1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

105 456 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ===***=== PHẠM THỊ TRÚC QUỲNH PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

===***===

PHẠM THỊ TRÚC QUỲNH

PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

===***===

PHẠM THỊ TRÚC QUỲNH

PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

Chuyên nghành: Tài chính và ngân hàng

Mã số: 60 34 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS HOÀNG TRẦN HẬU

Hà Nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… i

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5

1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 5

1.1.1 Quan niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ 5

1.1.2 Đặc điểm chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ 7

1.2 Các dịch vụ tài chính phi tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 9

1.2.1 Khái niệm về dịch vụ tài chính 9

1.2.2 Các loại dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại hiện đại 12

1.2.3 Đặc điểm của dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 16

1.3 Phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 18

1.3.1 Quan niệm về sự phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 18

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 19

1.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 20

1.3.4 Điều kiện phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 22

1.3.4.1 Môi trường pháp lý 22

1.3.4.2 Năng lực nội tại của ngân hàng……….23

1.3.4.3 Đặc điểm của thị trường 26

Trang 4

1.3.4.4 Môi trường công nghệ 27

1.4 Kinh nghiệm pháp triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng của ngân hàng thương mại một số nước 27

1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 27

1.4.2 Kinh nghiệm của Chi Lê 30

1.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 32

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng Việt Nam 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 37

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 37

2.1.2 Mô hình tổ chức quản lý của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 38

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 40

2.1.3.1 Dịch vụ huy động vốn 41

2.1.3.2 Dịch vụ tín dụng và đầu tư 43

2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Việt Nam 44

2.2.1 Dịch vụ thanh toán 45

2.2.2 Dịch vụ với giao dịch chứng khoán 47

2.2.3 Dịch vụ bảo quản vật có giá 50

2.2.4 Dịch vụ tư vấn tài chính 52

2.2.5 Dịch vụ ngân hàng điện tử 53

2.2.6 Dịch vụ bảo lãnh 54

2.3 Đánh giá về dịch vụ của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 55

Trang 5

2.3.1 Những kết quả đạt được 55

2.3.2 Hạn chế 59

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 64

3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 64

3.2 Các giải pháp phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ng©n hµng TMCP C«ng th-¬ng ViÖt Nam 71

3.2.1 Các giải pháp tổng thể 71

3.2.1.1 Nhóm giải pháp về quan hệ với doanh nghiệp vừa và nhỏ 71

3.2.1.2 Nhóm giải pháp về quy trình phát triển dịch vụ 74

3.2.1.3 Nhóm giải pháp về tích hợp công nghệ 76

3.2.1.4 Nhóm giải pháp về chuẩn hóa nguồn nhân lực 77

3.2.2 Các giải pháp cụ thể để phát triển dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 81

3.3 Kiến nghị 87

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 87

3.3.1.I Hình thành môi trường pháp lý đồng bộ cho sự phát triển các dịch vụ tài chính 87

3.3.1.2 Tăng cường năng lực và vai trò quản lý thị trường dịch vụ tài chính phi tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và Bộ tài chính 90

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 93

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 98

Trang 6

TM TMCP

Doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Ngân hàng nhà nước

Ngân hàng thương mại Ngân hàng Trung ương Thương mại

Thương mại cổ phần

Trang 7

Hình 2.1 Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Công

thương Việt Nam

Hình 2.2 Tình hình huy động vốn của NHCT VN 2007-2010

Hình 2.3 Tình hình thu lãi cho vay và thu phí dịch vụ

Hình 3.1: Quá trình phát triển dịch vụ mới

Bảng 1.1 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của WB6

Bảng 1.2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của EU7

Bảng 1.3: Các dịch vụ mà các ngân hàng thương mại Trung Quốc

Bảng 2.1: Tổng kết tài sản Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Bảng 2.2 Tình hình hoạt động tài sản có chủ yếu

Bảng 2.3: Kết quả thực hiện hệ thống thanh toán VND 2007-2010

Bảng 2.4 Thu nhập về dịch vụ cho thuê ngăn tủ sắt của SGD II

Bảng 2.5 Tình hình thực hiện dịch vụ bảo lãnh NH TMCP CT VN

Bảng 2.6 Cơ cấu thu phí dịch vụ trong tổng thu nhập của Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam 2007-2010

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng ngày càng trở lên gay gắt, tạo áp lực cho các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đa dạng hoá các dịch vụ tài chính phi tín dụng cung cấp trên thị trường Thêm vào đó, thu nhập từ các hoạt động tài chính phi tín dụng của các ngân hàng thương mại trên thế giới chiếm khoảng trên 50% tổng thu nhập thì con

số này ở Việt Nam chỉ xấp xỉ 5%, danh mục các dịch vụ tài chính phi tín dụng trên thế giới có khoảng gần 200 thì tại Việt Nam chưa có đến 20 loại dịch vụ Chính điều này là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ rủi ro của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là rất cao Xuất phát từ thực tế đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần đưa ra những lựa chọn chiến lược nhằm đa dạng hoá và phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng

Trong thời gian qua, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam có bước phát triển nhanh dựa trên chiến lược đẩy mạnh hoạt động của một ngân hàng bán lẻ, cung cấp các dịch vụ tài chính phi tín dụng cho khu vực tư nhân

và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một khách hàng chiến lược, vì vai trò của đối tượng khách hàng này trong nền kinh tế nói chung và đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì thế, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

đã triển khai nhanh nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ về các dịch vụ tài chính phi tín dụng hiện đại như: bảo lãnh, tư vấn, quản lý nợ… Mặc dù vậy, hoạt động này tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam vẫn phát triển thiếu định hướng, không đúng quy trình và gặp rất nhiều khó khăn Đứng trước yêu cầu của thực tiễn hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập, việc phát triển bài bản danh mục dịch

vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đặt ra nhiều vấn

đề cần nghiên cứu Chính vì vậy, đề tài “Phát triển các dịch vụ tài chính phi

tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam” đuợc chọn để nghiên cứu

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có một số tài liệu nghiên cứu về dịch vụ tài chính phi tín dụng của ngân hàng thương mại Việt nam, tiêu biểu có thể kể đến như sau:

- Sách: Phát triển thị trường dịch vụ tài chính phi tín dụng Việt nam

trong tiến trình hội nhập, tác giả: PGS.TS Trần Bá Cẩn, nhà xuất bản Tài

chính Cuốn sách hệ thống đầy đủ các dịch vụ tài chính phi tín dụng cơ bản và ứng dụng của các sản phẩm này trong kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, cuốn sách không đi vào nghiên cứu, đánh giá thị trường các sản phẩm dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam

- Luận văn: Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Nam việt, Trường học viện ngân hàng, năm 2009

- Luận văn tiến sĩ: Phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng trong tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt nam, trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2009

Tóm lại, hầu hết các tài liệu nghiên cứu trên mới chỉ hệ thống được các dịch vụ tài chính phi tín dụng cơ bản, phân tích khái quát hoạt động của các dịch vụ tài chính phi tín dụng tại Việt nam mà chưa có những đánh giá rõ ràng

về thị trường sản phẩn tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa chỉ ra được những điểm mạnh và điểm yếu cũng như những cơ hội

và thách thức khi phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Trên cơ sở hệ thống hoá cơ sở lý luận về dịch vụ và phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ được sử dụng trên thế giới; đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói riêng Rút ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân trong quá trình phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP

Trang 10

Công thương Việt Nam như là bài học kinh nghiệm đối với các ngân hàng khác; luận văn đề xuất các giải pháp và định hướng nhằm phát triển các dịch

vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Một số dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ giao dịch chứng khoán, dịch vụ bảo quản vật có giá, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ ngân hàng điện tử

- Phạm vi nghiên cứu: Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới góc độ dịch vụ tài chính phi tín dụng của ngân hàng Các phân tích, đánh giá và kết luận liên quan được đưa ra trên cơ

sở thực trạng Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và khá phổ biến như phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh, diễn giải, thống kê… đề tài chú trọng phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học, phương pháp dự báo để đánh giá thực trạng và khả năng phát triển, đa dạng hoá các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

6 Đóng góp mới của luận văn

Đề tài được nghiên cứu mong muốn có những đóng góp như sau:

Làm rõ tính cấp thiết của việc phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại Việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP công thương , đánh giá những kết quả đạt được và rút ra nguyên nhân của những tồn tại trong phát triển dịch

vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 11

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Chương 2: Thực trạng phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Chương 3: Giải pháp phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH PHI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1 Quan niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp là một phần không thể thiếu nếu nền kinh tế đó muốn hoạt động tốt Do đó, muốn hiểu rõ thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trước hết, ta phải làm rõ một vấn đề: Thế nào là doanh nghiệp

“Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân và được

tổ chức ra để hoạt động sản xuất kinh doanh ở một lĩnh vực nhất định nhằm mục đích lợi nhuận (với doanh nghiệp vị lợi nhuận) hoặc đạt lợi ích xã hội (với doanh nghiệp phi lợi nhuận) ”1

Hiện nay, trên thế giới có nhiều loại hình doanh nghiệp Nếu căn cứ vào quy mô hoạt động, các doanh nghiệp được chia làm 2 loại hình: Doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ Các quy định để xác định quy mô của doanh nghiệp ở các quốc gia:

- Số lượng lao động

- Tổng nguồn vốn

- Doanh thu bình quân hàng năm

Trong đó, hai tiêu chuẩn đầu tiên được sử dụng phổ biến hơn cả Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cho rằng khó có thể đưa ra một khái niệm chuẩn về các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và trong từng thời điểm nhất định Hơn nữa, cách xác định quy

mô doanh nghiệp trong từng ngành nghề là khác nhau Ví dụ như doanh

1 Trường ĐH NH TPHCM - Khoa KT-KT Bộ môn tài chính – Tài chính doanh nghiệp – Nxb Thống kê 2009

Trang 13

nghiệp công nghiệp có thể coi là nhỏ trong khi một doanh nghiệp thương mại cùng cỡ lại được coi là doanh nghiệp vừa hoặc lớn

Hiện nay, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB), các doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân chia theo quy mô như sau:

Bảng 1.1 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của WB

Đơn vị: USD

Loại hình doanh nghiệp

Số lao động (người)

Doanh thu hàng năm Tổng tài sản

Doanh nghiệp siêu nhỏ 1 9 < 0,1 triệu < 0,1 triệu

(Nguồn: http://www.worldbank.org)

Đây là cách phân loại chung được Ngân hàng thế giới đưa ra sau khi

đã thu thập số liệu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Do đó, chúng ta có thể coi đây là một cách phân loại đáng tin cậy và khá chính xác Tuy nhiên, do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước phát triển với các nước kém phát triển nên cách phân loại này chỉ còn phù hợp về tiêu chí số lượng lao động Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua ví dụ về phân loại doanh nghiệp trong liên minh các nước châu Âu (EU)

Trang 14

Bảng 1.2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của EU

(Đơn vị: EURO)

Loại hình doanh nghiệp

Số lao động (người)

Doanh thu hàng năm Tổng tài sản

(Nguồn: http://www.europa.eu.int)

1.1.2 Đặc điểm chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một thực thể kinh tế mang những đặc điểm riêng không giống bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế Điều này cũng giải thích một cách chính xác sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Chúng ta có thể dễ dàng nhận

ra một số đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp vừa và nhỏ mang lại cho các doanh nghiệp những ưu thế nhất định như sau:

- Quy mô nhỏ hơn các doanh nghiệp lớn giúp các doanh nghiệp vừa

và nhỏ năng động, linh hoạt, thích ứng kịp thời với những biến động của thị trường, có khả năng tiếp cận và đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực tốt hơn các doanh nghiệp lớn, có thể tận dụng công nghệ, kỹ thuật mới kết hợp với sự đa dạng hóa về mặt hàng tạo điều kiện sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường để tăng khả năng cạnh tranh

- Bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý đơn giản, gọn nhẹ, nên tiết kiệm phần lớn chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

- Vốn đầu tư vào khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ít nhưng khả năng huy động vốn đầu tư nhanh, tốc độ tăng trưởng hàng năm cao

Trang 15

Điều này đã thu hút một lượng vốn đầu tư đáng kể để hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Tạo điều kiện thu hút số lượng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội, giải quyết một phần không nhỏ tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp nhiều khó khăn Hầu hết vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp này thấp hơn so với doanh nghiệp lớn, lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư ít nên hạn chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới để hiện đại hóa sản xuất Điều này làm giảm rõ rệt khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc thoả mãn nhu cầu thị trường Trong khi đó, vốn huy động từ thị trường chứng khoán bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu lại khá xa vời do uy tín của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp, thị trường tài chính không thực sự hoàn hảo làm nhà đầu

tư ngần ngại khi bỏ vốn đầu tư, hơn nữa, lại bị hạn chế khi tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Nguyên nhân chủ yếu là do vốn thấp, không có người bảo lãnh, không lập được phương án kinh doanh khả thi

Mặt khác, các doanh nghiệp lớn có điều kiện làm việc cũng như các

ưu đãi khác tốt hơn nên thu hút được nhiều lao động chất lượng cao Thực

tế này giải thích một phần tại sao năng suất lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn Đây cũng là hạn chế cho sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn do điều kiện cạnh tranh không bình đẳng khi mà quyền sở hữu trí tuệ và công nghiệp chưa được thực hiện và công nhận một cách nghiêm túc, luôn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ những ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ chúng ta

có thể thấy vì sao ở hầu hết các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển đều có chiến lược phát triển dài hạn các doanh nghiệp vừa và nhỏ - một xu thế của thời đại Để làm được điều này, cần phải phát huy tối đa

Trang 16

các ưu thế đồng thời khắc phục hiệu quả các hạn chế đối với loại hình doanh nghiệp này

1.2 Các dịch vụ tài chính phi tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.1 Khái niệm về dịch vụ tài chính

Dịch vụ gắn liền với nền kinh tế thị trường Dịch vụ tài chính phi tín dụng đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh

tế, nó giúp cho việc tăng cường chuyên môn hóa trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra sự thay đổi lớn trong việc xóa dần và chuyển độc quyền cung cấp dịch vụ của Nhà nước sang các thành phần kinh tế khác; là quá trình làm gia tăng của sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Dịch vụ tài chính phi tín dụng bao hàm nhiều lĩnh vực đa dạng và phức tạp Để hình thành quy tắc ứng xử chung về quan hệ thương mại dịch

vụ trong các nước thành viên, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đưa

ra khái niệm dịch vụ tài chính như sau:

“Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào mang bản chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính phi tín dụng khác (ngoại trừ bảo hiểm)

”2

Trong các loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất, gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng và ngược lại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Dịch vụ ngân hàng đã xuất hiện tại vùng Địa Trung Hải, cụ thể là tại Hy Lạp và La Mã, với dịch

vụ đầu tiền là dịch vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng (vì vậy,

2 Trường học viện ngân hàng – Khoa tài chính – Lý thuyết tiền tệ - Nxb thống kê 2009

Trang 17

những ngân hàng loại này còn được gọi là ngân hàng thợ vàng), đổi ngoại

tệ lấy bản tệ và dịch vụ chiết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc và đổi tiền tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại Người làm nghề đúc, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại Lợi nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua - bán Người làm nghề đổi tiền thường là những người giàu, họ thường có két tốt để cất giữ

và đảm bảo an toàn, do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất giữ

hộ Thực hiện cất giữ hộ làm tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền, tăng quy mô tài sản của người kinh doanh tiền tệ Việc cất trữ hộ nhiều người khác nhau là điều kiện để thực hiện thanh toán hộ Thanh toán qua trung gian này làm nảy sinh thanh toán không dùng tiền mặt, đến lượt nó, những ưu điểm của thanh toán không dùng tiền mặt đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng), các chủ cửa hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi Họ là người làm nghề kinh doanh tiền

tệ, hay còn gọi là nhà buôn tiền Đầu tiên những nhà buôn tiền đã dùng vốn tự có để cho vay, nhưng điều đó không kéo dài Từ hoạt động thực tiễn, họ nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song tất cả các người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc đã tạo

số dư thường xuyên ở trong két Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay Hoạt động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền - kẻ cho vay nặng lãi - thành nhà buôn tiền - ngân hàng Hoạt động dựa trên tiền gửi của khách hàng, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được

Trang 18

ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho vay

Sự phát triển của những con đường thương mại xuyên lục địa mới

và những biến chuyển trong ngành hàng hải vào các thế kỷ 15, 16, 17 đã dần chuyển trung tâm thương mại của thế giới từ Địa Trung Hải sang Châu Âu và quần đảo Anh, nơi ngân hàng trở thành ngành công nghiệp hàng đầu Sự phát triển của cách mạng công nghiệp, việc ứng dụng phương thức sản xuất lớn đòi hỏi một sự mở rộng tương ứng trong thương mại toàn cầu để tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, đồng thời, đòi hỏi phải phát triển các phương thức thanh toán và tín dụng mới Vì vậy, hệ thống ngân hàng đã nhanh chóng phát triển về loại hình và các dịch vụ mới để đánh giá về thanh toán và tín dụng Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tập trung vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần Quá trình gia tăng vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng phát triển mạnh trong những năm cuối thế

kỷ 20 Các ngân hàng đã mở rộng thêm các dịch vụ về thanh toán và tín dụng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng truyền thống, từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu, sau đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư bất động sản, dần dần đã xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại như: cho vay tiêu dùng,

tư vấn tài chính, cho vay tài trợ dự án, thuê mua tài chính… Các hình thức huy động vốn cũng ngày càng phong phú Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương, vay các ngân hàng khác Công nghệ ngân hàng cũng góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân hàng Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán, các loại thẻ đang

Trang 19

thay thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho cộng đồng

Bên cạnh dịch vụ ngân hàng, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, cách mạng công nghiệp và sự phát triển của kinh tế thế giới, các loại hình dịch vụ tài chính khác cũng được hình thành Sự phát triển của dịch vụ trên thị trường chứng khoán gắn liền với sự hình thành và phát triển của một số thị trường chứng khoán Từ năm 1611, đã có một

số nhà buôn bắt đầu buôn bán cổ phiếu của công ty Đông Ấn, hình thành

sở giao dịch chứng khoán đầu tiên tại Amsterdam - Hà Lan Năm 1724,

ở Pháp thành lập sở giao dịch chứng khoán Pari Tuy nhiên, phải đến tháng 3/1802, Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn khai trương, đánh dấu bước phát triển quan trọng của ngành công nghiệp chứng khoán Sau

đó, năm 1817, “Hội giao dịch chứng khoán New York” được thành lập, năm 1863 đổi tên thành “Sở giao dịch chứng khoán New York” Các dịch vụ về bảo hiểm cũng ra đời và phát triển mạnh ở Anh ngay từ thế kỷ

16, loại hình dịch vụ bảo hiểm đầu tiên là hình thức bảo hiểm tương hỗ, đến cuối thế kỷ 18, công ty bảo hiểm tương hỗ đầu tiên cũng được thành lập ở Mỹ

1.2.2 Các loại dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa

và nhỏ của ngân hàng thương mại hiện đại

Trong các loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất, gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa “Dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính ”3

Như thế, ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý quỹ cho công chúng, đồng thời nó

3 Trường ĐH mở TP HCM – Khoa sau đại học – TS Nguyễn Minh Kiều – Ngân hàng thương mại - NXB Thống

Kê – 2009

Trang 20

cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (như vai trò trung gian tài chính, vai trò thanh toán, vai trò người bảo lãnh, vai trò đại lý và vai trò thực hiện chính sách) Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh Tuy nhiên, đề tài này xin được đề cập đến các dịch vụ tài chính mà các ngân hàng thương mại cung cấp cho nền kinh tế dưới góc độ là các dịch vụ tài chính phi tín dụng

Thực hiện trao đổi ngoại tệ

Lịch sử cho thấy rằng, một trong những dịch vụ ngân hàng được thực hiện đầu tiên là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Sự trao đổi

đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của một quốc gia hay thành phố

mà họ đến Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao

Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại

Ngay từ khi mới ra đời, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu

mà thực tế là cho vay đối với các doanh nghiệp địa phương, những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của các khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất

Bảo quản vật có giá

Các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách trong kho bảo quản từ rất sớm Sau đó, đưa lại cho khách hàng

và các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát ghi nhận tài sản đang được lưu giữ Do khả năng có thể chi trả bất cứ lúc nào nên chúng được sử dụng như tiền

Trang 21

để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng Đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng Ngày nay, các vật có giá trị được tách ra khỏi tiền gửi của khách hàng và khách hàng phải trả phí bảo quản khi thực hiện nghiệp vụ này tại ngân hàng

Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

Khi thực hiện nghiệp vụ gửi tiền, doanh nhân nhận thấy ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của

họ Do vậy thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người mua không cần đến ngân hàng để lấy tiền mà chi cần viết giấy chi trả cho khách hàng, khi khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ được nhận được tiền Chính các tiện ích của việc thanh toán này (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân

Cung cấp dịch vụ uỷ thác

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính Nên từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và các hoạt động tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp thương mại Từ đó ngân hàng tiến hàng thu các khoản phí trên cơ sở giá trị của tài sản đó hay quy mô vốn họ quản lý Chức năng này của ngân hàng được gọi là dịch vụ uỷ thác Ngày nay, dịch vụ uỷ thác đã phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành và

uỷ thác đầu tư…

Tài trợ cho dự án

Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao Do rủi ro trong loại này cao song lãi đem lại lớn

Trang 22

Tư vấn tài chính

Từ lâu các ngân hàng đã được yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt về tiết kiệm và đầu tư Ngày nay, trong danh mục hoạt động của ngân hàng rất nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng được cung cấp, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư vấn về các

cơ hội thị trường trong và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của

họ Nhiều khách hàng đã coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính, thành lập, mua bán sáp nhập doanh nghiệp

Quản lý ngân quỹ

Các ngân hàng thực hiện mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân Từ đó các ngân hàng đã tạo lập được mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng của mình Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các dịch vụ này

Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing)

Hiện nay, rất nhiều ngân hàng đã tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị và cho khách hàng thuê Thông qua dịch vụ này, các hãng sản xuất bán hoặc cho thuê được các thiết bị, mà đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, đồng thời ngân hàng cũng thu được nguồn lợi không nhỏ Đến cuối hợp đồng khách hàng có thể mua lại các máy móc thiết bị đó với giá hợp lý Giảm sức ép về vốn đầu tư ban đầu cho khách hàng mà ngân hàng cũng đầu tư vào khoản đảm bảo chắc chắn

Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Với mục tiêu cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính phi tín dụng cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu, các ngân hàng cũng đã bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán

Trang 23

Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Các dịch vụ bảo hiểm đảm bảo hoàn trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay tàn phế ngày càng phát triển trong hoạt động của các ngân hàng từ nhiều năm nay Hiện nay, các ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thoả thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại

lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ đó

Với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của nền kinh tế, thì các dịch

vụ ngân hàng cũng không ngừng phát triển Đó cũng chính là con đường duy nhất để có thể tồn tại trong thi trường tài chính đầy tính cạnh tranh hiện nay

Do vậy, bên cạnh những dịch vụ chủ yếu trên các ngân hàng ra sức phát triển những dịch vụ khác ngày càng đa dạng hơn phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng ngân hàng như: cung cấp các kế hoạch hưu trí, cung cấp các dịch vụ quỹ

hỗ trợ tương hỗ (cung cấp các chương trình đầu tư một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu hay chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ - tối đa hóa thu nhập hoặc tăng giá trị của vốn), cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn… ngày càng thoả mãn mọi nhu cầu đa dạng của khách hàng

1.2.3 Đặc điểm của dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thứ nhất, Dịch vụ có tính vô hình: Chúng ta không thể nhìn thấy hay

biểu thị một dịch vụ Một khách hàng có thể bỏ tiền mua một dịch vụ song thường không có một biểu hiện vật chất cụ thể nào cho dịch vụ đó Dịch vụ chuyển tiền được khách hàng yêu cầu ngân hàng tiến hành song khi họ trả phí không bao giờ có kết quả vật chất cụ thể để biểu hiện Những ví dụ cũng có tính tương tự như với dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm và đầu tư chúng chỉ mang lại thu nhập tại một thời điểm trong tương lai

Trang 24

Thứ hai, Dịch vụ mang tính thống nhất Nói chung, chúng ta có thể

chia thành nhiều phần trong quá trình tạo và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ Hầu hết các hàng hóa bình thường đều được sản xuất và sau đó được bán cho người tiêu dùng, ngược lại dịch vụ thường được bán trước khi khách hàng có nhu cầu và đặc biệt là lúc đó có sự hiện diện của khách hàng

Thứ ba, Dịch vụ gồm nhiều yếu tố cấu thành Quá trình sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm được tiến hành đồng thời với sự tham gia của ba yếu tố: Một là, khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Khách hàng sẽ thể hiện nhu cầu của mình đối với sản phẩm, đồng thời đánh giá chất lượng của sản phẩm; Hai là, nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng, là hình ảnh của ngân hàng; Ba là, cơ sở vật chất, trang thiết bị tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng Đặc biệt, chất lượng dịch vụ thường phụ thuộc nhiều vào chất lượng quản trị nhân sự Chính vì thế khả năng chất lượng dịch vụ có tính

đa dạng rất cao Ví dụ: Chất lượng của dịch vụ tín dụng đối với một khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ ngân hàng thực hiện dịch vụ đó Để giảm đi tính đa dạng không cần thiết về chất lượng dịch vụ chúng ta có thể

áp dụng hệ thống phân phối dịch vụ được chuẩn hóa như việc dùng máy ATM chẳng hạn

Thứ tư, Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cung ứng mang “đơn điệu”,

khách hàng như nhau cùng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng cung ứng (nhận gửi, cho vay và các dịch vụ tài chính phi tín dụng khác) Việc tạo ra sản phẩm độc đáo đối với hoạt động ngân hàng là rất khó khăn

Thứ năm, Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng mang tính công cộng, xã hội

cao, bởi vậy bất cứ sự sơ xuất nhỏ nào trong cung ứng sản phẩm (ví dụ như hiện tượng thiếu tiền mặt hoặc thanh toán có sự nhầm lẫn…) đều có khả năng gây mất uy tín của ngân hàng

Năm đặc trưng nêu trên làm cho dịch vụ tài chính phi tín dụng thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Yếu tố chính của chiến lược sản phẩm đối

Trang 25

với bất cứ tổ chức dịch vụ tài chính phi tín dụng nào là nhận thức rõ ràng

về chúng đồng thời cố gắng có những biện pháp giải quyết thỏa đáng Một chiến lược thường được sử dụng là họ tìm cách biểu hiện dịch vụ cho dễ hiểu hơn thông qua việc dùng các loại phương tiện phụ (thẻ tín dụng, các loại thẻ, séc…) hoặc phương tiện khác như phát triển mạng lưới phân phối…

1.3 Phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa

xã hội”4

Định nghĩa trên được phân tích bao gồm:

- Sự phát triển bao gồm cả sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội

- Tăng thêm quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội

là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập của lượng và chất

- Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo thời gian do những nhân

tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định Có nghĩa là người dân của quốc gia đó phải là những thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh

tế của đất nước Họ là những người tham gia vào quá trình hoạt động kinh

tế và được hưởng những lợi ích do quá trình này đem lại

- Kết quả của sự phát phát triển kinh tế - xã hội là kết quả của quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới các kết quả đó

4 Trường ĐH KTQD - Khoa Kinh tế phát triển - Bộ môn Kinh tế phát triển - tập 1 - Nxb Thống Kê - 2007

Trang 26

- Trên cơ sở định nghĩa về phát triển kinh tế như vậy, đề tài khi đặt vấn đề nghiên cứu sự phát triển của các dịch vụ tài chính phi tín dụng muốn đề cập đến sự tăng lên, sự tiến bộ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của các dịch vụ tài chính phi tín dụng mà một ngân hàng thương mại cung cấp cho đối tượng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Sự phát triển của các dịch vụ tài chính phi tín dụng được đánh giá bởi rất nhiều chỉ tiêu, ví dụ như tính an toàn và thuận lợi của việc dịch vụ, chất lượng thông tin được cung cấp, chi phí, số lượng dịch vụ cung cấp, đóng góp vào tổng thu nhập của ngân hàng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ xin đề cập đến các chỉ tiêu sau đây:

Số lượng dịch vụ cung cấp

Sự đa dạng hoá các dịch vụ tài chính phi tín dụng của một ngân hàng: Số lượng dịch tài chính cung cấp trên thị trường và được khách hàng chấp nhận sử dụng phản ánh mức độ thành công của ngân hàng Hiện nay, các ngân hàng hiện đại trên thế giới được xác định là có thế mạnh về các dịch vụ tài chính phi tín dụng đã có danh mục hơn 200 dịch vụ cung cấp cho khách hàng

Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ

Sự gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính Điều này chứng tỏ sự thoả mãn, hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Nếu như chất lượng của dịch vụ ngày càng hoàn hảo, có chất lượng cao thì khách hàng sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngân hàng Không những thế, những lời khen, sự chấp nhận, thoả mãn về chất lượng của khách hàng hiện hữu sẽ có tác dụng tốt trong việc truyền bá, quảng cáo về các dịch vụ ngân hàng

Trang 27

Chất lượng của dịch vụ cung cấp

Chất lƣợng và tiện ích của mỗi dịch vụ tài chính phi tín dụng mà ngân hàng cung cấp tới khách hàng Nó đƣợc hiểu là sự giảm thiểu các sai sót trong giao dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh dịch vụ tài chính Chất lƣợng của dịch vụ sẽ tạo nên danh tiếng, uy tín lâu dài cho ngân hàng, thu hút khách hàng

Tỷ trọng phí trong tổng thu nhập của ngân hàng

Sự gia tăng về phí dịch vụ mà một ngân hàng thu đƣợc khi cung ứng các dịch vụ tài chính Đây là kết quả tổng hợp của sự đa dạng dịch vụ, sự nâng cao chất lƣợng dịch vụ tài chính phi tín dụng của ngân hàng Song chất lƣợng dịch vụ có tính nổi trội hơn cả Bởi vì nếu chất lƣợng dịch vụ không đƣợc đảm bảo, không đƣợc nâng cao, thì sự đa dạng các dịch vụ sẽ không có ý nghĩa vì sẽ không đƣợc khách hàng chấp nhận Hiện nay, để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tài chính, các ngân hàng hiện đại đã cân đối thu nhập của mình, trong đó thu nhập từ các dịch vụ tài chính phi tín dụng chiếm khoảng trên 50% tổng thu nhập của ngân hàng

1.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

ViÖc ph¸t triÓn dịch vụ ngân hàng không chỉ có vai trò đơn thuần trong hoạt động của một ngân hàng mà còn cho ta thấy trình độ phát triển của một quốc gia Nó có ý nghĩa cực kỳ to lớn không những đóng góp cho

xã hội mà còn đem lại lợi ích của một nền kinh tế

Một là, đối với nền kinh tế và xã hội

Thông qua hoạt động dịch vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng thực hiện quá trình chu chuyển tiền tệ cho nền kinh tế khai thác và sử dụng các nguồn vốn chu chuyển tiền tệ cho nền kinh tế Từ đó các khối tiền tệ bất động trở thành sống động hơn di chuyển từ khách hàng này sang khách hàng khác để phục vụ sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế xã hội, kích thích và phát triển sản xuất Thông qua các dịch vụ đầu

Trang 28

tư, ngoại hối, thuê mua tài chính góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, thực hiện chuyển giao công nghệ, kinh doanh nhập khẩu phát triển kinh tế đất nước

Hai là đối với ngân hàng thương mại

Đối với các Ngân hàng thương mại thì việc phát triển dịch vụ là một giải pháp cơ bản hết sức cần thiết bởi nó thúc đẩy quá trình hội nhập, mở rộng cạnh tranh, giảm sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước, nâng cao tính chủ động và hiệu quả của ngân hàng Tuy nhiên, không phải chỉ một vài ngân hàng nhận ra và đi theo xu hướng đó, chính vì thế sức ép cạnh tranh ngày càng tăng lên Đòi hỏi mỗi ngân hàng cần tìm cho mình một giải pháp thiết thực, mang tính chiến lược và đem lại hiệu quả cao cho ngân hàng Nên phát triển dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi Ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh những đòi hỏi thực tế cạnh tranh, thì hoạt động dịch vụ ngân hàng cũng đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập lớn từ phí dịch

vụ và hoa hồng… Với nguồn thu nhập chủ yếu từ chênh lệch huy động và cho vay thì thu nhập ngoài lãi của một mô hình ngân hàng hiện đại chiếm

từ 40 - 50% trong tổng thu nhập của ngân hàng Do vậy, phát triển các dịch

vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng đa dạng hóa tiện tích theo hướng cải thiện công tác thanh toán, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng mạng lưới hoạt động, hình thành ngân hàng một cửa… đã trở thành nhiệm vụ sống còn đối với các ngân hàng thương mại hiện nay Đối với bất cứ hoạt động nào của một ngân hàng chân chính bao giờ cũng bao gồm ba nghĩa vụ sau:

Trước hết, đối với chính bản thân ngân hàng, đó là nghĩa vụ kinh doanh làm sao để tối đa hóa lợi nhuận Đó chính là nhiệm vụ sống còn của một ngân hàng, bởi có tồn tại thì ngân hàng mới phát triển được

Sau đó, ngân hàng phải làm tròn nhiệm vụ đối với thị trường, điều này thể hiện ở việc làm tròn bổn phận đối với khách hàng Ngay từ đầu, phải xác định mục tiêu phục vụ khách hàng là mục tiêu cao nhất, phải cung

Trang 29

cấp cho khách hàng những dịch vụ hoàn hảo nhất Luôn coi khách hàng là cuộc sống của ngân hàng, thành công của khách hàng cũng chính là thành công của ngân hàng

Cuối cùng, ngân hàng phải thể hiện trách nhiệm đối với xã hội Đó

là, tạo công ăn việc làm cho xã hội, trách nhiệm bảo vệ môi trường thể hiện

ở việc lựa chọn công nghệ phù hợp, tuân theo các tiêu chuẩn kinh doanh do ngân hàng Nhà nước đề ra

1.3.4 Điều kiện phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

Sản phẩm nói chung và dịch vụ nói riêng thường thay đổi Một tổ chức được coi là thành công nếu họ áp dụng một hệ thống giám sát các hoạt động liên quan đến sản phẩm hoặc dịch vụ cũng như những yêu cầu mới của thị trường về cải tạo sản phẩm hiện có, phát triển sản phẩm mới, xóa bỏ những sản phẩm không còn phù hợp

Sau đây là những nhân tố, điều kiện cần thiết để có thể phát triển hay triển khai áp dụng các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng

1.3.4.1 Môi trường pháp lý

Hệ thống khung pháp luật do nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính phi tín dụng nói chung và thị trường dịch vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng nói riêng Đây là căn cứ cơ bản để các đối tượng tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính phi tín dụng tiến hành trao đổi, mua bán các loại dịch vụ tài chính, Chính phủ tổ chức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động của thị trường, xử lý các tranh chấp xảy ra giữa các bên phát sinh trong quá trình hoạt động

Yêu cầu cơ bản đối với hệ thống khung pháp luật là phải thống nhất,

ổn định, rõ ràng, minh bạch, phải kết hợp vận dụng các tiêu chuẩn chung

đã được thừa nhận trên phạm vi quốc tế

Trang 30

Thứ nhất, Tính thống nhất: các văn bản quy phạm pháp luật từ mức

độ cao nhất là Luật tới các vản bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành… phải phù hợp, thống nhất với nhau, cùng theo một chuẩn mực nhất định, đồng thời phải thống nhất giữa các văn bản pháp luật khác nhau nhưng cùng điều chỉnh một đối tượng nhất định và phải thống nhất trong cùng một hệ thống pháp luật của quốc gia

Thứ hai, Tính ổn định: Hệ thống văn bản pháp luật phải có tính ổn

định tương đối, tức là trong công tác xây dựng pháp luật phải tính toán được sự phát triển của nền kinh tế - kinh tế ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo giữ cho hệ thống pháp luật không phải thay đổi trong một thời gian dài, đảm bảo quyền lợi và lòng tin của các chủ thể tham gia thị trường

Thứ ba, Tính minh bạch: hệ thống pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu,

tránh hiện tượng vận dụng tùy tiện, vận dụng sai của cơ quan quản lý nhà nước, hoặc lợi dụng kẽ hở của Pháp luật để trốn tránh, vi phạm pháp luật của các chủ thể chấp hành pháp luật

Thứ tư, Vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế thừa nhận: Trong điều kiện

quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và sự tham gia của mỗi quốc gia vào quá trình này là một yếu tố khách quan, do đó việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chủ động tham gia vào quá trình này là hoàn toàn đúng đắn

Cuối cùng, cần có sự giám sát với vai trò “hậu kiểm” Điều này không chỉ có ý nghĩa giúp các ngân hàng hoàn thiện các nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh của mình mà còn có ý nghĩa an toàn hệ thống

1.3.4.2 Năng lực nội tại của ngân hàng

Để phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng ngân hàng, từ góc độ ngân hàng thương mại, phải đảm bảo các yếu tố sau:

Thứ nhất, Tiềm lực tài chính

Tiềm lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu:

Trang 31

- Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Tiềm lực về vốn

thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn (CAR - Capital Adequacy Ratio) Tiềm lực về vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó Cách thức mà một ngân hàng có khả năng cơ cấu lại vốn, huy động thêm vốn cũng là một khía cạnh phản ánh tiềm lực về vốn của một ngân hàng, đây là một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của một ngân hàng

- Chất lượng tài sản: phản ánh “sức khoẻ” của một ngân hàng Chất

lượng tài sản có được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hóa của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn…

- Mức sinh lợi: Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân

hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng

đó trên thị trường

- Khả năng thanh khoản: Được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như

khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán nhanh, đánh giá định tính

về năng lực quản lý thanh khoản của các Ngân hàng thương mại, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng thương mại

Thứ hai, Phải có khả năng quản trị, điều hành hiệu quả và một cơ

Trang 32

và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng cũng như các dịch vụ ngân hàng… Năng lực quản lý quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng, một ban giám đốc hay hội đồng quản trị yếu kém, không có khả năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị trường… sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó

Thứ ba, Phải có đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên môn sâu

Yếu tố con người luôn được đánh giá là quan trọng nhất của mọi sự thành công Năng lực cạnh tranh của nguồn nhânlực của một doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu tố như trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp “Nhân sự của một ngân hàng là một yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến hay đổi mới”5

Trình độ hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không

Đặc biệt, trong lĩnh vực phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại, để tiếp cận với những công nghệ mới, đòi hỏi các ngân hàng phải có các cán

bộ có kiến thức, hiểu biết về nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu công việc

Thứ tư, Hệ thống kênh phân phối rộng khắp và hiệu quả

Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại, hệ thống kênh phân phối của các Ngân hàng thương mại thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác (như sở giao dịch) và sự phân bố các chi rộng lớn vẫn rất

có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện các dịch vụ truyền thống của ngân hàng vẫn còn phát triển Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộng cũng là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố chi

5 Trường ĐH KTQD - Khoa QLKD – Maketing căn bản - Nxb Thống Kê - 2009

Trang 33

nhánh ở các vùng, miền cũng như vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chi nhánh

Thứ năm, Phải có khả năng kiểm soát rủi ro

Việc phát triển các dịch vụ ngân hàng chỉ được xem là có hiệu quả khi bản thân ngân hàng kiểm soát được rủi ro phát sinh và đáp ứng được các yêu cầu có thể có từ các dịch vụ ngân hàng Nếu phát triển một cách ồ ạt, quá nóng, ngoài tầm kiểm soát có thể dẫn đến tình trạng mất an toàn ở một khâu, một bộ phận hay ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng

1.3.4.3 Đặc điểm của thị trường

Trước khi tiến hành triển khai một dịch vụ mới hay phát triển các dịch vụ đang cung ứng trên thị trường cũng cần phải có bước tiến hành nghiên cứu trước nhu cầu thị trường về việc tiếp nhận các dịch vụ đó, nhất

là các dịch vụ đòi hỏi sự đầu tư ban đầu lớn để tối đa hóa hiệu quả đầu tư

Để phát triển tốt các dịch vụ tài chính phi tín dụng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đòi hỏi thị trường cần đảm bảo:

Một là, Thông thoáng nhưng chặt chẽ: Quan điểm này áp dụng đối với

Ngân hàng Nhà nước trong việc xem xét cho các ngân hàng được phép triển khai các nghiệp vụ mới Ngân hàng nhà nước khuyến khích các Ngân hàng thương mại chủ động xây dựng và phát triển các dịch vụ, tuy nhiên, việc triển khai dịch vụ mới phải trên cơ sở đảm bảo các quy định về an toàn trong hoạt động của Ngân hàng và bản thân các ngân hàng phải chủ động nâng cao năng lực của hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ

Hai là, Cạnh tranh để phát triển, chống độc quyền: Cạnh tranh giữa

các Ngân hàng thương mại có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của cả hệ thống ngân hàng Sự cạnh tranh lành mạnh

và hợp tác hiệu quả giữa các ngân hàng là nền tảng để tạo ra sức mạnh của

cả hệ thống ngân hàng và quyết định năng lực cạnh tranh quốc tế của các ngân hàng thương mại của một nước Để tạo sự cạnh tranh bình đẳng trong

Trang 34

việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng và góp phần giảm chi phí dịch vụ cho khách hàng, đòi hỏi phải xây dựng một môi trường cạnh tranh bình đẳng

1.3.4.4 Môi trường công nghệ

Sự phát triển của ngành công nghệ thông tin đang tạo nhiều khả năng trao đổi xuyên quốc gia Các sản phẩm thông tin đặc biệt là sự ra đời của Internet đã góp phần giảm chi phí giao dịch, cung cấp thêm các kênh mới cho các giao dịch thương mại và giảm các hàng rào đối với sự tham gia của các công ty nhỏ và xa xôi về mặt địa lý Các doanh nghiệp có thể liên hệ và hoạt động trên thế giới…

1.4 Kinh nghiệm pháp triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng của ngân hàng thương mại một số nước

Trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thế giới đã chứng kiến cuộc cải cách và đổi mới hệ thống ngân hàng ở một loạt các nước Trong đó, tiêu biểu là công cuộc cải cách ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi và các nước mới phát triển Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, Chi Lê và Nhật Bản Đây là các quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, và kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng cũng như phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng ở các quốc gia này có tính chất rất điển hình, là những gợi ý tốt cho công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là cho chiến lược phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng Việt Nam trong thời gian trước mắt cũng như trong định hướng xây dựng chiến lược phát triển lâu dài

1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Nghiên cứu kinh nghiệm của cải cách hệ thống ngân hàng của Trung Quốc đặc biệt có ý nghĩa đối với Việt Nam Môi trường kinh tế, văn hóa,

xã hội của Trung Quốc rất tương đồng với Việt Nam, đặc biệt, hầu hết những vấn đề lớn hơn mà hệ thống các ngân hàng Trung Quốc đã và đang gặp phải cũng là những vấn đề mà hệ thống ngân hàng thương mại Việt

Trang 35

Nam cũng đang phải trả qua Chính vì vậy, những thành công hay thất bại của quá trình cải cách hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc sẽ là những bài học kinh nghiệm rất sinh động và thiết thực cho Việt Nam trong công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng hiện nay

Trung Quốc thực hiện công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng với sự khởi đầu là sự ra đời của Luật Ngân hàng thương mại mới, có hiệu lực từ ngày 01/7/1995 Việc gia nhập WTO của Trung Quốc tháng 12/2001 càng làm cho công cuộc cải cách nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Đến năm 2007, Trung Quốc mở cửa hoàn toàn khu vực tài chính ngân hàng

Bảng 1.3: Các dịch vụ mà các ngân hàng thương mại Trung Quốc

cung cấp theo lộ trình hội nhập tài chính quốc tế

Nhận gửi và cho vay ngoại tệ Ngay lập tức Ngay lập tức Thanh toán và chuyển tiền Ngay lập tức WTO + 2

Nhận gửi và cho vay liên ngân hàng Ngay lập tức WTO + 2

Chiết khấu lien ngân hàng Ngay lập tức Ngay lập tức

Nhận gửi và cho vay ngoại tệ Ngay lập tức Ngay lập tức

(Nguồn: Banking on China – Issues Faces Overseas Banks in China)

Trung Quốc xây dựng một hệ thống tài chính mở, thống nhất, bao gồm các ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các quỹ của các tổ chức tài chính khác nhau

Để hình thành các tổ chức tài chính có vốn đầu nước ngoài, Trung Quốc sẽ phải mở rộng hơn các phạm vi được tự do hóa, cho phép nhiều tổ

Trang 36

chức tài chính nước ngoài hoạt động với phạm vi kinh doanh dần dần được

mở rộng

Để có thể kinh doanh tài chính ở nước ngoài, các ngân hàng thương mại nhà nước, một số các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác được khuyến khích thành lập các chi nhánh ở nước ngoài, phát triển công việc kinh doanh tài chính ở nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế

Các ngân hàng Trung Quốc đã và đang đẩy mạnh sự hợp tác với các tổ chức quốc tế và các tổ chức nước ngoài, cùng hợp tác để giải quyết những vấn

đề thông tin và tư vấn tài chính

Tất cả các tổ chức tài chính Trung Quốc đang nâng cấp dịch vụ, việc quản

lý nội bộ và cơ sở hạ tầng của mình Hệ thống quản lý hoạt động đang được thay đổi nhiều hơn theo mô hình thương mại và khả năng thu lợi nhuận cũng đang tăng dần đạt đến tiêu chuẩn quốc tế

Nhằm hiện đại hóa việc thanh toán trong ngành tài chính của Trung Quốc, nước này đang từng bước nâng cao hơn hệ thống mạng thanh toán điện

tử, như mạng liên lạc điện tử được truyền qua vệ tinh ở các thành phố với một khối lượng lớn các giao dịch nhằm cung cấp dịch vụ thuận tiện nhất cho ngành tài chính, vượt qua những vấn đề khó khăn trong thanh toán

Kỳ phiếu, hối phiếu, séc, trái phiếu thương mại và thẻ ngân hàng được

sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc Hệ thống thanh toán việc chuyển nhượng vốn

và trái phiếu thương mại sẽ được cải thiện hơn Tên thực phải được sử dụng cho các tài sản tài chính cá nhân và séc cá nhân sẽ đưa vào sử dụng thí điểm

Hệ thống chính sách nắm chứng khoán sẽ được thành lập và việc thanh toán sẽ được thống nhất thông qua việc thúc đẩy quá trình làm thủ tục và nâng cao thêm dịch vụ thanh toán nhằm thanh toán các giao dịch chứng khoán

Đặc biệt, trước yêu cầu mở cửa thị trường, dịch vụ tài chính phi tín dụng theo cam kết gia nhập WTO vào cuối năm 2001, các ngân hàng TM Trung Quốc đã tập trung đầu tư khá mạnh mẽ cho dịch vụ ngân hàng, thể hiện

ở các mặt sau đây:

Trang 37

- Tại các điểm giao dịch của ngân hàng, bên cạnh các giao dịch trực tiếp, giao dịch một cửa, còn có giàn giao dịch ngân hàng tự động, với nhiều loại máy khác nhau, trang bị và sử dụng máy xếp hàng tự động hiện đại Khách hàng bấm trực tiếp vào màn hình tinh thể lỏng dựa trên cơ sở cảm ứng

từ

- Đầu tư máy móc, công nghệ hiện đại nhưng chất lượng trung bình

- Thành lập công ty hợp tác chuyên doanh thẻ, do các Ngân hàng thương mại khác nhau làm cổ đông Phí thu từ dịch vụ thẻ của khách hàng một phần được trả cho các Ngân hàng thương mại phát hành thẻ đó và thanh toán, còn lại trả cho công ty liên doanh thẻ này Trung Quốc sử dụng công nghệ kết nối mạng ATM theo mô hình liên kết kiểu ngôi sao, bộ chuyển mạch nằm ở mọi điểm Nếu một điểm bị trục trặc do quá tải hay các lỗi kỹ thuật khác, thì mạng tự động chuyển sang điểm kết nối khác Trung Quốc mất 17 năm triển khai dịch vụ thẻ liên kết nói trên, với số vốn đầu tư 22 tỷ USD trong điều kiện dân số 1,3 tỷ người…

1.4.2 Kinh nghiệm của Chi Lê

Trước năm 1973, khu vực tài chính của Chi Lê đã được điều chỉnh một cách mạnh mẽ với chính sách hướng dòng vốn đi vào khu vực ưu tiên của nền kinh tế Nhà nước đã kiểm soát hơn 80% hệ thống tài chính của quốc gia Cuối năm 1973, lạm phát lên tới 600%, GDP đạt 5,6% và Chi Lê đã đối mặt với khủng hoảng cán cân thanh toán

Để đối phó với tình hình trên, từ năm 1974 đến năm 1981, một loạt các cải cách tài chính đã dần dần làm tự do hóa thị trường ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán Vào năm 1974, chế độ tỷ giá đa biên đã được bãi bỏ và thay vào chế độ tỷ giá cột chặt vào ngoại tệ, tư nhân hóa 19 trong số 20 Ngân hàng thương mại của đất nước, bãi bỏ trần lãi suất, cho phép nước ngoài giữ 100% vốn đối với ngân hàng nội địa Năm 1977, chính phủ mới bãi bỏ kiểm soát tài khoản vốn đối với khu vực tài chính và sửa đổi luật kiểm soát ngoại hối đã cho phép các công ty phi tài chính vay mượn từ nước ngoài Đến năm 1980, hạn chề về số lượng vốn nước ngoài đối với Ngân hàng thương mại đã được

Trang 38

bãi bỏ và các Ngân hàng thương mại đã được tự do vay mượn từ nước ngoài cũng như tiến hành hoạt động cho vay trên thị trường hải ngoại Những cải cách tài chính từ năm 1973 đã để lại một số hậu quả

Năm 1982, chỉ còn một ngân hàng chính thức hoạt động, tỷ giá cố định

đã bị từ bỏ, trong 3 tháng đồng Pêsô được phép thả nổi và mất gía đến 43% Sau đó, nó được cột chặt vào đồng Đôla Mỹ, NHTW đã can thiệp vào 13 ngân hàng và 6 tổ chức phi ngân hàng Sau cuộc khủng hoảng ngân hàng, việc kiểm soát ngoại hối đã được lỏng dần Và đến năm 1992, tỷ giá tham khảo là của USD, sau đó Chính Phủ đã thiết lập tỷ giá tham khảo dựa vào giá trị giỏ tiền tệ (bao gồm: USD, DM, Yên Nhật)

Do ổn định nền kinh tế và thoát khỏi suy thoái giai đoạn 1982-1985, Chi Lê đã lại bắt đầu tự do hoá các dịch vụ tài chính Năm 1995, các dịch vụ tài chính phi tín dụng đã chiếm tỷ lệ 12,6% GDP và gia tăng ở mức trung bình hàng năm là 7,2% Mặc dù mức tăng trưởng của chúng thấp hơn một chút so với mức tăng trưởng của GDP là 8,5% của Chi Lê vào năm đó, các dịch vụ tài chính phi tín dụng dự kiến tăng trưởng trong tương lai

Các tổ chức tài chính ở Chi Lê

Khu vực tài chính của Chi Lê hơi phân tán so với thị trường mới nổi

Mỹ Latinh khác Vào năm 1994, tài sản của Ngân hàng thương mại chiếm 62% trong khu vực tài chính (Ở Braxil, Mêhicô và Achentina tính trung bình tài sản ngân hàng chiếm 94%) Thị trường nợ và tài sản đều phát triển tốt ở Chi Lê và thâm nhập vào cả khu vực tư nhân và khu vực công Ở Chi Lê các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm và quỹ tương hỗ đều do tư nhân quản lý và điều hành Vào cuối năm 1996, có 30 ngân hàng và 3 NBFIs ở Chi Lê

Kể từ năm 1980, Chính phủ đã ngưng cấp giấy phép hoạt động mới cho các Ngân hàng thương mại và các NBFIs Những nhà kinh doanh mới tham gia vào thị trường có thể mua lấy một ngân hàng đang tồn tại nào đó để mở thành Ngân hàng thương mại Đặc biệt, Chi Lê đã đưa ra Sắc luật 600 về các quy tắc quản lý đầu tư nước ngoài và việc xử lý đối với các công ty nước ngoài

Trang 39

Về ngõn hàng

Chi Lờ cú một ngõn hàng Nhà nước sở hữu - Banco del Estado, chiếm khoảng 12% tài sản toàn bộ khối ngõn hàng vào năm 1996 (SBC Warburg 1996) Ngõn hàng Banco del Estado thực hiện cỏc nghiệp vụ tài chớnh và ngõn hàng cho Chớnh phủ và cũng được quyền cạnh tranh như một ngõn hàng thương mại Cụng nghiệp ngõn hàng ở Chi Lờ cạnh tranh rất mạnh

mẽ Trước 1980, cỏc cụng ty cú xu hướng thực hiện kinh doanh với một ngõn hàng riờng lẻ Ngày nay, họ cú xu hướng quan hệ với nhiều ngõn hàng

và lựa chọn loại ngõn hàng dựa trờn mức phớ Sự cạnh tranh mạnh mẽ trong ngõn hàng đó làm cho mức tập trung tài chớnh cũn thấp, được đo lường bằng số % tớch tài sản chớnh được găm giữ ở 5 ngõn hàng hàng đầu Song

do nhiều vụ sỏt nhập và mua đi bỏn lại trong khu vực ngõn hàng trong 2 năm qua, sự tập trung tài chớnh bắt đầu tăng lờn Năm 1996, ngõn hàng Banco Stander Chi Lờ trở thành Ngõn hàng thương mại lớn nhất ở Chi Lờ

và sang năm 1997, nú bị thay thế bởi ngõn hàng Banco de Santiago Do sự sỏt nhập của cỏc ngõn hàng nờn % tài sản tài chớnh trong tổng tài sản tài chớnh của 5 ngõn hàng hàng đầu đó từ 49% (1994) lờn 62% (1997) Sự tập trung này đưa Chi Lờ ngang hàng về chỉ số so với cỏc nước như Canada và Australia

Chi Lê là một trong những n-ớc đang phát triển tiến hành tự do hoá các dịch vụ tài chính phi tín dụng từ tr-ớc những năm 80 và quá trình tự do hoá diễn ra khá nhanh Chi Lê có mức độ thâm nhập thị tr-ờng rất cao và thực hiện đãi ngộ quốc gia cho các công ty dịch vụ tài chính phi tín dụng n-ớc ngoài nh-ng n-ớc này vẫn chỉ đ-a ra thoả thuận ngắn hạn hoặc chỉ là

sự mong đợi Và Chi Lê là một trong số 102 n-ớc cam kết tham gia vào dịch vụ tài chính phi tín dụng của WTO từ ngày 13 tháng 12 năm 1997

1.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Hệ thống ngân hàng Nhật Bản, một c-ờng quốc hàng đầu thế giới với nhiều ngân hàng lớn vào bậc nhất trên thế giới, vẫn gặp phải những vấn đề nh- nợ khó đòi, tính trì trệ của toàn hệ thống Công cuộc cải cách hệ thống

Trang 40

ngân hàng của Nhật Bản vì thế sẽ là bài học quan trọng không chỉ cho Việt Nam mà cho nhiều quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là trong chiến l-ợc phát triển dài hạn

Các ngân hàng Nhật Bản cũng gặp phải vấn đề nợ khó đòi (NPLs - Non Performing Loans), nh-ng đặc điểm của vấn đề NPL tại Nhật Bản lại khác so với Trung Quốc Nếu nh- tại Trung Quốc, NPL có thể xử lý bằng cách nhận sự hỗ trợ phía Nhà n-ớc thì ở Nhật Bản, Chính phủ có chủ tr-ơng

để các ngân hàng tự mình giải quyết vấn đề nợ khó đòi bằng cách kiểm soát

và thắt chặt các khoản cấp tín dụng Nh-ng chủ tr-ơng này lại vấp phải rất nhiều sự chỉ trích Có thể nói, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi bắt

đầu có những đổi mới trong lĩnh vực tài chính, hệ thống ngân hàng Nhật Bản đã phải chịu áp lực tr-ớc một số khó khăn nhất định Tr-ớc đây các công ty phụ thuộc rất lớn vào sự giúp đỡ về tài chính từ hệ thống ngân hàng không những về vốn vay mà còn cả đảm bảo tài chính đối với các chứng

khoán mà doanh nghiệp phát hành Theo Luật Nhật Bản, giai đoạn này, tất

cả các khoản chứng khoán do doanh nghiệp phát hành cần có tài sản thế chấp Trong khi đó, từ năm 1979, Chính phủ Nhật Bản đã cho phép doanh nghiệp phát hành chứng khoán có thể chuyển nh-ợng và không cần đảm bảo Những điều kiện trong phát hành chứng khoán ngày càng đ-ợc nới lỏng, thậm chí những thay đổi trong đạo Luật Kiểm soát ngoại hối và th-ơng mại đã cho phép các doanh nghiệp thu hút vốn từ thị tr-ờng n-ớc ngoài Điều này tạo nên sự hấp dẫn lớn đối với các doanh nghiệp Nhật Bản, bởi vì họ có thể phát hành chứng khoán tại thị tr-ờng n-ớc ngoài mà không cần bất cứ khoản thế chấp nào Những quy định về niêm yết cổ phiếu chứng khoán trên thị tr-ờng Nhật Bản cũng đã đ-ợc nới lỏng, tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp lẫn ng-ời dân Nhật Bản trong việc lựa chọn hình thức đầu t- hay tiết kiệm Trong khi đó các ngân hàng Nhật Bản vẫn bị bó buộc vào những quy định cũ nh- không đ-ợc chứng khoán hoá các khoản

nợ (hoạt động này chỉ đ-ợc phép từ năm 1990) hay đ-ợc phép mở các hoạt

động kinh doanh mới có thể thu đ-ợc phí nh- bảo lãnh cho vay Điều này buộc các ngân hàng Nhật Bản tập trung chủ yếu vào những hoạt động kinh

Ngày đăng: 17/03/2015, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Quá trình phát triển dịch vụ mới - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Hình 3.1 Quá trình phát triển dịch vụ mới (Trang 7)
Bảng 1.1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của WB - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Bảng 1.1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của WB (Trang 13)
Bảng 1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của EU - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Bảng 1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của EU (Trang 14)
Hình 2.1. Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương   Việt Nam - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Hình 2.1. Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Trang 46)
Bảng 2.1: Tổng kết tài sản Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam   năm 2007-2010 - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng kết tài sản Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam năm 2007-2010 (Trang 48)
Hình 2.2. Tình hình huy động vốn của NH TMCP CT VN 2007-2010 - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Hình 2.2. Tình hình huy động vốn của NH TMCP CT VN 2007-2010 (Trang 49)
Bảng 2.3: Kết quả thực hiện hệ thống thanh toán VND 2007-2010 - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện hệ thống thanh toán VND 2007-2010 (Trang 54)
Hình 3.1: Quá trình phát triển dịch vụ mới - Phát triển các dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Hình 3.1 Quá trình phát triển dịch vụ mới (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w