Hirtle và Christopher Metli về "Sự phát
triển của hệ thống chi nhánh ngân hàng Mỹ: Tăng trưởng, củng cố và chiến lược" trên
cơ sở nghiên cứu sự phát triển mạng lưới ngân hàng của Mỹ giai đoạn 2001-2003, các tác giả đi đến kết luận giữa các ngân hàng lớn và các ngân hàng nhỏ có sự khác biệt lớn trong chiến lược Các ngân hàng lớn có trên 500 chi nhánh thường tập trung vào chiến lược thâu tóm, chi nhánh các ngân hàng Mỹ ngày càng tập trung phát triển mạng lưới chi nhánh quy mô lớn và trung bình Đặc biệt sự sát nhập các ngân hàng lớn của Mỹ đã làm mạng lưới chi nhánh của Mỹ mở rộng rất nhanh Tuy nhiên, những ngân hàng có mạng lưới quy mô lớn lại thường phát triển chậm hơn các ngân hàng có mạng lưới chi nhánh quy mô trung bình
Bài báo khoa học của Astrid A Dick được đăng trên Tạp chí kinh doanh vào tháng
3 năm 2006 với tiêu đề "Mở rộng chi nhánh trên cả nước và ảnh hưởng đến cơ cấu thị
trường, chất lượng và hoạt động của ngân hàng thương mại" cũng đã cho biết sau khi
đạo luật Riegle – Neal được thông qua ở Mỹ vào những năm 1990, trong đó quy định cho phép các ngân hàng Mỹ được mở chi nhánh trên toàn nước Mỹ đã ảnh hưởng như thế nào đến thị trường và dịch vụ ngân hàng cũng như hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Mỹ
Công trình nghiên cứu của 3 tác giả Giorgio Calcagnini , Riccardo De Bonis and
Donald D Hester vào tháng 10 năm 1999 với tiêu đề "Nhân tố ảnh hưởng đến sự mở
rộng chi nhánh ngân hàng tại Italia" cũng đã đi đến kết luận cơ cấu thị trường và sự
hiện diện các chi nhánh cũ và chi nhánh của các ngân hàng đối thủ sẽ có ảnh hưởng lớn đến các chi nhánh ngân hàng mới; các ngân hàng có xu hướng mở chi nhánh tại những khu vực có nhiều đối tượng khách hàng học chưa vươn tới và nơi có tỷ lệ chi nhánh ngân hàng trên đầu người thấp; các ngân hàng mới sát nhập thường có nhiều chi nhánh mới hơn…
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Trang 10Về vấn đề phát triển hệ thống chi nhánh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, các công trình nghiên cứu độc lập về vấn đề này không nhiều, khía cạnh phát triển hệ thống chi nhánh thường được đề cập như là một nội dung của phát triển các hoạt động ngân hàng như dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tín dụng, nâng cao cạnh tranh…có thể liệt kê như :
Bài nghiên cứu của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Mùi năm 2008 "Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam và những vấn đề đặt ra" cho rằng việc phát triển chi nhánh các ngân hàng thương mại đã góp phần phát triển các dịch vụ truyền thống và phát triển các dịch vụ mới, từ đó góp phần tạo nên sự tăng trưởng về doanh số và tỷ trọng dịch vụ
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các Ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2010” của tác giả Trịnh Quốc Trung vào năm 2004 Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng cạnh tranh và hội nhập trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và trong hệ thống NHTM nói riêng Tác giả cũng đã phân tích về các áp lực cạnh tranh và hội nhập đối với các NHTM Việt Nam trong quá trình thực hiện hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa Kỳ và chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các NHTM Việt Nam Trong đó có đề cập đến vai trò của phát triển mạng lưới chi nhánh như là một giải pháp cần thiết để mở rộng dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh
Sách “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập” của tác giả PGS.TS Phạm Thị Quy xuất bản năm 2005, trong cuốn sách này tác giả đã phân tích năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong từng lĩnh vực cụ thể theo các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của mô hình CAMLES, trong đó có đề cập đến mạng lưới chi nhánh của các NHTM Việt Nam Đồng thời trong những giải pháp, kiến nghị do tác giả đề xuất có đề cập đến việc mở rộng hệ thống chi nhánh NHTM
Có thể nói, các công trình nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến các khá nhiều vấn
đề của việc mở rộng mạng lưới chi nhánh ngân hàng từ chiến lược mở rộng đến lựa chọn mục tiêu cũng như các chính sách ảnh hưởng đến hoạt động này, tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu về các ngân hàng tại các nước phát triển, có số vốn, công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý lâu đời, trong khi đó Việt Nam là một nước đang phát
Trang 11triển với những đặc thù và điều kiện kinh tế xã hội chính trị riêng mà chưa một nghiên cứu nào đã đề cập Trong khi đó, các công trình nghiên cứu trong nước chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống lý thuyết cũng như áp dụng chúng vào thực
tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong hoạt động phát triển mạng lưới chi nhánh Vì vậy, việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển mạng lưới chi nhánh và áp dụng cụ thể vào trường hợp Eximbank trên địa bàn Tây Nguyên là một vấn
đề mới và không trùng lặp với các công trình đã được công bố trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ và trả lời các câu hỏi sau:
- Cơ sở nào cho các NHTM xây dựng và mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình? Các NHTM có những mô hình nào trong việc phát triển mạng lưới ?
- Eximbank đã phát triển mạng lưới chi nhánh như thế nào trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên? Những thành công và hạn chế của sự phát triển này?
- Trong thời gian tới để thực hiện được chiến lược phát triển của mình, Eximbank cần có những giải pháp và đề xuất gì trong việc phát triển mạng lưới chi nhánh ở Tây Nguyên
Để trả lời câu hỏi trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về chi nhánh ngân hàng và phát triển chi nhánh ngân hàng thương mại
- Đánh giá thực trạng phát triển mạng lưới của Eximbank trên địa bàn Tây Nguyên: những thành công, hạn chế và nguyên nhân
- Đưa ra các giải pháp áp dụng vào mở rộng mạng lưới Eximbank trên địa bàn Tây Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hoạt động phát triển mạng lưới chi nhánh của Eximbank tại các tỉnh Tây Nguyên, trong đó tập trung vào 02 đối tượng chính là chi nhánh và phòng giao dịch của ngân hàng Đây là 2 đối tượng mà các ngân hàng hiện nay đang tập trung nguồn lực để phát triển và mở rộng
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 12Đề tài tập trung nghiên cứu vào hoạt động phát triển mạng lưới của Eximbank ở Tây Nguyên trong các 5 năm gần đây (2007-2012)
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê có chọn lọc kết hợp với phương pháp so sánh kết quả trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trong quá trình phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn cũng như đánh giá tính khả thi của các giải pháp, luận văn còn sử dụng các công thức toán học, bảng biểu và
đồ thị minh hoạ để làm tăng tính trực quan và sức thuyết phục của đề tài
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng thương mại, mối quan hệ giữa chi nhánh và ngân hàng chính
Đánh giá thực tiễn hoạt động phát triển chi nhánh của Eximbank trên điạ bàn các tỉnh Tây Nguyên từ đó nêu bật được thành công, hạn chế và nguyên nhân
Đề xuất một số giải pháp giúp Eximbank phát huy tốt hơn hiệu quả kinh doanh và
hỗ trợ trong việc tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính – ngân hàng của khách hàng ở một số vùng miền đặc biệt như Tây Nguyên trên cơ sở phát triển mạng lưới chi nhánh
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về NHTM và mạng lưới chi nhánh của các NHTM
Chương 2 Thực trạng việc phát triển mạng lưới Eximbank trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
Chương 3 Một số kiến nghị và giải pháp đối với hoạt động phát triển mạng lưới Eximbank tại các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn tới
Trang 13CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHTM VÀ MẠNG
LƯỚI CHI NHÁNH CỦA CÁC NHTM
1.1 Ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại
để có thêm lợi nhuận
Theo historyworld.net ngân hàng lại bắt nguồn từ việc người dân Ai Cập có thói quen gởi tài sản vàng cho các tu sĩ các đền thờ nhằm đảm bảo an toàn Sau này khi thấy một số khác lại có nhu cầu vốn nên các tu sĩ này đã cho họ mượn tiền.Và khái niệm
Trang 14ngân hàng đã xuất hiện từ đó Một trong những ngân hàng đầu tiên được biết đến là Banco di San Giorgio vào năm 1407 tại Genoa - Ý
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về NHTM Theo Luật của Mỹ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Theo đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Ở Việt Nam, khái niệm về Ngân hàng thương mại được quy định tại Khoản 1, 2 và
3 điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010:
“1 Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
2 Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
3 Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Từ những định nghĩa trên về ngân hàng, có thể rút ra được NHTM là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng các DVNH lại cho đối tượng trên Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các
“Siêu thị tài chính”
Trang 15Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính
mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
1.1.1.2 Các hoạt động của NHTM
Theo mục 1 điều 6 Luật ngân hàng nhà nước năm 2010 và mục 12, điều 4 của Luật
Tổ chức tín dụng năm 2010 đều quy định “hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:
- Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu
- Các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận Hoạt động
Trong hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh các hình thức nhận tiền gửi trên để huy động vốn, các NHTM còn sử dụng các hoạt động sau để huy động vốn trong trường hợp gặp khó khăn về thanh khoản:
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước
Trang 16b Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng của NHTM, theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm
2010, được hiểu là hoạt động của NHTM cho các cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ chức kinh tế vay vốn dưới nhiều hình thức khác nhau Chính vì vậy mục 13 Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân
sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc
có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Cụ thể như sau:
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Hoạt động cho vay bao gồm: cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và đời sống và cho vay trung, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống
- Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
- Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán
- Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác
đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán
c Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Trang 17Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, NHTM phải
mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại
đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra, chi nhánh của NHTM được
mở tài khoản tiền gửi của mình tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép
d Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm:
- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các Tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Ngoài ra, NHTM còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh
Trang 18- Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ
- Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế
- Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật
- Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng
- Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy
tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật
1.1.2 Chi nhánh ngân hàng thương mại:
Để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình trên cùng một địa bàn, trên một tỉnh khác, trên một khu vực địa lý khác, thậm chí ở các quốc gia khác, các NHTM bắt buộc phải mở chi nhánh để đại diện cho mình cung cấp một phần hay toàn bộ các dịch vụ ngân hàng mà NHTM đó đang thực hiện Chức năng, vị trí, quy mô cũng như cách hiểu
về chi nhánh ngân hàng là rất đa dạng
Theo tổ chức Wisegeek, chi nhánh ngân hàng là việc thực hiện hoạt động kinh
doanh ngân hàng bên ngoài trụ sở chính của ngân hàng Các ngân hàng sử dụng chi
nhánh ngân hàng để mở rộng hoạt động cung cấp dịch vụ của mình đến những địa điểm khác nhau trong cộng đồng dân cư, địa phương và quốc gia Chi nhánh ngân hàng do
Trang 19nhỏ hơn nên chi phí hoạt động ít hơn nhưng lại tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng tiếp cận dịch vụ tương tư như tại trụ sở chính Trong lịch sử, chi nhánh ngân hàng thường nằm trong những khu nhà cao cao tầng, thường là trung tâm mua bán, hoặc thậm chí ở những của hàng tạp hóa, cửa hàng bán giảm giá Tuy nhiên, ngày nay chi nhánh ngân hàng nằm ở bất cứ nơi đâu và nhiều ngân hàng hiện nay đã xây trụ sở riêng biệt cho chi nhánh Thông thường thì những dịch vụ được cung cấp tại trụ sở chính của ngân hàng cũng sẽ được thực hiện ở chi nhánh Tuy nhiên, chi nhánh đặt tại các các quầy tạp hóa hay cửa hàng giảm giá thì không thể cung cấp dịch vụ đa dang như các loại hình chi nhánh khác Mặc dù, hoạt động gửi tiền có thể thực hiện ở loại chi nhánh này nhưng không phổ biến do tình trạng an ninh không đảm bảo Do đó, ngày nay tại những địa điểm như trên thì máy rút tiền tự động sẽ thực hiện tốt hơn Chi nhánh ngân hàng có thể thực hiện những hoạt động như cho rút tiền, nhận tiền gửi, viết séc, mở tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm, mua bán các chứng chỉ tiền gửi….Đối với rất nhiều người họ chỉ có thể giao dịch với ngân hàng qua chi nhánh vì trụ sở chính quá xa để đến Chính vì vậy, chi nhánh ngân hàng là nơi thuận tiện cung cấp các dịch vụ thuận tiện nhất cho khách hàng Chi nhánh ngân hàng còn có thể cung cấp các khoản vay cá nhân, vay sản xuất, vay thế chấp…từ đó giúp cho ngân hàng ngày càng thuận lợi đối với khách hàng Khái niệm và cách diễn giải về chi nhánh ngân hàng của Wisegeek tương đối cũ trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển trên nền công nghệ thông tin ngày càng phát triển Chi nhánh theo Wisegeek chỉ là địa điểm có thể riêng biệt hoặc không riêng biệt thực hiện các dịch vụ ngân hàng truyền thống cho khách hàng, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí để đi đến trụ sở chính quá đó nâng cao khả năng cạnh tranh cạnh tranh của NHTM
Theo định nghĩa của trang web Bách khoa toàn thư mở, chi nhánh ngân hàng hay chi nhánh của các tổ chức tài chính là địa điểm bán lẻ, nơi ngân hàng, hiệp hội tín dụng hoặc các tổ chức tín dụng cung cấp những dịch vụ trực tiếp hoặc tự động cho khách hàng của họ Với cách hiểu này, chi nhánh ngân hàng là nơi thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng trực tiếp với khách hàng như nhận tiền gửi, cho vay tại địa điểm cách xa trụ
sở chính Việc mở chi nhánh sẽ giúp NHTM tăng cường sự hiện diện của mình trên
Trang 20những địa bàn khác nhau, từ đó thu hút thêm khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh
Theo luật của Mỹ, quy định tài điều 12 USC 36 (i), chi nhánh bao gồm chi nhánh ngân hàng, trụ sở, đại lý, trụ sở phụ hoặc bất cứ địa điểm kinh doanh nào do ngân hàng
mẹ thành lập có chức năng nhận tiền gửi, trả séc hoặc cho vay tiền Luật Mỹ cũng quy định những loại hình không phải là chi nhánh như: Trạm kiểm tra séc đặt tại những địa điểm không phải ở ngân hàng; những nơi mà những người thông thường không thể vào
để gửi tiền, rút tiền hoặc vay tiền; những địa điểm bên cạnh hoặc trong khu vực trụ sở chính hoặc chi nhánh được cấp giấy phép của ngân hàng, máy ATM, văn phòng cho vay; văn phòng nhận tiền; trụ sở chính của ngân hàng,
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học-công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã làm cho mô hình tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng đã có nhiều thay đổi kể từ năm 1980 để ứng phó với sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường tài chính Ví dụ, sự phát triển về công nghệ tài chính như internet banking cũng
đã ảnh hưởng lớn sự phát triển của chi nhánh ngân hàng trong tương lai do các ngân hàng không cần duy trì sự hiện diện chi nhánh quá nhiều như trước mà chỉ cần một số máy rút tiền tự động ATM đã có thể phục vụ những dịch vụ cơ bản cho khách hàng Tại Việt Nam, theo quy định tại Quyết định số 13/2008/QĐNHNN ngày 29/04/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc quy định về mạng lưới hoạt
động của ngân hàng thương mại thì: Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương
mại, có con dấu, thực hiện hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại Chi nhánh ngân hàng thương mại ở đây là được hiểu là chi nhánh ngân hàng
thương mại trong nước Đối với NHTM nước ngoài, tại Thông tư số NHNN ngày 15/12/2012 về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng
40/2011/TT-nước ngoài, tổ chức 40/2011/TT-nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Khái niệm, chi nhánh ngân
Trang 21hàng của Việt Nam như vậy hẹp hơn khái niệm của Wisegeek và Bách khoa toàn thư
mở Khái niệm này chú trọng đến sự phân cấp ủy quyền của ngân hàng với các chi nhánh của mình và được pháp luật thừa nhận
Tuy nhiên nếu hiểu chi nhánh chính là mạng lưới các văn phòng, trụ sở làm việc của ngân hàng, thì khái niệm chi nhánh ngân hàng có thể đồng nghĩa với mạng lưới ngân hàng theo Quyết định 13/2008/QĐNHNN đó là "Mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm: sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, máy giao dịch tự động và điểm giao dịch" Những nội dung cụ thể của những đơn vị này sẽ được trình bày ở phần phân loại chi nhánh dưới đây Tác giả luận văn cũng sử dụng khái niệm chi nhánh theo nghĩa mạng lưới để phân tích Điều này cũng phù hợp những báo cáo, thống kê của NHTM Việt Nam khi đề cập đến sự phát triển của mạng lưới và chi nhánh Đồng thời, việc hiểu như vậy sẽ cho ta thấy được bức tranh phát triển mạng lưới chi nhánh của các NHTM
1.1.3 Phân loại chi nhánh ngân hàng:
- Phân loại Bách khoa toàn thư mở:
+ Chi nhánh truyền thống hay có trụ sở cố định: đây là loại hình chi nhánh của các
tổ chức tài chính có văn phòng trụ sở Loại hình chi nhánh này thông thường công cấp tất cả các loại dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vũ cất trữ tài sản, chi nhánh ngân hàng loại này có thể đặt những máy ATM
+ Chi nhánh trong trung tâm: là loại chi nhánh có trụ sở tại các trung tâm mua bán như siêu thị, trung tâm mua sắm Loại hình này có thể cũng cấp tất cả hay một phần dịch vụ ngân hàng Loại chi nhánh này có lượng nhân viên hạn chế và sử dụng nhiều công nghệ để thực hiện các dịch vụ ngân hàng như máy ATM, ngân hàng trực tuyến qua truyền hình
+ Chi nhánh ngân hàng xanh, là thương hiệu độc quyền được cấp cho Công ty Dịch vụ tài chính PNC nhằm thúc đẩy xây dựng những toàn nhà trụ sở, địa điểm lựa chon đặt trụ sở thân thiện với môi trường
Trang 22Cách phân loại này tập trung vào địa điểm đặt chi nhánh và các dịch vụ mà chi nhánh thực hiện
- Phân loại theo Quyết định 13/2008/QĐNHNN ngày 29/04/2008 gồm: sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, máy giao dịch tự động, trong đó:
- Sở giao dịch là đơn vị phụ thuộc trụ sở chính của ngân hàng thương mại, hạch
toán phụ thuộc, có con dấu, thực hiện hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại Mỗi ngân hàng thương mại chỉ được mở một sở giao dịch Địa điểm
sở giao dịch nằm trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính
- Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện hoạt
động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại
- Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực
hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thương mại Văn phòng đại diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh
- Đơn vị sự nghiệp là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực
hiện một hoặc một số hoạt động hỗ trợ hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại
- Phòng giao dịch là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng
thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách hàng theo quy định NHNN và quy chế nội bộ của ngân hàng
- Quỹ tiết kiệm là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng thương
mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, được thực hiện một hoặc một số giao dịch liên quan đến huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành và chiết khấu giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành, dịch vụ đại lý chi trả kiều hối; dịch vụ chuyển tiền trong nước
- Máy giao dịch tự động (ATM) là thiết bị được ngân hàng thương mại sử dụng để
cung cấp cho khách hàng một số dịch vụ ngân hàng gồm: gửi, rút tiền mặt và chuyển
Trang 23khoản; tra cứu thông tin giao dịch và sử dụng các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
- Điểm giao dịch là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng
thương mại, không có con dấu Điểm giao dịch thực hiện việc nghiên cứu, tìm hiểu, giới thiệu khách hàng, tiếp nhận hồ sơ vay vốn, giải ngân và thu nợ đối với những hợp đồng tín dụng của sở giao dịch, chi nhánh đã ký với khách hàng
Mặc dù các NHTM đều thực hiện việc tổ chức theo Quyết định này những về chi tiết mỗi NHTM lại có hệ thống các tiêu chí riêng để phân loại chi nhánh của chính nó,
ví dụ:
+ Dựa theo tiêu chí quy mô và hiệu quả hoạt động các ngân hàng thương mại phân loại mạng lưới hoạt động theo các cấp: chi nhánh cấp 1, chi nhánh cấp 2, chi nhánh cấp
3, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch…
+ Dựa theo tiêu chí địa điểm hoạt động phân thành chi nhánh miền Bắc, Chi nhánh miền Trung, Chi nhánh miền Nam, …
1.2 Mối quan hệ giữa trụ sở chính và chi nhánh của NHTM
1.2.1 Các mô hình tổ chức mối liên hệ giữa chi nhánh và trụ sở chính
Về quản trị, hiện nay hầu hết các NHTM Việt Nam đều được tổ chức theo mô hình: trụ sở chính quản lý sở giao dịch, các chi nhánh và các công ty trực thuộc Các sở giao dịch và chi nhánh cấp 1 quản lý PGD, điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm và chi nhánh cấp 2 (nếu có) Chi nhánh cấp 2 quản lý PGD và quỹ tiết kiệm của nó
Về mô hình tổ chức, các NHTM đang tổ chức theo 2 dạng:
+ Phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ
+ Phân cấp quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ (hay còn gọi là quản lý theo nhóm khách hàng)
Đối với dạng phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ Hội sở chính ngân hàng giao nhiều quyền năng cho chi nhánh, mức độ can thiệp sâu của hội sở vào hoạt động kinh doanh của chi nhánh là không nhiều dẫn đến hoạt động kinh doanh không được tập
Trang 24trung cao, chủ yếu là xử lý phân tán Do vậy, mô hình tổ chức hoạt động ở cả hội sở và chi nhánh đều rất đơn giản Đặc trưng của mô hình này là cơ chế thành lập các phòng, ban đơn thuần ở hội sở và tại các chi nhánh như phòng tín dụng, phòng dịch vụ khách hàng và các bộ phận có chức năng hỗ trợ, tổng hợp
Mô hình tổ chức như trên chỉ thích hợp trong điều kiện hoạt động với qui mô nhỏ, mức độ tập trung quyền lực cao Khi một NHTM có qui mô ngày càng lớn với số lượng chi nhánh ngày càng nhiều, khối lượng và tính chất công việc ngày một phức tạp hơn thì
mô hình tổ chức như vậy sẽ bộc lộ những hạn chế, nhất là trong việc tổ chức và bố trí các phòng nghiệp vụ cả ở cấp trung ương và chi nhánh hiện đang phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ, chưa chú trọng quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ Rõ ràng, với áp lực cạnh tranh, yêu cầu chuẩn hoá hoạt động tổ chức theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả đang là đòi hỏi đối với cả các ngân hàng lớn cũng như các ngân hàng quy mô nhỏ Trong những năm gần đây, mô hình ngân hàng hiện đại tổ chức phân cấp quản lý theo nhóm khách hàng đã được gia nhập vào Việt Nam và được áp dụng hiệu quả tại một số ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam
Trong mô hình kinh doanh này, hội sở sẽ đóng vai trò chủ động, chủ đạo trong các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng Hội sở sẽ đặt trọng tâm vào việc phân loại khách hàng theo từng đối tượng và nghiệp vụ xử lý sản phẩm Theo đó Ngân hàng phân chia khách hàng thành 2 đối tượng là khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân Với mỗi nhóm nghiệp vụ kinh doanh chủ đạo sẽ thành lập nên một khối nghiệp vụ kinh doanh và giao toàn quyền kinh doanh cho khối nghiệp vụ được thành lập Khối đó là một tổng thể trải dài trên toàn hệ thống, từ hội sở đến các chi nhánh và đơn vị kinh doanh Việc phân loại này nhằm mục đích quản lý tập trung về việc nghiên cứu, phát triển các tiềm năng khách hàng, sản phẩm, quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận Bên cạnh đó là khối quản lý rủi ro như rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường; rủi ro tín dụng; rủi ro hoạt động; và rủi ro kinh doanh và quản lý các tài sản đặc biệt Hệ thống chi nhánh được tổ chức với lý thuyết chỉ là nơi bán hàng Điều này có nghĩa là tại chi nhánh sẽ có sự hình thành các bộ phận nghiệp vụ theo trục dọc phân loại nhóm đối tượng khách hàng Các bộ phận này chịu sự chỉ đạo, lệ thuộc hoàn toàn vào khối nghiệp
Trang 25vụ tại hội sở Lãnh đạo chi nhánh cũng đƣợc phân theo khối nhằm mục đích báo cáo trực tiếp với giám đốc khối nghiệp vụ về kết quả hoạt động
Hình 1.1 Mô hình quản trị của ngân hàng Viettinbank
Nguồn: http://www.vietinbank.vn
Hình 1.2 Mô hình tổ chức hoạt động của NHTM phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ
P Dịch vụ khách hàng (
Cá Nhân, Doanh Nghiệp)
P Ngân Qũy, P
Chuyển tiền
du học, …
HỘI SỞ
Phòng Tín Dụng ( Cá Nhân, Doanh Nghiệp)
Phòng/ Ban
Hỗ Trợ Khác ( Kế Toán, Hành Chánh, Nhân Sự, )
CHI NHÁNH
P Dịch
vụ khách hàng
P Ngân Qũy
P Hành Chánh Nhân Sự,…
Phòng Tín Dụng
Trang 26Hình 1.3 Mô hình tổ chức hoạt động của NHTM phân cấp quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ
1.2.2 Vai trò của chi nhánh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
- Sử dụng hiệu quả nguồn vốn điều lệ và tăng cường năng lực tài chính:
Từ tháng 4 năm 2008 theo quy định của NHNN, căn cứ vào số vốn điều lệ mỗi ngân hàng thương mại chỉ được mở một số lượng chi nhánh giới hạn Đặc biệt theo quy định mới của nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các TCTD theo đó mức vốn điều lệ mà các TCTD cần duy trì là 3000 tỷ đồng Như vậy để sử dụng hiệu quả nguồn vốn điều lệ tăng thêm các NHTM cần tích cực mở thêm các chi nhánh trên nhiều địa bàn nhằm huy động vốn từ
Chi Nhánh 3 Chi Nhánh 2
Phòng Khách Hàng
Cá Nhân
Phòng Khách Hàng Doanh Nghiệp
Phòng Khách Hàng Doanh Nghiệp
Phòng Khách Hàng
Cá Nhân
Khối Khách Hàng Doanh Nghiệp
Khối Khách Hàng
Cá Nhân
Khối/ Phòng/
Ban Hỗ Trợ Khác ( Kế Toán, Hành Chánh, Nhân Sự, )
Khối Nghiệp
Vụ Kinh Doanh Khác (Nguồn Vốn, Thị Trường Tài Chính, )
Hội Sở
Trang 27nhiều nguồn trong dân cư, tăng năng lực tài chính và phát triển hoạt động kinh doanh của họ
- Củng cố và gia tăng thị phần đồng thời phát triển thương hiệu:
Sự hiện diện của một ngân hàng trên nhiều địa phương sẽ tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận sản phẩm dịch vụ của ngân hàng góp phần đưa sản phẩm và thương hiệu của ngân hàng đến với đông đảo khách hàng một cách nhanh chóng tiện lợi Có thể nói trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng từ khu vực dân cư và các doanh nghiệp đều tăng cao Nếu như trước đây chỉ có khu vực thành thị và các trung tâm kinh tế có nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng thì hiện nay những tiện ích của các sản phẩm tài chính ngân hàng đã được tiếp cận đến các vùng nông thôn, khu kinh tế mới Thêm vào đó trong bối cảnh nền kinh tế mở toàn cầu thì sự cạnh tranh giữa các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng tương tự nhau ngày càng trở nên gay gắt khốc liệt Chính vì thế việc mở rộng mạng lưới kinh doanh trải rộng trên nhiều địa phương là chìa khóa để các ngân hàng nhanh chóng tận dụng thế mạnh của mình để tìm kiếm khách hàng mới nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần và quảng
bá thương hiệu
- Hệ thống chi nhánh là nơi thực hiện các chính sách và triển khai chiến lược kinh doanh của ngân hàng Đây cũng là đơn vị trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh chủ yếu và mang lại lợi nhuận chính của NHTM
Các chi nhánh của Ngân hàng thương mại là là nơi diễn ra hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM đồng thời tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng khách hàng dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Thông qua các chi nhánh ngân hàng thương mại triển khai các sản phẩm dịch vụ đến khách hàng nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của họ theo từng giai đoạn Lợi thế của mạng lưới giao dịch rộng lớn cũng góp phần không nhỏ trong việc phát triển các sản phẩm giao dịch thanh toán Đặc biệt các chi nhánh còn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động huy động và cho vay - vốn là hai hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu của các ngân hàng hiện nay Nói cách khác mạng lưới chi nhánh là nơi thực hiện hoạt động tác nghiệp, giao dịch với khách hàng đồng thời đóng vai trò đắc lực trong việc
Trang 28tìm kiếm khách hàng mới nhằm mở rộng thị phần nhất là trong chiến lược phát triển kênh phân phối bán lẻ, từ đó góp phần vào gia tăng lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng thương mại
+ Thúc đẩy quá trình đa dạng hóa và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng tạo nên các sản phẩm và phong cách kinh doanh đặc trưng từng ngân hàng
Việc trải rộng mạng lưới giao dịch đến nhiều khu vực không chỉ cung cấp cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà còn góp phần góp phần kích thích việc
sử dụng các sản phẩm tài chính trong dân cư, tạo động lực cho việc nghiên cứu và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng hiện đại và tiện ích hơn Qúa trình tiếp cận và tác nghiệp các giao dịch đã giúp chi nhánh nắm bắt được nhu cầu cũng như xu thế sử dụng dịch vụ của khách hàng từ đó có phương án hoàn thiện và phát triển các sản phẩm dịch vụ của mình để có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày một tốt hơn Bên cạnh đó sự cạnh tranh gay gắt giữa các sản phẩm tài chính tương tự nhau đã hình thành động lực để các ngân hàng thương mại nghiên cứu và giới thiệu các sản phẩm mới đặc trưng để tạo sự khác biệt với các ngân hàng khác nhằm tạo lợi thế cạnh tranh
1.3 Các chiến lược phát triển hệ thống chi nhánh ngân hàng thương mại:
Để phát triển hệ thống chi nhánh của mình mỗi ngân hàng thương mại có chiến lược riêng để phát triển Nhưng nhìn chung có thể khái quát thành 4 nhóm chiến lược bao gồm 2 nội dung chính là phát triển trên thị trường nào? và cung ứng sản phẩm tài chính gì?
Trang 29lượng này để củng cố sự hiện diện trên thị trường, dồng thời tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng
+ Sản phẩm không có đổi mới nên dễ mất lợi thế cạnh tranh
1.3.2 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống của ngân hàng
Chiến lược phát triển này thường được thực hiện tại các khu vực khó khăn, xa các các kinh tế lớn, thị trường lớn và cũng chỉ tập trung vào cung cấp các sản phẩm truyền thống của ngân hàng:
Ưu điểm:
+ Mạng lưới trải rộng trên nhiều vùng miền địa lý
+ Khai thác được lượng khách hàng mới có tiềm năng
Nhược điểm:
+ Dễ gặp rủi ro do chưa thông thạo thị trường
+ Sản phẩm vẫn không có gì đổi mới nên có thể chưa gây sự chú ý và nổi bật so với các đối thủ khác
1.3.3 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển
Ưu điểm:
+ Thị trường quen thuộc
Trang 30+ Số lượng khách hàng ổn định
+ Các sản phẩm mới độc đáo phù hợp với từng thị trường có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh
Nhược điểm:
+ Thị trường cũ nên số lượng khách hàng bão hòa không tạo đột phá
1.3.4 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh, PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển
Ưu điểm:
+ Mạng lưới trải rộng trên nhiều vùng miền địa lý
+ Khai thác được lượng khách hàng mới có tiềm năng
+ Sản phẩm độc đáo tạo sự khác biệt nên có khả năng thành công lớn với nhiều bước đột phá
Nhược điểm:
+ Dễ gặp rủi ro thất bại do chưa thông thạo thị trường
+ Sản phẩm mới cũng tiền ẩn rủi ro không được thị trường tiếp nhận hoăc tiếp nhận một cách chậm chạp
1.3.5 Mở rộng chi nhánh thông qua hoạt động M&A:
Hoạt động M&A đã củng cố ngành dịch vụ ngân hàng theo hướng xóa bỏ sự tồn tại của những ngân hàng yếu kém, chỉ cho tồn tại và phát triển các ngân hàng mạnh với quy mô tài sản ngày càng lớn Có thể xem đây là đặc điểm tiêu biểu của thời kỳ phát triển ngân hàng hiện đại, diễn ra ở hầu hết các quốc gia, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu cũng như ở các nước công nghiệp mới và nhiều nước đang phát triển Qúa trình mua bán và sáp nhập đã tác động làm biến đổi nhiều yếu tố cơ bản trong hoạt động ngân hàng như qui mô hoạt động, cơ sở tạo thu nhập, chiến lược phát triển ngân hàng về phương diện lãnh thổ, công nghệ và lĩnh vực chuyên môn
Trang 31Mặc dù số lượng các ngân hàng mẹ giảm thấp, nhưng mạng lưới chi nhánh ngân hàng trong hầu hết các nước đều được bảo tồn hoặc tăng nhẹ việc mua lại, sáp nhập tổ chức tín dụng sẽ là một giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện năng lực tài chính của các TCTD nhỏ, kém hiệu quả từ đó tăng vốn để bảo đảm đủ mức vốn tự có theo tiêu chuẩn
an toàn vốn của Basel II, tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài
Merger Ngân hàng A + Ngân hàng B Ngân hàng C
Acquisition Ngân hàng A + Ngân hàng B Ngân hàng A
Ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy hệ thống các TCTD có số lượng tương đối nhiều nhưng trình độ phát triển không đồng đều, quy mô hoạt động nhỏ và chưa thật sự hiệu quả Do đó, việc mua lại, sáp nhập lại các TCTD, giảm số lượng các Ngân hàng thương mại yếu kém, khắc phục tình trạng thiếu thanh khoản, lành mạnh hóa và ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ là một xu hướng tất yếu
Ưu điểm: Ưu điểm vượt trội của mua bán và sáp nhập ngân hàng là tạo cơ hội mở rộng mạng lưới chi nhánh ra các vùng địa lý với thị phần và cơ sở vật chất mạng lưới có sẳn, giảm chi phí đầu tư tốn kém
Nhược điểm: Trong quá trình mua bán và sáp nhập chất lượng cơ cấu tài sản của đối tác cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của đơn vị sau nghiệp vụ cơ cấu
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chi nhánh
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
- Quy mô và năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại thường được biểu hiện trước hết
là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh
Trang 32doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính
và trình độ trang bị công nghệ Trong khi đó việc mở rộng mạng lưới chi nhánh ngân hàng đòi hỏi những khoản chi phí không nhỏ cho việc chuẩn bị mặt bằng trụ sở và trang thiết bị hoạt động Khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba là khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng là nhân tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro,
có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp
Chính vì thế nếu hoạt động kinh doanh của các điểm giao dịch mới trong những năm đầu chưa có khả năng thu được lợi nhuận sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống Bên cạnh đó quy mô của ngân hàng càng lớn cộng với lợi thế về mạng lưới khách hàng sẵn có sẽ tạo điều kiện làm tiền đề cho các chi nhánh mới phát triển trên nhiều mảng kinh doanh đặt biệt là giao dịch thanh toán, tiền gửi Hơn nữa theo các quy định mới của NHNN quy mô vốn điều lệ đóng vai trò định tính trong việc xác định số lượng điểm chi nhánh được phép mở
Như vậy, nói cách khác quy mô và năng lực tài chính đóng vai trò then chốt trong
việc phát triển và hoạt động kinh doanh của mạng lưới chi nhánh/ PGD
- Năng lực quản lý và khả năng kinh doanh:
Trình độ quản lý và khả năng điều hành hoạt động kinh doanh là những vấn đề mà ngân hàng thương mại cần tính đến khi mở rộng mạng lưới để có thể giảm bớt rủi ro thất thoát, kinh doanh kém hiệu quả Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại
Trang 33Trong điều kiện hiện nay khi mà hoạt động kinh doanh của ngân hàng đang diễn ra gay gắt thì việc mở rộng mạng lưới mà không có hệ thống quy trình quy chế để quản lý
và kiểm soát rủi ro tốt sẽ khiến ngân hàng dễ đối mặt với các rủi ro liên quan đến chất lượng tín dụng và quản trị tác nghiệp Nói về năng lực quản lý các NHTM đang trong quá trình cơ cấu lại toàn diện nhất là tăng cường năng lực thể chế (cơ cấu lại tổ chức và hoạt động), tăng cường năng lực tài chính (cơ cấu lại tài chính) và đổi mới căn bản cơ chế quản lý và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các ngân hàng từ trung ương đến chi nhánh, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý, kinh doanh ở hội sở chính phù hợp với thông lệ quốc tế Phân biệt rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng quản trị và ban điều hành Bộ phận giúp việc Hội đồng quản trị ít nhất gồm có Ban Kiểm soát/Kiểm toán, Hội đồng/Ủy ban quản lý rủi ro Mở rộng quan hệ đại lý, hợp tác kinh doanh, phát triển sản phẩm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ với các tổ chức tài chính nước ngoài Xúc tiến hiện diện thương mại của các NHTM Việt Nam tại các thị trường tài chính khu vực và quốc tế
- Nhân tố công nghệ
Ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính, hầu hết các mảng hoạt động của khu vực ngân hàng đề gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và có hiệu quả của từng ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tạo ra những cơ hội giảm thiểu giấy tờ hành chính, thay đổi sự phân bố nguồn nhân lực theo hướng giảm thiểu bộ phận nghiệp vụ và tăng cường nhân lực cho các bộ phận dịch vụ chăm sóc khách hàng, làm thay đổi cách thức kinh doanh và tăng chất lượng dịch vụ
Do tính nhạy cảm của mình hoạt động ngân hàng luôn đòi hỏi công nghệ hiện đại với tính an toàn và bảo mật cao Việc phát triển mạng lưới ồ ạt mà không trang bị công nghệ hiện đại dễ dẫn đến rủi ro trong hoạt động quản lý cũng như trong quá trình tác nghiệp, làm tăng chi phí nguồn nhân lực
Như vậy có thể nói công nghệ là yếu tố quan trọng không chỉ phục vụ trực tiếp cho quá trình tác nghiệp và ứng dụng các sản phẩm ngân hàng hiện đại ngày nay mà còn đóng
Trang 34vài trò then chốt ảnh hưởng đến khả năng quản trị hệ thống Năng lực công nghệ của ngân hàng còn được thể hiện qua tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ
- Nguồn nhân lực:
Ngân hàng là một dạng tổ chức đặc thù của nền kinh tế thị trường Hiệu quả kinh doanh và phát triển của nó bên cạnh việc phụ thuộc rất lớn vào quy mô và chiều sâu của hoạt động thì nguồn lực cũng đóng vai trò rất quan trọng Trong thời kỳ đầu khởi nghiệp nguồn vốn vật chất, công nghệ quyết định khả năng cạnh tranh của các ngân hàng nhưng trong giai đoạn nền kinh tế tri thức và hội nhập hiện nay khi mà trình độ công nghệ và quy mô về vốn của các ngân hàng đều tương đương nhau và các sản phẩm tài chính là những sản phẩm tương tự nhau thì chất lượng của nguồn nhân lực sẽ trở thành nhân tố chủ chốt để hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể tiến hành một cách có hiệu quả Vì suy cho cùng nhân lực là tác nhân chính tạo ra nguồn vốn và điều hành công nghệ Bên cạnh trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn nhân lực thì đạo đức cũng là những yêu cầu quan trọng của các cán bộ ngân hàng Và hiệu quả của chính sách phần lớn do con người trong ngành ngân hàng tạo ra Hệ thống các ngân hàng được xem là hệ thống băng chuyền có nhiệm vụ chuyển tải chính sách tiền tệ đến với thị trường
Thực tiễn nhiều quốc gia cho thấy nếu sự phát triển của hệ thống ngân hàng được
hỗ trợ bởi sự phát triển tương xứng của nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo nên sự bền vững cho Ngân hàng
Việc bùng nổ mạng lưới ngân hàng thương mại trong những năm 2006 -2008 đã khiến nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính ngân hàng mà đặc biệt là nhân lực cấp cao lâm vào tình trạng thiếu hụt tạm thời
- Chiến lược phát triển mạng lưới của mỗi ngân hàng:
Mỗi ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược phát triển mạng lưới riêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài Ngân hàng Chiến lược phát triển mạng lưới có tính quyết định tới hiệu quả hoạt động các chi nhánh của Ngân
Trang 35hàng Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong toàn hệ thống tổ chức tín dụng, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức trong từng giai đoạn của thị trường tài chính Trên cơ sở đó Ngân hàng sẽ dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng được chiến lược phát triển mạng lưới phù hợp Tùy từng thời kỳ, dựa trên chiến lược kinh doanh của Ngân Hàng cùng với tình hình thực tế của từng địa bàn, Ngân hàng phải lập kế hoạch và lên cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn để đưa ra chỉ tiêu đối với từng chi nhánh Nếu nhận thấy trong năm có những biến động lớn của thị trường tài chính cũng như những thay đổi của các chính sách Nhà Nước, Ngân hàng mẹ có thể linh động điều chỉnh chiến lược kinh doanh các chỉ tiêu cho từng chi nhánh và các một cách linh động phù hợp với tình hình hiện tại Các chỉ tiêu về hoạt động mở rộng mạng lưới cũng thay đổi theo hướng phù hợp với tình hình thực tế
1.4.2 Các nhân tố khách quan
- Môi trường chính trị - pháp luật (Các quy định của pháp luật):
Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của Ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật Các hoạt động của các NHTM chịu sự điều chỉnh của luật các
tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của nhà nước Mặt khác, ở Việt nam hiện nay các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty do vậy các chi nhánh Ngân hàng trong hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ theo các quy định mà NHTƯ ban hành cụ thể trong từng thời kỳ Mặt khác, các NHTM là các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, là lĩnh vực chứa đựng rủi ro rất lớn do vậy mà Ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các qui định của pháp luật
Do đặc thù của ngành, hoạt động ngân hàng chỉ có thể phát triển khi tạo được niềm tin nơi công chúng với môi trường chính trị ổn định và hành lang pháp lý chặt chẽ hợp
lý nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng
Bên cạnh đó, để đảm bảo cho môi trường kinh doanh của thị trường tài chính phát triển lành mạnh và đảm bảo quy mô mạng lưới phải tương xứng với năng lực tài chính của Ngân Hàng pháp luật cũng đưa ra các quy định về gia tăng vốn điều lệ cũng như điều kiện cấp phép mở rộng quy mô mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Trang 36Tại Việt Nam trong giai đoạn bùng nổ mạng lưới ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay NHNN đã phải quản lý chặt chẽ việc mở mới chi nhánh và phòng giao dịch thông qua các quy định Ngày 29 tháng 4 năm 2008 NHNN ban hành quy định số 13/2008/QĐNHNN trong đó có điều kiện để các NHTM mở sở giao dịch và chi nhánh trong nước bao gồm các chỉ tiêu về hệ số an toàn, khả năng quản trị, tình hình kinh doanh thậm chí cả công thức khống chế số lượng chi nhánh Thêm vào đó cuối năm
2009, Ngân hàng Nhà nước đã gửi Công văn số 8921 (ngày 14/12/2009) tạm dừng việc xem xét cho đăng ký thành lập phòng giao dịch của các ngân hàng thương mại trong năm 2009 Hơn nữa vấn đề gia tăng vốn điều lệ đạt mức 3.000 tỷ đồng để đáp ứng theo
lộ trình đưa ra của Ngân hàng Nhà nước tại Nghị định 141 cũng là một áp lực không nhỏ đến quyết định mở rộng mạng lưới của các nhà băng Khác với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, khi mà họ có một hệ thống luật khá đầy đủ và được sửa đổi
và bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình thì ở Việt Nam do mới chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa sang vận hành theo nền kinh tế thị trường hơn 20 năm, do đó hệ thống luật còn thiếu và chưa đầy đủ và đây cũng thực sự là một trở ngại đối với hoạt động của các NHTM nói chung và hoạt động mở rộng mạng lưới nói riêng
- Nhân tố kinh tế - xã hội:
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến hoạt động của NHTM nói chung và đến hoạt động phát triển mạng lưới nói riêng Tốc
độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại nhanh chóng trong những năm vừa qua đã tạo
ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường kinh tế quốc tế Các Công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đã mở rộng lãnh thổ hoạt động của mình và ngày càng có nhiều ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời dòng vốn quốc tế cũng đã và đang ngày càng gia tăng mạnh
Kinh tế khởi sắc tạo động lực cho thị trường tài chính phát triển sôi động đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng trong khu vực dân cư và doanh nghiệp Để nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần và phục vụ cho chiến lược bán lẻ các ngân hàng thương mại đã xây dựng kế hoạch mở rộng mạng lưới nhằm tìm kiếm lượng khách hàng mới
Trang 37Tại nước ta khi thị trường tài chính Việt Nam đang dần mở cửa theo lộ trình cam kết WTO Áp lực cạnh tranh càng tăng lên khi thị trường tài chính - ngân hàng ngày càng có nhiều đơn vị tham gia đặc biệt là sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng 100% vốn nước ngoài Chính vì thế để phát huy thế mạnh về mạng lưới và khả năng
“am hiểu địa phương” của mình các ngân hàng trong nước đều khẩn trương mở mới chi
nhánh phòng giao dịch gia tăng mật độ phủ sóng trên cả nước
- Nhân tố quốc tế :
Việc gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc liên thông giữa nền kinh tế trong nước với kinh tế thế giới Sự xuất hiện của các định chế tài chính đến từ thị trường tài chính thế giới không chỉ mang lại cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ tiện lợi hiệu quả mà còn cung cấp chuyển giao cho các tổ chức tài chính ngân hàng trong nước hệ thống công nghệ quản lý hiện đại, nâng cao năng lực tác nghiệp, quản trị Thêm vào đó việc hợp tác của các đối tác nước ngoài còn giúp các tổ chức tín dụng trong nước nâng cao năng lực tài chính giải quyết vấn đề nguồn vốn cho các ngân hàng nội
- Đối thủ cạnh tranh:
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và khách quan Ngành Ngân hàng là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao và ngày càng phức tạp Trong những năm qua, thị trường tài chính ngày càng trở nên sôi động hơn do
sự tham gia của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tài chính phi Ngân hàng Hiện nay số lượng Ngân hàng được phép hoạt động ngày càng tăng cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của nhiều tổ chức phi Ngân hàng đã làm mất tính độc quyền của hệ thống Ngân hàng và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng
Thị trường tài chính với nhiều đối thủ cạnh tranh cũng là động lực để các ngân hàng nhanh chóng lên kế hoạch và triển khai chiến lược phát triển mạng lưới Các ngân hàng làm việc này nhằm đạt được nhiều mục đích như tranh thủ lượng khách hàng mới,
mở rộng thị phần, củng cố thương hiệu, phát triển dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh
tranh với các ngân hàng khác
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI EXIMBANK
TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
2.1 Vài nét khái quát về Eximbank
2.1.1 Lịch sử và cơ cấu tổ chức
Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép
số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank Đến cuối năm 2012, vốn điều lệ của Eximbank đạt 12.355 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Tính đến ngày 31/12/2010, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP Hồ Chí Minh và 183 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Nghệ An, Huế, Bạc Liêu, Long An, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM và
đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 852 Ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới Một số mốc đáng chú ý trong lịch sử phát triển Eximbank:
Năm 1991 và năm 1992 được Ngân hàng Nhà Nước và Bộ Tài Chính tín nhiệm giao thực hiện một phần chương trình tài trợ không hoàn lại của Thụy Điển cho các đơn
vị Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu
Trang 39Năm 1993, Eximbank tham gia vào hệ thống thanh toán bù trừ điện tử của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
Năm 1995, Eximbank là thành viên Hiệp hội các định chế tài trợ phát triển khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) Trong năm này, Eximbankcũng được Ngân hàng Nhà Nước chọn là Ngân hàng đầu mối tham gia chương trình hàng đổi hàng với Indonesia theo Bản ghi nhớ giữa Bộ Thương Mại Việt Nam với Phòng Thương Mại và Công Nghiệp nước cộng hòa Indonesia Đã thành lập phòng kinh doanh ngoại hối (dealing room) sử dụng hệ thống giao dịch Reuters Được chọn là 1 trong 6 Ngân hàng Việt Nam tham gia thực hiện Dự án hiện đại hoá Ngân hàng (Bank Modernization Project) do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam tổ chức với sự tài trợ của Ngân hàng Thế Giới; Đã được hai tổ chức thẻ tín dụng lớn nhất thế giới là Master Card International và Visa International chấp nhận làm thành viên chính thức (principal member); Đã tham gia vào hệ thống SWIFT (Tổ chức viễn thông tài chính liên Ngân hàng toàn cầu) từ năm
1995
Năm 1998 được CHASE MANHATTAN BANK (US) New York tặng giải thưởng
“1998 Best Services Quality Award”
Năm 2003, Eximbank bắt đầu triển khai hệ thống thanh toán nội hàng trực tuyến toàn hệ thống
Tháng 09/2005, Eximbank được nhận cúp vàng top ten sản phẩm uy tín chất lượng cho sản phẩm hỗ trợ du học trọn gói do Cục sở hữu trí tuệ và Hội sở hữu trí tuệ công nghiệp Việt Nam, Trung tâm Công nghệ thông tin & tư vấn quản lý QVN cùng báo điện
tử Saigon News hợp tác tổ chức Tháng 11/2005, Eximbank là Ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ thanh toán Quốc tế mang thương hiệu Visa Debit
Tháng 01/2006, Eximbank được nhận bằng khen do Ngân hàng Standard Chartered Bank trao tặng về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế (chất lượng dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng), đạt giải thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2005” do độc giả của Thời Báo Kinh tế Việt nam bình chọn
Trang 40Năm 2007, Ký kết hợp tác chiến lược với 17 đối tác trong nước và các đối tác đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược với ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) của Nhật Bản Eximbank chính thức trao chứng nhận 15% cổ phần trị giá 225 triệu đô la Mỹ cho ngân hàng SMBC Theo đó, Eximbank
và SMBC sẽ hỗ trợ,hợp tác trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng cường
hỗ trợ các doanh nghiệp Trở thành thành viên chính thức của tổ chức thẻ Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, hợp tác quốc tế Visa về tài trợ thương mại, chia sẻ kinh nghiệm vềquản trị doanh nghiệp, bao gồm quản trị rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế; Eximbank tăng vốn điều lệ lên 7.220 tỷ đồng
Năm 2009, Eximbank tăng vốn điều lệ lên 8.800 tỷ đồng thức niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm 2010, Eximbank tăng vốn điều lệ lên 10.560 tỷ đồng Eximbank được tạp chí The Banker chọn vào Top 1.000 ngân hàng hàng đầu thế giới và Top 25 ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tài sản nhanh nhất năm 2010
Năm 2011, Eximbank tăng vốn điều lệ lên 12.355 tỷ đồng
- Cơ cấu tổ chức của Eximbank bao gồm:
+ Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng
+ Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị theo điều lệ Eximbank ít nhất 03 người và nhiều nhất 11 thành viên Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 05 năm và có thể được bầu lại Hiện nay, Hội đồng quản trị gồm 8 thành viên + Ban kiểm soát: do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, là tổ chức thay mặt cổ đông để giám sát hoạt động Ngân hàng, thực hiện kiểm toán nội bộ, kiểm soát, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật, quy định nội bộ, Điều lệ và nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị của Ngân hàng Ban kiểm soát gồm 3 thành viên