2.1.2.6 Chi phí gia tăng trong nhiều thời vừa qua giá xăng, dầu, điện 52 2.1.2.7 Việc phá giá đồng bạc Việt Nam, bất ổn trong cán cân thanh toán cũng làm tăng lạm phát vì giá sản phẩm
Trang 11.2.2 Các công cụ chính sách tài khóa 19
Trang 21.4.2 Bản chất của phối hợp giữa chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát 31
1.4.3 Tính khả thi và những xung đột có thể xảy ra khi kết
hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát
NAM GIAI ĐOẠN 2006-2011
2.1.2 Các nguyên nhân lạm phát của Việt Nam 47
2.1.2.1 Về phía chủ trương và chính sách của nhà nước phát
triển kinh tế ở mức độ cao bằng mọi giá (cầu kéo) 47
2.1.2.2 Vấn đề thâm hụt ngân sách của chính phủ và đầu tư
công không hiệu quả (cầu kéo kết hợp chi phí đẩy) 49
2.1.2.3 Việc gia tăng tín dụng quá cao (lạm phát tiền tệ) 50
2.1.2.4 Chính sách lãi suất và tín dụng bất hợp lý 50
2.1.2.5 Năng suất của kinh tế Việt Nam thấp, hệ quả của một nền
kinh tế xây dựng trên một khu vực nhà nước với các doanh nghiệp nhà nhà nước làm ăn thường là thua lỗ mặc dù được đầu tư rất nhiều
51
Trang 32.1.2.6 Chi phí gia tăng trong nhiều thời vừa qua (giá xăng,
dầu, điện)
52
2.1.2.7 Việc phá giá đồng bạc Việt Nam, bất ổn trong cán
cân thanh toán cũng làm tăng lạm phát vì giá sản phẩm và nguyên liệu nhập khẩu sẽ gia tăng tính theo VNĐ
53
2.1.2.8 Chính sách neo tỷ giá cứng nhắc với USD 53
2.1.2.9 Nhân tố lạm phát tâm lý - Giá cả tăng lên không xuất
phát từ yếu tố chi phí mà chủ yếu từ tâm lý “ăn theo”
giá các hàng khóa khác cũng như tâm lý tích trữ hàng hóa (vàng) khi tiền mất giá của công chúng 54
2.2 Thực trạng việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ
và chính sách tài khóa để kiểm chế lạm phát ở
2.2.1 Những đặc điểm về mặt hành chính làm giảm phối
hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn
2.2.2 Những đặc điểm làm giảm hiệu quả phối hợp giữa
chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiểm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011 qua phân tích các biến số kinh tế
Trang 4thương mại) 2.2.2.5 Lãi suất (gồm lãi suất tín dụng và lãi suất tái chiết
khấu)
72
2.2.2.7 Cán cân thanh toán (vấn đề xuất, nhập khẩu và các
3.2 Giải pháp tăng cường hiệu quả phối hợp giữa
chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới 87
3.2.1.1 Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp theo hướng tăng
tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước 88
3.2.1.2 Hệ thống văn bản pháp quy chặt chẽ quy định cụ thể
về cơ chế phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính
91
3.2.1.3 Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin 94
3.2.2 Các giải pháp cụ thể điều chỉnh các biến số kinh tế 96
3.2.2.1 Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và
chính sách tài khóa để hạn chế mức thâm hụt ngân
3.2.2.2 Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và
chính sách tài khóa để ổn định cán cân thanh toán và ổn 99
Trang 5định tỷ giá hối đoái 3.2.2.3 Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và
chính sách tài khóa để quản lí trái phiếu Chính phủ
và hoạt động tái chiết khấu trái phiếu Chính phủ 100
3.2.2.4 Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính tiền tệ và
chính sách tài khóa để ổn định chính sách lãi suất, chính sách tín dụng theo hướng tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, tăng sản lượng quốc gia
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 AS Đường biểu diễn cung hàng hóa
Tổ chức các nền kinh tế mới nổi gồm: Brasil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi
3 CPI Chỉ số giá tiêu dùng
5 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 GDP Tổng sản phẩm nội địa
Hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm
9 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
10 IS Đường biểu diễn mối quan hệ giữa thu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Phân biệt chi đầu tư và chi thường xuyên 22
2 Bảng 2.1 Tỷ lệ chi Ngân sách cho đầu tư công 49
3 Bảng 2.2 Tốc độ tăng cung tiền và tín dụng giai đoạn
4 Bảng 2.3 Diễn biến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn
5 Bảng 2.4 Mức tăng cung tiền của Việt Nam giai đoạn
2000-2010 so với các nước trong khu vực Châ Á 64
6 Bảng 2.5 Diễn biến thâm hụt ngân sách và tốc độ tăng
trưởng của Việt Nam giai đoạn 2000-2007 68
7 Bảng 2.6 Hoạt động đấu thầu trái phiếu – tín phiếu năm
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
2 Hình 1.2 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách
tài khóa thông qua mô hình cân bằng IS-LM 29
3 Hình 1.3 Mô hình thay đổi tổng cung-tổng cầu do thay đổi
4 Hình 1.4 Mô hình thay đổi tổng cung-tổng cầu do thay đổi
5 Hình 1.5 Mô hình kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ để thay đổi tổng cung-tổng cầu và kiềm chế lạm phát 32
6 Hình 1.6 Sơ đồ kết hợp chính sách tài khóa và chính sách
tiền tệ để kiềm chế lạm phát 35
7 Hình 2.1 Diễn biến lạm phát của Việt Nam từ 2000-2011 44
8 Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ 2000-2011 47
9 Hình 2.3 Tốc độ tăng GDP thực tế và hệ số ICOR giai đoạn
10 Hình 2.4 Thâm hụt Ngân sách nhà nước từ 2005-2011 49
11 Hình 2.5 Tỷ trọng đầu tư của các khu vực kinh tế trong tổng
đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2006-2011 64
12 Hình 2.6 Nợ công, nợ nước ngoài, nợ công nước ngoài
13 Hình 2.7 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giai
14 Hình 2.8 Tăng trưởng tín dụng của Việt Nam từ 2000-2009 80
15 Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô của Ngân
16 Hình 3.2 Sơ đồ hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô của Bộ Tài chính 113
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai công cụ quản lý kinh tế
vĩ mô vô cùng quan trọng của bất cứ quốc gia nào Mỗi chính sách đều có mục tiêu riêng, nhưng chung quy lại đều theo đuổi mục tiêu của quản lý linh
tế vĩ mô là tăng trưởng kinh tế bền vững và kiểm soát lạm phát Mặc dù đối tượng điều chỉnh và điều tiết của mỗi chính sách là không giống nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng và tác động đến tính hiệu quả của nhau trong việc kiềm chế lạm phát
Chính sách tài khóa với nội dung cơ bản là kiểm soát chi tiêu của Chính phủ và thuế Quá trình chi tiêu cũng như các khoản thu thuế của Chính phủ có tác động trực tiếp đến các biến số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng và lạm phát
Do vậy nó được coi là một trong những chính sách kinh tễ vĩ mô có vị trí quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát
Chính sách tiền tệ là tổng thể các biện pháp, công cụ của Ngân hàng Nhà nước chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, tức
là thông qua chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền nhằm đạt được các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô Một chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất qua đó thúc đẩy đầu tư, tăng tổng cầu và có thể làm gia tăng lạm phát nếu mức tăng tiền quá lớn vượt mức sản lượng tiềm năng Và ngược lại, một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ có tác động giảm tổng cầu qua đó kiềm chế được lạm phát
Trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam tuy đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập trong việc phối hợp giữa hai chính sách này nhất là trong việc kiềm chế lạm phát Đôi khi chính sách tài khóa để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho
Trang 10những tác động đối kháng lẫn nhau, phá vỡ quy luật của thị trường, ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát
Vì vậy, tác giả lựa chọn chủ đề nghiên cứu: “Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam” cho đề tài tốt nghiệp thạc sỹ Tài chính ngân hàng của
mình, nhằm thực hiện nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này với mục đích góp phần tìm hiểu, đề xuất phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu và các bài
viết của các nhà khoa học, nhà quản lý được phát hành, đăng tải về lĩnh vực này như:
Phạm Đình Cường (2006) Tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Việt Nam nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội, Tạp chí Ngân hàng
Lê Quang Cường (2008), Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, Tạp chí Phát triển Kinh tế
Lê Vinh Danh (2007), Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung ương ở các nước tư bản phát triển, NXB Chính trị quốc
Trang 11Tô Kim Ngọc (2006), Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam thông qua mối quan hệ với chính sách quản lý nợ công, Thời
để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là trả lời câu hỏi nghiên cứu chính như sau:
- Việc phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hiện nay ở Việt Nam cần được cải thiện như thế nào để nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát?
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu chính nêu trên, luận văn cần trả lời các câu hỏi phụ như sau:
- Xét về cơ sở lý luận, bản chất của sự phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát là gì?
- Những đặc điểm làm giảm hiệu quả trong sự phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam nhằm kiềm chế lạm phát trong giai đoạn 2006-
2011, và nguyên nhân của tình trạng này là gì?
- Có thể đề xuất những giải pháp gì nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay?
Trang 12Đối tượng: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến
lạm phát tại Việt Nam, những nhân tố làm giảm hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa và đánh giá việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và chính sách tài khóa của Bộ Tài chính để kiềm chế lạm phát trong giai đoạn 2006-2011 thông qua các biến số kinh tế vĩ
mô quan trọng tác động trực tiếp đến lạm phát, đồng thời từ những đánh giá
đó sẽ đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát
ở Việt Nam trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tài chính và tiền tệ của Việt Nam giai
đoạn 2006-2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, suy luận logic kết hợp với các phương pháp
so sánh, phân tích, tổng hợp để tập trung khảo sát các các biến mang tính định lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát trong giai đoạn 2006-2011 và kết hợp với nghiên cứu lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại để phân tích, đánh giá hiệu quả việc tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến các biến này, cụ thể:
- Lãi suất (gồm lãi suất tín dụng và lãi suất tái chiết khấu);
- Cán cân thanh toán (vấn đề xuất, nhập khẩu và các dòng vốn gián tiếp vào Việt Nam);
Trang 13- Chia sẻ thông tin;
- Tâm lý của công chúng…
Từ việc khảo sát, phân tích, đánh giá các biến số trên, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
Phương pháp thu thập số liệu:
Các thông tin và số liệu của các biến cần khảo sát được thu thập từ các nguồn văn bản, các báo cáo tại các cơ quan, đơn vị có liên quan như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng cục thống kê, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, Ủy ban Chứng koán nhà nước…
Ngoài ra, để khảo sát các biến định tính, tác giả sẽ kết hợp điều tra bằng bảng câu hỏi về tâm lý và phản ứng của công chúng về tình trạng lạm phát hiện nay
6 Những đóng góp mới của luận văn
Xem xét lại thực tiễn phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011 từ cách tiếp cận kinh tế vĩ mô hiện đại và các số liệu thực tiễn đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp liên quan đến thực thi chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cũng như việc phối hợp giữa hai chính sách này nhằm kiềm chế
Trang 147 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-
2011
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TRONG VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 1.1 Chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quantrọng nhất
mà Nhà nước giao cho Ngân hàng Trung ương thực hiện Ở mỗi quốc gia khác nhau có đề cập tới Chính sách tiền tệ với những quan điểm khác nhau
Theo quan điểm của của Frederic S.Mishkin - trường Đại học Columbia (Mỹ) thì chính sách tiền tệ chính là việc mà Cục dự trữ liên bang
Mỹ (Federal Reserve System - FED) sử dụng đến ba công cụ để điều tiết cung ứng tiền tệ: nghiệp vụ thị trường tự do, nghiệp vụ này ảnh hưởng đến cơ sốtiền tệ; thay đổi lãi suất chiết khấu, thay đổi này ảnh hưởng đến cơ số tiền
tệ, bằng cách này ảnh hưởng đến lượng vay chiết khấu; và thay đổi dự trữ bắt buộc, thay đổi này ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ
Quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu về chính sách tiền tệ như sau: công cụ chính là lãi suất ngắn hạn để thực hiện mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả khu vực Châu Âu trong thời kì trung hạn
Theo quan điểm của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc: mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền và theo cách đó đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế
Còn ở Việt Nam, theo Điều 2, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003, số 06/1997/QHX, qui định: Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,
Trang 16Có thể có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm chính sách tiền
tệ trên thế giới Nhưng có thể hiểu một cách chung nhất: Chính sách tiền tệ là
hệ thống biện pháp của một nhà nước trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, nhằm điều hành khối lượng cung và cầu tiền tệ bằng các biện pháp như phát hành tiền, chống lạm phát, dự trữ pháp định và quản lý dự trữ ngoại tệ, tái chiết khấu các kì phiếu và lãi suất, chính sách lãi suất để đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, ổn định sức mua của đồng tiền, phát triển sản xuất, kinh doanh trong một giai đoạn nhất định Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách và cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước, trên cơ sở vận dụng đúng đắn quy luật của sản xuất hàng hoá và quy luật lưu thông tiền tệ để tổ chức tốt quá trình chu chuyển tiền tệ Chính sách tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của sản xuất - kinh doanh, thực hiện sự kiểm tra có hiệu lực của nhà nước ở tầm vĩ mô cũng như ở tầm vi mô
Về cơ bản, chính sách tiền tệ là điều tiết cung tiền thông qua các công
Khi lạm phát cao, Ngân hàng Trung ương nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm) dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm) Ngược lại nếu Ngân hàng Trung ương hạ
Trang 17thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các Ngân hàng thương mại cũng tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền Lý luận tương tự như trên thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng) Như vậy công cụ dự trữ bắt buộc mang tính hành chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kỳ quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thị trường mở tái chiết khấu chưa đủ mạnh
để có thể đảm trách điều hoà mức cung tiền tệ cho nền kinh tế Nhưng công
cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy cảm, vì chỉ thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát Mặt khác một điều bất lợi nữa là khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung ứng tiền tệ như việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đối với một Ngân hàng thương mại có dự trữ vượt mức quá thấp, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ngừng cũng gây nên tình trạng không ổn định cho các Ngân hàng thương mại Chính vì vậy, sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ qua đó kiểm soát lạm phát ít được sử dụng
trên thế giới (đặc biệt là những nước phát triển, có nền kinh tế ổn định)
1.1.2.2 Nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ
Nếu như công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ thụ động của Ngân
Trang 18mại đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu đến để xin "tái cấp vốn" thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chủ động của Ngân hàng Trung ương để điều khiển khối lượng tiền, qua đó đã kiểm soát được lạm phát
Qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương chủ động phát hành tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu của Ngân hàng Nhà nước nhằm tác động trước hết đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ Khi nghiên cứu phần trước đã biết rằng khối lượng tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát, việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát
Trong nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương điều khiển cả khối lượng tiền tệ và lãi suất tín dụng thông qua "giá cả" mua và bán trái phiếu Tất cả những cuộc can thiệp vào khối lượng tiền bằng công cụ thị trường mở đều được tiến hành dường như là lặng lẽ và vô hình, "không can thiệp thô bạo", điều khiển mạnh mà không chứa đựng "một chút mệnh lệnh" Một mặt nghiệp vụ thị trường mở có thể dễ dàng đảo ngược lại Khi có một sai lầm trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở, như khi thấy cung tiền tệ tăng hoặc giảm quá nhanh Ngân hàng thương mại có thể lập tức đảo ngược lại bằng cách bán trái phiếu hoặc mua trái phiếu và ngược lại
Đây là công cụ cực kỳ quan trọng của nhiều Ngân hàng Trung ương, và được coi là vũ khí sắc bén nhất đem lại sự ổn định kinh tế nói chung, ổn định lạm phát nói riêng
1.1.2.3 Chính sách tái cấp vốn
Là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thương mại Bản chất của nghiệp vụ này là Ngân hàng Nhà nước cho
Trang 19các Ngân hàng Thương mại: vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
Khi cấp một khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ
Qua nghiệp hoạt động tái cấp vốn, Ngân hàng Trung ương có thể chủ động đưa tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách tăng hoặc giảm lãi suất tái cấp vốn, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ Khi muốn tăng lượng tiền trong lưu thông, Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất tái cấp vốn và ngược lại khi muốn giảm lượng tiền trong lưu thông Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất tái cấp vốn Việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát
1.1.2.4 Tái chiết khấu
Tái chiết khấu là việc Ngân hàng Trung ương thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán và đáng tin cậy thuộc sở hữu của các ngân hàng thương mại khác theo tỉ suất tái chiết khấu nhất định
Tái chiết khấu là phương thức để Ngân hàng Trung ương đưa tiền vào lưu thông, thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng Thông qua việc tái chiết khấu, Ngân hàng Trung ương đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống Ngân hàng thương mại thực hiện việc tạo tiền, đồng thời khai thông thanh toán Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều hành chính sách tiền tệ Tuỳ theo tình hình từng giai đoạn, tuỳ thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính sách "nới lỏng" hay "thắt chặt" tín dụng mà Ngân hàng Trung ương quy
Trang 20tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế của giai đoạn
đó Khi Ngân hàng Trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các Ngân hàng thương mại cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm "cầu" về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi) Do đó đầu tư giảm
đi dẫn tới tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm) Trường hợp ngược lại tức là Ngân hàng Trung ương kích thích tăng cung cầu tiền tệ
và làm cho giá tăng (tỷ lệ lạm phát tăng) Ở các nước công cụ nghiệp vụ trực tiếp để thực hiện tái chiết khấu là thương phiếu, hoặc các loại tín phiếu là những công cụ rất thông dụng trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn nhưng
ở nước ta chưa có công cụ truyền thống để thực hiện việc chiết khấu và tái chiết khấu Mặt khác công cụ tái chiết khấu vừa có khả năng giải quyết khả năng thanh toán vừa có khả năng mở rộng khối lượng tín dụng cho nền kinh
tế Cho nên có thể ví công cụ tái chiết khấu là cái bơm hai chiều vừa hút vừa đẩy Khi bơm đảy ra là cung thêm tiền cho nền kinh tế, khi có hiện tượng thiểu phát và bơm hút vào thu hồi lượng tiền khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát
Tuy nhiên khi Ngân hàng Trung ương ấn định lãi suất chiết khấu tại một mức nào đó sẽ xảy ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu vì khi đó lãi suất cho vay thay đổi Những biến động này dẫn đến những thay đổi ngoài ý định trong khối lượng cho vay chiết khấu và do đó thay đổi trong cung ứng tiền tệ làm cho việc kiểm soát cung ứng tiền tệ vất vả hơn Đây chính là hạn chế của công cụ tái chiết khấu trong việc kiểm soát lạm phát
1.1.2.5 Lãi suất tín dụng
Trang 21Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là một công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
Lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ Nó được áp dụng nhất quán trong một lãnh thổ và được Ngân hàng Nhà nước điều hành chặt chẽ và mềm dẻo tùy theo từng thời kỳ cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung ứng vốn Lãi suất tác động làm thay đổi cầu tiền tệ trong dân cư
và làm thay đổi tỷ lệ lạm phát Khi có lạm phát, Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng lãi suất tiền gửi, chính vì thế người dân và các công ty sẽ đầu tư vào ngân hàng (gửi tiền vào ngân hàng) có lợi hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh Như vậy cầu tiền giảm do đó tổng đầu tư giảm, làm cho tổng cầu giảm dẫn tới giá giảm Nhưng chúng ta biết rằng in= ii + ir trong đó in là tỷ lệ lãi suất danh nghĩa, il: tỷ lệ lãi suất thực tế và ii là tỷ lệ lạm phát, do đó khi có lạm phát cao,
áp dụng chính sách lãi suất ở đây chính là việc tăng tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cao hơn hẳn tỷ lệ lạm phát (để duy trì lãi suất thực dương) qua đó mới tạo được cầu tiền danh nghĩa tương ứng với cầu tiền thực tế Tóm lại khi lãi suất tiền gửi cao thì động viên được nhiều người gửi tiền vào Ngân hàng thương mại và ngược lại Ngân hàng thương mại mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước với lãi suất kinh doanh có lãi thì sẽ giảm được khối lượng tín dụng Nếu lãi suất tiền (cho vay) cao sẽ làm nản lòng người vay vì kinh doanh bằng vốn vay Ngân hàng thương mại không có lợi nhuận Như vậy dùng công cụ lãi suất có thể tăng hoặc giảm khối lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại để đạt được mục đích của chính sách tiền tệ (ổn định tỷ lệ lạm phát) Tuỳ từng thời
Trang 22phát Chính vì thế, ngày nay không thể áp dụng chính sách lãi suất với tỷ lệ lãi suất rất cao để giảm tỷ lệ lạm phát mà phải quan tâm đến mối quan hệ giữa lãi suất trong nước và lãi suất nước ngoài Trong việc kiểm soát lạm phát đây là công cụ cổ điển, các nước ngày càng ít sử dụng hơn Tuy đây là một công cụ rất quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát và huy động vốn cũng như cung
cấp vốn
1.1.2.6 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại
tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại
tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc
tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên, ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam thì tỷ giá hối đoái được coi là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ
Tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến lạm phát thông qua hai khía cạnh sau: khi tỷ giá hối đoái tăng (tức là đồng tiền trong nước mất giá so với đồng tiền ngoại tệ) lúc đó sẽ thúc đẩy xuất khẩu trong nước nhưng nếu xuất khẩu tăng quá cao sẽ dẫn tới tổng cầu cao hơn tổng cung làm cho giá của mặt hàng xuất khẩu trong nước tăng đột biến, lúc này lạm phát nảy sinh do tổng cung
và tổng cầu mất cân bằng Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm cho tâm
lý của dân chúng lo sợ đồng nội tệ tiếp tục mất giá so với đồng ngoại tệ từ đó dẫn đến hiện tượng dân chúng đầu cơ và găm giữ ngoại tệ và làm cho giảm
Trang 23cầu nội tệ trong lưu thông Lúc này sẽ phát sinh thêm nguy cơ lạm phát do có thặng dư cung tiền vì cầu nội tệ giảm
1.1.2.7 Hạn mức tín dụng
Là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế
Ngoài những công cụ cơ bản trên, Ngân hàng Nhà nước còn sử dụng công cụ hạn mức tín dụng để điều hành, làm cho khối lượng tín dụng đối với Ngân hàng thương mại không vượt quá mức cho phép để từ đó bảo đảm mức lạm phát đã được phê duyệt Hạn mức tín dụng là khối lượng tín dụng tối đa
mà Ngân hàng Trung ương có thể cung ứng cho tất cả các Ngân hàng thương mại trong thời kỳ nhất định phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế của thời kỳ Đây là một chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp đến khối lượng tiền trung ương được cung ứng thêm (hay giảm bớt) đối với các Ngân hàng thương mại Khi hạn mức tín dụng giảm, dẫn tới cung tiền giảm do đó tổng đầu tư giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng là giá giảm Với mục tiêu ổn định đồng tiền và chống lạm phát được coi là mục tiêu số một, thì công cụ hạn mức tín dụng là cần thiết Song việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng cũng là vấn đề khó khăn không nhỏ cho các Ngân hàng thương mại Tiền gửi của nhân dân không thể không thu nhận hàng ngày hàng giờ Nếu nhận tiền gửi mà không được cho vay thì chẳng khác nào có đầu vào mà không có đầu ra Như vậy đầu ra của vốn huy động bị bế tắc bởi hạn mức tín dụng Việc xác định hạn mức tín dụng là rất cần thiết, để thực hiện mục tiêu chống lạm phát Song nó cũng có những mặt trái gây khó khăn cho Ngân hàng thương mại Cần có những giải
Trang 24Tóm lại, mỗi công cụ chính sách tiền tệ đều có những vai trò nhất định giúp chính sách tiền tệ trong việc điều tiết cung tiền và kiểm soát lạm phát xong trong 7 công cụ chính sách tiền tệ đã nêu ở trên thì có 3 công cụ can thiệp mang tính thị trường nhiều hơn đó là: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái cấp vốn, chính sách tài chiếu khấu Trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ các nhà quản lý nên lưu ý để vận dụng một cách hợp lý để tránh việc can thiệp một cách qua cứng nhắc vào thị trường tiền tệ bằng các công cụ hành chính mang tính mệnh lệnh như: dự trữ bắt buộc, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng…
Đánh giá về mặt tác động trực tiếp của mỗi công cụ thì ta chia làm 2 nhóm: Công cụ có tác động trực tiếp: Dự trữ bắt buộc và hạn mức tín dụng; Công cụ có tác động gián tiếp: lãi suất tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái cấp vốn, tái chiết khấu
1.2 Chính sách tài khóa
1.2.1 Khái niệm chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa là các chính sách của Chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ và thuế khóa Chính phủ sử dụng thuế khóa và chi tiêu để điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế khi sản lượng thực tế của nền kinh tế ở quá xa so với mức sản lượng tiềm năng
Theo học thuyết Keynes chính sách tài khóa là chính sách được sử dụng để chống lại chu kỳ kinh tế hay còn được gọi là chính sách tài khóa tùy
ý có thể được tách ra thành 2 phần: chính sách tài khóa mở rộng được sử dụng
để kích thích kinh tế thông qua chính sách kích cầu xã hội hiệu quả, chính sách tài khóa kiềm chế được sử dụng để kiềm chế sức ép lạm phát
Theo quan điểm của Barro Ricardo thì nhà nước thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ nhưng để có nguồn tài
Trang 25chính cho các khoản chi tiêu đó nhà nước lại phát hành công trái, trái phiếu và tăng thuế Ngược lại, nhà nước thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt bằng các giảm chi tiêu của chính phủ và giảm thuế
Bản chất của chính sách tài khóa trong mối tương quan với thâm thụt ngân sách: Ngân sách Nhà nước là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng năm của chính phủ bao gồm các khoản thu chủ yếu từ thuế, các khoản chi ngân sách Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có:
B = T – G (1)
Khi B > 0 ta có thặng dư ngân sách
Khi B = 0 ta có cân bằng ngân sách
Khi b < 0 ta bị thâm thụt ngân sách
Khi nghiên cứu vấn đề thâm hụt ngân sách, cần phân biệt 3 khái niệm:
- Thâm hụt ngân sách thực tế: Chênh lệch giữa số chi thực tế, số thu thực tế trong một thời kỳ nhất định
- Thâm hụt ngân sách cơ cấu: thâm hụt tính toán trong trường hợp nếu nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng
- Thâm thụt ngân sách chu kỳ: Thâm thụt ngân sách bị động do tình trạng của chu kỳ kinh doanh
Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu Trong 3 loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan của chính sách tài khóa như: định ra thuế suất phúc lợi, bảo hiểm
Vì vậy, để đánh giá kết quả của chính sách tài khoá phải sử dụng thâm hụt cơ cấu
Từ công thức (1), ta thấy hàm ngân sách có dạng đơn giản như sau: B=tY-G
Trong đó: B: Cán cân ngân sách; G: Chi tiêu ngân sách; tY: Thu ngân
Trang 26Nếu Chính phủ thiết lập một chính sách thu chi ngân sách sao cho tại mức sản lượng tiềm năng thì ngân sách là cân bằng, ta có: B = tY - G = 0 hay:
G = tY Như vậy, mức thu nhập hay sản lượng < sản lượng tiềm năng thì ngân sách sẽ thâm hụt Ngược lại, ngân sách sẽ thặng dư
Nếu mục tiêu của Chính phủ là luôn đạt được ngân sách cân bằng dù sản lượng thay đổi như thế nào thì chính sách đó gọi là chính sách tài khoá cùng chiều Khi kinh tế suy thoái, ngân sách thâm hụt, Chính phủ phải giảm chi tiêu hoặc tăng thuế hoặc sử dụng cả 2 biện pháp để ngân sách được cân bằng Đổi lại chi tiêu nền kinh tế giảm, sản lượng giảm, suy thoái sẽ sâu sắc thêm Ngược lại, nếu mục tiêu Chính phủ là giữ cho nền kinh tế luôn ở mức sản lượng tiềm năng với mức việc làm đầy đủ thì Chính phủ thực hiện chính sách tài khoá ngược chiều Khi nền kinh tế suy thoái, Chính phủ cần tăng chi tiêu hoặc giảm thuế hoặc áp dụng cả 2 biện pháp nhằm giữ cho chi tiêu ở mức cao, sản lượng tăng lên đến sản lượng tiềm năng Đổi lại ngân sách sẽ bị thâm hụt cơ cấu do chính sách chủ quan của Chính phủ
Việc Chính phủ theo đuổi chính sách cùng chiều hay ngược chiều (với chu kỳ kinh doanh) phụ thuộc rất nhiều vào chu kỳ chính trị, vào các tình huống cụ thể của mỗi nước ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau
Các biện pháp của chính sách tài khoá chủ động gây nên thâm hụt cơ cấu và kéo theo hiện tượng tháo lui đầu tư Khi G tăng hoặc T giảm, GNP sẽ tăng lên theo hệ số nhân, nhu cầu về tiền tăng theo Với mức cung về tiền cho trước, lãi suất sẽ tăng theo bóp nghẹt một số đầu tư Kết quả là một phần GNP tăng lên sẽ bị mất đi và tác động của chính sách tài khoá sẽ giảm đi Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khoá và tiền tệ trong việc giải quyết vấn đề thâm hụt ngân sách Khi các biện pháp hạn chế thâm hụt ngân sách mà cơ bản là “tăng thu giảm chi” không giải quyết được toàn bộ thâm hụt, các Chính phủ phải sử dụng các biện pháp tài trợ cho thâm hụt Có 4 biện
Trang 27pháp tài trợ: vay nợ trong nước (vay dân); vay nợ nước ngoài; sử dụng dự trữ ngoại tệ; vay ngân hàng (in tiền)
Mỗi biện pháp đều có thể gây ảnh hưởng phụ đến nền kinh tế nên phải
có biện pháp hạn chế và trung hoà các ảnh hưởng này, làm cho chúng không gây nên những tác động xấu đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô và chính sách tài khóa
Tóm lại, Chính sách tài khóa với hai công cụ thuế và chi tiêu Chính phủ đang dần trở thành những công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước và kiểm soát việc thâm hụt ngân sách
1.2.2 Các công cụ chính sách tài khóa
1.2.2.1 Thuế
Thuế hay thu Ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước
Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội Các sắc thuế khi phân loại theo hình thức thu sẽ gồm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu: thuế trực thu là thuế mà người, hoạt động, đồ vật chịu thuế và nộp thuế là một Ví dụ như một người nhập hàng hóa từ nước ngoài về và tiêu dùng luôn, hay như thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập cá nhân, tài sản Thuế đánh lên thu nhập hoặc tài sản với kỳ vọng rằng người bị thu thuế sẽ thực sự là người bị mất sức mua; Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối
Trang 28được thu từ nhà sản xuất, người bán hàng với kỳ vọng chúng sẽ được chuyển sang cho người tiêu dùng Thuế này chuyển sức mua khỏi người tiêu dùng cuối cùng bằng cách tạo khoảng chênh lệch giữa số tiền chi trả cho nhà sản xuất và giá bán
Các loại thuế hiện hành của Việt Nam: Thuế giá trị gia tăng, thuết xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập danh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà, đất, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp…
Đối tượng tính thuế: mỗi loại thuế có đối tượng riêng khác nhau như: đối tượng của thuế xuất, nhập khẩu là thuế áp dụng với hàng hóa xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới; đối tượng của thuế tiêu thụ đặc biệt là các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp hay những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khỏe; đối tượng của thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…
Thuế suất: Thuế suất là mức thuế phải nộp trên một đơn vị khối lượng chịu thuế Định mức thu thuế (tỉ lệ %) tính trên khối lượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế Thuế suất có các loại: thuế suất lũy tiến, thuế suất tỉ lệ thuận, thuế suất cố định tuyệt đối, thuế suất luỹ thoái Thuế suất luỹ tiến là việc đánh thuế suất cao hơn khi có thu nhập tăng hoặc giá trị tài sản chịu thuế tăng Thuế suất tỉ lệ thuận là việc đánh thuế với thuế suất như nhau trên tất cả các khối lượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế Thuế suất cố định tuyệt đối là thuế suất quy định bằng số tiền tuyệt đối cho một hoạt động có thu nhập hoặc một đối tượng chịu thuế Thuế suất luỹ thoái là việc đánh thuế với thuế suất giảm khi có thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế tăng
Điều chỉnh thuế: Trong số các giải pháp về tài chính thì việc sử dụng linh hoạt công cụ thuế quan đã được minh chứng là có hiệu quả nhất trong
Trang 29việc kiềm chế lạm phát và bình ổn giá cả "Độ trễ" của chính sách này được chứng minh là rất ngắn Giải pháp này thường phát huy tác dụng ngay sau khi chính sách được ban hành Với bản chất là một sắc thuế gián thu, gánh nặng thuế chủ yếu do người tiêu dùng chịu, việc điều chỉnh thuế suất sẽ tác động tức thời đến giá bán của các mặt hàng này trên thị trường Khi giá của một số hàng hoá tăng, giải pháp của Chính phủ nhiều nước sử dụng đầu tiên là giảm thuế suất một cách phù hợp Ngược lại, đối với hàng hoá Nhà nước cần quản
lý giá điều tiết về quan hệ cung cầu như xăng dầu, khi giá giảm thì việc tăng thuế cũng được xem là giải pháp hữu ích Việc này góp phần thực hiện được nhiều mục tiêu khác bên cạnh việc bình ổn giá như tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, thực hiện chính sách phân phối và điều tiết tiêu dùng một cách phù hợp
Cơ sở tính thuế (tax base): yếu tố này xác định rõ thuế được tính trên cái gì Tuỳ theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế, cơ sở thuế có thể là các khoản thu nhập nhận được trong kỳ tính thuế của một tổ chức, cá nhân nào đó (ví dụ, cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp là tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ); Cơ sở thuế có thể là tổng trị giá hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ nếu là thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ (ví dụ, cơ sở tính thuế doanh thu là tổng doanh thu nhận được trong kỳ tính thuế; cơ sở tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá sản xuất trong nước là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng )
1.2.2.2 Chi tiêu Chính phủ
Là các khoản chi của Chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng chẳng hạn như khi Chính phủ bỏ tiền vào phát triển đường xá, trường học, quân sự, v.v Chi tiêu Chính phủ là một thành phần quan trọng của tổng cầu Kinh tế học Keynes cho rằng chi tiêu công có tác dụng thúc đẩy tổng cầu hoặc
Trang 30kìm hãm tổng cầu thông qua số nhân tài chính Do đó, nó có vai trò trong việc kiềm chế lạm phát
Chi tiêu Chính phủ gồm 4 mục chi lớn là: Chi thường xuyên, chi đầu
tư, chi bổ sung quỹ dự trữ quốc gia và chi trả phần nợ đến hạn trong năm của Chính phủ đối với các chủ nợ ở trong và ngoài nước
Trong 4 mục chi trên có 2 mục chi lớn và quan trọng nhất là chi thường xuyên và chi đầu tư, trong đó chi đầu tư mang tính chính sách mạnh, rõ nhất trong việc điều hành chính sách tài khóa của Chính phủ (được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây):
Bảng 1.1: Phân biệt chi đầu tư và chi thường xuyên
dự trữ nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Các hoạt động sự nghiệp (kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học
và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn
xã hội; hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản và các
tổ chức chính trị, xã hội; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; các chương trình quốc gia; hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ; Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
hỗ trợ cho các tổ chức xã hội nghề
Trang 31nghiệp theo quy định của pháp luật; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Là khoản chi có tính chất tiêu dùng hiện tại bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, bảo đảm sự ổn định xã hội, là khoản chi có tính phí tổn Không có khả năng hoàn trả hay thu hồi
Hình thức
chi
Cấp phát không hoàn lại; chi cho vay Có thể chi theo dự toán kinh phí hoặc cấp phát theo lệnh chi tiền
Cấp phát không hoàn lại, chủ yếu chi theo dự toán
Nguồn
vốn chi
Bao gồm nguồn thu ngân sách
từ thuế, phí lệ phí (thu trong cân đối ngân sách) và cả từ nguồn vốn vay của Nhà nước
Chỉ chi từ thu ngân sách từ thuế, phí lệ phí (thu trong cân đối ngân sách)
Dự toán
chi
Bao gồm tổng dự toán và dự toán bố trí hàng năm chi thường vào thời điểm cụ thể nên có kế hoạch chi để bảo đảm nguồn
Chỉ gồm dự toán chi ngân sách trong dự toán chi hàng năm Chi thường xuyên được thực hiện tương đối đều trong các tháng, quý của năm
(Nguồn: Bộ Tài chính)
Chi tiêu Chính phủ là một công cụ rất có hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát Trong thời kỳ lạm phát thấp, để thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ có thể gia tăng chi tiêu, đưa vào thị trường một lượng tiền làm cầu hàng hóa tăng
từ đó gia tăng sản xuất, giảm thất nghiệp, tiêu dùng trong dân cư cũng tăng vì người dân có nhiều tiền trong tay hơn Ngược lại, trong thời kỳ lạm phát cao
và tăng trưởng nóng, các nhà hoạch định kinh tế có thể xoa dịu nền kinh tế
Trang 32bằng cách giảm chi tiêu công từ đó giảm nguồn cung tiền vào lưu thông từ đó hạn chế được lạm phát
"mức giá cả trung bình", gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của
một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt trong giá cả
Trang 33của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi
"người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này
là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra)
Chỉ số giá sản xuất (PPI): đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận
được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI
và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ
Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá
trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực) Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất
Trang 34Cách tính lạm phát ở Việt Nam: Việt Nam áp dụng tính lạm phát theo chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Nếu Po là mức giá cả trung bình của kỳ hiện tại và P-1 là mức giá của
kỳ trước, thì tỷ lệ lạm phát của kỳ hiện tại là:
Tỷ lệ lạm phát = 100% x Po – P-1
P-1 Hoặc:
Giỏ hàng hóa hay giỏ hàng hóa tiêu dùng là phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bằng cách gom một số hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ nhất định trên thị trường mà một người dân bình thường hay mua để tính giá cả của toàn giỏ hàng hóa đó, từ đó tính CPI
Thông thường, số liệu tỷ lệ lạm phát được công bố trên báo chí hàng năm được tính theo cách cộng phần trăm tăng CPI của từng tháng trong năm
1.3.2 Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát
1.3.2.1 Lạm phát do cầu kéo
Xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng Như vậy bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đạt cân bằng
1.3.2.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Trang 35Ngay cả khi sản lượng chưa đạt tiềm năng nhưng vẫn xảy ra lạm phát, vừa lạm phát vừa suy giảm sản lượng, tăng thêm thất nghiệp Nguyên nhân là
do cơn sốc giá cả thị trường đầu vào đặc biệt là các vật tư cơ bản (xăng dầu, điện…) là nguyên nhân đẩy chi phí lên cao, đường AS dịch chuyển lên trên Tuy tổng cầu không đổi nhưng nhưng giá cả tăng lên và sản lượng giảm
xuống
1.3.2.3 Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy
sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
1.3.2.4 Lạm phát do nhập khẩu
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường hợp OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
1.3.2.5 Lạm phát đẻ ra lạm phát
Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý đó là tâm lý dự trữ, giá tăng lên người dân tự phán đoán, tự suy nghĩ là đồng tiền không ổn định thì giá cả sẽ tăng cao tạo nên tâm lý dự trữ đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại làm cho tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, hàng hóa sẽ càng trở nên khan
hiếm kích thích giá tăng gây ra lạm phát ngày một tăng
1.4 Cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
để chống lạm phát
1.4.1 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Trang 36Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa được chứng minh qua mô hình IS-LM:
Đường IS: là đường biểu diễn tập hợp tất cả các điểm cân bằng của thị trường hàng hóa ứng với từng mức lãi suất
Đường LM: là đường biểu diễn tập hợp những điểm cân bằng của thị trường tiền tệ ứng với từng mức thu nhập
Tác động qua lại giữa hai thị trường hàng hóa và tiền tệ sẽ ấn định mức lãi suất và thu nhập cân bằng đồng thời cho cả hai thị trường này Mô hình IS-
LM cho biết trạng thái cân bằng đồng thời tại giao điểm của đường IS-LM
Hình 1.1: Mô hình cân bằng IS-LM
Ở mức lãi suất i1thị trường hàng hóa cân bằng ở điểm A, thị trường tiền
tệ cân bằng ở điểm B Lượng tiền thực tế bảo đảm cho hàng hóa là YB, lượng tiền cần thiết để giao dịch cho lượng hàng hóa là YA YB>YA do đó thừa tiền nên lãi suất giảm từ i1 xuống i0
Ở mức lãi suất i2, thị trường hàng hóa cân bằng ở điểm D, thị trường tiền tệ cân bằng ở điểm C Lượng hàng hóa được sản xuất ra và giao dịch là
Trang 37YD, lượng tiền thực tế cung ứng chỉ là YC, thiếu tiền cho giao dịch từ đó làm cho lãi suất từ i2 tăng lên i0
Như vậy thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ chỉ đồng thời đạt trạng thái cân bằng tại điểm E với mức lãi suất i0 và sản lượng cân bằng là Y0
Chính sách tài khóa tác động làm dịch chuyển đường tổng cầu do vậy làm dịch chuyển đường IS Chính sách tiền tệ tác động làm thay đổi lãi suất
do đó làm dịch chuyển đường LM
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa thông qua mô hình cân bằng IS-LM
Giả định rằng nền kinh tế bắt đầu ở điểm cân bằng E0 tương ứng với IS0
và LM0 Chính phủ tăng chi tiêu để thực hiện một dự án xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn bán tín phiếu hoặc tăng thuế Như vậy, mức cung tiền không đổi, đường LM không đổi Nhưng tăng chi tiêu của chính phủ làm tăng tổng cầu và đường tổng cầu dịch chuyển dẫn đến đường IS dịch chuyển đến IS1 Nếu mức lãi suất không thay đổi i=i0 thì điểm cân bằng của thị trường là điểm
E2 và sản lượng cân bằng mới sẽ là Y2, nhưng do cung tiền không đổi, tổng
Trang 38mức sản lượng tăng do tăng chi tiêu, điểm cân bằng bây giờ là E1 mức sản lượng cân bằng là Y1
Như vậy, với mức cung tiền không đổi, sự gia tăng chi tiêu của Chính phủ đã góp phần làm tăng thu nhập đồng thời làm tăng lãi suất
Nếu dự án của Chính phủ được tài trợ bằng việc tăng cung tiền để duy trì mức lãi suất i0 thì đường LM sẽ dịch chuyển từ LM0 tới LM1 và điểm cân bằng sẽ là E2 và mức sản lượng cân bằng mới là Y2
Ngược lại, giả định rằng nền kinh tế bắt đầu ở điểm cân bằng E0 tương ứng với IS0 và LM0 Chính sách tài khóa không đổi nhưng có sự gia tăng mức cung tiền do vậy đường LM dịch chuyển từ LM0 đến LM1, do sản lượng chưa kịp thay đổi nên lãi suất giảm từ i0 đến i2 Lãi suất giảm làm cho tiêu dùng, đầu tư tăng, làm cho tổng cầu và sản lượng tăng và do đó lãi suất sẽ tăng theo Đường IS sẽ dịch chuyển từ IS0 đến IS1, điểm cân bằng mới là điểm E2 và sản lượng cân bằng mới là Y2 với mức lãi suất i0 tại đó cả thị trường hàng hóa và tiền tệ đều đạt mức cân bằng
Qua phân tích trên ta thấy, chính sách tài khóa với thuế và chi tiêu chính phủ làm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới đầu tư và tiêu dùng hay tác động đến tổng cầu Chính sách tiền tệ với các quyết định về mức cung tiền và lãi suất, tác động trực tiếp tới thị trường tiền tệ và qua đó tác động trở lại tới các thành phần của tổng cầu và làm tổng cầu thay đổi Cả hai chính sách này đều tác động đến quy mô của tổng cầu nhưng mỗi chính sách lại gây ra sự thay đổi khác nhau về các thành phần của tổng cầu Có thể nói việc vận dụng tốt cả hai chính sách có khả năng quản lý, kiểm soát được sự thay đổi của tổng cầu và sản lượng từ đó có thể kiểm soát được sự tăng trưởng của nền kinh tế và kiểm soát được lạm phát
Như vậy, trên giác độ kinh tế vĩ mô cần có một mục tiêu chung cho cả
Trang 39thực thi các chính sách kinh tễ vĩ mô, có như vậy tác động của các chính sách mới cùng chiều, tránh các tác động ngược chiều gây tổn hại cho nền kinh tế
Khi cho rằng tổng cầu ở mức quá thấp, có thể dùng cặp chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng, khi đó đường IS và đường LM
sẽ dịch chuyển sang phải và tổng cầu sẽ tăng
Nếu tổng cầu quá cao và nguy cơ lạm phát cao cần phải giảm sản lượng xuống thì có thể dùng cặp chính sách tài khóa thắt chặt và chính sách tiền tệ thắt chặt, khi đó đường IS và đường LM sẽ dịch chuyển sang trái Như vậy, tổng cầu sẽ giảm và sản lượng sẽ giảm
Để làm được điều này thì Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà nước phải nhất quán về mặt mục tiêu, phải tạo ra sự đồng bộ và bổ sung cho nhau trong quá trình thực thi
1.4.2 Bản chất của phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát
Ta sử dụng mô hình tổng cung, tổng cầu để xem xét bản chất phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát
Nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng tại điểm E0, ứng với mức sản lượng Y0 và mức giá cả là P0 Nếu ta sử dụng các chính sách tài khóa hoặc tiền tệ tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu thì trạng thái cân bằng của nền kinh tế có thể thay đổi
Trang 40Hình 1.3: Mô hình thay đổi tổng cung-tổng cầu do thay đổi chính