DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á BOT: Hợp đồng xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao BT: Hợp đồng xây dựng - Kinh doanh BTO: Hợp đồng xây dựng - Chuyển gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ ĐÌNH TUẤN
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Lạt - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ ĐÌNH TUẤN
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS QUÁCH MẠNH HÀO
Đà Lạt - Năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT ……… 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ……… 2
MỞ ĐẦU ……… 3
CHƯƠNG 1 : Cơ sở lý luận về thu hút vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ……… 8
1.1 Khái niệm về đầu tư và vốn đầu tư ……… 8
1.1.1 Khái niệm về đầu tư ……… 8
1.1.2 Khái niệm về vốn đầu tư ……… 11
1.1.3 Các hình thức đầu tư ……… 12
1.2 Thu hút vốn đầu tư ……… 12
1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế ……… 15
1.4 Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ………
15 1.5 Nguồn vốn đầu tư ……… 18
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nguồn vốn đầu tư ………
23 1.7 Kinh nghiệm của các nước trong việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ………
27
CHƯƠNG 2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế - 32
Trang 4xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2006-2010 ………
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng… 32
2.1.1 Tiềm năng và nguồn lực phát triển ……… 32
2.1.2 Thực trạng một số ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh ……… 40
2.1.3 Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư của tỉnh ……… 50
2.2 Thực trạng về thu hút vốn đầu tư phát triển của tỉnh Lâm
2.3 Đánh giá những kết qua đạt được và những tồn tại, hạn chế
của việc thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn
2006-2010 ………
68
2.3.1 Những kết qua đạt được của việc thu hút vốn đầu tư và tác
động của thu hút vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế - xã hội …….…
68
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế của việc thu hút vốn đầu tư ……… 73
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế ……… 75
CHƯƠNG 3 Giải pháp thu hút vốn cho đầu tư và phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm
78
Trang 53.1.4 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn
3.3 Một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tƣ
nhằm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015
và tầm nhìn đến năm 2020 ………
86
3.3.1 Giải pháp thu hút vốn từ nguồn vốn đóng góp của dân cư 86
3.3.2 Giải pháp thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước 88
3.3.3 Giải pháp thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và
hộ kinh tế cá thể ………
89
3.3.4 Giải pháp thu hút vốn từ nguồn tín dụng……… 91
3.3.5 Giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài ……… 92
Trang 63.3.6 Nhóm giải pháp hỗ trợ khác 97
3.4 Những kiến nghị, đề xuất nâng cao khả năng thu hút vốn
đầu tƣ nhằm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn
2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ………
109 3.4.1 Đối với Trung ương ……… 109
3.4.2 Đối với UBND Tỉnh Lâm Đồng ……… 109
KẾT LUẬN ……… 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 113
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á
BOT: Hợp đồng xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao BT: Hợp đồng xây dựng - Kinh doanh
BTO: Hợp đồng xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh CNH: Công nghiệp hóa
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CP: Cổ phiếu
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
NGO: Viện trợ của tổ chức phi Chính phủ
NIEs: Nền kinh tế mới Công nghiệp hóa
NSNN: Ngân sách Nhà nước
ODA: Viện trợ phát triển chính thức
PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
QTDND: Quỹ tín dụng nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu 2.1: Huy động đóng góp của dân cư để đầu tư cơ sở hạ tầng
Biểu 2.2: Số lượng Doanh nghiệp phân theo khu vực kinh tế
Biểu 2.3: Số lượng Doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế
Biểu 2.4: Nguồn vốn của các doanh nghiệp đến thời điểm 31/12
(Chia theo loại hình kinh tế và 1 số ngành)
Biểu 2.5 Tình hình huy động vốn của các tổ chức tín dụng giai đoạn
(2006-2010)
Trang 9Mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trước yêu cầu Hội nhập Kinh tế Thế giới và Khu vực, cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua Kinh tế - Xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục có bước phát triển tăng trưởng khá so với Khu vực Tây Nguyên cũng như
so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước Kinh tế - Xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục ổn định và phát triển theo hướng chuyển định cơ cấu kinh tế: tăng dần
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, bước đầu đã phát huy được những lợi thế của địa phương Tuy nhiên trong những năm qua Kinh tế- XH của tỉnh Lâm Đồng cũng còn những hạn chế như kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm so với yêu cầu đề ra Về xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố thiếu ổn định Một trong những nguyên nhân cơ bản tác động trực tiếp đến phát triển KT-XH của tỉnh Lâm Đồng đó là nguồn vốn đầu tư hạn chế, trong khi đó tiềm năng về vốn đầu
tư trong xã hội còn khá lớn, nhưng chưa thu hút được cho đầu tư phát triển Việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KT-XH địa phương còn những mặt hạn chế, cụ thể nguồn vốn đầu tư từ NSNN không lớn do là một tỉnh nghèo, hàng năm còn phải nhận trợ cấp từ NSNN (khoảng 30% tổng số chi NS địa phương); đầu tư từ các DN trong và ngoài nước, doanh nghiệp tư nhân hộ cá thể vẫn ở mức thấp; các nguồn vốn tín dụng còn nhiều hạn chế Vì vậy để có thể phát huy tiềm năng và lợi thế trong phát triển KT-XH của tỉnh Lâm Đồng, thực hiện hòan thành các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2011 – 2015 đã đề ra; thì vấn đề vốn đầu tư, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển KT-XH tỉnh Lâm Đồng luôn được Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm Chính vì vậy việc
thực hiện nghiên cứu đề tài “Thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế -
xã hội tỉnh Lâm Đồng định hướng đến năm 2020” là đề tài có ý nghĩa rất
Trang 10lớn cả về lý luận và thực tiễn góp phần thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của tỉnh Lâm Đồng trong những năm tới
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý đã đề cập đến vấn đề thu hút vốn đầu tư, đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố Tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong các năm trước tuy cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, nhưng do tính chất lịch sử và đặc điểm của từng thời gian khác nhau, nên các đề tài nghiên cứu chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư để phát triển có hiệu quả cao nhất nền kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng
Xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng là một tỉnh Tây nguyên có tính đặc thù về về địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội, cho đến nay chưa có công trình, đề tài nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống
về lý luận, thực tiễn, thực trạng và giải pháp thu hút, sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mặt khác Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX (nhiệm kỳ 2011-2015) đã đề ra những phương hướng, mục tiêu phát triển mới với những kỳ vọng tốc độ tăng trưởng cao; ngày 23/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1462/QĐ-TTg v/v phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020; trong đó đã đặt ra những yêu cầu mới về phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh với những mục tiêu và nhiệm vụ cao hơn, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh nhà vào năm 2020 Đó là những vấn đặt ra về mặt lý luận và thực tiễn để tác giả thực hiện nghiên cứu Luận án
khoa học với đề tài “Thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Lâm Đồng định hướng đến năm 2020’’ để được nghiên cứu một cách
Trang 11hệ thống trên cơ sở các vấn đề lý luận về đầu tư, thu hút vốn đầu tư, mối quan
hệ giữ đầu tư và tăng trưởng kinh tế; Xuất phát từ thực tiễn thu hút vốn và sử dụng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương thời qua, đề xuất các giải pháp thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Trình bày có hệ thống để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về vốn đầu tư về mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng phát triển KT-XH, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
- Đánh giá phân tích thực trạng và rút ra những nguyên nhân tác động đến việc thu hút vốn đầu tư phục vụ cho quá trình phát triển KT-XH, cải thiện nâng cao đời sống nhân dân, ổn định an ninh quốc phòng của tỉnh Lâm Đồng
- Từ những thực trạng trên đề xuất những giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của tỉnh Lâm Đồng và nằm trong khuôn khổ pháp lý của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất thu hút mọi nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả nhất, tạo tiền đề để KT-XH tỉnh Lâm Đồng phát triển bền vững
- Kiến nghị, đề xuất với trung ương về những cơ chế, chính sách hỗ trợ cho tỉnh Lâm Đồng để thực hiện các giải pháp thu hút vốn đầu tư
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu
tư Trọng tâm của đề tài là nghiên cứu thực trạng thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự
Trang 12quản lý của Nhà nước, để đề xuất các giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong lĩnh vực vốn đầu tư với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng, trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu thực trạng thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước (vốn trong nước, vốn đầu tư nước ngoài) và những giải pháp cơ bản thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Tham khảo kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước cho phát triển kinh tế - xã hội của một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, sử dụng số liệu thống kê và phương pháp thống kê so sánh, phương pháp dự báo, phân tích thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp trong xử lý thông tin
6 Những đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu nhằm đóng góp những điểm mới như sau:
- Về lý luận: Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về đầu tư, vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội; mối quan hệ giữ vốn đầu tư và phát triển kinh tế -xã hội Luận văn trình bày có hệ thống cơ sở của việc hình thành các nguồn vốn đầu tư phát triển và làm sáng tỏ những vấn đề về đặc điểm, vai trò, các nhân
tố ảnh hưởng của thu hút vốn đầu tư đến sự phát triển của kinh tế -xã hội tỉnh Lâm Đồng
- Về thực tiễn: Nghiên cứu phản ánh thực trạng thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh Lâm Đồng; từ đó đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng trên trong thời gian qua
- Hệ thống những giải pháp đã có, hoàn thiện và đề xuất thêm những giải pháp đổi mới cơ chế chính sách và giải pháp tổ chức thực hiện nhằm thu
Trang 13hút vốn, đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hút vốn cho đầu tư phát triển kinh
tế-xã hội
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội tỉnh
Lâm Đồng giai đoạn 2006-2010
Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội tỉnh
Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN CHO ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 Khái niệm về đầu tư và vốn đầu tư
1.1.1 Khái niệm về đầu tư
- Một số quan niệm về đầu tư:
+ Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận: “Đầu tư, theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc Công ty mua sắm một tài sản Đôi khi, thuật ngữ này còn bị giới hạn trong việc mua một tài sản tại Sở giao dịch chứng khoán” Ông có nói đến đầu tư mua tài sản tài chính, song chủ yếu tập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tương lai: “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai
mà người đó hy vọng giành được qua việc bán sản phẩm do tài sản cố định làm ra Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất
là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra
+ Nhà kinh tế học P.A Samuelson cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra vốn ta bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho Đầu
tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh…Theo ông trong thuật ngữ tài chính, đầu tư mang một
ý nghĩa hoàn toàn khác, dùng để chỉ mua một loại chứng khoán…, đó không phải là đầu tư thực sự của nền kinh tế Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với
Trang 15tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư
Các vấn đề mà P.A Samuelson nêu ra trong các cách tiếp cận về đầu tư
đã cho thấy đầu tư là hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro Điều đó không chỉ nói lên kết quả của đầu tư mà còn chỉ rõ nguồn gốc của đầu tư trên giác độ cá nhân cũng như trên phạm vi nền kinh tế, thể hiện các mối quan hệ thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư Đồng thời ông cũng xác định các dạng chính của đầu tư, trong đó bao quát được cả hoạt động đầu tư cho khoa học, kỹ thuật và phát triển con người Như vậy P.A.Samuelson đã đưa ra khái niệm đầu tư khá đầy đủ
+ Tác giả R.J.Gordon thì cho rằng đầu tư là đưa thêm sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất cũ đã hao mòn Đầu tư bao gồm đầu tư tồn kho và đầu tư
cố định Khái niệm của ông nêu ra đã xem xét đầu tư trên giác độ kết quả của hoạt động đầu tư đem lại cho nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất Ở đây
đã nói được đầu tư nhằm mục đích duy trì năng lực của nền kinh tế qua việc thay thế tài sản đã hao mòn Quan điểm của Gordon đã tiếp cận khái niệm đầu
tư trên phạm vi nền kinh tế - xã hội
+ Trong cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại do D.W Pearce biên soạn thì đưa ra khái niệm: đầu tư là khoản chi tiêu cho các dự án bổ sung vốn vật chất, vốn nhân lực và hàng tồn kho Như vậy, D.W Pearce đã tiếp cận khái niệm đầu tư trên góc độ sử dụng vốn cho đối tượng đầu tư cụ thể
+ Theo từ điển giải nghĩa Tài chính, Đầu tư, Ngân hàng, Kế toán Anh Việt, NXB KHKT, năm 1999 thì đầu tư là dùng vốn để có được nhiều tiền hơn, hoặc thông qua những phương tiện tạo ra thu nhập (lãi, lợi nhuận) hoặc thông qua những hình thức kinh doanh mạo hiễm có nhiều rủi ro hơn để kiếm
