Mục đích của việc thực hiện cơ chế tự kê khai - tự nộp thuế là nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả và hiện đại hóa công tác quản lý thuế để cơ quan thuế có đủ năng lực thực hiện tốt các luậ
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ DẬU
Đà Lạt – 2012
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt -i
Danh mục bảng -ii
Danh mục hình -iii
MỞ ĐẦU - 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ - 5
1.1 Thuế và quản lý thuế - 5
1.1.1 Khái niệm đặc điểm và chức năng của - 5
1.1.2 Quản lý thuế - 10
1.2 Công tác kiểm tra, thanh tra thuế - 14
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu - 14
1.2.2 Quy trình kiểm tra, thanh tra - 19
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến họat động kiểm tra, thanh tra thuế 22
1.2.4 Nội dung kiểm tra, thanh tra - 24
1.2.5 Phương pháp kiểm tra, thanh tra thuế - 26
1.3 Kinh nghiệm kiểm tra, thanh tra thuế trong quản lý thuế ở một số nước trên thế giới - 31
1.3.1 Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm tra, thanh tra thuế - 31
1.3.2 Công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ kiểm tra, thanh tra - 31
1.3.3 Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm - 32
1.3.4 Về chiến lược xử lý rủi ro - 33
1.3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, thanh tra thuế - 33
Kết luận chương 1 - 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH LÂM ĐỒNG - 34
2.1 Giới thiệu chung về Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng - 34
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển - 34
Trang 42.1.2 Các yếu tố nguồn lực - 38
2.1.3 Đặc điểm bộ máy tổ chức, quản lý và bộ máy kiểm tra, thanh tra - 40
2.2 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2008-2011 - 41
2.2.1 Tình hình chung về công tác kiểm tra, thanh tra thuế - 41
2.2.2 Nội dung và quy trình kiểm tra, thanh tra - 44
2.2.3 Phương pháp trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế - 64
2.2.4 Kết luận xử lý qua kiểm tra, thanh tra thuế - 69
2.3 Đánh giá công tác kiểm tra, thanh tra và Quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng - 71
2.3.1 Những kết quả đạt được - 71
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân - 75
Kết luận chương 2 - 82
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH LÂM ĐỒNG 83
3.1 Định hướng tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng - 83
3.1.1 Định hướng chung của Cục Thuế - 83
3.1.2 Định hướng về công tác kiểm tra, thanh tra thuế - 86
3.2 Giải pháp nhằm tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng - 87
3.2.1 Giải pháp đối với Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng - 87
3.2.2 Đề xuất với cấp trên (ngành thuế, UBND tỉnh, ngành ngân hàng, Nhà nước) - 93
Kết luận chương 3 - 112
KẾT LUẬN - 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 114 PHỤ LỤC
Trang 5i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 62.3 Kết quả kiểm tra, thanh tra thuế ngân hàng thương
2.4 Kết quả hoàn thuế trước kiểm tra sau thuế GTGT
2.5 Tổng hợp kết quả thực hiện công tác kiểm tra,
2.6 Thống kê NNT theo lọai hình doanh nghiệp 73
2.8 Nguồn nhân lực cho công tác kiểm tra, thanh tra
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang 7iii
2.1 Bộ máy Cục thuế tỉnh Lâm Đồng theo mô hình chức
3.1 Cơ cấu nguồn nhân lực giai đoạn 2013-2020 90
Trang 81
MỞ ĐẦU 1/ Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là một công cụ quan trọng để Nhà nước kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển kinh doanh đúng hướng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong quá trình tác động điều chỉnh pháp luật Nhà nước phải thường xuyên tiến hành các công tác thanh tra, kiểm tra giám sát nhằm phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện pháp luật để kịp thời uốn nắn, sữa chữa những sai xót đó Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát là một khâu trong quá trình quản lý nhà nước và cũng chính là một khâu trong quá trình điều chỉnh pháp luật của nhà nước
Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không những giúp cho hoạt động quản lý thuế đạt được các mục tiêu đã đề ra mà còn giúp Nhà nước phát hiện những hạn chế của chính sách, điều chỉnh kịp thời chính sách, chế độ về thuế, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của cộng đồng và góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng trốn thuế, chống thất thu thuế
Ngành thuế của Việt Nam nói chung, Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng nói riêng xác định kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý thu thuế Công tác kiểm tra, thanh tra thuế của tỉnh Lâm Đồng đã được tiến hành thường xuyên, đã góp phần quan trọng vào kết quả chung của ngành thuế Qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế đã phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thuế, kiến nghị sữa đổi bổ sung cơ chế chính sách về thuế góp phần tích cực trong việc chống thất thu ngân sách nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế
Tuy nhiên, cách thức kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện hành vi kê khai thiếu thuế, gian lận về thuế của các thành viên trực tiếp kiểm tra, thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế vẫn còn nhiều bất cập Mỗi hành vi trốn thuế đều có cách thức hạch toán, che dấu khác nhau do vậy khi kiểm tra, thanh tra thuế cần phải có cách thức
Trang 92
kiểm tra, thanh tra phát hiện khác nhau Mặc khác, để người được kiểm tra, thanh tra thuế thấy rõ hành vi vi phạm của mình, cần phải sử dụng các tài liệu, sự vật, sự kiện cụ thể, rõ ràng, chính xác bằng các lý lẽ chặt chẽ để chứng minh, thuyết phục
và xác định đúng hành vi vi phạm của người được kiểm tra, thanh tra thuế
Trên ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Hoạt động kiểm tra, thanh tra tại Cục
Thuế tỉnh Lâm Đồng” làm luận văn thạc sỹ của mình
2/ Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý thuế như:
Đề tài: “Tăng cường vai trò Nhà nước về việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá ngành thuế ở Việt nam”, luận văn thạc sĩ Phạm Đức
Thắng (2006); Đề tài nêu lên thực trạng nguồn nhân lực ngành thuế Việt nam đồng thời đề xuất một số giải pháp tăng cường vai trò Nhà nước với việc phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá ngành thuế
Đề tài: “Kiểm soát thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công tại các tổ chức chi trả thu nhập do Cục Thuế Đà Nẵng thực hiện”, luân văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh của Bùi Công Phương (2011); Đề tài nghiên cứu quản lý thu thuế TNCN nhằm chống thất thu NSNN
Ngoài ra, nghiên cứu Quản lý thu thuế nói chung có đề tài: "Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới", Luận văn thạc sĩ Kinh tế
của Trịnh Hoàng Cơ, Hà Nội, 2004
Các đề tài, bài viết có đề cập ở những khía cạnh khác nhau về quản lý thu thuế, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống về công tác kiểm tra, thanh tra thuế - một khâu trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là nghiên cứu công tác này ở Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng
3/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trang 103
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế (qua phân tích BCTC) tại trụ sở người nộp thuế, nhằm đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm chống thất thu thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cưú trên, nhiệm vụ nghiên cưú của đề tài là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm tra, thanh tra thuế
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng trong những năm qua
- Đề ra các giải pháp và kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế
4/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Công tác kiểm tra, thanh tra thuế dưới cách tiếp cận của khoa học Tài chính - Ngân hàng (phân tích các BCTC)
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Lâm
Đồng
- Phạm vi thời gian: giai đoạn năm 2008 đến năm 2011
5/ Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế như: phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp phân tích, tổng hợp; kết hợp với lý luận với thực tiễn để xác định và giải quyết nhiệm vụ của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trang 114
- Kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố, cùng với việc vận dụng những kiến thức được trang bị trong quá trình học tập, để hệ thống hóa
- Tập hợp, phân tích các báo cáo tài chính tại cơ quan thuế tỉnh Lâm Đồng, từ
đó đánh giá công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại tỉnh Lâm Đồng
- Trên cơ sở những đánh giá về hạn chế và nguyên nhân công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại tỉnh Lâm Đồng, với kinh nghiệm của bản thân công tác trong ngành thuế, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế tại địa phương
6/ Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học, chỉ ra những thành công, những hạn chế và nguyên nhân trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng trong thời gian từ năm 2008 – 2011
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới, từ năm 2012 – 2015 và tầm nhìn tới năm 2020
7/ Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn, ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về công tác kiểm tra, thanh tra thuế
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng
Trang 125
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA,
THANH TRA THUẾ 1.1 Thuế và quản lý thuế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp Thuế không phải
là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra
và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật
Thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội
Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần là động viên tài chính vào NSNN mà phải được phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân
Viêt Nam trước cải cách chế độ thu NSNN, Luật thuế chỉ áp dụng đối với các
cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể Ðể thực hiện chế độ thu NSNN phù hợp với cơ chế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu NSNN, cuộc cải cách chế độ thu NSNN được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm 1989 Kết quả của cuộc cải cách này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuế đối với tất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh Từ đây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN và thuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu NSNN
Trang 136
Ở hầu hết các nước trên thế giới, thuế thường được phân loại khác nhau theo tính chất hoặc theo đối tượng đánh thuế, ngoài ra còn có một số cách phân loại khác:
a, Căn cứ theo tính chất, thuế được chia thành 2 loại: thuế gián thu và thuế trực thu nhằm xác định ai là người phải chịu thuế
Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ Đặc điểm của thuế gián thu là người nộp thuế và người chịu thuế theo nghĩa kinh tế không đồng nhất với nhau Loại thuế này có sự chuyển gánh nặng thuế trong trường hợp nhất định do sự chi phối của quan hệ cung cầu trên thị trường và tính chất thị trường Thuế gián thu mang tính chất thuế lũy thoái Ở nước ta, thuế gián thu gồm thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu v.v
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu thu nhập hay tài sản của người nộp thuế Người trực nộp thuế đồng thời là người chịu thuế theo ý nghĩa kinh
tế Thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển giao gánh nặng thuế cho các đối tượng khác trở nên khó khăn hơn Thuế trực thu mang tính chất lũy tiến vì nó tính đến khả năng thu nhập của người nộp thuế tại Việt Nam, thuế trực thu gồm thuế thu nhập của người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên, thuế nhà đất v.v
b, Căn cứ theo cơ sở đánh thuế bao gồm:
Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm
được hình thành từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần, lợi tức cho vay… Thu nhập được biểu hiện dưới nhiều dạng nên thuế thu nhập cũng được biểu hiện dưới nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…
Trang 147
Thuế tiêu dùng là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập được
mang tiêu dùng trong thực tế, biểu hiện như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Thuế tài sản là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản Tài sản có
thể biểu hiện dưới dạng: tài sản tài chính như tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu…; tài sản cố định hữu hình như nhà cửa, đất đai, máy múc, nhà xưởng, xe cộ; tài sản vô hình như nhãn hiệu, thương hiệu Thuế tài sản đánh trên giá trị tài sản cố định gọi là thuế bất động sản
1.1.1.2 Đặc điểm
a, Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan và là một phạm trù lịch sử, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của Nhà nước, với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ
Trong lịch sử phát triển nhân loại, Nhà nước được xuất hiện trong xã hội có giai cấp để duy trì trật tự và phát triển kinh tế xã hội Mọi Nhà nước đều phải thực hiện một số chức năng của mình về củng cố bộ máy, về an ninh quốc phòng, về trật
tự an toàn xã hội, về tổ chức quản lý, phát triển kinh tế Muốn thực hiện được chức năng đó, Nhà nước cần phải có nguồn thu để chi tiêu Vì vậy, Nhà nước phải động viên sự đóng góp một phần thu nhập của xã hội do các tổ chức và các tầng lớp dân
cư tạo ra dưới hình thức thuế Từ đó, thuế là một đòi hỏi tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu hoạt động của Nhà nước Nói một cách khác, nếu không có thuế thì Nhà nước không có điều kiện vật chất để tồn tại và phát triển
Ban đầu thuế được động viên chủ yếu dưới dạng hiện vật, sau đó các quan hệ
về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngày càng phát triển có tính chất
hệ thống Các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời với những tiến bộ của lịch sử
b, Thuế và hệ thống thuế là sản phẩm chủ quan của mỗi Nhà nước
Nó có thể phù hợp hoặc không còn phù hợp hoàn toàn với sự biến động phức tạp của tình hình kinh tế, xã hội, với đường lối chủ trương của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định
Trang 15lý, thu nộp thuế
1.1.1.3 Chức năng
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính Căn
cứ vào nội dung cùng với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, thuế có các chức năng sau:
a, Phân phối và phân phối lại
Đây là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế Ngay từ lúc ra đời, thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào NSNN (có ở tất cả các kiểu Nhà nước) Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào NSNN Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối
và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế
Trang 169
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng Ðiều này được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế
b, Điều tiết nền kinh tế
Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối với nền kinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải
mở rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế
để tác động một cách có hiệu qủa đến nền kinh tế Chính trong qúa trình đó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực
Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dự liệu trước vào trong quá trình huy động tập trung nguồn tài chính Bằng cách sử dụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu
đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà
Trang 1710
nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điểu tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới qúa trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẩn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội Mặc khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách qúa mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu qủa là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Ðó
là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định
1.1.2 Quản lý thuế
1.1.2.1 Khái niệm
Hoạt động quản lý Nhà nước đối với thuế là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (cơ quan thuế) tới các đối tượng quản lý (người nộp thuế) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN Do vậy:
Trang 1811
Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật
Quản lý thuế có vai trò bảo đảm cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội Chính sách thuế thường được thiết kế nhằm thực hiện những chức năng của thuế như điều tiết kinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trưởng của đất nước hay phân phối thu nhập nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Tuy nhiên, các mục tiêu này chỉ trở thành hiện thực nếu quản lý thuế thực hiện điều hành, giám sát tốt để ai là người nộp thuế thì phải nộp thuế và người nộp thuế phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN Vì vậy, có thể khẳng định quản lý thuế có vai trò quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế
1.1.2.2 Mục tiêu của quản lý thuế
Mục tiêu quản lý thuế bao gồm:
Một là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế; tạo điều kiện thuận
lợi cho người nộp thuế nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN và cơ quan quản
lý thuế kiểm tra thu đúng, thu đủ tiền thuế
Hai là, quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan
quản lý thuế và của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý thuế
Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ
ràng, minh bạch, dễ thực hiện, tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc thực hiện quản lý thuế
1.1.2.3 Nội dung quản lý thuế
Hiện nay, quản lý thuế phổ biến theo phương thức tự kê khai, tự nộp thuế Đây là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ vào các qui định tại các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế đúng thời hạn Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ Cơ quan thuế có trách nhiệm
Trang 1912
tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vị gian lận, trốn thuế của người nộp thuế
Mục đích của việc thực hiện cơ chế tự kê khai - tự nộp thuế là nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả và hiện đại hóa công tác quản lý thuế để cơ quan thuế có đủ năng lực thực hiện tốt các luật thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế vào NSNN, dựa trên cơ sở cơ quan thuế thực hiện được tốt việc tuyên truyền, hướng dẫn cho đối tượng nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế
Để thực hiện được tốt cơ chế tự khai - tự nộp thuế đòi hỏi phải có đầy đủ và đồng bộ nhiều yếu tố như: trình độ và sự nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế, chính sách thuế, tổ chức quản lý thuế, nghiệp vụ quản lý thuế, trình độ của cán bộ
và các thẩm quyền cần thiết của cơ quan thuế trong quản lý thuế
Người dân phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế, đối tượng nộp thuế có ý thức tuân thủ nghĩa vụ thuế, cộng đồng xã hội lên án những hành vi gian lận trốn thuế
Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như: thuế GTGT chỉ có
1 mức thuế suất, ít miễn giảm trong thuế TNDN , các qui định về kê khai, nộp thuế thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh doanh của đối tượng nộp thuế
Cơ quan thuế có đủ thẩm quyền về điều tra, khởi tố, cưỡng chế thuế để xử phạt nghiêm, kịp thời những trường hợp gian lận, trốn thuế, chây ỳ, nợ thuế, thu hồi
đủ tiền thuế cho NSNN và đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế
Bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp phải tổ chức tập trung theo các chức năng: tuyên truyền, hướng dẫn đối tượng nộp thuế; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế để nhằm chuyên môn hoá, nâng cao năng lực quản lý thuế ở từng chức năng
Trang 2013
Hệ thống xử phạt nghiêm khắc CQT có đủ thẩm quyền về điều tra, đủ điều kiện về cưỡng chế thuế để phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp gian lận, trốn thuế, chây ỳ nợ thuế, thu hồi đủ tiền thuế cho NSNN và đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế
Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động hiệu quả Người nộp thuế cần phải tin rằng các chương trình kiểm tra, thanh tra thuế hiệu quả đang tồn tại
Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại - kỹ thuật quản lý rủi ro, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tập trung phân bổ nguồn lực quản lý đối với các người nộp thuế không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi ro cao, có ảnh hưởng lớn đến nguồn thu NSNN
Để thực hiện được quản lý thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro, cơ quan thuế cần phải có:
Thứ nhất, thông tin đầy đủ và liên tục về đối tượng nộp thuế trong một
khoảng thời gian nhất định (ít nhất là 3 năm), gồm: thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh (vị trí, qui mô, cơ cấu tổ chức của công ty hoặc tập đoàn trên phạm vi cả nước hoặc trên toàn cầu, tình hình tài chính), về tình hình tuân thủ nghĩa vụ thuế Trên cơ sở các thông tin đó cơ quan thuế phân tích, phân loại đối tượng nộp thuế để xác định biện pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng: đối tượng nào cần tập trung tuyên truyền, hỗ trợ, hỗ trợ với hình thức nào là phù hợp; đối tượng nào cần tập trung kiểm tra, thanh tra nội dung gì, cách thức nào; đối tượng nào cần tăng cường thu nợ, kế hoạch, biện pháp nào
Thứ hai, các thông tin này phải đầy đủ, kịp thời và tin cậy, từ các nguồn: tờ
khai thuế, báo cáo tài chính của doanh nghiệp, thông tin từ các bên có liên quan (cơ quan quản lý đầu tư, ngân hàng, hải quan, hiệp hội ngành nghề kinh doanh ) trong
và ngoài nước
Thứ ba, các thông tin này phải được chuẩn hoá, thống nhất trong toàn ngành,
được quản lý tập trung ở trung ương và cơ quan thuế ở các cấp của địa phương đều
có thể cùng khai thác, sử dụng để vừa đáp ứng được yêu cầu lập kế hoạch, giám sát,
Trang 2114
chỉ đạo của cấp trung ương đối với hoạt động quản lý thuế của toàn ngành, cũng như hoạt động quản lý trực tiếp đối tượng nộp thuế của cơ quan thuế địa phương
Do đó, cần phải ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tập hợp, khai thác,
sử dụng thông tin về đối tượng nộp thuế và ở tất cả các hoạt động quản lý thuế của
cơ quan thuế Mặt khác, cán bộ thuế phải được đào tạo, có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện kỹ năng quản lý thuế chuyên sâu (tính chuyên nghiệp cao) theo từng chức năng quản lý
1.2 Công tác kiểm tra, thanh tra thuế
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu
1.2.1.1 Khái niệm
* Kiểm tra thuế
Theo Từ điển tiếng Việt thì “kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành kiểm tra đa dạng hơn thanh tra rất nhiều Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể
là một chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ ).Trên một bình diện rộng hơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế
để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội trong bất cứ hoạt động nào Theo nghĩa hẹp kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp trạng thái đã quy định trước Chủ thể kiểm tra có thể áp dụng một chế tài pháp
lý nhất định như áp dụng xử phạt VPHC hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính Khái niệm kiểm tra nằm trong khái niệm thanh tra “tổ chức thanh tra là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền trong việc kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước”, Pháp lệnh thanh tra năm 1990 cũng quy định: “Thanh tra Bộ, Ủy ban Nhà nước hướng dẫn, kiểm tra thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý ” [23, tr.504]
Từ sự phân tích trên, có t h ể đ ư a r a khái niệm: kiểm tra thuế là hoạt
Trang 2215
động xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét
và xử lý của cơ quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của người nộp thuế
và công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế
* Thanh tra thuế
Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare)
có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo Từ điển pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra” Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định-sự tác động có tính trực thuộc” Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra của Bộ” và “đặt trong phạm vi quyền hạn của chủ thể nhất định Như vậy thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước,
là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân” [23, tr.882]
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: thanh tra thuế là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế, kiểm tra, xem xét việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế được cơ quan thuế thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, chính sách thuế, pháp luật thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ
Trang 23Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế có sự đồng nhất là về bản chất và đều có mục đích, yêu cầu chung là xem xét, đánh giá việc tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật thuế (là đối tượng của kiểm tra, thanh tra) từ đó rút ra kết luận đúng, sai để có biện pháp phát huy hoặc chấn chỉnh
Tuy nhiên hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế có sự khác biệt:
Về nội dung: Nội dung kiểm tra thuế thường dễ dàng nhận thấy, ngược lại
nội dung thanh tra thuế thường đa dạng, phức tạp hơn (phân biệt này có tính tương đối)
Về trình độ nghiệp vụ: hoạt động thanh tra thuế đòi hỏi thanh tra viên thuế
phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu rộng về kinh tế xã hội, có khả năng chuyên sâu vào một lĩnh vực Hoạt động kiểm tra thuế ít phức tạp và chủ thể lại gồm đối tượng rộng, có tính quần chúng, phổ biến nên trình độ công chức kiểm tra thuế không nhất thiết phải đòi hỏi có nghiệp vụ cao
Phạm vi hoạt động: phạm vi hoạt động kiểm tra thuế thường theo bề
rộng, mang tính thường xuyên với nhiều hình thức phong phú Phạm vi hoạt động của thanh tra thuế thường có sự chọn lọc, đôi khi thông qua kiểm tra thuế thấy dấu hiệu phức tạp cần chọn ra những vấn đề để thanh tra
Thời gian tiến hành: hoạt động thanh tra thuế thường phải tiến hành trong
thời gian dài hơn
Thanh tra thuế mang tính pháp lý cao hơn, thể hiện quyền lực của Nhà nước mạnh hơn được quy định trong các văn bản pháp lý, việc thanh tra phải tiến hành theo thẩm định, trình tự, thủ tục chặt chẽ theo pháp luật (Luật thanh tra)
Trang 2417
Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Kiểm tra, thanh tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ
Kiểm tra, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế,chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế – xã hội Hiện nay, để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế đạt hiệu quả thì chức năng thanh, kiểm tra là một mắc xích vô cùng quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hành vi trốn thuế, gian lận về thuế
Kiểm tra, thanh tra thuế là một đòi hỏi bức thiết, là yêu cầu khách quan xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, thuế là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc kiểm soát,
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho NSNN Quá trình thực thi các luật thuế có nghiêm minh hay không sẽ ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sử dụng công cụ thuế Bởi vậy, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng, vai trò của thuế đối với nền kinh tế - xã hội
Thứ hai, luật thuế nói chung và pháp lệnh thuế nói riêng là sự thể hiện ý chí
và nguyện vọng của nhân dân Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thuế ở nước ta còn đang trong quá trình cải cách, chưa thật hoàn chỉnh, do vậy cần thiết phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm phát hiện những bất hợp lý, những sai sót trong hệ thống chính sách thuế để sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù
Trang 2518
hợp với thực tiễn, làm cho pháp luật luôn là công cụ có hiệu lực trong lãnh đạo, quản lý nhà nước
Thứ ba, trốn lậu thuế là một tồn tại không thể tránh khỏi trong bất kỳ một
nền kinh tế nào Ở nước ta, vấn đề này càng trở nên búc xúc, nhất là trong điều kiện thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp hiện nay, đề cao tính tự giác của người nộp thuế qua việc tự tính, tự khai, tự nộp Vì vậy, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế để ngăn chặn kịp thời các hành vi khai man, trốn lậu thuế, đảm bảo tính bình đẳng giữa những người nộp thuế Mặt khác, trong thực tiễn một số công chức thuế do hạn chế về trình độ chuyên môn hoặc do thái hóa, biến chất mà có những biểu hiện vi phạm pháp luật, gây thất thu ngân sách hoặc gây thiệt hại cho người nộp thuế Kiểm tra, thanh tra là nhằm phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa những sai phạm đó, để đảm bảo các luật thuế được thực thi một cách nghiêm minh
1.2.1.2 Mục tiêu
Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nhằm giúp các đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành
Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực
Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, thanh tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực
tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn
Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ Thông qua công tác thanh tra nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những hành vị tiêu cực, tham nhũng phát sinh, để xây dựng cơ quan thuế trong sạch
Trang 26Trong quá trình kiểm tra, thanh tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo tính đúng đắn khách quan, công khai, dân chủ, khi kết luận một vấn đề phải có chứng lý, không được suy diễn Việc tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế phải thực hiện theo kế hoạch và nội dung đề cương được duyệt
Trong khi kiểm tra, thanh tra thuế phải tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quần chúng, phát huy dân chủ động viên tham gia cung cấp tài liệu số liệu thông tin cho đoàn
Nghiêm cấm cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra thuế cố ý làm sai lệch nội dung vụ việc hoặc mở rộng nội dung, phạm vi thanh tra, kiểm tra; lợi dụng quyền hạn để sách nhiễu gây phiền hà cho đơn vị, bao che người vi phạm hoặc truy
ép đơn vị trong việc giải trình, trả lời chất vấn
Căn cứ vào mục đích của từng cuộc kiểm tra, thanh tra thuế đòi hỏi người ra quyết định thành lập đoàn thanh tra phải cử đúng những người có trình độ kỹ năng nghiệp vụ phù hợp
1.2.2 Quy trình kiểm tra, thanh tra
Từng nội dung công việc trong công tác kiểm tra, thanh tra theo kỹ thuật quản lý rủi ro đều được quy trình hoá Quy định cụ thể từng bước công việc gắn với trách nhiệm của từng bộ phận, từng cán bộ trong các quy trình Quy trình kiểm tra, thanh tra theo kỹ thuật quản lý rủi ro gồm: quy trình nhập, chuyển đổi dữ liệu đầu vào; quy trình phân tích, nhận dạng, xếp hạng rủi ro; quy trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm tra, thanh tra; quy trình báo cáo và thẩm định kết quả thanh tra, kiểm tra Nói chung tất cả các quy trình thanh tra, kiểm tra theo kỹ thuật mới từng bước được công nghệ hoá theo yêu cầu hiện đại hoá công tác quản lý thuế
Trang 2720
Kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế là phương pháp tiếp cận mới, đòi hỏi kỹ năng phân tích hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp rất cao với sự hỗ trợ chủ yếu của công nghệ và kỹ thuật máy tính Do vậy sự thành công của công tác cải cách và hiện đại hoá công tác kiểm tra, thanh tra thuế không chỉ phụ thuộc vào việc thay đổi nhận thức, việc trang bị công nghệ máy tính hiện đại mà quan trọng hơn là phải trang bị kỹ năng phân tích rủi ro, kiến thức chuyên sâu về phân tích kinh tế ngành, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp cho lực lượng cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra trong toàn ngành để từng bước chuyển đổi toàn bộ hoạt động thanh tra, kiểm tra của ngành sang cơ chế thanh tra, kiểm tra theo kỹ thuật quản lý rủi ro
Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế là các trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, một chương trình kiểm tra, thanh tra hay một kế hoạch kiểm tra, thanh tra cụ thể như sau:
1.2.2.1 Quy trình thanh tra thuế
Bước 1, lập kế hoạch thanh tra
Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về NNT để đánh giá, phân tích để lựa
chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra Các trường hợp thanh tra đột xuất không phải lập kế hoạch: Qua kiểm tra người nộp thuế, Bộ phận kiểm tra thuế đề nghị
chuyển sang hình thức thanh tra; Thanh tra NNT theo đơn tố cáo; Thanh tra NNT theo chỉ đạo của Thủ trưởng CQT hoặc theo chỉ đạo của Thủ trưởng CQT cấp trên
Bước 2, tổ chức thanh tra tại trụ sở NNT
Thực hiện thanh tra theo các nội dung trong Quyết định thanh tra: Trưởng
đoàn thanh tra và các thành viên đoàn thanh tra được quyền yêu cầu NNT cung cấp
và tiếp nhận các tài liệu, chứng từ kế toán; sổ sách kế toán; các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính; báo cáo giải trình liên quan đến nội dung thanh tra
Kết thúc từng nội dung thanh tra, từng thành viên phải lập Biên bản xác nhận
số liệu thanh tra với người được NNT uỷ quyền làm việc với đoàn thanh tra
Trang 2821
Trưởng đoàn thanh tra có quyền thực hiện một số biện pháp trong quá trình thực hiện thanh tra: Quyết định niêm phong một phần hoặc toàn bộ tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra để đảm bảo nguyên trạng tài liệu Kiểm kê tài sản khi phát hiện giữa sổ sách, chứng từ kế toán với thực tế có sự chênh lệch, bất hợp lý
Bước 3, xử lý kết quả sau thanh tra
Chậm nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo kết quả thanh tra; dự thảo kết luận thanh tra; dự thảo Quyết định xử lý truy thu thuế; dự thảo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế để báo cáo Lãnh đạo bộ phận thanh tra trình Thủ trưởng Cơ quan Thuế Trường hợp không phải xử lý truy thu về thuế; không phải xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì Thủ trưởng CQT chỉ ký kết luận thanh tra thuế
1.2.2.2 Quy trình kiểm tra thuế
Bước 1, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT
Thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế.Lựa chọn cơ sở kinh doanh để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế, Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra
hồ sơ khai thuế
Nội dung kiểm tra hồ sơ thuế: Kiểm tra việc ghi chép phản ánh các chỉ tiêu trong hồ sơ khai thuế Trường hợp phát hiện người nộp thuế không ghi chép, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu trong hồ sơ khai thuế, cán bộ kiểm tra thuế phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thuế ra thông báo yêu cầu người nộp thuế bổ sung các chỉ tiêu chưa phản ánh trong hồ sơ khai thuế; Kiểm tra các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp; số tiền thuế được miễn, giảm; số tiền hoàn thuế
Bước 2, kiểm tra tại trụ sở NNT
Lập biên bản kiểm tra gồm các nội dung chính như sau: Các căn cứ pháp lý
để thiết lập biên bản; Mô tả diễn biến của sự việc theo nội dung đã kiểm tra Nêu kết quả số liệu của Đoàn kiểm tra so với số liệu kê khai, báo cáo của người nộp thuế; giải thích lý do, nguyên nhân có sự chênh lệch; Kết luận từng nội dung đã tiến
Trang 29xử lý truy thu về thuế; xử phạt vi phạm hành chính về thuế Trường hợp không phải
xử lý truy thu về thuế; không phải xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký biên bản kiểm tra, Thủ trưởng cơ quan Thuế phải ký kết luận kiểm tra thuế
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến họat động kiểm tra, thanh tra thuế
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến họat động kiểm tra, thanh tra thuế Mỗi nhân
tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó
1.2.3.1 Chính sách chung của Nhà nước
Một chính sách thuế được cho là công bằng, nếu không có biện pháp quản lý khả thi tất yếu sẽ dẫn tới bất công trong thực tế Để bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp ngay từ đầu, đòi hỏi các nhà soạn thảo luật giải trình biện pháp và Quốc hội chỉ thông qua từng chính sách khi biện pháp được giải trình có tính khả thi, trả lời được rõ ràng, cụ thể và có sức thuyết phục những câu hỏi còn vướng mắt khi áp dụng chính sách thuế Tính thuế thế nào? Chẵng hạn như: - Theo luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế từ kinh doanh của hộ nhỏ được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí Như vậy đối với các hộ nhỏ trước nay vẫn thu Thuế Giá trị gia tăng và Thuế Thu nhập doanh nghiệp bằng cách khoán thì cách tính doanh thu và chi phí những hộ này thế nào? Cách quyết toán và hoàn thuế như thế nào để bảo đảm đơn giản về thủ tục mà lại không thất thu, giải quyết nhanh gọn, không phiền hà cho người nộp thuế Có chính sách phân biệt và cách phân biệt nhà
Trang 3023
đầu tư dài hạn và nhà đầu tư ngắn hạn? - Luật quy định thu nhập chịu thuế chuyển nhượng bất động sản tính bằng cách lấy giá bán trừ giá mua hay chi phí tạo lập Cách tính giá bán và giá mua hay chi phí tạo lập như thế nào, đặc biệt là đối với những bất động sản tạo lập đã lâu đời? Vậy thủ tục cụ thể thế nào cho vừa đơn giản, không gây phiền hà, vừa chống man khai hoặc tạo được lòng tin rằng không có khai man Đó là những câu hỏi trong nhiều câu hỏi của cuộc sống cần phải giải đáp bằng những biện pháp khả thi với những lý lẽ thuyết phục Có vậy chính sách mới có tính khả thi Và để trả lời được, các biện pháp cần được nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn nữa Do đó thời gian nghiên cứu của các cơ quan soạn thảo luật và cả của Quốc hội cần phải kéo dài hơn
1.2.3.2 Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác kiểm tra, thanh tra thuế Những quy định trong chính sách về diện thu thuế, phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Cũng như vậy, sự phát triển của ứng dụng các tiến bộ khoa học về tin học và mạng sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí
1.2.3.3 Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo, cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản
lý thuế, đặc biệt là công tác kiểm tra, thanh tra thuế Nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công tác quản lý thuế, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới kiểm tra, thanh tra thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao, ở tầm hoạch định chính sách cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến ngành thuế
Trang 3124
1.2.3.4 Tính nghiêm minh của luật pháp
Cơ quan luật pháp làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc vi phạm luật giảm đi Các đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong Luật thuế bởi
họ biết rằng khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát hiện Như vậy, công tác quản lý thuế nói chung và công tác kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng sẽ đạt được hiệu quả
1.2.3.5 Tình hình kinh tế, mức sống và trình độ dân trí của NNT
Hiệu quả của công tác quản lý thuế nói chung, công tác kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng phụ thuộc không nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và
số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao Sự phát triển kinh
tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý thuế nói chung và công tác kiểm tra, thanh tra nói riêng, khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn Trình độ của người dân tác động mạnh mẽ đến ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, tỉ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra Chính vì vậy, công tác quản lý thu thuế và kiểm tra, thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Tóm lại, trình độ dân trí của người dân càng cao thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT càng lớn, đồng thời nó cũng ảnh hưởng một phần tới công tác kiểm tra, thanh tra thuế
1.2.4 Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế
Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế, nhóm phân tích phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính thông tin, các
Trang 3225
nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua )
Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm: Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn ; Kiểm tra đối chiếu tài liệu,
hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quí, năm; tờ khai thuế GTGT, bản xác định số thuế TNDN tạm nộp theo quí, tờ khai thuế TNDN tự quyết toán năm và các tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra; Kiểm tra việc mở sổ sách
và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu,
hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế,
cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế
Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở NNT gồm các nội dung sau: Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra thuế; Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán,
số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán Nhà nước ban hành ) Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra, hồ sơ chứng lý được coi là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: Các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi
Trang 3326
lại những việc làm sai của DN (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu ) Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giám định
Kiểm tra, thanh tra người nộp thuế là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của công tác kiểm tra, thanh tra thuế Theo quy định của pháp luật, người nộp thuế phải thực hiện đầy đủ việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chế độ hạch toán kế toán, hoá đơn, chứng từ…Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều đối tượng vi phạm các quy định trên, vì vậy phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế nhất là theo cơ chế tự khai tự nộp thuế, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi sai phạm
1.2.5 Phương pháp kiểm tra, thanh tra thuế
Kiểm tra, thanh tra là một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý rủi
ro về thuế Hơn thế nữa, yêu cầu của cải cách và hiện đại hoá công tác kiểm tra, thanh tra thuế là phải đổi mới cách thức, phương pháp và quy trình quản lý rủi ro về
thuế dưới sự hỗ trợ của công nghệ máy tính Nói cách khác, kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế là những cách thức, phương pháp,công nghệ
và quy trình quản lý rủi ro được áp dụng trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế 1.2.5.1 Rủi ro và phân loại rủi ro
Để quản lý rủi ro, người ta thường phân loại rủi ro theo các cách thức khác
nhau Phân theo hình thức rủi ro: có loại rủi ro từ chính sách thuế, từ thủ tục hành
chính thuế, từ đối tượng nộp thuế, từ cán bộ thuế; hoặc loại rủi ro từ cấp mã số thuế,
từ kê khai thuế, từ hoàn thuế, miễn giảm thuế Phân theo mức độ rủi ro: có loại rủi
ro cao, rủi ro vừa, rủi ro thấp, loại không đáng kể Phân theo mức độ tuân thủ: đối
tượng tuân thủ thấp thì rủi ro cao và ngược lại đối tượng tuân thủ cao thì rủi ro thấp
Phân loại rủi ro theo đối tượng nộp thuế: theo quy mô có rủi ro từ doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá nhân không kinh doanh; theo loại hình doanh nghiệp có rủi ro từ doanh nghiệp nhà nước, từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, từ
Trang 3427
doanh nghiệp ngoài quốc doanh; theo ngành kinh tế có rủi ro từ ngành điện, ngành than, ngành xây dựng, ngành cơ khí Tuy nhiên, theo cách thức tiếp cận hiện đại thì rủi ro trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế được phân loại theo 4 tiêu thức chuẩn tắc sau đây:
- Rủi ro tiềm tàng (còn gọi là rủi ro cố hữu – IR): là rủi ro tiềm ẩn có khả năng xảy ra trong một môi trường nhất định Chẳng hạn ngành xây dựng luôn tiềm
ẩn rủi ro tạo ra các báo cáo tài chính gian lận; và nếu hoạt động xây dựng trong môi trường thanh toán bằng tiền mặt khả năng xảy ra rủi ro cao hơn so với hoạt động xây dựng trong môi trường thanh toán qua ngân hàng Để nhận dạng rủi ro tiềm tàng người ta thường đưa ra những định mức kinh tế, kỹ thuật của một ngành; trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó không đảm bảo định mức thì nguy cơ rủi ro có khả năng xảy ra
- Rủi ro kiểm soát (CR): là rủi ro về khả năng kiểm soát tại chỗ không chặt chẽ nên không ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra Chẳng hạn sự phân định nhiệm vụ không rõ ràng giữa các nhân viên kế toán của một Công ty sẽ không ngăn ngừa được việc chuẩn bị các báo cáo tài chính gian lận
- Rủi ro phát hiện (DR): là rủi ro mà kiểm tra, thanh tra thuế sẽ không phát hiện được qua các báo cáo tài chính gian lận
- Rủi ro kiểm tra, thanh tra (AR): là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận được chấp nhận như các báo cáo tài chính trung thực
Mỗi loại rủi ro được biểu hiện như một tỷ lệ phần trăm về khả năng xảy ra Các loại rủi ro nêu trên, có mối quan hệ về toán học như sau:
AR = IR X CR X DR
Như vậy, rủi ro kiểm tra, thanh tra là một chuỗi rủi ro với các nhân tử từ rủi
ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện mà trong quá trình kiểm tra, thanh tra người nộp thuế không được phát hiện
1.2.5.2 Phương pháp kiểm tra, thanh tra rủi ro
Trang 3528
Thường được tiến hành theo trình tự các bước sau:
Trước hết sử dụng các phương pháp phân tích để phát hiện và nhận dạng rủi
ro từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp:
Phân tích theo chiều ngang: là phân tích diễn biến của từng chỉ tiêu (theo số
tuyệt đối hoặc theo tỷ lệ) trong bản cân đối kế toán, báo cáo thu nhập qua một số năm (thường là từ 3 đến 5 năm) Sự phân tích này cho thấy xu hướng biến đổi của từng chỉ tiêu qua các năm Từ đó phát hiện những bất hợp lý hoặc những bất thường trong từng chỉ tiêu liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có nguy cơ xảy ra rủi ro về thuế
Phân tích theo chiều dọc: là sự phân tích diễn biến của mỗi chỉ tiêu trong bản
cân đối kế toán bằng tỷ lệ % trên tổng tài sản và diễn biến của mỗi chỉ tiêu trong báo cáo thu nhập bằng tỷ lệ % trên doanh thu Phân tích theo chiều dọc có thể sử dụng cho một năm (biểu hiện quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu trong năm), có thể sử dụng cho một giai đoạn nhiều năm (biểu hiện xu hướng chuyển dịch cơ cấu giữa các chỉ tiêu qua các năm) Qua phân tích xu hướng biến đổi cơ cấu trong nhiều năm
có thể xác định được các thay đổi căn bản trong xu thế, các bất hợp lý trong cơ cấu, trong từng chỉ tiêu liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có nguy cơ xảy ra rủi ro về thuế
Phân tích tỷ suất là phân tích mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều mục trong báo
cáo tài chính Tỷ suất tài chính thường được phản ánh bằng tỷ lệ phần trăm hoặc số lần Tỷ suất thường rất có ích khi so sánh chính người nộp thuế này qua các thời kỳ khác nhau hoặc so sánh cùng thời kỳ với các người nộp thuế khác hoặc số liệu chuẩn của ngành Các tỷ suất thường được áp dụng: Các hệ số thanh khoản (đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của công ty); Các tỷ suất sinh lời (đo lường khả năng quản lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận đối với các nguồn lực dành cho kinh doanh); Các tỷ suất đòn bẩy (đo lường mức độ bảo hộ của việc cung cấp nguồn tài chính dài hạn và cũng là công cụ trợ giúp cho việc đánh giá khả năng của công ty trong việc huy động các khoản vay nợ bổ sung và năng lực trả nợ kịp
Trang 3629
thời của công ty); Các tỷ suất hiệu quả (cung cấp thông tin về khả năng quản lý
trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận từ các nguồn lực dành cho kinh doanh); các
tỷ suất về thuế (cung cấp thông tin về tình hình chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp)
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích đồ thị (đồ thị hình sin, đồ thị
hình khối, đồ thị hình tròn) để phân tích sự biến đổi của các chỉ tiêu theo số tuyệt đối và số tương đối và sự biến đổi của cơ cấu theo tỷ lệ Từ đó nhận dạng các rủi ro
về thuế có khả năng xảy ra
Thứ hai là xếp hạng rủi ro: Sau khi phân tích và nhận dạng rủi ro, tiến hành
xếp hạng rủi ro tổng thể và rủi ro từng hồ sơ doanh nghiệp:
Rủi ro tổng thể được xếp hạng theo nhóm gồm: Nhóm có rủi ro cao là các
doanh nghiệp có một số chỉ tiêu phân tích biến đổi bất thường, hoặc lỗ kinh doanh
và lỗ chuyển nhượng tài sản cao, hoặc tỷ trọng giao dịch giữa các bên liên kết cao, giá trị giao dịch lớn, đột biến, nhất là giao dịch quốc tế, hoặc có nhiều lần thay đổi
về cơ cấu tổ chức Nhóm có rủi ro trung bình là các doanh nghiệp có một số chỉ
tiêu phân tích bất hợp lý nhưng không có sự biến đổi lớn, hoặc số lỗ chuyển sang kỳ sau không lớn, hoặc các giao dịch giữa các bên liên kết có giá trị không cao, hoặc
doanh nghiệp được mua lại, sát nhập Nhóm có rủi ro thấp là những doanh nghiệp
không có sự biến động bất thường từ các chỉ tiêu phân tích, hoặc các giao dịch giữa các bên liên kết có giá trị thấp, hoặc số lỗ chuyển sang kỳ sau ít
Rủi ro theo từng hồ sơ: Xếp hạng từng hồ sơ doanh nghiệp với những vi phạm rủi ro cụ thể, chi tiết theo mức độ rủi ro, loại rủi ro và tính chất rủi ro làm cơ
sở cho việc kiểm tra ban đầu các rủi ro phát hiện
Thứ ba kiểm tra rủi ro: Các doanh nghiệp được xếp vào các nhóm rủi ro đều
phải tiến hành kiểm tra chi tiết các rủi ro đã phát hiện tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn) trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin để đánh giá tính xác thực và mức độ của các rủi ro Đặc biệt các doanh nghiệp đã được xếp loại vào đối tượng có độ rủi
ro cao phải được tiến hành kiểm tra ở mức độ chi tiết, cụ thể hơn các rủi ro đã phát
Trang 3730
hiện qua bước phân tích Thanh tra, kiểm tra phải tiến hành thu thập các thông tin, tài liệu liên quan trực tiếp đến rủi ro phát hiện như: các hợp đồng, các chứng từ giao dịch, các thông tin về bảo hiểm xã hội, về giao dịch ngân hàng và các tổ chức tín dụng, về xuất nhập khẩu Từ đó kiểm tra xác định mức độ của từng rủi ro và định lượng từng rủi ro để tiến hành các phương án xử lý trên cơ sở nguồn lực sẵn có
Thứ tư lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra rủi ro tại doanh nghiệp: Các doanh
nghiệp đã xác định được các rủi ro và định lượng được mức độ rủi ro cao hoặc trung bình đều phải đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra Các nhóm phân tích tiếp tục tiến hành phân tích đánh giá tính xác thực và mức độ của các rủi ro đối với các doanh nghiệp đã lập kế hoạch trên cơ sở các thông tin tài liệu thu thập được từ bên ngoài hoặc trực tiếp làm việc với doanh nghiệp tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn) Đối với các doanh nghiệp không giải trình được các nghi vấn trên thì tiến hành thanh tra, kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp
1.2.5.3 Công nghệ kiểm tra, thanh tra
Tất cả các công việc từ phân tích nhận dạng rủi ro, xếp hạng rủi ro, kiểm tra rủi ro đến việc thanh tra, kiểm tra rủi ro tại doanh nghiệp đều phải có sự hỗ trợ của công nghệ máy tính Thực tế cho thấy, mức độ thành công của công tác kiểm tra, thanh tra theo kỹ thuật rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào mức độ ứng dụng công nghệ máy tính hỗ trợ cho công tác kiểm tra, thanh tra Các ứng dụng tin học hỗ trợ đều được xây dựng theo kiến trúc tin học dạng mở; tức hệ thống tin học cung cấp cơ sở
dữ liệu tích hợp và các ứng dụng cơ bản làm công cụ tính toán và phân tích dữ liệu Các ứng dụng hỗ trợ đều được xây dựng trên yêu cầu nghiệp vụ và kỹ thuật thanh tra, kiểm tra Ứng dụng tin học hỗ trợ công tác kiểm tra, thanh tra thường gồm 3 phần: Ứng dụng chuyển đổi dữ liệu đầu vào – có các phần mềm cơ sở AutoImport, Monarch, Link and Load, Software Bridge cho phép chuyển đổi dữ liệu đầu vào
mà không bị sai lệch; Ứng dụng phân tích rủi ro – có các phần mềm cơ sở SAS, IDEA, ACL, Excel, Access, ASCII sử dụng toán kinh tế và thống kê vào ứng dụng trong phân tích kinh tế, tài chính; Ứng dụng về truy tìm hoặc khôi phục chứng
Trang 381.3.1 Về mô hình tổ chứ, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm tra, thanh tra thuế
Hầu hết các nước đều có hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắn với mô hình tổ chức cơ quan thuế (Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh ) Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chức, chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục thuế vùng, tỉnh) Tại các quốc gia có tổ chức bộ phận thanh tra cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra
Hoạt động thanh tra nội bộ tại một số quốc gia được tách ra khỏi hoạt động thanh tra và được thành lập tại cấp trung ương như Mỹ, Hàn Quốc, Anh, Singapore Hoạt động thanh tra ĐTNT được chuyên môn hoá cao Các phòng thanh tra tại cơ quan thuế được tổ chức với chức năng chuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh tra chịu trách nhiệm thu thập, xử lý phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng Thanh tra thực hiện thanh tra và xác định thuế Phòng thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích ở những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm (Hàn Quốc, Anh) Hầu hết các cơ quan thuế các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộ phận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương
1.3.2 Công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ kiểm tra, thanh tra
Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thường phải đào tạo qua Đại học Riêng Anh yêu cầu phải có 2 bằng đại học (1 bằng đại học Kinh tế hoặc đại học Thuế và 1 bằng đại học Luật) Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần phải có gồm: có kiến thức chuyên sâu về thuế, có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mối liên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế, có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế, có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp
Trang 3932
lực công việc, có kiến thức thành thạo về sử dụng máy tính (bao gồm kiến thức cơ bản về hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụng cho thanh tra), có khả năng giao tiếp ngoại ngữ
Ngoài việc tuyển chọn các nước còn chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức thuế Nhiều trung tâm được đầu tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc khu vực như Trung tâm đào tạo của Nhật Bản, Malaysia, Pháp thanh tra viên khi mới được tuyển dụng đều được dự các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo cơ bản
1.3.3 Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm
Công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm được tập trung thống nhất theo chỉ đạo cấp trung ương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tra giữa ngành nghề Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh thông thường kế hoạch thanh tra thuế được xây dựng theo cơ cấu: 40% do cơ quan thuế trung ương xây dựng, 10% lựa chọn ngẫu nhiên, 50% do Cục thuế và Chi cục thuế xây dựng, Về kiểm soát chất lượng thanh tra
Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực thanh tra để kiểm soát chất lượng thanh tra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đều bao gồm các nhóm chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực 1: Kế hoạch thanh tra
- Chuẩn mực 2: Bằng chứng thanh tra và thu thập bằng chứng thanh tra
- Chuẩn mực 3: Kết luận, kiến nghị thanh tra
- Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo thanh tra
Theo qui mô và tích chất của từng vụ thanh tra, cơ quan thuế có thể thành lập các bộ phận riêng chịu trách nhiệm rà soát kết quả thanh tra theo các chuẩn mực trên trước khi ban hành quyết định cuối cùng hoặc có thể đưa vào quy trình thanh tra nội bộ Ví dụ, tại úc, Malaysia và Trung Quốc, các thanh tra cao cấp hoặc trưởng phòng thanh tra có nhiệm vụ rà soát lại toàn bộ các kết quả thanh tra tại cơ sở có liên quan đến giao dịch quốc tế hoặc các vụ việc lớn trước khi gửi kết quả chính thức cho ĐTNT
Trang 4033
1.3.4 Về chiến lược xử lý rủi ro
Các nước đều xây dựng chiến lược xử lý rủi ro theo hướng ưu tiên giải quyết các rủi ro ở mức cao (là những rủi ro không thể chấp nhận được) và giải quyết các rủi ro ở mức thấp tuỳ theo nguồn lực cho phép (ví dụ: có thể lựa chọn rủi ro ở mức thấp bằng phương pháp ngẫu nhiên để đánh giá khả năng kiểm soát hoặc “tích luỹ” các rủi ro này để giải quyết trong tương lai) Phạm vi xem xét, phân tích khi nhận dạng rủi ro bao gồm cả những thông tin được thể hiện ở cấp “vĩ mô” như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành nghề và các tác động của chính sách kinh tế, thương mại và đầu tư
1.3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, thanh tra thuế
Nhóm các nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận “Thanh tra máy tính” (Thanh tra tin học, thanh tra thuế bằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệu của ĐTNT để xác định rõ số liệu thực
về sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử
*Kết luận chương 1
Trong hoạt động quản lý Nhà nước của cơ quan thuế, kiểm tra, thanh tra thuế
là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động này Hoạt động quản lý của cơ quan thuế bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế, việc thực hiện đó như thế nào để từ đó tác động ngược trở lại từ khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thuế đạt được hiệu quả cao
Kinh nghiệm quốc tế về kiểm tra, thanh tra thuế cho thấy công tác này cần phải thiết lập được bộ máy và mạng lưới kiểm tra, thanh tra hiệu quả; Nguồn nhân lực đảm nhiệm có chất lượng cao; Có chiến lược quản lý rủi ro thuế và cần ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại