Nếu chuyển nguồn thì chuyển nguồn kinh phí có đúng quy định không, quyết toán ngân sách có đúng thời hạn, mẫu biểu không… - Theo tác giả đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tấn Lượng “Hoà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÚ THU CỦA KIỂM TOÁN
NHÀ NƯỚC KHU VỰC 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÚ THU CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC 1
Chuyên ngành: Tài chính và ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG ĐỨC SƠN
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 5
1.1 Đặc điểm quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu 5
1.1.1 Đơn vị sự nghiệp có thu 5
1.1.2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu trong hệ thống NSNN 6
1.1.3 Đặc điểm về cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu 8
1.1.4 Xu hướng đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu 15
1.2 Vai trò của KTNN 18
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của KTNN khu vực trong nhiệm vụ kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu 18
1.2.2 Chất lượng hoạt động KTNN 22
1.3 Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 24
1.3.1 Nội dung và phương pháp kiểm toán 24
1.3.2 Đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm toán 25
1.3.3 Nâng cao giá trị pháp lý của Báo cáo kiểm toán 26
1.3.4 Đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 27
2.1 Thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu 27
2.1.1 Tình hình quản lý, khai thác và sử dụng các khoản thu phí, lệ phí và các khoản thu khác tại các đơn vị sự nghiệp hiện nay 27
2.1.2 Tình hình chế độ thu – nộp, ghi thu ghi chi NSNN 43
Trang 42.1.3 Những bất cập trong cơ chế, chính sách ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu 45
2.2 Thực trạng hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu 51
2.2.1 Phạm vi, đối tượng và nội dung kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp
có thu 51 2.2.2 Các phương pháp kiểm toán đơn vị sự nghiệp có thu hiện nay 58 2.2.3 Chu trình, quy định kiểm toán nghiệp vụ thu 65 2.2.4 Năng lực, trình độ của kiểm toán viên đối với kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu 67 2.2.5 Một số kết quả đạt được khi kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu 70
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 753.1 Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động các đơn vị sự
nghiệp có thu 75
3.1.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý và giải quyết các bất cập trong cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu 77 3.1.2 Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ tại đơn vị sự nghiệp có thu 80
3.2 Tăng cường sự phối hợp của KTNN và các cơ quan chuyên môn 833.3 Hoàn thiện các vấn đề về nội dung kiểm toán, phạm vi kiểm toán 84
3.3.1 Đổi mới phương pháp kiểm toán 86 3.3.2 Nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức hành nghề của kiểm toán viên và tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động kiểm toán 86 3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện kiến nghị của KTNN 87 3.3.4 Một số giải pháp khác 88
KẾT LUẬN 90TÀI LIỆU THAM KHẢO………91 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu viết tắt Nguyên nghĩa
1 KTNN Kiểm toán Nhà nước
2 NSNN Ngân sách Nhà nước
3 NSĐP Ngân sách địa phương
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán 56
2 Biểu đồ 2.2 Mức độ đáp ứng về nội dung, mục tiêu kiểm toán 70
3 Biểu đồ 2.3 Các nội dung thường sảy ra sai phạm 71
4 Biểu đồ 2.4 Các kiến nghị xử lý vi phạm chủ yếu 73
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực luôn là vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia, điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau trong kiểm tra, kiểm soát tài chính Nhà nước mà trọng tâm là Ngân sách Nhà nước (NSNN) Trong đó Kiểm toán ngân sách địa phương (NSĐP)
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của KTNN khu vực, kiểm toán NSĐP đã từng bước góp phần quan trọng trong việc chấn chỉnh và nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính, quản lý và sử dụng NSNN và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia
NSĐP được quản lý theo nguyên tắc tự cân đối điều đó có nghĩa NSĐP phải có nguồn thu để đảm bảo cho các nhiệm vụ chi Trong các nguồn thu của NSĐP thì thu từ các đơn vị sự nghiệp có thu là nguồn thu khá ổn định và chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng thu NSĐP Đặc điểm này cho thấy kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu là một trong những trọng tâm trong hoạt động kiểm toán NSNN tại các địa phương
Tuy KTNN đã ban hành quy trình kiểm toán NSNN và các KTNN khu vực cũng đã kiểm toán nhiều đơn vị sự nghiệp có thu ở những lĩnh vực khác nhau nhưng việc tổng kết rút kinh nghiệm, đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm toán thu sự nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm huy động được đầy đủ nguồn thu NSNN cho các địa phương là một yêu cầu đặt ra đối với KTNN khu vực I
Do vậy việc nghiên cứu, đánh giá và nêu thực trạng về hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán và đảm bảo nguồn thu được phản ánh đầy đủ tại các địa phương là một yêu cầu đặt ra đối với KTNN các khu vực I Đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 1” cố gắng đưa ra
Trang 8những phác họa ban đầu nhằm định hướng cho các Đoàn kiểm toán NSĐP tổ chức kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu đạt kết quả tốt
2 Tình hình nghiên cứu:
- Đề tài luận văn thạc sỹ của Trần Hồng Hà “Quản lý tài chính các đơn
vị sự nghiệp có thu tại tỉnh Bình Thuận” Tác giả cho biết sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu nhằm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, sử dụng tiết kiệm kinh phí hành chính tăng cường hiệu quả dịch vụ công, sắp xếp biên chế theo hướng tinh giản bộ máy để nâng cao hiệu quả công việc, tăng thu nhập cho người lao động
- Theo tiến sỹ Nguyễn Phú Giang (Đại học Thương mại) với đề tài
“Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp và những vấn đề đặt ra hiện nay” Tác giả
đã trình bày quy trình quản lý tài chính gồm lập dự toán ngân sách, thực hiện
dự toán, quyết toán ngân sách Qua đó có thể kiểm tra được công tác lập dự toán, tình hình sử dụng kinh phí, quyết toán kinh phí của đơn vị có đúng quy định không, kinh phí tiết kiệm được đơn vị có đảm bảo sử dụng đúng nội dung và quy định không Nếu chuyển nguồn thì chuyển nguồn kinh phí có đúng quy định không, quyết toán ngân sách có đúng thời hạn, mẫu biểu không…
- Theo tác giả đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tấn Lượng “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để đổi mới thì Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý hoàn chỉnh để giúp các trường đại học nói riêng và đơn vị sự nghiệp nói chung chủ động trong quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, đồng thời cần tăng cường quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
- Theo tác giả đề tài nghiên cứu của Trịnh Ngọc Sơn “Hoàn thiện quy trình kiểm toán chi ngân sách đối với đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện
Trang 9khoán chi” đã nêu các tồn tại trong cơ chế và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện quy trình kiểm toán
Các công trình, bài viết nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề chung về công tác quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, nguyên nhân dẫn đến quản lý tài chính kém hiệu quả, và nêu ra một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính Tuy nhiên, một số đề tài nghiên cứu đã không còn tính chất thời sự do năm nghiên cứu là trước năm
2011, nhiều văn bản áp dụng đã thay đổi và chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 1 Vì vậy, việc nghiên cứu, nêu thực trạng và đánh giá về hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực 1 để tìm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán là hết sức cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày những vấn đề chung về hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu
Nghiên cứu về đặc điểm quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu trong hệ thống NSNN
Đánh giá thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu và thực trạng kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu trong các cuộc kiểm toán NSĐP trong thời gian qua
Trên cơ sở đánh giá về thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
có thu và thực trạng kiểm toán, đề tài đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu sự nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp có thu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu đối tượng là kiểm toán hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc NSĐP Không đề cập đến các đơn vị sự nghiệp có thu do cơ quan trung ương quản lý
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài vận dụng phương pháp khảo sát điều tra, thu thập thông tin và sử dụng bảng hỏi để thu thập số liệu thực tế
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:
Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được chia thành 03 chương
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu
Trang 11CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.1 Đặc điểm quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu
1.1.1 Đơn vị sự nghiệp có thu
1.1.1.1 Khái niệm:
Ở nước ta, trong bộ máy hành chính Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp nói chung và các đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở cả trung ương và địa phương đã
có những đóng góp to lớn cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi các chương trình, mục tiêu lớn của Đảng
và Nhà nước trong xây dựng và phát triển đất nước
Đơn vị sự nghiệp có thu định nghĩa một cách ngắn gọn là những đơn vị
sự nghiệp do các cơ quan Nhà nước, các Tổng công ty, các Tổ chức chính trị, các Tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền thành lập, hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và có nguồn thu hợp pháp hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và Dạy nghề; sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xã hội; sự nghiệp Văn hoá - Thông tin (bao gồm cả đơn vị phát thanh truyền hình ở địa phương), sự nghiệp Thể dục- Thể thao, sự nghiệp kinh tế và
- Hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho cộng đồng xã hội;
- Là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán riêng;
- Có nguồn thu hợp pháp
Trang 121.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu:
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp
tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp
Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét điều chỉnh phân loại lại cho phù hợp
1.1.2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu trong hệ thống NSNN
Các đơn vị sự nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng là một trong những phương tiện hữu hiệu của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Do
đó hoạt động của các đơn vị này dù muốn hay không thì Nhà nước phải duy trì để thực hiện nhiệm vụ của mình, có nghĩa là NSNN phải đảm bảo kinh phí hoạt động cho các đơn vị này Mặt khác hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
có thu lại thường gắn liền với các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNN Điều này cho thấy các đơn vị sự nghiệp có thu có vai trò quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu và đảm bảo cân đối ngân sách
Trang 13Trong thời kỳ bao cấp do chưa phân định rõ trách nhiệm quản lý thu, chi và chưa có cơ chế tài chính hợp lý nhằm khuyến khích các đơn vị này tăng thu, bảo đảm chi, nâng cao chất lượng dịch vụ, nên các đơn vị này hoạt động trì trệ, kém hiệu quả và đã trở thành gánh nặng thật sự cho NSNN Những năm gần đây thực hiện đường lối mới của Đảng và Nhà nước, các đơn vị này
đã từng bước chủ động khai thác, quản lý nguồn thu, nhiều đơn vị tự trang trải kinh phí hoạt động, đầu tư cơ sở vật chất và đóng góp nguồn thu ngày càng lớn cho NSNN
Hoạt động có hiệu quả của các đơn vị sự nghiệp có thu một mặt nâng cao chất lượng dịch vụ của đơn vị này, mặt khác nó có ảnh hưởng tích cực đến cân đối NSNN Khả năng tự đảm bảo chi phí hoạt động của các đơn vị này càng lớn, có nghĩa là kết quả thu phí, lệ phí và các đóng góp khác từ kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị sự nghiệp có thu cho NSNN càng cao và phần chi của NSNN cho các đơn vị này càng nhỏ, cân đối NSNN được đảm bảo bền vững, từ đó có thể tập trung cho chi đầu tư phát triển và các nhiệm vụ chi khác của NSNN
Nhằm quản lý thống nhất nguồn thu, chi và phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN, Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hình ngoài công lập nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việc thực hiện các hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp luật; ngày 25 tháng 4 năm
2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và
Trang 14tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đây là chủ trương đúng đắn và là
cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu trong giai đoạn hiện nay
1.1.3 Đặc điểm về cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu
Khác với đơn vị hành chính, sự nghiệp thuần túy sử dụng kinh phí NSNN cấp, các đơn vị sự nghiệp có thu vừa là đơn vị thụ hưởng NSNN, vừa
là đơn vị quản lý thu phí, lệ phí thuộc NSNN và một số đơn vị còn có hoạt động kinh doanh, liên doanh liên kết khác Do đó cơ chế tài chính của đơn vi
sự nghiệp có thu cũng có nhiều đặc điểm riêng, biểu hiện cụ thể ở các khía cạnh sau đây:
1.1.3.1 Về nguồn tài chính
a Kinh phí do NSNN cấp, gồm:
- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối với nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, các nhiệm vụ khác);
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);
Trang 15- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp
có thẩm quyền phê duyệt;
- Kinh phí khác (nếu có)
b Nguồn thu sự nghiệp; gồm:
- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước;
- Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, cụ thể:
+ Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo: Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thực hành thực tập, sản phẩm thí nghiệm; thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xã hội: Thu từ các hoạt động dịch vụ về khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng, đào tạo, nghiên cứu khoa học với các tổ chức; cung cấp các chế phẩm từ máu, vắc xin, sinh phẩm; thu từ các hoạt động cung ứng lao vụ (giặt là, ăn uống, phương tiện đưa đón bệnh nhân, khác); thu từ các dịch vụ pha chế thuốc, dịch truyền, sàng lọc máu
và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp Văn hóa, Thông tin: Thu từ bán vé các buổi biểu diễn, vé xem phim, các hợp đồng biểu diễn với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; cung ứng dịch vụ in tráng lồng tiếng, phục hồi phim; thu từ các hoạt động đăng, phát quảng cáo trên báo, tạp chí, xuất bản, phát thanh truyền hình; thu phát hành báo chí, thông tin cổ động và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Trang 16+ Sự nghiệp Thể dục, thể thao: Thu hoạt động dịch vụ sân bãi, quảng cáo, bản quyền phát thanh truyền hình và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp kinh tế: Thu tư vấn, thiết kế, quy hoạch, dịch vụ nông lâm, thuỷ lợi, thuỷ sản, giao thông, công nghiệp, xây dựng, địa chính, địa chất và các ngành khác; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
1.1.3.2 Về các nội dung chi
Đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động sử dụng các nguồn tài chính của mình để đáp ứng các nhu cầu chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, chi cho các hoạt động có thu sự nghiệp và các khoản chi thực hiện các nhiệm vụ khác được giao như: chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định; chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; chi
Trang 17thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có); chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chi thực hiện các dự
án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài; chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết; Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)
- Về định mức chi:
Trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu của Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị Đối với các khoản chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ thường xuyên, tùy theo nội dung công việc, nếu xét cần thiết và có hiệu quả, thủ trưởng đơn vị có thể quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng
- Về chế độ tiền lương, tiền công của người lao động:
Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị, trong đó:
+ Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định
+ Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối
đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trang 18+ Đối với đơn vị sự nghiệp do nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định
Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định (gọi tắt là tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định) do đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm từ các khoản thu sự nghiệp và các khoản khác theo quy định của Chính phủ
Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không bảo đảm đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định, phần còn thiếu
sẽ được NSNN xem xét, bổ sung để bảo đảm mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ
- Về lập và giao dự toán thu, chi:
Việc lập và giao dự toán thu, chi đối với các đơn vị sự nghiệp có thu được thực hiện trong thời kỳ ổn định (03 năm)
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm
vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; căn cứ kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề; đơn vị lập
dự toán thu, chi năm kế hoạch; xác định phân loại đơn vị sự nghiệp; số kinh phí đề nghị NSNN bảo đảm hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp do NSNN
Trang 19bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động); lập dự toán kinh phí chi không thường xuyên theo quy định hiện hành
Năm đầu của thời kỳ ổn định, Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương); Ủy ban nhân dân các cấp (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc địa phương) quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định phân loại cho đơn vị sự nghiệp, trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp
Hai năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, căn cứ vào dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên được Bộ chủ quản và Ủy ban nhân dân các cấp giao năm đầu, các đơn vị sự nghiệp lập dự toán thu, chi theo nhiệm vụ và tiến độ hoạt động hàng năm gửi Bộ chủ quản Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương); gửi cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc địa phương) và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để theo dõi, kiểm soát chi theo dự toán của đơn vị Cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính không duyệt lại dự toán cho 02 năm tiếp theo của thời kỳ ổn định
- Về trích lập và sử dụng các quỹ:
Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác (nếu có) cho NSNN; nếu còn chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị sự nghiệp có thu được trích lập: Quỹ
dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi và Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Nguồn trích lập các quỹ không bao gồm: kinh phí NSNN cấp để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học; chương trình mục tiêu quốc gia; nhiệm vụ nhà nước đặt hàng, tinh giản biên chế, tiền mua sắm sửa chữa tài sản; vốn đầu
tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng các dự án; vốn viện trợ; vốn thực hiện các
Trang 20nhiệm vụ đột xuất khác và kinh phí của nhiệm vụ phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện
- Về ghi thu - ghi chi NSNN:
Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06 tháng 9 năm 2006; Thông tư số 172/2009/TT-BTC ngày 26/8/2009 sửa đổi một số điểm Thông tư 81 và Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002; Tiền thu phí, lệ phí thuộc NSNN được quản lý, sử dụng như sau: + Tiền phí, lệ phí do cơ quan thuế trực tiếp tổ chức thu và trường hợp tổ chức khác thu phí, lệ phí đã được NSNN bảo đảm kinh phí cho hoạt động thu phí, lệ phí theo dự toán hàng năm thì tổ chức thu phải nộp toàn bộ số tiền phí,
lệ phí thu được vào NSNN;
+ Trường hợp tổ chức thu chưa được NSNN bảo đảm kinh phí cho hoạt động thu phí, lệ phí hoặc tổ chức thu được uỷ quyền thu phí, lệ phí thì tổ chức thu được để lại một phần trong số tiền phí, lệ phí thu được để trang trải chi phí cho việc thu phí, lệ phí; phần tiền phí, lệ phí còn lại phải nộp vào NSNN + Tiền phí, lệ phí để lại cho đơn vị thu phí, lệ phí để trang trải chi phí cho việc thu phí, lệ phí không phản ánh vào NSNN Khoản thu này được xác định là nguồn thu sự nghiệp của đơn vị Khoản thu này không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung (nếu có) Định kỳ hàng quý đơn vị phải lập báo cáo chi tiết các khoản thực thu, thực chi theo Mục lục NSNN gửi cơ quan tài chính để thực hiện ghi thu NSNN và ghi chi cho đơn vị
- Về kinh phí chuyển năm sau:
Cuối năm ngân sách, các khoản kinh phí NSNN cấp bảo đảm hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng
- Về mở và sử dụng tài khoản:
Trang 21Các đơn vị sự nghiệp có thu được mở 02 tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, gồm:
+ Tài khoản hạn mức kinh phí để nhận kinh phí NSNN cấp
+ Tài khoản tiền gửi để thực hiện thu, chi các khoản phí, lệ phí thuộc NSNN nhưng đơn vị được phép giữ lại để chi theo quy định
Đối với các khoản thu, chi của hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ đơn vị được mở tài khoản giao dịch tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng
1.1.4 Xu hướng đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu
Qua tìm hiểu các đề tài nghiên cứu có liên quan đến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu như:
- Đề tài luận văn thạc sỹ của Trần Hồng Hà “Quản lý tài chính các đơn
vị sự nghiệp có thu tại tỉnh Bình Thuận” Tác giả cho biết sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu nhằm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, sử dụng tiết kiệm kinh phí hành chính tăng cường hiệu quả dịch vụ công, sắp xếp biên chế theo hướng tinh giản bộ máy để nâng cao hiệu quả công việc, tăng thu nhập cho người lao động
- Theo tiến sỹ Nguyễn Phú Giang (Đại học Thương mại) với đề tài
“Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp và những vấn đề đặt ra hiện nay” Tác giả
đã trình bày quy trình quản lý tài chính gồm lập dự toán ngân sách, thực hiện
dự toán, quyết toán ngân sách Qua đó có thể kiểm tra được công tác lập dự toán, tình hình sử dụng kinh phí, quyết toán kinh phí của đơn vị có đúng quy định không, kinh phí tiết kiệm được đơn vị có đảm bảo sử dụng đúng nội dung và quy định không Nếu chuyển nguồn thì chuyển nguồn kinh phí có đúng quy định không, quyết toán ngân sách có đúng thời hạn, mẫu biểu không…
- Theo tác giả đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tấn Lượng “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa
Trang 22bàn thành phố Hồ Chí Minh” để đổi mới thì Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý hoàn chỉnh để giúp các trường đại học nói riêng và đơn vị sự nghiệp nói chung chủ động trong quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, đồng thời cần tăng cường quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Từ những đánh giá nhận xét của các tác giả trên, tôi nhận thấy xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và xuất phát từ mục tiêu đem lại hạnh phúc và sự phát triển toàn diện cho con người, phát triển hài hòa, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội, Nhà nước
có nghĩa vụ và có trách nhiệm chăm lo, đảm bảo các quyền lợi cơ bản của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, được thể hiện rõ nhất qua các hoạt động sự nghiệp về y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, giao thông vận tải… của Nhà nước Tuy nhiên những năm gần đây thực hiện đường lối đổi mới và cải cách, nền kinh tế nước ta đã khởi sắc, liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt, các nhu cầu của xã hội phát triển hết sức đa dạng, trong đó nhu cầu về các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục…chất lượng ngày càng lớn Nhưng đáp ứng đầy đủ tất cả những yêu cầu này thì NSNN không đủ khả năng và giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này là xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao
Xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao trong sự phát triển về vật chất
và tinh thần của nhân dân Cùng với củng cố các tổ chức công lập, Nhà nước khuyến khích thành lập các cơ sở ngoài công lập phù hợp với quy hoạch của Nhà nước, hoạt động không theo mục đích thương mại hóa Các dịch vụ ngoài
Trang 23công lập được Nhà nước và xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng như các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở công lập, đồng thời các cơ sở ngoài công lập cũng
có một phần trách nhiệm thu nhận và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng chính sách xã hội như các cơ sở công lập
Để thực hiện chủ trương này, ngày 19 tháng 8 nămg 1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Theo
đó Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân và trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao theo đúng quy định của pháp luật Các tổ chức ngoài công lập được thành lập và hoạt động dưới 03 hình thức:
- Bán công: là cơ sơ được thành lập trên cơ sở liên kết giữa tổ chức Nhà nước với tổ chức không phải tổ chức Nhà nước thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc cá nhân theo các phương thức: thành lập mới, chuyển toàn bộ hoặc một phần từ đơn vị công lập để cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quản lý, điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật
- Dân lập: là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng vốn ngoài NSNN (vốn của tổ chức, tập thể, cá nhân) và quản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật
- Tư nhân: là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình thành lập và quản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật
Bên cạnh sự mở rộng các hình thức ngoài công lập theo chủ trương của Chính phủ, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu (công lập) cũng theo xu hướng mở rộng đầu tư, tăng cường hợp tác liên doanh liên kết để sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu hết sức
đa dạng trong nhân dân Tuy nhiên cơ chế tự chủ tài chính, cũng như việc mở
Trang 24rộng các hoạt động dịch vụ cũng đã tạo ra nhiều xu hướng tiêu cực trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu hiện nay:
+ Chất lượng các dịch vụ công (do NSNN đài thọ) có xu hướng giảm,
do các đơn vị tập trung phương tiện, điều kiện, nhân lực tốt nhất có thể cho các hoạt động dịch vụ chất lượng cao có thu phí, biểu hiện rõ nét trong nghành y tế
+ Một số lĩnh vực có biểu hiện hướng đối tượng phục vụ sang các hoạt động dịch vụ thu phí, cụ thể: trong giáo dục là tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, quá tải; trong y tế là tình trạng lạm dụng chỉ định xét nghiệm kỹ thuật cao, ghi toa thuốc ngoại đắt tiền
+ Một số đơn vị hoạt động cung cấp dịch vụ công ích độc quyền có tình trạng sử dụng kinh phí không hiệu quả, chất lượng dịch vụ kém, thậm chí có nơi có biểu hiện nhũng nhiễu, hành dân
có hiệu lực
Hiện nay KTNN Việt Nam cũng như cơ quan KTNN của hầu hết các nước trên thế giới đều có 03 chức năng kiểm toán chủ yếu:
- Chức năng kiểm toán Báo cáo tài chính
- Chức năng kiểm toán tuân thủ
- Chức năng kiểm toán hoạt động
Trang 25Các chức năng của KTNN được quy định tại Điều 14, Luật KTNN, theo đó “KTNN có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước”
Việc thực hiện kiểm toán, đánh giá việc chấp hành các quy định của Nhà nước về chế độ thu nộp NSNN tại các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị
sự nghiệp có thu và các tổ chức cá nhân khác có phát sinh nghĩa vụ với NSNN là nhằm thực hiện 3 chức năng nói trên của KTNN Hiện nay khi thực hiện kiểm toán, KTNN thường lồng ghép cả 03 chức năng này vào trong mỗi cuộc kiểm toán Báo cáo kiểm toán đánh giá và đưa ra ý kiến về:
- Tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo tài chính, trong đó bao gồm tính chính xác của các số liệu có liên quan đến thực hiện nghĩa vụ với NSNN, như:
số phải nộp NSNN, số đã nộp NSNN, số còn phải nộp NSNN, số ghi thu – ghi chi NSNN
- Đánh giá tính tuân thủ pháp luật: đánh giá chấp hành chế độ tài chính,
kế toán, luật NSNN, chấp hành các luật thuế, pháp lệnh phí, lệ phí, các văn bản có liên quan đến việc thu nộp ngân sách, quản lý qua NSNN, chấp hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, quy chế đấu thầu…
- Đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực trong sử dụng NSNN và tài sản công: bao gồm đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan thuế, cơ quan tài chính các cấp trong quản lý và khai thác các nguồn thu của NSNN
Nói cách khác kiểm toán việc chấp hành nghĩa vụ với NSNN tại các đơn vị có liên quan đến thu NSNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng của KTNN, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đã được Quốc hội giao
và cũng nhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của Đảng, của Nhân dân đối với hoạt động KTNN KTNN không chỉ đánh giá tính đúng đắn, trung thực của các số liệu quyết toán tài chính, ngân sách mà phải đánh giá tính tuân thủ, tính
Trang 26kinh tế, tính hiệu quả, hiệu lực, tính tiết kiệm trong việc quản lý tài chính công và NSNN
Theo quy định tại Điều 3 của Luật KTNN ngày 14 tháng 6 năm
2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 và quy định tại Khoản 1,
kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp, cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật nhằm phục
vụ việc giám sát, kiểm tra của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
Như đã trình bày ở trên, các đơn vị sự nghiệp có thu lại liên quan trực tiếp tới NSNN, cụ thể các đơn vị này được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác
và sử dụng những nguồn thu phí, lệ phí nhất định thuộc NSNN hoặc sử dụng các nguồn kinh phí do NSNN cấp; có các nghĩa vụ liên quan đến NSNN (phải nộp NSNN hoặc ghi thu-ghi chi NSNN); các số liệu quyết toán tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu liên quan trực tiếp đến số liệu quyết toán thu chi NSNN các cấp Do đó, theo quy định của Luật KTNN và Luật NSNN sửa đổi năm 2002, các số liệu quyết toán tài chính của các đơn vị này là đối tượng của KTNN
Để thực hiện kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu, theo quy định hiện nay KTNN có nhiệm vụ quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và báo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã được Tổng KTNN duyệt, KTNN khu vực tiến hành các bước khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, thông báo kết quả kiểm toán và kiểm tra tình hình thực hiện các kiến nghị kiểm toán theo quy trình kiểm toán và các chuẩn mực KTNN do Tổng KTNN ban hành
Trang 27Quá trình thực hiện kiểm toán, cơ quan KTNN có quyền độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm toán của mình và có một số quyền hạn chủ yếu sau:
- Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp dự toán ngân sách và báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính, chứng từ, sổ kế toán và các tài liệu khác có liên quan; yêu cầu các đơn vị có liên quan cung cấp các tài liệu cần thiết phục
vụ cho việc kiểm toán
- Áp dụng các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ để thu thập các bằng chứng kiểm toán ở đơn vị được kiểm toán và các đơn vị, cá nhân có liên quan;
- Đề nghị các cơ quan chức năng phối hợp công tác để thực hiện nhiệm
vụ được giao; được yêu cầu các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và công dân giúp đỡ tạo điều kiện để KTNN thực hiện nhiệm vụ
- Yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN đối với các sai phạm trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; kiến nghị thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động của đơn vị do KTNN phát hiện và kiến nghị
- Kiểm tra đơn vị được kiểm toán trong việc thực hiện kết luận và kiến nghị của KTNN
- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán đối với các trường hợp sai phạm trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; đề nghị xử lý theo pháp luật những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTNN
- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được làm rõ thông qua hoạt động kiểm toán
Trang 28- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật đối với tổ chức,
cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm toán của KTNN hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho KTNN và Kiểm toán viên nhà nước
- Trưng cầu giám định chuyên môn khi cần thiết
- Được uỷ thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán
cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; KTNN chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu và kết luận kiểm toán
do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện
- Kiến nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và pháp luật cho phù hợp
Kết quả kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu được KTNN tổng hợp cùng với kết quả kiểm toán các ngành, địa phương và đơn vị khác báo cáo với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác theo quy định của pháp luật
1.2.2 Chất lượng hoạt động KTNN
Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của KTNN được đã được triển khai từ khi mới thành lập Theo đó qua các năm đến nay định hướng nhiệm vụ của KTNN được xác định là: “Tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao chất lượng kiểm toán, đẩy mạnh kiểm toán hoạt động, tập trung vào các chủ đề được xã hội quan tâm; đẩy mạnh phân cấp trách nhiệm quản lý và cải cách hành chính trong mọi lĩnh vực; đổi mới công tác cán bộ trong toàn ngành”
Ngoài nhiệm vụ thường xuyên, KTNN đã và sẽ lồng ghép mục tiêu trong tất cả các cuộc kiểm toán để tập trung đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực quản lý, sử dụng đất, khai thác và kinh doanh tài nguyên, khoáng
Trang 29sản; quản lý nhà ở, phát triển đô thị, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường, chương trình hỗ trợ giảm nghèo…
Trong những năm qua, tổ chức bộ máy, đội ngũ KTNN đã có sự phát triển vượt bậc, không ngừng được củng cố và hoàn thiện hơn Với khuôn khổ pháp lý dần hoàn thiện, năng lực được tăng cường, hoạt động KTNN ngày càng rộng về qui mô, đa dạng về loại hình và phương thức kiểm toán
Ngoài việc kiểm toán theo kế hoạch hàng năm, KTNN còn thực hiện nhiều cuộc kiểm toán lớn theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ Việc kiểm toán các chương trình mục tiêu quốc gia cũng trở thành hoạt động thường xuyên được các Bộ, ngành, nhà tài trợ quốc tế tín nhiệm và đánh giá cao
Từ khi Luật KTNN có hiệu lực, KTNN đã từng bước mở rộng loại hình kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản Nhà nước Từ năm 2008, KTNN đã điều chỉnh mục tiêu, trọng tâm kiểm toán, chú trọng kiểm tra phân tích nguyên nhân lạm phát, đánh giá việc thực hiện trên thực tế các giải pháp của Chính phủ trong chống lạm phát, thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư theo kết luận của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội
Cùng với khâu hậu kiểm, những năm gần đây KTNN đã bắt đầu thực hiện hình thức tiền kiểm như thẩm định, trình bày ý kiến về dự toán NSNN, thực hiện kiểm toán các dự án đầu tư từ khi khởi công đến khi đưa công trình vào sử dụng, bên cạnh đó, phương thức kiểm toán chuyên đề ngày càng được chú trọng
KTNN cũng không ngừng thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác với cơ quan kiểm toán tối cao và các tổ chức quốc tế, là thành viên tích cực và có nhiều đóng góp cho cộng đồng kiểm toán quốc tế Để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao trong bối cảnh kinh tế nước ta đang hội nhập ngày càng
Trang 30sâu rộng, thích ứng với xu thế hiện đại hóa hoạt động kiểm toán hiện nay, KTNN đã trình Ủy ban thường vụ Quốc hội chiến lược phát triển KTNN đến
2015, tầm nhìn đến 2020
Với những bước tiến quan trọng cả về số lượng và chất lượng, KTNN
đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, phục vụ kịp thời việc kiểm tra, giám sát trong công tác quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; phát hiện và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí… Đồng thời cung cấp nhiều thông tin xác thực, có chất lượng, giúp Quốc hội có thêm căn cứ để xem xét quyết định các vấn đề liên quan đến NSNN và tài sản công Kết quả kiểm toán của KTNN đã giúp các cơ quan, đơn vị, địa phương được kiểm toán nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, từ đó góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Việc công khai kết quả kiểm toán được thực hiện đúng quy định của Luật KTNN, được nhân dân cũng như các nhà đầu tư, doanh nghiệp rất hoan nghênh
KTNN khu vực với tư cách là các đơn vị chủ yếu thực hiện kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu, giữ vị trí quan trọng trong việc tăng cường vai trò quản lý, giám sát của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, đồng thời góp phần quan trọng vào việc quản lý các nguồn thu của NSNN tại các đơn vị này
1.3 Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán tại các đơn
vị sự nghiệp có thu của KTNN khu vực
Nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu, theo tôi KTNN cần giải quyết tốt một số vấn đề chủ yếu sau:
1.3.1 Nội dung và phương pháp kiểm toán
Trang 31Hiện nay thực hiện kiểm toán các đơn vị sự nghiệp có thu chủ yếu áp dụng loại hình kiểm toán tuân thủ và kiểm toán Báo cáo tài chính, đang từng bước áp dụng loại hình kiểm toán hoạt động theo quy trình kiểm toán NSNN
Phương pháp kiểm toán hiện nay đang áp dụng trong các cuộc kiểm toán NSĐP (trong đó có các đơn vị sự nghiệp có thu) chủ yếu là phương pháp chọn mẫu, cân đối, phân tích, đối chiếu, điều tra phỏng vấn… chưa áp dụng một số phương pháp điều tra gián tiếp, chưa điều tra một số đối tượng bên ngoài đơn vị kiểm toán, chưa áp dụng phương pháp kiểm kê và phương pháp thực nghiệm…
1.3.2 Đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm toán
Phải duy trì và đảm bảo được tính độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm toán Tính độc lập của KTNN được thể hiện trên các khía cạnh:
- Phải đảm bảo tính độc lập về thể chế: Hiện nay đã có Luật KTNN, quá trình thực hiện kiểm toán chỉ tuân theo pháp luật, không một cá nhân, cơ quan nào có thẩm quyền can thiệp, cản trở việc thực hiện kiểm toán theo đúng pháp luật của KTNN
- Hoạt động kiểm toán của KTNN phải thể hiện được tính độc lập, khách quan như mong muốn của Đảng và Nhà nước, được thể hiện qua các quy định về hệ thống chuẩn mực kiểm toán, quy chế, quy trình kiểm toán; các quy định về giám sát, giám định, kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán; qua phân công và giao nhiệm vụ kiểm toán; qua giáo dục và kiểm tra tư cách, đạo đức hành nghề của kiểm toán viên
- KTNN phải được đảm bảo về kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất và các phương tiện làm việc như trụ sở làm việc, hệ thống công nghệ thông tin, máy tính xách tay, phương tiện đi lại… đây là tiền đề quan trọng để KTNN có thể ứng dụng các kỹ thuật kiểm toán tiên tiến vào hoạt động kiểm toán, cũng
Trang 32như duy trì được tính chủ động, độc lập khách quan trong quá trình kiểm toán,
từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm toán
1.3.3 Nâng cao giá trị pháp lý của Báo cáo kiểm toán
Phải khẳng định rõ giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán của KTNN: đây là vấn đề hết sức quan trọng, một mặt nó tác động mạnh mẽ đến ý thức, trách nhiệm của cán bộ kiểm toán viên trong khi thực hiện nhiệm vụ, mặt khác nó ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ tiếp thu kết quả kiểm toán cũng như ý thức thực hiện các kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán cần được xác định rõ trong các văn bản pháp quy có liên quan
1.3.4 Đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên
Phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực kiểm toán các đơn vị dự toán và các đơn vị sự nghiệp có thu: kiểm toán viên là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng kiểm toán, xây dựng được đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên mạnh có tính chuyên nghiệp là cơ sở nâng cao chất lượng kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu của KTNN
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 2.1 Thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu
2.1.1 Tình hình quản lý, khai thác và sử dụng các khoản thu phí, lệ phí và các khoản thu khác tại các đơn vị sự nghiệp hiện nay
Qua thực tế kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhận thấy, các đơn vị có số thu lớn và đóng góp nhiều cho NSNN chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực: Y tế, Giáo dục – đào tạo, Giao thông – vận tải, Văn hóa – thông tin, Thể dục – thể thao, Phát thanh – truyền hình, Lao động – Thương binh – Xã hội, Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, Tài nguyên – môi trường, Thương mại, Khoa học – công nghệ… Trong đó, 02 khoản thu học phí thuộc lĩnh vực Giáo dục – đào tạo và viện phí thuộc lĩnh vực Y tế có số thu lớn và quan trọng đối với NSĐP Ngoài các đơn
vị hoạt động trong các ngành, lĩnh vực kể trên, các đơn vị sự nghiệp có thu còn lại đa phần có số thu thấp hoặc trực thuộc ngành dọc do trung ương quản
lý Một số khoản thu sự nghiệp, phí, lệ phí do các cơ quan quản lý nhà nước như: văn phòng các Sở, nghành, Ủy ban nhân dân các cấp… trực tiếp thu không thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài
Ngoài nguồn thu từ NSNN như: Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ đột xuất; Kinh phí thanh toán theo chế độ đặt hàng; Kinh phí cấp để thực hiện tinh giản biên chế; Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị…, nguồn thu
từ các khoản viện trợ, biếu, tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp có thu do đơn vị tổ chức thu chủ yếu gồm: Các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của Pháp lệnh phí và lệ phí, Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí và Thông tư số
Trang 3463/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí; Thông tư số 45/2006/TT-BTC ngày 25/5/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 Nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp có thu chủ yếu là thu phí, thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị như: sản xuất, cung ứng dịch vụ và một số khoản thu theo quy định khác của pháp luật (thu thanh lý tài sản, lãi tiền gửi…)
Qua thực tế kiểm toán nhận thấy thực trạng về tình hình khai thác, quản
lý và sử dụng các khoản thu tại các đơn vị sự nghiệp có thu có một số điểm nổi bật ảnh hưởng đến tình hình thu, chi ngân sách như sau:
2.1.1.1 Đối với các khoản thu phí, lệ phí, thu sự nghiệp, thu từ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp có thu
Đi sâu nghiên cứu, đánh giá trên một số ngành, lĩnh vực có số lượng đơn vị sự nghiệp nhiều và số thu tương đối lớn, cụ thể như sau:
a Y tế:
Nguồn thu của các đơn vị chủ yếu là thu viện phí, kể cả viện phí do cơ quan Bảo hiểm xã hội và Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo thanh toán thanh toán theo các loại hình dịch vụ khám, chữa bệnh và phục vụ người bệnh được để lại đơn vị sử dụng theo quy định của Nghị định 95-CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ và Thông tư liên Bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 của Liên bộ Y tế - Tài chính – Lao động thương binh và xã hội – Vật giá chính phủ
Thông tư liên Bộ số 14/TTLB nêu trên không ban hành mức thu cố định, chỉ ban hành khung giá, do đó Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trương ương trên cơ sở khung giá này qua tham mưu của liên ngành Y
Trang 35tế và Tài chính thực hiện việc ban hành khung giá và mức thu phù hợp với địa phương mình
Qua thực tế nhận thấy hầu hết các địa phương đều ban hành mức thu viện phí và các khoản thu phí ở mức trung bình trong khung giá quy định của
Bộ Tài chính do đời sống của nhân dân còn khó khăn và các chính sách ưu đãi của địa phương dẫn đến số thu thấp không đủ bù đắp chi phí phục vụ cho việc điều trị
Đối với số thu viện phí từ bảo hiểm y tế, do quy định của cơ quan Bảo hiểm xã hội về thanh toán mức giá trần và thuốc sử dụng điều trị cho đối tượng bảo hiểm y tế dẫn đến việc các Bệnh viện, trung tâm y tế… có số thu từ bảo hiểm y tế không đủ bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra Bên cạnh đó việc điều trị không đúng tuyến và sử dụng thuốc không đúng quy định nên cơ quan Bảo hiểm xã hội không thanh toán lại cho đơn vị các khoản chi phí đã bỏ ra cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm nguồn thu
Công tác quản lý thu tại các đơn vị còn chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng trốn viện phí hoặc không có khả năng thanh toán viện phí Việc buông lỏng quản lý tài chính ở một số đơn vị để sảy ra các hiện tượng tham ô, để ngoài sổ kế toán cũng làm thất thoát số thu viện phí
Trong công tác hạch toán kế toán một số đơn vị hạch toán chưa chính xác, chưa đúng quy định nên phản ánh không đầy đủ nguồn thu viện phí để bổ sung nguồn kinh phí hoạt động như:
+ Thu bảo hiểm y tế đây là nguồn thu viện phí song các đơn vị thường hạch toán theo dõi riêng mà không hạch toán vào thu sự nghiệp của đơn vị
+ Một số khoản thu phí, lệ phí các đơn vị thu nộp ngân sách trực tiếp
mà không hạch toán kế toán, đồng thời số được để lại sử dụng các đơn vị không bổ sung nguồn kinh phí hoạt động theo quy định
Trang 36Đối với một số khoản thu phí, lệ phí khác của ngành y tế được để lại cho đơn vị sử dụng theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí như: Phí y tế dự phòng, phí giám định y khoa, phí kiểm nghiệm mẫu thuốc, phí kiểm dịch y tế, phí kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm, phí thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề y dược… Nhìn chung, các đơn vị tổ chức thu và quản lý thu theo quy định Tuy nhiên một số địa phương chưa khai thác đủ nguồn thu này, nguyên nhân chủ yếu là do số thu nhỏ (mức thu thấp), phát sinh không thường xuyên, thiếu hụt biên chế khai thác, đồng thời số được trích lại đơn vị sử dụng cũng không cao nên không khuyến khích các đơn vị quan tâm đến việc tổ chức quản lý và khai thác nguồn thu
Sau khi Nhà nước thực hiện xã hội hóa khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân để cùng tham gia phát triển kinh
tế và các đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện cơ chế tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, các đơn vị trong ngành y tế còn nhiều nguồn thu gắn liền với hoạt động của đơn vị mà chủ yếu là thu từ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ như: khám chữa bệnh theo yêu cầu, dịch vụ giường giá cao, hợp đồng liên kết với tổ chức, cá nhân để đặt máy khám chữa bệnh… Tuy nhiên đối với các khoản thu mang tính chất dịch vụ hầu hết các đơn vị không bóc tách được chi phí cái nào là dịch vụ, cái nào thuộc viện phí đảm bảo (điện, nước, văn phòng phẩm…) do đó làm ảnh hưởng đến việc ghi thu ghi chi ngân sách Các đơn vị có hoạt động dịch vụ hầu hết chưa kê khai hoặc kê khai không đầy đủ nghĩa vụ với NSNN, đặc biệt đối với các khoản dịch vụ về xã hội hóa được trả về cho các phòng ban chuyên môn đều không thực hiện nghĩa vụ với NSNN, làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách
Ví dụ: Hợp đồng dịch vụ đặt máy khám chữa bệnh tại các khoa, theo thỏa thuận của hợp đồng 70% nguồn thu được trả về cho bên đặt máy, 30%
Trang 37trả về cho các khoa thực hiện Các khoản chi phí về máy móc do bên đặt máy chịu, các khoa có máy đặt chỉ chịu tiền điện vận hành và công trả cho người vận hành Tuy nhiên sau khi trả 70% nguồn thu cho bên đặt máy, số còn lại 30% các khoa không tách biệt được chi phí để vận hành máy và không thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước
Ngoài ra, đối với các khoản dịch vụ phi y tế như: trông xe, căn tin, cho thuê quầy thuốc, phương tiện đưa đón bệnh nhân… các đơn vị chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước theo quy định
Bên cạnh đó, hàng năm các văn bản hướng dẫn thực hiện dự toán đều yêu cầu các đơn vị có thu đều dành 40% nguồn thu được để lại (riêng ngành y
tế dành 35% số thu được để lại để thực hiện cải cách tiền lương sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao) để thực hiện cải cách tiền lương Tuy nhiên qua thực tế nhiều bệnh viện đã thực hiện trừ các chi phí không phải là vật tư thay thế dẫn đến số phải trích để thực hiện cải cách tiền lương thấp, dẫn đến NSNN phải cấp bù tiền lương nhiều hơn khi thực hiện chế độ tiền lương mới
b Giáo dục – Đào tạo:
- Khoản thu sự nghiệp quan trọng nhất của ngành giáo dục – đào tạo là học phí và lệ phí tuyển sinh Theo quy định của Luật giáo dục năm 2005 “Học phí, lệ phí tuyển sinh là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục Học sinh tiểu học trường công lập không phải đóng học phí Ngoài học phí và lệ phí tuyển sinh, gia đình người học hoặc người học không phải đóng bất kỳ khoản phí nào khác” Các đơn vị có thu học phí là các trường học, các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trung tâm dạy nghề, các trường nghiệp vụ trực thuộc các ngành… Hiện nay trên cơ sở mức khung học phí quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 quy định về miễn, giảm học
Trang 38phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 Căn cứ vào khung học phí Chính phủ quy định tại Nghị định 49, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu học phí cụ thể hàng năm phù hợp với thực tế của các vùng ở địa phương mình
Nhìn chung các khoản thu về học phí, phí, lệ phí theo quy định, các đơn
vị đều tổ chức thu và giải quyết các chính sách miễn giảm theo các quy định của nhà nước và theo mức thu do Ủy ban nhân dân các địa phương ban hành Tuy nhiên, thực tế tại các đơn vị còn nhiều sai phạm do chủ quan cũng như một số tồn tại khách quan ảnh hưởng đến nguồn thu của đơn vị như sau:
+ Còn để thất thu về học phí do hiện tượng học sinh không đóng đầy đủ theo quy định, trong đó nguyên nhân khách quan là do ý thức chấp hành của một bộ phận dân cư, song không thể chế tài được do các chủ trương chính sách hiện nay của Đảng và Nhà nước là khuyến khích đưa toàn bộ trẻ độ tuổi đi học đến trường… ngoài ra đối với một số đối tượng không thu được nguyên nhân chủ quan là do công tác quản lý kém của các đơn vị dẫn đến hiện tượng chây
lỳ, không chịu đóng nhưng không có biện pháp thu hoặc chế tài
+ Ngoài những khoản thu theo quy định chung, một số đơn vị còn thu một số khoản thu đặc thù của địa phương mình trong đó có các khoản thu được cơ quan thẩm quyền của địa phương cho phép thu như: thu học phí bán trú, cơ sở vật chất bán trú, tiền ăn bán trú, phí nội trú, vệ sinh phí… cũng như các khoản thu đóng góp không có văn bản cho phép thu nhưng lại có tính chất bắt buộc như: thu đóng góp hỗ trợ trường học, thu đóng góp do học trái tuyến dưới hình thức đóng góp sổ vàng, thu tiền giấy thi, thu tiền học phụ đạo, thu tiền quỹ hội phụ huynh học sinh để hỗ trợ đời sống cho giáo viên… Các khoản thu này thường được giao cho bộ phận Công đoàn đơn vị quản lý, sử
Trang 39dụng mà không đưa vào báo cáo tài chính của đơn vị là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các sai phạm trong quản lý tài chính
+ Sử dụng biên lai thu của các đơn vị chưa đúng theo các quy định hiện hành của Nhà nước, chủ yếu là sử dụng phiếu thu tiền tự in
+ Có địa phương ban hành quy định về tổ chức vận động, quản lý và sử dụng nguồn quỹ xã hội hóa giáo dục, trong đó có quy định mức thu bằng tiền trên đầu học sinh phải đóng góp mang tính bắt buộc như một khoản thu học phí, làm tăng gánh nặng cho phụ huynh có con em đang theo học, đồng thời không đúng chủ trương về xã hội hóa cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về phí, lệ phí
+ Một số cơ sở giáo dục – đào tạo sử dụng tài sản của nhà nước để tổ chức các hoạt động liên kết đào tạo với các đơn vị bên ngoài chủ yếu dưới hình thức cho mượn mặt bằng nhưng số thu không thực hiện bổ sung nguồn kinh phí hoạt động của đơn vị nhằm giảm nhẹ gánh nặng của ngân sách mà chuyển cho công đoàn quản lý hoặc hạch toán vào quỹ cơ quan để chi phúc lợi
Việc tạo ra nhiều nguồn thu nhằm tăng thu cho đơn vị để tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất trường học, tăng thu nhập cho cán bộ, giáo viên là hợp
lý, tuy nhiên việc đặt ra nhiều khoản thu nhưng không được cơ quan thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật, không đúng với các chủ trương, đường lối, chính sách hiện nay của Đảng và Nhà nước
- Đối với các khoản thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ: Thực
tế hiện nay các đơn vị thuộc ngành giáo dục đào tạo hầu hết đều thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, do đó các cơ sở giáo dục – đào tạo thực hiện hợp đồng liên kết với các cơ sở giáo dục khác nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa phương và tạo cơ hội học tập cho
Trang 40nhiều người trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục, đồng thời cũng tạo nguồn thu cho các cơ sở giáo dục – đào tạo từ đó tăng thu nhập cho cán bộ, giáo viên
Tuy nhiên nguồn thu của ngành giáo dục chủ yếu là từ ngân sách, do đó đối với các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo không nên đặt nặng việc tăng thu mà nên chú trọng đến công tác quản lý tài chính, sử dụng kinh phí ngân sách tiết kiệm, tránh lãng phí
c Văn hóa, thể thao:
- Các đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin có thu do các địa phương quản lý chủ yếu là các đoàn nghệ thuật, Bảo tàng, Thư viện, Trung tâm thông tin triển lãm, Trung tâm văn hóa, Nhà văn hóa…
Nguồn thu phí, lệ phí hiện hành theo quy định của các đơn vị là rất ít, trong đó chỉ có khoản thu Phí thẩm định nội dung văn hóa phẩm xuất khẩu, nhập khẩu và Lệ phí cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm; thu phí thư viện…
Nguồn thu chính của các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực Văn hóa là các khoản thu sự nghiệp gắn với hoạt động của đơn vị như: thu bán vé (biểu diễn nghệ thuật, xem phim, tham quan triển lãm, tham quan bảo tàng, di tích…), thu từ hợp đồng biểu diễn… Theo các quy định hiện hành, khoản thu
từ nguồn thu này được phép để lại cho đơn vị sử dụng không phản ánh vào NSNN Việc khai thác tốt nguồn thu này sẽ giúp tiết kiệm phần kinh phí ngân sách cấp cho hoạt động của đơn vị
Không giống như các khoản thu phí, lệ phí, khoản thu này cao hay thấp
là phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của đơn vị trong việc quản lý và khai thác Qua thực tế nhận thấy các đơn vị chưa thực sự khai thác có hiệu quả nguồn thu này, trong đó nguyên nhân chủ quan là do bộ máy hoạt động cồng kềnh, không hiệu quả, hoạt động của các đơn vị chủ yếu là mang tính chất