Trang 16-lãi vốn Quan niệm này đã tiếp cận khái niệm đầu tư dưới góc độ vốn để đem lại vốn nhiều hơn, song chưa phản ánh kết quả đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm năng lực của nền kinh tế
- Qua tìm hiểu các quan niệm về đầu tư, có thể phân biệt một số loại đầu
tư như sau:
Thứ nhất là đầu tư tài chính: là loại đầu tư, trong đó người ta có tiền bỏ
tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công
ty phát hành
Thứ hai là đầu tư thương mại: là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ
tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi bán
Thứ ba là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: là loại đầu tư, trong
đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân
Trong đầu tư tài sản vật chất, có đầu tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, ngân hàng… tạo nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế - xã hội Đó là đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Hay có thể nói đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bỏ một lượng tiền vào việc tạo mối hay tăng cường cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ thuật, phương tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển
Khái niệm này đã phản ánh được khá đầy đủ các đặc điểm của đầu tư kết cấu hạ tầng - kinh tế xã hội Các đặc điểm đó là
Trang 17Một là, hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực tương ứng với
các đơn vị đo lường khác nhau, nhưng thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện Khi nói đến đầu tư thì thường được biểu hiện bằng tổng số tiền cần chi hoặc đã chi
Hai là, thời gian kể từ khi bắt đầu thực hiện đầu tư cho đến khi các kết
quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng phải kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều năm, tháng)
Ba là, chi phí cần thiết cho một công cuộc đầu tư lớn và phải nằm ứ
đọng trong suốt quá trình đầu tư
Bốn là, mục đích của đầu tư là sinh lời, kết quả đầu tư mang lại trong
tương lai lớn hơn so với chi phí bỏ ra
1.1.2 Khái niệm về vốn đầu tư
- Vốn đầu tư là sự biểu hiện bằng tiền các khoản mục chi phí gắn liền với nội dung của các hoạt động đầu tư
- Để rõ hơn nguồn gốc vốn đầu tư, hay nguồn gốc các khoản tiền bỏ ra đầu tư, ta nghiên cứu bản chất nguồn vốn đầu tư
- Bản chất của nguồn vốn đầu tư: Muốn thực hiện công cuộc đầu tư sản xuất, cần có các yếu tố đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Khoản tiền cần có trang trải các chi phí ứng trước này là vốn đầu tư Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải đã làm ra, sau khi trừ
đi phần tiêu dùng
Trong tác phẩm “Tư bản”, theo Mác, tích luỹ là quy luật của tái sản xuất
mở rộng Để thực hiện tái sản xuất mở rộng, cần tăng cường các yếu tố đầu vào, tức là phải thực hiện đầu tư vốn
Học thuyết của Mác đã khẳng định về cơ bản và lâu dài, vốn đầu tư có được nhờ đẩy mạnh sản xuất và thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu
Trang 18dùng Đầu tư phụ thuộc vào tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của khu vực Nhà nước;
Trong nền kinh tế mở, cùng với nguồn tiết kiệm trong nước, nguồn vốn đầu tư có thể được thu hút từ nước ngoài
- Qua nghiên cứu về bản chất của nguồn vốn đầu tư, từ đó có thể rút ra khái niệm hoàn chỉnh về vốn đầu tư: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tiết kiệm của dân cư và vốn thu hút từ các nguồn khác đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo năng lực mới nền kinh tế - xã hội
- Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp
vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các lọai vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tư này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
- Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem
lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư gián tiếp thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu… Hình thức đầu tư này thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp
1.2 Thu hút vốn đầu tƣ
Trang 19- Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm tới việc khai thác, thu hút các nguồn vốn đầu tư, làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư
Muốn tăng vốn đầu tư trước hết phải thực hiện tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước cho đầu tư, thứ hai trong nền kinh tế mở, nhất là Việt Nam và các nước đang phát triển nguồn tiết kiệm trong nước chưa đủ đáp ứng cho đầu tư, đòi hỏi phải thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài Như vậy thu hút vốn đầu tư có thể hiểu bao gồm cả việc thu hút nguồn tiết kiệm từ trong nước và thu hút nguồn vốn nước ngoài nhằm đạt được một khối lượng vốn đầu tư được xác định
- Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, được các chính phủ các nước đẩy mạnh thực hiện, và thực tế đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền Không ngừng tăng cường thu hút vốn đầu tư là sự cần thiết khách quan, bởi một số lý do sau:
Thứ nhất, thu hút vốn đầu tư góp phần tăng trưởng kinh tế
Mô hình Harrod - Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp với tốc độ tăng trưởng: Mức tăng GDP = vốn đầu tư/ICOR Muốn tăng trưởng kinh tế hàng năm với tốc độ cao thì phải tăng mức đầu tư và giảm ICOR xuống hạn chế không tăng Như vậy thu hút đầu tư
là làm cho lượng đầu tư tăng lên góp phần thúc đẩy tăng trưởng Ngoài ra thu hút đầu tư thì nhu cầu các yếu tố đầu vào của quá trình đầu tư làm cho sản xuất tại chỗ tăng lên, quá trình đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển
Thứ hai, thu hút vốn đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối tương quan giữa chung so với một thời điểm trước đó Đầu tư chính là phương tiện
Trang 20đảm bảo cho cơ cấu được hình thành hợp lý Trên cơ sở cơ cấu kinh tế được xác định cho mỗi thời kỳ, định hướng và các biện pháp thu hút đầu tư cụ thể đối với mỗi ngành làm cho tỷ trọng vốn đầu tư giữa các ngành khác nhau sẽ mang lại kết quả tăng trưởng khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch
cơ cấu ngành và ảnh hưởng chung đến tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Cùng với những vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động thu hút đầu tư còn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu vùng, hình thành và phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế cho các vùng khó khăn, thúc đẩy mối liên hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững
Định hướng và biện pháp thu hút đầu tư hợp lý còn tác động đến cơ cấu thành phần kinh tế, và các tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân Đầu tư công cộng của Nhà nước phải có tác động lôi kéo, dẫn dắt mà không làm suy giảm, lấn át đầu tư tư nhân
Thứ ba, thu hút vốn đầu tư góp phần tăng cường khoa học kỹ thuật, công
nghệ
Thu hút vốn đầu tư làm cho trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ của nền kinh tế được tăng cường thông qua các dự án đầu tư được triển khai, thay thế các thiết bị kỹ thuật công nghệ lạc hậu Bình thường, thiết bị kỹ thuật có thể mới nhưng vẫn dựa trên cơ sở công nghệ hiện có; thì trong thời kỳ cách mạng khoa học, công nghệ, đầu tư vào các thiết bị mới thường đi kèm với những bước tiến công nghệ mới, tạo chuyển biến mạnh mẽ vê năng suất lao động Trên cơ sở này tích luỹ tư bản tăng nhanh và tăng cường khả năng đầu
tư mới Đầu tư mới lại thúc đẩy tốc độ đổi mới thiết bị kỹ thuật và công nghệ Đối với các nước đang phát triển, mặc dù tích luỹ vốn và công nghệ thấp nhưng cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu, thích nghi và làm chủ công nghệ có sẵn, rút ngắn thời gian và giảm những rủi ro trong áp dụng công
Trang 21nghệ mới Mặt khác, điều kiện kinh tế cũng tạo ra khả năng đi tắt, đón đầu những công nghệ hiện đại Nhưng thực tế cũng đã cho thấy, không phải quốc gia nào cũng tận dụng được những lợi thế trên Việc tăng cường thu hút đầu
tư nâng cao tiềm lực khoa học, kỹ thuật, công nghệ không chỉ thu hút một lượng vốn đầu tư của nền kinh tế cho có hiệu quả hơn mà còn góp phần chống lại sự thất thoát, lãng phí nguồn vốn của ngân sách Nhà nước cũng như của toàn xã hội
1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế
Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế ở cả hai mặt: tổng cung và tổng cầu Trong hàm tổng cầu thì đầu tư là một thành phần của tổng cầu; đầu tư tăng một đơn vị làm cho thu nhập quốc dân tăng lên hơn một đơn vị (ảnh hưởng hệ số nhân) Mặt khác ảnh hưởng khác của đầu tư lên tăng trưởng kinh
tế thông qua tổng cung thể hiện ở chỗ là: vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất Vốn được kết hợp với lao động và tài nguyên, thông qua quá trình sản xuất, sẽ tạo ra của cải vật chất trong xã hội Nhiều nghiên cứu đi đến kết luận vốn là nhân tố quan trọng nhất tạo ra tăng trưởng kinh tế Vốn không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế với tư cách là đầu vào của sản xuất (đóng góp về mặt lượng) mà còn đóng góp một cách gián tiếp thông qua việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật do các đầu tư mới mang lại, do lợi thế kinh tế nhờ quy mô lớn (tức là với một ngành, việc đầu tư mở rộng quy
mô sẽ làm giảm chi phí sản xuất - do chuyên môn hóa…) Đây là những đóng góp về “chất” của đầu tư, tức là hiệu quả của nền kinh tế đã được nâng cao
1.4 Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế
Trong quá trình đầu tư để tạo sự tăng trưởng và phát triển thì yếu tố vật chất có tính tiền đề không thể thiếu được đó là vốn Chính từ sự phát triển của các nước cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khoá của sự
Trang 22thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế Thể hiện ở các mặt sau:
1.4.1 Đối với các đơn vị kinh tế
Vốn là nhân tố tiền đề cho ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế Là một phạm trù tài chính, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được quan niệm như là khối lượng giá trị, được tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Như vậy, vốn được biểu hiện bằng giá trị và đại diện cho một khối lượng tài sản nhất định Giữa vốn và tiền có quan hệ với nhau Muốn có vốn thì phải có tiền, song có tiền thậm chí những khoản tiền lớn cũng không phải là vốn Một khối lượng tiền được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp khi đáp ứng các điều kiện như tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực; tiền phải được tích tụ và tập trung đủ để đầu tư cho một dự án; tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời Vốn vừa là nhân
tố đầu vào, đồng thời vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình đầu tư Chính trong quá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc lập, không thể thiếu được Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt động phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau; không thể mất
đi mà vốn phải được bảo toàn và phát triển
1.4.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
- Tác động của vốn đến cân bằng kinh tế vĩ mô: Một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là đòi hỏi phải đảm bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó giữa tiết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tư phát triển, vừa tiêu hoá số tiền tiết kiệm một cách hiệu quả Vốn chính là hiện thân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư Số tiền tiết kiệm được gọi là vốn khi được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư Nền kinh tế có tiết kiệm mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộng quy mô đầu tư Thế nhưng, trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi
Trang 23các chủ thể khác nhau Công chúng quyết định tiết kiệm bao nhiêu trong thu nhập của mình và doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô đầu tư ở mức độ nào, tất cả đều là những biến cố độc lập Vì vậy, giữa tiết kiệm và đầu tư khó
ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp gia tăng… Vì vậy, để ổn định nền kinh tế và thiết lập sự cân bằng giữa tiết kiệm
và đầu tư đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước Ở những nền kinh tế đang phát triển, trong thời kỳ công nghiệp hóa, nhu cầu vốn đầu tư thường vượt xa số tiền tiết kiệm có được, các nền kinh tế đó phải thu hút một lượng vốn lớn từ bên ngoài để bổ sung vào sự thiếu hụt đó Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ các dòng vốn nước ngoài, thực hành tiết kiệm để nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trong nước
- Vốn tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, thiếu vốn những nguồn lao động, tài nguyên chỉ nằm dưới dạng tiềm năng Muốn khai thác các nguồn lực này đòi hỏi nền kinh tế luôn phải duy trì một tỷ lệ vốn đầu
tư nhất định
- Tác động của vốn đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Đầu tư vốn vào xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế Ngân hàng Thế giới đã nhận định sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ
sở hạ tầng Vì vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng
- Mặt khác, để đạt được mục đích phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đòi hỏi nền kinh tế phải tạo ra cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và lãnh thổ cân đối hài hòa Vốn chính là nhân tố đặc biệt quan trọng để khai thác hiệu quả các nguồn lực tiềm năng, tạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tối ưu
Trang 241.5 Nguồn vốn đầu tƣ
Trong tổng thu nhập của mỗi nước, sau khi trừ đi phần tiêu dùng, còn lại
là phần để bù đắp và tích luỹ Quỹ bù đắp và quỹ tích luỹ chính là nguồn gốc hình thành vốn đầu tư, trong đó quỹ tích luỹ là bộ phận quan trọng nhất
Quỹ tích luỹ được hình thành từ các khoản tiết kiệm Nền kinh tế càng phát triển thì tỉ lệ tích luỹ càng cao Đối với các nước đang phát triển, do thu nhập còn thấp nên quy mô và tỉ lệ tích lũy đều thấp, trong khi nhu cầu về vốn đầu tư rất cao, do đó rất cần đến nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Mặt khác, trong xu hướng chu chuyển vốn quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, ngay cả các nước phát triển vẫn cần có sự kết hợp giữa vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển kinh tế Như vậy vốn đầu tư có được của mỗi nước hình thành từ tiết kiệm trong nước và tiết kiệm của nước ngoài
1.5.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước hình thành từ tiết kiệm của NSNN, tiết kiệm của các doanh nghiệp và tiết kiệm của khu vực dân cư
- Tiết kiệm của NSNN: là số chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của NS Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước
Nghĩa là, số thu nhập tài chính mà NS tập trung được không thể xem ngay đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, điều này còn tùy thuộc vào chính sách chi tiêu dùng của NS Nếu quy mô chi tiêu dùng vượt quá số thu nhập tập trung thì nhà nước không có nguồn để tạo vốn cho đầu tư
Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế còn hạn chế, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm NSNN trên cơ sở kết hợp chính sách thuế và chi tiêu
Trang 25- Tiết kiệm của các doanh nghiệp: là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Quy mô tiết kiệm của các doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự
ổn định kinh tế vĩ mô…
- Tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức đoàn thể xã hội (khu vực dân cư): là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng cho mục đích tiêu dùng Quy mô tiết kiệm của khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trực tiếp như: trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế và sự ổn định kinh tế vĩ mô… Trong nền kinh tế thị trường, số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thể chuyển hoá thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức gởi tiết kiệm vào các TCTD, mua chứng khoán, trực tiếp đầu tư kinh doanh Có thể nói, tiết kiệm của khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống tài chính Chẳng hạn, nếu tiết kiệm NSNN không đáp ứng đủ nhu cầu chi đầu tư thì buộc nhà nước phải tìm đến nguồn vốn tiết kiệm của khu vực này để thỏa mãn bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ Tương tự, đối với khu vực tài chính doanh nghiệp cũng vậy Thông qua thị trường tài chính các doanh nghiệp có thể thu hút nguồn vốn tiết kiệm của khu vực dân cư bằng nhiều hình thức rất phong phú như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn từ các TCTD…
Tóm lại, tiết kiệm là quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập ở hiện tại để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao hơn nữa nhu cầu tiêu dùng cho tương lai Tuy vậy, do nguồn tiết kiệm trong nước thấp không đáp ứng đủ nhu cầu vốn nên cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế
1.5.2 Nguồn vốn nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực
Trang 26tiếp Vốn đầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ bao gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO)
Về bản chất, vốn nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nước ngoài và được thu hút thông qua các hình thức cơ bản sau:
- Viện trợ phát triển chính thức: (ODA: Official Development
Assistance): Đây là nguồn tài trợ phát triển do các cơ quan chính thức (chính quyền trung ương hay địa phương) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các nước này Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn thanh toán, nhằm vào hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ các chương trình dự án
Nguồn vốn ODA tuy có ưu điểm về chi phí sử dụng, nhưng các nước tiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt những thử thách rất lớn đó là gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện
về chính trị
Mỗi tổ chức, mỗi chính phủ đều có những phương cách và thông lệ riêng trong việc cung cấp ODA nhằm để đạt được những mục tiêu chính sách riêng của họ Với những ràng buộc về chính trị không phải nước nào cũng có thể nhận được viện trợ hoặc sử dụng có hiệu quả cao trong hoàn cảnh riêng của mình Còn đối với điều kiện về kinh tế, điển hình nhất là IMF và WB đều đưa
ra cung cách áp đặt nước nhận tài trợ phải tiến hành những chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo một khuôn khổ rất cứng nhắc Thực tế, cung cách đó
đã mang lại những hệ quả tốt lẫn xấu trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn
Trang 27vốn này Các khoản ODA của nước ngoài dành cho Việt Nam là nguồn thu quan trọng của NSNN được chính phủ thống nhất quản lý và sử dụng cho những mục tiêu ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội
- Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ: (NGO: Non-Government
Organization) cũng đang có những thay đổi Trước đây, NGO chủ yếu là viện trợ vật chất đáp ứng những nhu cầu nhân đạo như cung cấp thuốc men, lương thực cho các vùng bị thiên tai…Hiện nay, loại viện trợ này bao gồm cả các chương trình viện trợ phát triển với mục tiêu dài hạn
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài: (FDI: Foreign Direct Investment)
đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu
tư trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp FDI đã và đang trở thành hình thức thu hút vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn
từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài nhằm gia tăng khai thác về lợi thế so sánh
Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang
ý nghiã quan trọng trong việc tạo nên cú hích ban đầu cho sự tăng trưởng Vì khác với nguồn vốn ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ vào nước sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới Tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đang phát triển Các nước tiếp nhận cần phải biết cách khai thác triệt để các lợi thế có được của nguồn vốn này Tuy nhiên, FDI về thực chất cũng là một khoản nợ, trước sau nó vẫn không thuộc quyền sở hữu và chi phối của nước sở tại, chủ đầu tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận tối đa Ngày hôm nay nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào đầu tư và khi hết hạn họ lại rút vốn ra giống như các khoản nợ - có vay có trả Hơn nữa trong các khoản vay nợ, mức lãi suất thường do hai bên thỏa thuận trước, còn
Trang 28trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận đối đa Mặt khác, các nước nhận đầu tư còn có thể phải gánh chịu một số thiệt thòi do phải dành một số ưu đãi cho các nhà đầu tư hay bị các nhà đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các nhân tố đầu vào, cũng như có thể bị chuyển giao công nghệ và kỹ thuật lạc hậu
1.5.3 Thu hút thông qua thị trường vốn
- Phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán (TTCK) trong nước Với sự chuyên môn hóa về mua bán các loại chứng khoán, TTCK được xem như một cơ sở hạ tầng tài chính để thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của công chúng trong và ngoài nước, tạo nên nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn cho nền kinh tế
TTCK có những ưu điểm là thu hút vốn với phạm vi rộng rãi và linh hoạt, có thể đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu khác nhau của người cần vốn, đảm bảo hiệu quả và thời gian lựa chọn Còn đối với các nhà đầu tư, trên TTCK, các hình thức bỏ vốn của họ trở nên linh hoạt, vì vậy có thể hạn chế tối đa những rủi ro trong đầu tư…Ngày nay, TTCK đã trở thành một kênh thu hút vốn nước ngoài rất hiệu quả; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế trong nước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới
- Phát hành chứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế: Ưu điểm của phương thức này là thu hút vốn trực tiếp, không phải thông qua các tổ chức tài chính trung gian nên chi phí sử dụng vốn thấp hơn các khoản vay tín dụng Người đi vay có thể là doanh nghiệp và chính phủ Tuy vậy, việc tìm kiếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn có nhiều khó khăn và thử thách, đặc biệt là các tiêu chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giao dịch tại các thị trường tài chính quốc tế Do vậy, các loại chứng khoán lưu hành trên thị trường tài chính quốc tế phổ biến là trái phiếu chính phủ Việc phát hành trái phiếu quốc tế cũng có những hạn chế nhất định
Trang 29- Ngoài ra, việc thu hút vốn nước ngoài còn được thực hiện thông qua các hoạt động thuê tài chính, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng
Tóm lại, vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế được thu hút từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Trên cơ sở đó đòi hỏi cần phải biết thực hiện thu hút và sử dụng các nguồn vốn một cách thích hợp, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nguồn vốn đầu tư
1.6.1 Chiến lược công nghiệp hóa (CNH)
CNH là con đường tất yếu để phát triển kinh tế của các quốc gia Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam, CNH là, “quá trình tác động của công nghiệp với công nghệ ngày càng hiện đại vào các hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, làm biến đổi toàn diện nền kinh tế, đưa nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu tới công nghiệp hiện đại” Chiến lược CNH bao hàm hai nội dung cơ bản:
Thứ nhất, CNH là quá trình phát triển công nghiệp và tác động vào tất cả
các ngành, lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia, làm biến đổi toàn diện nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp hiện đại
Thứ hai, CNH là quá trình ứng dụng công nghệ mới, ngày càng hiện đại
hơn vào hoạt động kinh tế nhằm cải biến phương thức lao động thủ công lạc hậu sang phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao
Như vậy có thể nói rằng CNH là sự chuyển dịch cơ cấu công nghệ sản xuất, đồng thời CNH là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế, thúc đẩy và mở rộng phân công lao động quốc tế
Trong lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia, mỗi quốc gia xác định
Trang 30đường lối CNH khác nhau, tùy theo đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, tổng kết lại có bốn mô hình CNH đó là:
+ Mô hình CNH kiểu “cổ điển”, đặc trưng mô hình này là sản phẩm các ngành công nghiệp chủ yếu hướng vào nội địa, chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế thị trường tự do;
+ Mô hình CNH hướng nội (thay thế nhập khẩu), mô hình này được coi
là chiến lược của các nước đang phát triển sau thế chiến thứ hai với nội dung
cơ bản phát triển mạnh sản xuất hàng hóa, đặc biệt là hàng tiêu dùng để thay thế nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển;
+ Mô hình CNH hướng ngoại (hướng về xuất khẩu), mô hình này chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất sản phẩm phục vụ xuất khẩu trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh trong nước, các nước áp dụng mô hình này quan tâm phát triển các ngành thâm dụng lao động như may mặc, lắp ráp cơ khí, lắp ráp điện tử
+ Mô hình CNH hỗn hợp (phát triển tổng hợp và cân đối), mô hình này được xây dựng trên cơ sở mô hình CNH hướng nội và CNH hướng ngoại, vừa coi trọng phát triển sản xuất các sản phẩm trong nước có hiệu quả cao, với việc phát huy lợi thế so sánh để phát triển mạnh sản xuất các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, lấy nhu cầu của thị trường quốc tế làm mục tiêu phát triển các ngành trong nước
Điều kiện để tiến hành CNH cần phải có các điều kiện:
+ Phải có vốn và tạo ra nguồn vốn lớn;
+ Có công nghệ và thị trường công nghệ;
+ Phải có khoa học kỹ thuật phát triển và có con người nắm vững trình
độ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới, có trình độ quản lý phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất mới
Trong CNH vốn là yếu tố số một để phát triển sản xuất, để tạo vốn phục
Trang 31vụ cho CNH, các nguồn chính để tăng nhanh khả năng thu hút vốn là tỷ lệ xuất khẩu tăng nhanh, tiết kiệm trong nước cao, dòng vốn FDI chảy vào trong nước và các khoản vay khác Qúa trình thực hiện CNH đòi hỏi một lượng vốn lớn, vào thời kỳ đầu CNH hầu hết các quốc gia đang phát triển đều ở tình trạng của thời kỳ tích lũy nguyên thủy và rất thiếu vốn, vấn đề tạo vốn được coi là vấn đề lớn nhất trong việc thu hút các nguồn lực, chỉ có tạo ra được nguồn vốn tiến hành đầu tư mới có thể phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất cánh Trong hai nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn trong nước được xác định giữ vai trò quyết định cho sự phát triển, nguồn vốn nước ngoài được xác định rất quan trọng tạo ra cú hích phá vỡ vòng luẩn quẩn về thiếu vốn cho sản xuất Nguồn vốn nước ngoài thường chỉ được đầu tư vào những vùng, lĩnh vực hấp dẫn và tạo ra lợi nhuận cao, góp phần tăng tỷ lệ xuất khẩu thu ngoại tệ đầu tư lại cho sản xuất Để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trên tất cả các vùng của quốc gia chỉ có thể đầu tư bằng nguồn vốn trong nước, vì vậy Chính phủ bằng các chính sách, công cụ khác nhau như: Chính sách lãi suất; xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư, phát hành TPCP; hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, hệ thống thanh toán để tăng cường thu hút vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tạo mới các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như tài khoản cá nhân, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền tự động; hoàn thiện
và phát triển thị trường chứng khoán để phát hành và giao dịch cổ phiếu, trái phiếu; cổ phần hoá DNNN thu hút vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh; mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng các chính sách, công cụ này là thu hút tối đa nguồn vốn đầu tư trong nước, nhất là nguồn nhàn rỗi từ dân cư với cường độ, qui mô khác nhau tùy theo mức độ, nhu cầu vốn trong từng thời kỳ của quá trình CNH Như vậy có thể nói CNH tác động rất mạnh đến qúa trình hình thành nguồn vốn đầu tư
1.6.2 Các chính sách về kinh tế
Trang 32Phát triển kinh tế của một quốc gia còn phụ thuộc vào chiến lược và định hướng phát triển theo từng giai đoạn của quốc gia đó Để thực hiện được các mục tiêu này, các quốc gia cụ thể hoá bằng việc đưa ra những chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Trong đó các chính kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, vì nó đóng vai trò tạo ra cơ sở thực hiện các chính sách khác Các chính sách kinh tế là những chính sách điều tiết các mối quan hệ kinh tế, tạo
ra động lực phát triển kinh tế, bao gồm hệ thống nhiều nhóm chính sách như: Nhóm chính sách điều tiết vĩ mô như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ - tín dụng; chính sách phân phối; chính sách phát triển ngành, vùng; chính sách kinh tế đối ngoại; chính sách cạnh tranh; chính sách phát triển thị trường; Mục tiêu chung của các chính sách kinh tế:
- Thứ nhất, Tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, giá trị tiền tệ, mức độ
đảm bảo công ăn việc làm, cân bằng cán cân thanh toán
- Thứ hai, Mục tiêu xã hội là công bằng, an toàn, tiến bộ xã hội
- Thứ ba, Mục tiêu cơ cấu như cải thiện ngành, lãnh thổ, cơ cấu kết cấu
hạ tầng, cơ cấu các thành phần kinh tế
Để đảm bảo việc thực thi các chính sách phải có nguồn vốn nhất định dùng tạo lập cơ sở vật chất, trang thiết bị, chi phí quản lý hoặc các chi phí khác, nguồn vốn này do Nhà nước tài trợ; các tổ chức, cá nhân đóng góp; thu hút trong dân cư hoặc do nước ngoài tài trợ Trong qúa trình thực hiện cần khai thác triệt để các nguồn vốn đầu tư, nhất là các nguồn ngoài NSNN Ngày nay Chính phủ các nước trên thế giới chú trọng khai thác các nguồn lực trong dân nhằm giảm bớt gánh nặng NSNN, nâng cao trách nhiệm cộng đồng xã hội của dân cư Đối với việc thực hiện các chính sách phát triển ngành, vùng ảnh hưởng cơ cấu lại vốn đầu tư theo chiều hướng tăng hiệu quả sử dụng vốn hoặc
hỗ trợ phát triển về kinh tế, xã hội các vùng, điều chỉnh và tác động việc thu hút vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho thực thi các chính sách kinh tế trên bình
Trang 33diện quốc gia Như vậy, các chính sách kinh tế là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nguồn vốn đầu tư
1.7 Kinh nghiệm của các nước trong việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
Chính sách và chiến lược thu hút đầu tư phù hợp, hiệu quả là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành công của các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NIEs) Bài học kinh nghiệm chủ yếu là:
Thứ nhất, tỷ lệ tiết kiệm trong nước và đầu tư so với GDP tăng nhanh và
ở mức cao đã giúp cho các nền kinh tế này có mức tăng trưởng cao trong nhiều thập kỷ Những năm sau đó, tỷ lệ này giảm nhưng vẫn là những nước
có tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP vào loại cao nhất thế giới
Thứ hai, đầu tư cho khoa học, công nghệ và phát triển con người NIEs
được chú trọng đặc biệt Ở Hàn Quốc vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ
so với GDP đã tăng từ 0,89% (năm 1986) lên 2,2% (năm 1990) và đầu tư cho nghiên cứu và triển khai năm 1990 đạt 4,48 tỷ USD, gấp 2,53 lần so với năm
1986 Hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra mạnh mẽ thông qua con đường nhập công nghệ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài Để tiếp nhận công nghệ có hiệu quả, các nước này đã chuẩn bị nền tảng nghiên cứu, đào tạo nhân lực có trình độ cao và chính sách quản lý thích hợp
Thứ ba, thu hút đầu tư chuyển từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang
các ngành sử dụng nhiều vốn hoặc kỹ thuật để tăng giá trị gia tăng của sản phẩm nhằm thực hiện chiến lược công nghiệp ở các nền kinh tế NIEs
Thứ tư, thực hiện chính sách khuyến khích thúc đẩy đầu tư của khu vực
tư nhân Năm 1973, Hàn Quốc thành lập quỹ đầu tư quốc gia với nguồn vốn được đóng góp từ các tổ chức tài chính lẫn chính phủ để hỗ trợ đầu tư ưu đãi dài hạn cho các ngành then chốt Mặc dù sự phát triển của Hàn Quốc chủ yếu
do sự mở rộng của các tập đoàn, nhưng chính phủ vẫn quan tâm đến sự phát
Trang 34triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được ưu tiên vay vốn ngân hàng cả ngắn hạn và dài hạn Các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính trung gian được Chính phủ bắt buộc phải cho các Công
ty nhỏ và vừa vay nợ Đài Loan thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Nhìn chung các nước đã sử dụng rộng rãi các công cụ khuyến khích đầu tư như: giảm thuế, cho phép khấu hao nhanh, tài trợ dài hạn với mức lãi suất thấp và tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, trợ giúp nghiên cứu và triển khai, khuyến khích phát triển các ngành kỹ thuật cao, xoá bỏ hoặc giảm bớt các rào cản trong đầu tư
Thứ năm, tăng cường quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài có hiệu
quả, đảm bảo khả năng trả nợ
Hàn Quốc trong những năm 80, 90 ít dựa vào FDI, nhìn chung FDI chiếm tỷ trọng thấp so với tổng dư nợ nước ngoài, giai đoạn 1980 - 1984 chiếm 3,6% và giai đoạn 1984 - 1986 là 16,2% Thay vào đó là các khoản vốn vay đầu tư gián tiếp là hình thức chủ yêú trong cơ cấu vốn thu hút nước ngoài
Do ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tỷ giá hối đoái thành công, nên Hàn Quốc
đã giành được sự tín nhiệm cao của các cơ quan tín dụng quốc tế vào đầu thập
kỷ 80 và được xếp thứ tư trong những nước có nợ nhiều nhất Cuối năm 1985
dư nợ nước ngoài lên tới 46 tỷ USD, tương tương 56% GDP, song Hàn Quốc vẫn đảm bảo trả nợ Số dư nợ giảm liên tục 23% năm 1986, hạ xuống còn 5% năm 1994; đồng thời lúc này, Hàn Quốc bắt đầu chuyển từ nhập khẩu sang xuất khẩu vốn Có được kết quả này là do chính phủ biết tiêu hoá tư bản nước ngoài vào phát triển cơ sở hạ tầng và mở rộng đầu tư Đến lượt mở rộng đầu
tư lại đẩy mạnh xuất khẩu thông qua tăng năng suất và giảm giá thành
Các nước ASEAN thực hiện chính sách đầu tư cởi mở, tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, phần lớn các nước đối xử bình đẳng giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, phát huy tốt nguồn vốn nước ngoài mặt
Trang 35khác hết sức chú trọng đẩy mạnh tiết kiệm nội điạ và thu hút vốn đầu tư trong nước Sau khủng hoảng kinh tế tiền tệ 1997, hầu hết các nước tập trung vào đẩy mạnh thu hút vốn FDI bằng nhiều chính sách ưu đãi vượt trội, riêng Malaysia thực hiện đẩy mạnh đầu tư trong nước, hạn chế đầu tư nước ngoài Kết quả cho thấy Malaixia là nước sớm thoát ra khỏi khủng hoảng có hiệu quả nhất
- Kinh nghiệm đầu tư của Trung Quốc
Qua 20 năm cuối thế kỷ XX, thực hiện chính sách cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã dành được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế Có được kết quả đó một phần là do Trung Quốc đã đổi mới và thực thi chính sách thu hút, thu hút và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
Đối với vốn ngân sách Nhà nước, Trung Quốc đã tập trung đầu tư các công trình trọng điểm bao gồm: các công trình sinh lợi, các hạng mục kết cấu
hạ tầng, các dự án trọng điểm của ngành công nghiệp, các chương trình phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, kỹ thuật hàng không, kỹ thuật vi sinh, Trung Quốc đã thực hiện chương trình nghiên cứu ứng dụng như: chương trình đốm lửa (từ tháng 7/1985) đây là chương trình công nghệ chính với hỗ trợ nghiên cứu khoa học tự nhiên; chương trình 863 hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại (từ tháng 3/1986); chương trình bó đuốc hỗ trợ ứng dụng thương mại hoá các kết quả của chương trình 863 Cùng với các chương trình này, cải cách giáo dục đã nâng cao đáng kể chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường đưa sinh viên đi thực tập, nghiên cứu ở nước ngoài để tiếp thu và
sử dụng công nghệ mới, tỷ lệ chi cho giáo dục trong ngân sách Nhà nước đã tăng từ 5,9% (năm 1978) lên 10,5% (năm 1993)
Ngoài nguồn vốn ngân sách, Trung Quốc đã tích cực thu hút vốn trong nước thông qua nhiều kênh khác nhau, hỗ trợ đầu tư phát triển công nghiệp
Trang 36nông thôn với mô hình xí nghiệp Hương Trấn, cải cách cơ chế, chính sách đầu
tư, trao quyền tự chủ tài chính cho doanh nghiệp Nhà nước
Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được đặc biệt chú trọng với những chính sách ưu đãi và thủ tục thông thoáng Trong 5 năm 1992-1996, số vốn FDI được thu hút bằng 20,8% tổng mức của 17 năm trước đó cộng lại Những năm gần đây, trọng tâm của các yêu cầu về vốn FDI được chuyển từ
số lượng sang chất lượng, coi trọng thu hút các Công ty xuyên quốc gia lớn đầu tư vào các dự án sử dụng kỹ thuật cao, nới lỏng kiểm soát việc thành lập
xí nghiệp 100% vốn nước ngoài và các xí nghiệp do người nước ngoài điều phối, tạo những cơ chế đặc biệt cho những đặc khu kinh tế, coi đó là “đầu tàu” lôi kéo các khu vực phát triển, áp dụng giá dịch vụ thống nhất giữa đầu
tư trong nước và ngoài nước ở một số khu vực Bên cạnh đó, Trung Quốc đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các vùng khó khăn ở miền Trung và miền Tây Từ năm 1997, Chính phủ cho phép các tỉnh vùng sâu, vùng xa, khu tự trị được cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài với số vốn lên tới 30 triệu USD, trước đó là 10 triệu USD Đến nay Chính phủ Trung Quốc đã thông qua một loạt các biện pháp thúc đẩy sản xuất, khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư ra nước ngoài
- Một số vấn đề rút ra từ kinh nghiệm thu hút đầu tư của các nước:
+ Ở giai đoạn kém phát triển, nhất thiết phải đẩy mạnh thu hút vốn đầu
tư từ tiết kiệm trong nước, mặt khác mạnh dạn vay nợ nước ngoài song phải đảm bảo khả năng trả nợ
+ Vốn ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư vào các trọng điểm: Kết cấu
hạ tầng, khu vực không sinh lợi, chương trình phát triển khoa học công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực
+ Thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân, chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể như: hỗ trợ tín dụng thông qua
Trang 37thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, quỹ bảo lãnh tín dụng, giảm thuế, cho phép khấu hao nhanh, trợ giúp nghiên cứu và triển khai, xóa bỏ rào cản trong đầu tư…
+ Đối xử bình đẳng giữa thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài + Tạo ra cơ chế đặc biệt cho những đặc khu kinh tế, coi đó là “đầu tàu” lôi kéo các khu vực khác phát triển
+ Khuyến khích đầu tư vào các vùng khó khăn bằng những cơ chế chính sách riêng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại cho
một hoạt động nào đó trên cơ sở chấp nhận những rủi ro nhất định nhằm mang lại các kết quả có lợi trong tương lai Mọi hoạt động đầu tư đều liên quan đến vốn hay nguồn lực tài chính Vốn đầu tư có được do thực hiện qua qúa trình tiết kiệm, tích lũy trong và ngoài nước Qui mô vốn cho đầu tư của mỗi quốc gia phụ thuộc khả năng của nền kinh tế, chiến lược CNH-HĐH, chính sách kinh tế của quốc gia đó Đầu tư có vai trò quan trọng làm tăng tổng cầu và tăng vốn cho sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện cuộc sống con người Trên cơ sở lý thuyết, những bài học kinh nghiệm thành công về huy động và sử dụng nguồn lực tài chính phát triển kinh tế của các nước Châu Á, tỉnh Lâm Đồng trong điều kiện các nguồn lực tài chính còn hạn hẹp, đề ra hướng đi hợp lý, ban hành các chính sách phát triển kinh tế linh hoạt, sáng tạo để huy động các nguồn vốn đầu tư, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả số vốn đầu tư còn hạn chế này tạo ra sức bật, tạo đà phát triển kinh tế của tỉnh nhanh và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tích cực: giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2006-2010
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng
2.1.1 Tiềm năng và nguồn lực phát triển
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Lâm Đồng là một trong 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội, vị trí và vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái rừng đầu nguồn của Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ
Nằm ở nam Tây Nguyên, có các quốc lộ 20, 27, 28, 55 nối liền Lâm Đồng với các tỉnh Đắk Lắk, Bình Thuận, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và các cảng biển ở miền Trung và miền Nam
Vị trí địa lý như trên tạo điều kiện cho Lâm Đồng có thể mở rộng hợp tác kinh tế với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và cả nước
2.1.1.2 Tiềm năng về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
a) Địa hình
Địa hình núi và cao nguyên với nhiều dạng địa hình khác nhau tạo ra nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú và đa dạng Đặc điểm địa hình ảnh hưởng đến các yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật, tạo ra những cảnh quan thiên nhiên phong phú và đa dạng là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch và xây dựng thủy điện
b) Khí hậu
Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Trang 39Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18-250C, thời tiết ôn hòa
và mát mẽ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm Lượng mưa trung bình 1.750-3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85-87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.890-2.500 giờ Đặc biệt, Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân, vì vậy thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi
có nguồn gốc ôn đới
c) Tài nguyên nước
Về nước mặt, Lâm Đồng có mạng lưới sông suối khá phong phú Với khoảng 60 sông suối có chiều dài > 10 km Một số sông suối lớn là Đồng Nai,
Đa Nhim, Đa Dâng, Đạ Tẻh; Đa Tam, Đại Nga… Mật độ lưới sông thay đổi khoảng 0,18-1,1km/km2 Sông suối Lâm Đồng có bậc thềm sông hẹp, sườn dốc, nhiều thác ghềnh, dòng chảy mạnh và phân phối không đều trong năm
Về nước ngầm, vùng có khả năng tưới nước ngầm chủ yếu ở những nơi
có địa hình tương đối bằng, thấp còn trên các khu vực có địa hình núi cao
không có khả năng tưới ngầm
Nhìn chung, tài nguyên nước của tỉnh có nguồn sinh thủy rộng, modul dòng chảy lớn, chất lượng nước tốt có thể đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
Địa hình khá thuận lợi cho xây dựng các hồ chứa và đập dâng ngay trong các khu vực sản xuất nông nghiệp; đồng thời có thể kết hợp giữa khai thác tiềm năng về thủy điện với hoạt động du lịch
d) Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất đai là 977,2 nghìn ha, với diện tích đất bình quân theo đầu người là 0,83 ha/người, trong đó diện tích đất nông nghiệp là trên 278,2
Trang 40nghìn ha, chiếm 28,5% tổng quỹ đất đai, diện tích đất lâm nghiệp trên 621 nghìn ha, chiếm 63,6% tổng quỹ đất đai và đất đồi trọc, hoang hoá là 34,1 nghìn ha, chiếm 3,5% tổng quỹ đất đai của toàn tỉnh
Chất lượng đất đai nhìn chung tương đối màu mỡ, được chia thành 9 nhóm đất khác nhau Trong tổng số trên 255 nghìn ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, có khoảng 200 nghìn ha là đất đỏ bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày
có giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm
Như vậy, xét trên tổng thể, thiên nhiên đã ưu đãi cho tỉnh Lâm Đồng một nguồn lực đất đai phong phú và đa dạng, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá và đặc thù hoá, tạo thế mạnh về cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu quốc tế
e) Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh 602.142 ha, trong đó: rừng tự nhiên 547.813 ha; rừng trồng 54.329 ha, đất lâm nghiệp 33.512 ha Phân theo 3 loại rừng:
- Rừng đặc dụng : 83.813 ha, chiếm 13,91%
- Rừng sản xuất: 345.003 ha, chiếm 57,36%
Tổng trữ lượng lâm sản: Gỗ 56.182.789 m3 (rừng tự nhiên 55.172.965
m3, chiếm 95,04%; rừng trồng 1.009.824m3, chiếm 4,96%) và 518 triệu cây tre nứa Ngoài ra, rừng ở Lâm Đồng còn có các loại dược liệu quý mọc ở tầng cây bụi rừng tự nhiên như sa nhân, bạc gạc, gối hạc, các loài song, mây và hạ Cau Dừa, đót,
Rừng Lâm Đồng có nhiều động vật quý hiếm như Tê giác một sừng (Rhinocoros), hổ (Pantheratigris), Nai cà tong (cervus eldi), Bò tót (Bosgaurus) Đại diện của các bộ thú như bộ ăn sâu bọ (Insectirora), bộ cánh
da (Dermotera), bộ linh trưởng (Primater), bộ móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla)