1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước

112 849 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng thất thoát lãng phí và tiêu cực đã và đang diễn ra ở tất cả các khâu trong quá trình đầu tư, gây nhức nhối trong xã hội và đang được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

*******************

HOÀNG THỊ HƯƠNG GIANG

CHỐNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH, PHÂN TÍCH

DƯỚI GÓC ĐỘ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

****************

HOÀNG THỊ HƯƠNG GIANG

CHỐNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH, PHÂN TÍCH

DƯỚI GÓC ĐỘ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Chuyên ngành : Tài chính Ngân hàng

Mã số : 60 34 20

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS TRẦN ANH TÀI

Hà Nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ 5

TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH 5

1.1 Lý luận chung về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách 5

1.1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản 5

1.1.2 Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản 7

1.1.2.1 Nhóm đặc điểm gắn với chu trình đầu tư: 7

1.1.2.2 Nhóm đặc điểm gắn với hoạt động xây dựng 8

1.1.3 Vốn ngân sách và đầu tư xây dựng cơ bản từ Vốn ngân sách 11

1.1.3.1 Khái niệm ngân sách và đầu tư XDCB từ vốn ngân sách 11

1.1.3.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB từ vốn ngân sách 12

1.2 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách 14

1.2.1 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản 14

1.2.1.1 Khái niệm về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản 14

1.2.1.2 Đặc điểm của thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB 15

1.2.2 Phân loại thất thoát, lãng phí 17

1.2.2.1 Phân loại thất thoát: 17

1.2.2.2 Phân loại lãng phí: 19

1.2.3 Nguyên nhân thất thoát lãng phí trong ĐTXD 20

1.2.4 Tác hại của tham nhũng, thất thoát lãng phí trong ĐTXD 22

1.2.5 Tiêu thức xác định thất thoát, lãng phí 26

1.2.6 Các nhân tố tác động đến thất thoát, lãng phí 28

1.2.6.1 Nhân tố con người 28

1.2.6.2 Cơ chế chính sách 30

1.2.6.3 Nhóm nhân tố khách quan khác 31 1.3 Vai trò của Kiểm toán Nhà nước đối với việc chống thất thoát lãng phí trong

Trang 4

1.4 Kinh nghiệm kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản của một số kiểm toán các nước

trên thế giới 35

Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam: 38

CHƯƠNG 2 41

THỰC TRẠNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 41

2.1 Thực trạng đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước 41

2.2 Thực trạng thất thoát, lãng phí và chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản qua hoạt động kiểm toán 48

2.2.1 Thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản qua phát hiện của Kiểm toán 48

2.2.1.1 Thất thoát lãng phí trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 49

2.2.1.2 Thất thoát, lãng phí trong giai đoạn thực hiện đầu tư 51

2.2.1.3 Thất thoát, lãng phí trong giai đoạn kết thúc đầu tư 60

2.2.2 Thực trạng công tác chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản - qua phân tích kiểm toán 65

2.2.2.1 Nguyên nhân của tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB 65

2.2.2.1.1 Nhóm nguyên nhân do Quản lý Nhà nước 65

2.2.2.1.2 Nhóm nguyên nhân do khảo sát, thiết kế và thi công xây lắp 67

2.2.2.1.3 Nhóm nguyên nhân do chủ đầu tư - chủ dự án 68

2.2.2.1.4 Nhóm nguyên nhân do trình độ - phẩm chất của cán bộ 68

2.2.2.2 Thực trạng chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản - Vai trò của kiểm toán 69

CHƯƠNG 3 74

GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ 74

TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 74

3.1 Đối với quá trình thực hiện đầu tư xây dựng 75

3.1.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 75

3.1.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư 77

Trang 5

3.1.2.2 Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng 79

3.1.2.3 Trong khâu mời thầu, tổ chức đấu thầu và ký hợp đồng 79

3.1.2.4 Trong khâu mua vật tư, thiết bị 81

3.1.2.5 Trong công tác thi công xây dựng, nghiệm thu, giám sát thi công 82

3.1.3 Giai đoạn kết thúc đầu tư 83

3.2 Đổi mới mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước 84

3.2.1 Mô hình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân (mô hình PPP) 84

3.2.2 Mô hình quản lý dự án dạng “mua” công trình theo phương thức lựa chọn tổng thầu chìa khóa trao tay 87

3.2.3 Đổi mới phương thức quản lý dự án theo đầu ra và kết quả 88

3.3 Phát huy vai trò kiểm tra giám sát 89

3.3.1 Tăng cường giám sát của cộng đồng dân cư và xã hội 89

3.3.2 Tăng cường kiểm tra kiểm soát từ NSNN 90

3.4 Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTXD 90

3.4.1 Đổi mới phân cấp quản lý 90

3.4.2 Nhà nước đặt hàng công trình thay cho cấp phát vốn đầu tư 91

3.4.3 Thực hiện đấu thầu tín dụng 92

3.4.4 Tăng cường uỷ quyền trong đầu tư xây dựng 92

3.5 Giải pháp đối với Kiểm toán Nhà nước 93

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….……… 10101

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Tỷ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của Kiểm

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

2 Biểu đồ 2.1 Mối quan hệ của thất thoát lãng phí trong quá trình

Đầu tư xây dựng

65

3 Hình 3.1 Trình tự các bước quản lý và thực hiện dự án theo mô

hình hợp tác giữa tư nhân và nhà nước (mô hình PPP)

84

4 Hình 3.2 Lỗi gây thất thoát, lãng phí của các bên 94

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vốn đầu tư phát triển có ý nghĩa quan trọng, quyết định tốc độ phát triển kinh tế Trong những năm qua, tổng mức đầu tư của toàn xã hội bình quân mỗi năm đạt khoảng 600 nghìn tỷ đồng và theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước, trong đó vốn đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng cao trên tổng vốn đầu tư, giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu vốn của xã hội, góp phần định hướng, tạo ra cơ cấu kinh tế mới, thu hút đầu tư của các thành phần kinh

tế khác Tuy nhiên trước thực trạng của nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế… nên khó tránh khỏi những hạn chế, trong đó có lĩnh vực đầu tư xây dựng, đặc biệt là đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn NSNN, bởi những đặc thù của quy trình quản lý đầu tư xây dựng rất đa dạng và phức tạp dễ gây nên thất thoát, lãng phí và tiêu cực Tình trạng thất thoát lãng phí và tiêu cực đã và đang diễn ra ở tất cả các khâu trong quá trình đầu tư, gây nhức nhối trong xã hội và đang được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện ngăn ngừa tình trạng này, trong đó Kiểm toán Nhà nước là một công cụ của Nhà nước thực hiện chức năng này

Hoạt động của Kiểm toán góp phần bảo đảm minh bạch, phân bổ, quản

lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Kiểm toán đã góp phần ngăn ngừa các hành vi tiêu tực, tham nhũng, lãng phí công quỹ quốc gia

Sau nhiều năm hoạt động, KTNN đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong việc giúp Quốc hội, Chính phủ trong việ phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Một trong những nhiệm vụ quan trọng khi thực hiện vai trò này là việc kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) được đầu tư bằng nguồn vốn

Trang 10

NSNN Kết quả kiểm toán lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, không chỉ thể hiện qua con số hàng ngàn tỉ đồng mà KTNN đã phát hiện và kiến nghị các đơn vị có thẩm quyền giảm cấp phát, thu hồi vốn đầu tư do thanh toán, quyết toán sai khối lượng, sai định mức, sai đơn giá, và quan trọng hơn là thông qua công tác kiểm toán đã góp phần chấn chỉnh, ngăn ngừa các sai phạm thường xẩy ra, hạn chế thất thoát lãng phí

Xuất phát từ các lý do trên và thực tiễn liên quan đến công tác chuyên môn

đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài “Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách, phân tích dưới góc độ Kiểm toán Nhà nước” làm

luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu đề cập ít nhiều đến những vấn

đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài ở những góc độ

và giai đoạn khác nhau, giúp cho tác giả kế thừa một số vấn đề lý luận về thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB, vai trò và thực trạng của KTNN… Tuy nhiên, các vấn

đề liên quan đến chống thất thoát lãng phí nói chung và thất thoát lãng phí trong đầu

tư XDCB từ vốn ngân sách nói riêng còn rất ít được nghiên cứu so với các lĩnh vực nghiên cứu khác Tác giả chưa tìm thấy đề tài nào nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề này, vì vậy đề tài luận văn “Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách, phân tích dưới góc độ Kiểm toán Nhà nước” không chỉ mang tính cấp thiết mà còn mang tính độc lập

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Qua nhận dạng được thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng lãng phí, thất thoát Các biện pháp nµo lµm râ tÝnh khả thi và hiệu quả rõ rệt cña viÖc chèng thÊt tho¸t, l·ng phÝ trong ®Çu t- x©y dùng c¬ b¶n tõ vèn ng©n s¸ch?

Trang 11

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Hệ thống hoá và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB từ vốn NSNN Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc phòng chống thất thoát ĐTXD của các nước trên thế giới và rút ra các bài học vận dụng cho Việt Nam

Phân tích thực trạng thất thoát đầu tư XDCB để nhận diện được đặc điểm, tính phức tạp của nó đồng thời chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu

Đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống thất thoát lãng phí trong ĐTXD từ vốn NSNN Trong đó chú trọng đến việc làm rõ trách nhiệm và tăng hình thức xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân để xẩy ra sai phạm, đồng thời đưa ra một số giải pháp mang tính đổi mới trong mô hình

và phương thức quản lý dự án

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Là các công trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản

có sử dụng Vốn từ Ngân sách Nhà nước ở các giai đoạn của chu trình đầu tư xây dựng

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu vào phân tích thực trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB qua hoạt động chuyên môn của KTNN để

từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản (sè liÖu ph©n tÝch n¨m 2006 - 2010)

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, logic, nghiên cứu thực

tế, so sánh, thèng kª, chän mÉu, phân tích tổng hợp để nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu của đề tài

Trang 12

Các số liệu trong luận văn dựa trên các Báo cáo kiểm toán hàng năm của Kiểm toán Nhà nước; các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo; sách; luận án; các báo cáo hàng năm của Bộ Tài chính; các trang Web

6 Những đóng góp mới của luận Văn

Khái quát hóa một số vấn đề về thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản; đánh giá được thực trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản; đề xuất được một số giải pháp chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách

Chương 2: Thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ

TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH

1.1 Lý luận chung về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách 1.1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư là hoạt động sử dụng, kết hợp các nguồn lực (vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ) vào một công việc nhất định ở hiện tại nhằm mục đích thu được các kết quả trong tương lai Đầu tư là hoạt động rất đa dạng, phức tạp với nhiều hình thái như: đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp, đầu tư chuyển dịch, đầu tư phát triển (ĐTPT), đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài… ĐTPT

có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa tác động tới tổng cung, vừa tác động tới tổng cầu của nền kinh tế

Đầu tư xây dựng (ĐTXD) là một phương thức cơ bản của ĐTPT, là hoạt động đầu tư, trong đó có tiến hành các công việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp nhà cửa và các cơ sở hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị và các công việc liên quan khác trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội theo kế hoạch đã định nhằm duy trì, tạo thêm các tiềm lực mới cho nền kinh tế Vốn ĐTXD là tổng hợp các nguồn lực được sử dụng trong quá trình ĐTXD nhằm thực hiện các mục tiêu đầu tư Sản phẩm của ĐTXD là các công trình xây dựng, bao gồm: công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác

Để ĐTXD đảm bảo khoa học, đạt được mục tiêu, đem lại hiệu quả kinh

tế, xã hội cao thì trước khi bỏ vốn đầu tư phải làm tốt công tác chuẩn bị; phải xem xét, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế kỹ thuật, kinh tế tài chính, thị trường, điều kiện tự nhiên, môi trường, các yếu tố chủ quan, khách quan v.v

Trang 14

có liên quan và tác động đến quá trình thực hiện đầu tư, quá trình khai thác, vận hành các kết quả đầu tư Mọi sự xem xét, tính toán, dự đoán, chuẩn bị được thể hiện trong việc soạn thảo và trình bày một cách khoa học các văn bản, tài liệu,

hồ sơ v.v Về hình thức, đó chính là các dự án đầu tư Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động đầu tư thì cần thiết phải tiến hành theo các dự án đầu tư

Dự án ĐTXD được nhìn nhận dưới nhiều giác độ khác nhau Sự khác nhau về quan niệm này bắt nguồn từ sự khác nhau trong quan niệm về dự án đầu tư nói chung Tại điều 5, Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định: “Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)” Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng: “Dự án đầu

tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong khoảng thời gian nhất định” Luật Đầu tư năm 2005 tại Điều 3, khoản 8 quy định: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” Ngân hàng Thế giới cho rằng, dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định Trong luận văn này, dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động liên quan mật thiết với nhau về sử dụng các nguồn lực để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định trên địa bàn cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong khoảng thời gian xác định

Trang 15

ĐTXD trong nền Kinh tế thị trường (KTTT) có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau Các nguồn vốn cho ĐTXD có thể là: vốn Ngân sách nhà nước, vốn khác của Nhà nước (vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và vốn khác của nhà nước), vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

ĐTXD từ Ngân sách nhà nước (NSNN) là ĐTXD sử dụng nguồn vốn cấp phát từ NSNN Như vậy, ĐTXD từ NSNN có đặc điểm là nguồn vốn đáp ứng cho dự án được cấp phát trực tiếp từ NSNN Từ những phân tích trên, có

thể định nghĩa ĐTXD từ NSNN như sau: ĐTXD từ NSNN là tập hợp các hoạt động sử dụng nguồn vốn từ NSNN kết hợp với các đầu vào khác để thực hiện một phần công trình, một công trình hay một số công trình xây dựng nhằm mục đích duy trì, phát triển, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm dịch vụ trong một thời gian nhất định

1.1.2 Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản

1.1.2.1 Nhóm đặc điểm gắn với chu trình đầu tư:

- ĐTXD có tính chu trình và được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ Bất kỳ một công trình hay dự án ĐTXD nào đều có một chu trình chung gồm:

ý tưởng hình thành dự án đầu tư, chuẩn bị dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu

tư, kết thúc đầu tư bàn giao đưa dự án vào khai thác sử dụng, vận hành các kết quả đầu tư và đánh giá kết thúc dự án ĐTXD được xây dựng, luận chứng, thẩm định và phê duyệt theo quy trình chặt chẽ, phức tạp Điều này nhằm đảm bảo hơn tính khoa học, sự chắc chắn của quá trình ĐTXD

- ĐTXD có mục đích, mục tiêu rõ ràng Công trình ĐTXD ngay từ giai đoạn hình thành phải xác định được mục tiêu đầu tư Việc thực hiện dự án nhằm giải quyết được (đạt được) lợi ích gì về kinh tế, xã hội, tài chính; ai được hưởng lợi từ dự án? Như vậy, bất kỳ một dự án hoặc công trình ĐTXD

Trang 16

khi làm rõ tính mục đích của dự án ĐTXD thì việc bỏ vốn để triển khai thực hiện dự án mới có ý nghĩa và không bị thất thoát, lãng phí vốn đầu tư

- Dự án hoặc công trình ĐTXD luôn có tính kết quả Kết quả của ĐTXD chính là các công trình xây dựng được hoàn thành đưa vào khai thác

sử dụng có thể là các công trình hạ tầng kỹ thuật hoặc các công trình hạ tầng

xã hội Các kết quả của ĐTXD được tạo ra nhằm thực hiện tính mục đích (mục tiêu) đề ra

- Về nguồn lực bảo đảm cho dự án hoặc công trình ĐTXD Để công trình ĐTXD triển khai đạt được các mục tiêu đầu tư thì cần phải bố trí nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) ngay từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn cuối cùng của chu trình ĐTXD Sẽ thiếu thực tế nếu dự án ĐTXD được lập ra nhưng không được bảo đảm chắc chắn về mặt nguồn lực Vì vậy, quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án, vấn đề xác định nguồn lực và tính khả thi của

nó rất quan trọng, quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án

- Về chủ thể tham gia dự án ĐTXD Bất kỳ một dự án ĐTXD nào đều

có sự tham gia của các chủ thể bao gồm: chủ đầu tư (mà đại diện là Ban quản

lý dự án (BQLDA)), các nhà thầu (xây lắp, tư vấn, cung cấp hàng hóa, dịch vụ), tổ chức tài trợ vốn và các cơ quan quản lý nhà nước

- Dự án hoặc công trình ĐTXD bao giờ cũng được tiến hành trong một thời gian xác định Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, mức độ, tính chất của dự án, của công trình xây dựng

1.1.2.2 Nhóm đặc điểm gắn với hoạt động xây dựng

* Đặc điểm gắn với sản phẩm xây dựng:

- Sản phẩm xây dựng được sản xuất xác định tại vị trí cố định, nơi sản xuất cũng chính là nơi tiêu thụ, thụ hưởng sản phẩm Hoạt động ĐTXD tại các công trình phụ thuộc trực tiếp vào các điều kiện tự nhiên như địa chất,

Trang 17

v.v Chất lượng, chi phí và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định địa điểm xây dựng

- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, chu kỳ sản xuất dài Các công trình xây dựng hoàn thành là các tài sản cố định có quy mô lớn, kết cấu đa dạng, một công trình có thể bao gồm rất nhiều hạng mục công trình, mỗi hạng mục công trình lại có thể có những bộ phận khác nhau Thời gian để hoàn thành công trình xây dựng thường là dài và phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên Vì vậy, để hoàn thành quá trình ĐTXD tại các dự án đòi hỏi một lượng vốn thường là lớn hoặc rất lớn, khối lượng vật tư, thiết bị, máy móc nhiều và tập trung cao

- Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài (phục vụ cho trung hạn và dài hạn) Công trình xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác được xác định là tài sản cố định Vì vậy, đối với sản xuất kinh doanh, nó tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất; đối với lĩnh vực phi sản xuất thì nó được sử dụng lâu dài nhiều năm Vì vậy, chất lượng của công trình xây dựng đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả của việc khai thác, sử dụng sản phẩm trong một thời gian dài

- Sản phẩm xây dựng có tính chất đơn chiếc Mỗi công trình xây dựng đều có quy mô, các hạng mục được thiết kế riêng theo yêu cầu và mục đích sử dụng của các chủ đầu tư Mỗi công trình đều có yêu cầu riêng về kỹ thuật, công nghệ, quy phạm, cảnh quan, độ an toàn,… Vì vậy, khối lượng công tác xây dựng, chất lượng cũng như chi phí xây dựng ở mỗi công trình là khác nhau, cho dù ở một số trường hợp hình thức bề ngoài công trình xây dựng có thể tương đối giống nhau

- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về khoa học, kỹ thuật, kiến trúc, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng; liên quan mật thiết và có tác động, ảnh hưởng tới nhiều ngành, nhiều vùng Vì thế, trong quá trình triển khai

Trang 18

thực hiện ĐTXD, sự phối hợp thực hiện giữa các ngành, các cấp ở từng giai đoạn dự án là vấn đề quan tâm để đảm bảo thực hiện các mục tiêu của dự án

* Đặc điểm gắn với quá trình sản xuất xây dựng:

- Địa điểm sản xuất không ổn định, được bố trí theo từng công trình của từng dự án, công trình ĐTXD Các phương án về xây dựng, kỹ thuật, tổ chức sản xuất luôn phải thay đổi theo từng địa điểm xây dựng Sản xuất xây dựng hay bị gián đoạn, nảy sinh nhiều chi phí cho các khâu chuyển quân, luân chuyển máy móc thiết bị, xây dựng các công trình tạm phục vụ thi công, đòi hỏi quản lý, quản trị dự án phải có giải pháp phù hợp

- Thời gian xây dựng công trình (chu kỳ sản xuất) thường là dài xuất phát từ tính phức tạp về kỹ thuật, công nghệ, quy mô của từng công trình xây dựng cụ thể được thể hiện trong dự án Điều này đòi hỏi khi lập, thẩm định, phê duyệt dự án ĐTXD phải xem xét, nghiên cứu cụ thể để xác định, tính toán các chỉ tiêu một cách hợp lý và xác thực

- Sản xuất xây dựng mang tính chất đơn chiếc bắt nguồn từ tính đơn chiếc của sản phẩm xây dựng; chủ thể “mua, bán” sản phẩm được xác định trước khi thi công xây dựng công trình

- Sản xuất xây dựng chủ yếu hoạt động ngoài trời do đó chịu ảnh hưởng, tác động lớn của các điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết gây khó khăn cho các đơn vị xây lắp trong quá trình tổ chức các biện pháp thi công theo tiến độ xây dựng trong hợp đồng Điều này đòi hỏi tùy theo mức độ phức tạp, đặc điểm của loại, cấp từng công trình xây dựng để triển khai thực hiện đấu thầu, lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu thi công xây dựng một cách phù hợp

- Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng phức tạp xuất phát từ chính đặc điểm của sản phẩm xây dựng, đó là quy mô lớn, kết cấu phức tạp, đa dạng về kỹ thuật và công nghệ Vì vậy, trong tổ chức sản xuất xây dựng vấn đề

Trang 19

phối hợp giữa các đơn vị thi công, phối hợp giữa các bộ phận sản xuất trong một đơn vị thi công để đạt được các kết quả xây dựng trong từng giai đoạn là một yêu cầu hết sức quan trọng

1.1.3 Vốn ngân sách và đầu tư xây dựng cơ bản từ Vốn ngân sách

1.1.3.1 Khái niệm ngân sách và đầu tư XDCB từ vốn ngân sách

Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm

2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã được cơ quan Chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm

vụ của Chính phủ

Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách phản ánh toàn bộ những chi phí mà tiền Ngân sách nhà nước bỏ ra dùng cho việc xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại và khôi phục tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định, bao gồm: chi phí khảo sát, quy hoạch; chi phí chuẩn bị đầu tư và thiết kế; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt thiết bị và các khoản chi phí khác thực hiện trong một thời kỳ nhất định Vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm ba phần chính: Phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho việc xây dựng và lắp đặt máy móc, thiết bị của công trình; Phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản chi cho việc mua sắm máy móc, thiết bị và các dụng cụ, khí cụ, gia súc đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định theo quy định hiện hành; Vốn thiết bị bao gồm cả giá trị mua sắm thiết bị máy móc cần lắp đặt và thiết bị máy móc không cần lắp đặt; Phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản không thuộc vốn xây lắp và vốn thiết bị, bao gồm: chi sửa chữa lớn tài sản cố định, đầu tư khảo sát, thiết kế; chi quản lý; chi giải phóng mặt bằng,

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước nên không có chủ đầu tư đích thực Vốn nhà nước là sở hữu toàn dân, để thực hiện

Trang 20

nhân đại diện cho vốn Nhà nước được phép thực hiện các quá trình đầu tư Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước được thực hiện ở nhiều cơ quan, nhiêu khâu theo sự phân cấp nhất định

1.1.3.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB từ vốn ngân sách

Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách có những đặc điểm sau:

- Quá trình thực hiện ĐTXD từ NSNN phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý và sử dụng NSNN Nguồn vốn cho ĐTXD là do NSNN cấp phát trực tiếp nên trong quá trình triển khai thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý và sử dụng NSNN theo Luật NSNN, từ việc bố trí kế hoạch vốn hàng năm, lập và điều chỉnh kế hoạch vốn, phân bổ vốn, thẩm tra

và giao kế hoạch vốn, thanh quyết toán vốn đầu tư Đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt ĐTXD từ NSNN với các dự án ĐTXD sử dụng các nguồn vốn khác (dân cư, nhà đầu tư nước ngoài)

- Việc sử dụng vốn của ĐTXD từ NSNN thường là không có tính hoàn trả trực tiếp, do chủ yếu đầu tư vào kết cấu hạ tầng, đổi mới cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khả năng thu hồi vốn đầu tư là rất thấp hoặc không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Hiệu quả của các dự án này chính là hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội do dự án mang lại Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của dự án ĐTXD từ NSNN đòi hỏi phải đánh giá tác động của dự

án một cách toàn diện cả về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường

- ĐTXD từ NSNN thường có quy mô lớn, phục vụ cho các nhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Các dự

án này thường cần một lượng vốn rất lớn nên các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước thường không đủ điều kiện về nguồn vốn để tham gia; hoặc các công trình phục vụ cho các yêu cầu an ninh, quốc phòng thuộc về bí mật quốc gia thì các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước không được tham gia Vì vậy, Nhà

Trang 21

- ĐTXD từ NSNN đáp ứng các mục tiêu trung hạn và dài hạn của Nhà nước, do việc lập, thẩm định, phê duyệt ĐTXD từ NSNN phải trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội trong từng thời kỳ, các quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt Đặc điểm này có tác động mạnh mẽ tới quy trình, nội dung, phương thức quản lý

dự án ở tất cả các giai đoạn từ việc hình thành ý đồ về dự án đến thẩm định, phê duyệt dự án, thi công xây dựng, vấn đề đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn và

tổ chức vận hành, khai thác, sử dụng công trình Việc đánh giá và xác định hiệu quả kinh tế, xã hội mang lại khi khai thác sử dụng các công trình đó trong thời gian tương đối dài từ 5 năm, 10 năm, 50 năm hoặc lâu dài hơn nữa

- Trong nhiều trường hợp, chủ đầu tư, chủ xây dựng (nhà thầu xây lắp)

và người được thụ hưởng kết quả đầu ra của dự án ĐTXD từ NSNN không phải là một Chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN để ĐTXD công trình không phải cho mình mà lại chuyển giao quyền quản lý và sử dụng cho đơn vị khác (người khác) nên khả năng lãng phí, thất thoát, tiêu cực là rất lớn nếu không được kiểm soát chặt chẽ Đặc điểm này đòi hỏi quản lý Nhà nước (QLNN) đối với dự án ĐTXD từ NSNN cần có quy trình, phương thức kiểm soát chặt chẽ, sử dụng phương thức quản lý hợp lý

- Việc sử dụng nguồn vốn của các công trình, dự án ĐTXD từ NSNN chủ yếu bằng cơ chế đại diện, ủy thác: Nhà nước đại diện cho nhân dân quản

lý, sử dụng quỹ NSNN (chủ yếu từ nguồn thu thuế của nhân dân); các cơ quan nhà nước ở cấp cao (Chính phủ, Quốc hội) ủy thác việc quản lý, sử dụng vốn NSNN cho các bộ, ngành, các đơn vị, Ban quản lý dự án (BQLDA) trực thuộc các bộ, ngành Các chủ thể này chỉ là đại diện không phải là “Ông chủ đích thực” Do vậy, đây là một trong những nguyên nhân cơ bản, sâu xa dẫn đến

dự án ĐTXD từ NSNN dễ bị thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng nếu quản lý không tốt Đây là đặc điểm rất quan trọng, khác biệt trong quá trình

Trang 22

quản lý dự án ĐTXD từ NSNN so với các dự án sử dụng các nguồn vốn khác Đặc điểm này đòi hỏi QLNN đối với dự án ĐTXD từ NSNN phải quan tâm tới chất lượng, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, chính trị cho đội ngũ cán bộ QLNN và quản trị dự án; phải xây dựng được cơ chế, chính sách quản lý phù hợp đối với lĩnh vực này Đồng thời cần thực hiện công khai, minh bạch và gắn trách nhiệm rõ ràng đối với từng chủ thể

1.2 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách 1.2.1 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Thất thoát trong đầu tư XDCB bao hàm nhiều mặt như: Lãng phí, tham

ô, hối lộ, sai sót kỹ thuật lớn, sự không phù hợp giữa thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công với báo cáo nghiên cứu khả thi; giữa thanh quyết toán khối lượng hoàn thành với hồ sơ hoàn công Do vậy thất thoát, lãng phí trong xây dựng được hiểu như sự mất mát về tiền của, nhân tài, vật lực dưới mọi hình thức gây ra thiệt hại không đáng có về vốn đầu tư xây dựng của nhà nước trong suốt quá trình đầu tư từ quyết định chủ trương đầu tư đến khi công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng Phần vốn này mặc dù đã đưa vào công trình nhưng

bị lãng phí hoặc là phần vốn bị biến mất trong quá trình đó và do nhiều nguyên nhân trong quá trình đầu tư và xây dựng gây ra

Thất thoát trong đầu tư xây dựng được đo lường bằng giá trị phần thất thoát để đánh giá mức độ thất thoát thông qua hiệu số giữa tổng số vốn đầu tư

đã thực hiện với giá trị thực của khối lượng công trình được xây dựng (giá trị thực là phần chi phí thực tế để thực hiện khối lượng xây dựng công trình đạt được mục đích đầu tư); mức độ thất thoát là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thất thoát so với giá trị được đề nghị thanh, quyết toán

Trang 23

Giá trị phần thất thoát Mức độ thất

- Thất thoát trong lĩnh vực đầu tư XDCB là phần vốn bị mất đi và thực

tế không sử dụng vào công trình do bị bớt xén, bị thay đổi chất lượng, chủng loại vật tư, cắt giảm không đúng quy định, không hợp lý hoặc do khai man, khai khống để trục lợi, nhưng vẫn tính vào chi phí xây dựng công trình để rút vốn, làm giảm chất lượng và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình

- Lãng phí trong lĩnh vực đầu tư XDCB là những mất mát, thiệt hại không đáng có về vốn đầu tư xây dựng do ý thức chủ quan của con người, do yếu kém trong quản lý dẫn đến việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá

đi làm lại hoặc công trình hoàn thành không sử dụng được, bỏ phí, không mang lại hiệu quả, hoặc hiệu quả thấp do xây dựng với chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn, định mức quy

định của nhà nước

1.2.1.2 Đặc điểm của thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB

- Thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra ở hầu hết các khâu, từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệm thu, quyết toán công trình, diễn biến phức tạp và ngày càng nghiêm trọng Chưa có con số hay thống kê cụ thể nào về mức độ thất thoát lãng phí, tuy nhiên gần như ở bất

cứ công trình xây dựng nào khi có kiểm tra thanh tra thì phát hiện ra sai phạm

Trang 24

- Gắn với những người có chức quyền, liên quan đến nhiều vị trí trong công tác quản lý đầu tư Với cương vị và vai trò trong bộ máy, trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng, họ đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn để trục lợi cho bản thân Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giảm sát thậm chí là tiếp tay cho các đối tượng khác làm thất thoát lãng phí vốn đầu tư xây dựng Dạng thất thoát lãng phí này thường gắn chặt và đi đôi với việc tham nhũng

- Tình trạng móc ngoặc, quân xanh, quân đỏ, giàn xếp xẩy ra phổ biến trong trong tác đấu thầu Các nhà thầu thông đồng với nhau để chia các gói thầu, giàn xếp kết của đấu thầu Thậm chí còn có sự thông đồng, tiếp tay của các ban quản lý dự án, chủ đầu tư để sắp xếp việc chấm thầu và trúng thầu, tình trạng nhà thầu chính sau khi trúng thầu giao lại cho các nhà thầu phụ còn phổ biến, trong khi năng lực của thầu phụ nếu tham gia đấu thầu sẽ không thể thắng thầu Tình trạng này thường diễn ra tại các công trình, dự án lớn là việc các tổng công ty đứng sau khi trúng thầu đều giao lại (khoán trắng) hoặc cho một vài công ty thành viên thực hiện, mà trước đó nếu các công ty này dự thầu thì sẽ không thắng thầu Tình trạng này không chỉ xẩy ra đối với công tác đấu thầu mà còn xẩy ra ở nhiều khâu khác, thông đồng giữa nhà thầu với tư vấn giám sát thi công; giữa lập dự toán với thẩm định dự toán,

- Quản lý đầu tư xây dựng khép kín trong tất cả các khâu khi thực hiện

dự án Qui trình khép kín từ A đến Z: từ quy hoạch, quyết định đầu tư đến đấu thầu, thi công, tư vấn đều nằm trong vòng tròn thuộc một bộ, ngành (các công trình xây dựng cơ bản trong lĩnh vực giao thông, dầu khí, hàng không, toàn bộ quá trình thực hiện dự án từ khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát đều thuộc Bộ chủ quản và chủ đầu tư cũng thuộc Bộ ngành chủ quản) Tình trạng khép kín trong đầu tư xây dựng công là di sản của thời kỳ kinh tế kế hoạch trước đây Khi đó, mỗi bộ, ngành có nhiệm vụ quản lý kết cấu hạ tầng, ngoài việc làm chủ các dự án, còn có các đơn vị tư vấn, đơn vị nhà thầu, thậm chí

Trang 25

đôi khi cả đơn vị cung ứng vật liệu xây dựng trực thuộc Để khắc phục một cách cơ bản nhất thiết phải xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bộ chủ quản

1.2.2 Phân loại thất thoát, lãng phí

Phân loại nhằm giúp cho việc nhận diện, phát hiện và tìm ra những giải pháp phòng chống có hiệu quả Và có nhiều cách phân loại khác nhau, cụ thể:

1.2.2.1 Phân loại thất thoát:

Một là, phân loại theo quan hệ quyền lực và tiền bạc, dấu hiệu đặc trưng của thất thoát ở đây là sự lợi dụng quyền lực của nhà nước các cấp Trong điều kiện của cơ chế “xin - cho” như ở nước ta thì quyền lực nhà nước

dễ bị thao túng mạnh, do đó nguy cơ thất thoát là rất lớn Thất thoát trong quan hệ tiền bạc thì khách thể là những giá trị vật chất, hoặc phi vật chất phục

vụ lợi ích tư nhân, bao gồm các loại lợi ích hữu hình như tiền, nhà, đất, các tiện nghi sinh hoạt và các loại lợi ích trừu tượng, vô hình song lại rất lớn và thiết thực, như cơ hội, chức vụ, ưu thế

Hai là, phân loại thất thoát theo quan hệ pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế hiện hành, có hai loại thất thoát lớn là thất thoát do vi phạm pháp luật và thất thoát do thủ đoạn xảo quyệt, khôn khéo của kẻ thất thoát, thường

là không rõ ràng, không thể coi là hợp pháp, nghiêm chỉnh và làm đúng pháp luật song rất khó để kết luận là bất hợp pháp Như vậy pháp luật mà được hiểu theo nhiều cách khác nhau thì sẽ có nhiều sơ hở, nhiều lỗ hổng dễ sinh sôi và nảy nở thất thoát

Ba là, phân loại thất thoát theo các khâu của quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật, có hai loại thất thoát lớn:

- Thất thoát trong thi hành pháp luật

- Thất thoát trong soạn thảo quyết định và ban hành pháp luật nằm trong quy trình ban hành các văn bản quản lý từ cơ quan hành chính cao nhất

Trang 26

cố ý tạo ra kẽ hở để thất thoát, dẫn tới hậu quả thất thoát rất nghiêm trọng, tác hại rất lớn nhưng khó để kết luận là bất hợp pháp

Bốn là, phân loại thất thoát theo mức độ nghiêm trọng, có 3 loại lớn:

- Thất thoát có tính chất bộ phận và thứ yếu, thường là các vụ việc nhỏ, không lớn, ít người tham gia, tổng số vụ thất thoát không nhiều

- Thất thoát có tính chất hệ thống, có tổ chức và chỉ đạo chặt chẽ, có nhiều vụ thất thoát lớn và rất lớn, có đường dây; thất thoát do một số người có chức, có quyền, có vị trí cầm đầu, móc nối cả trong và ngoài nước

- Thất thoát của hệ thống: Đây là loại thất thoát đã trở thành đặc tính của cả hệ thống, lôi cuốn hầu hết công chức, danh nhân lớn nhỏ, lôi kéo cả một bộ phận gia đình và cá nhân, với nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, hoạt động rất đa dạng, từ những đường dây thất thoát các vụ lớn đến các thất thoát lặt vặt hàng ngày, làm cho cả xã hội vào vòng xoáy thất thoát,

nó trở thành văn hoá, tập quán, nó diễn ra ở mọi lúc mọi nơi, không che dấu

mà công khai thậm chí tuỳ tiện

Tất cả các loại thất thoát trên ngoài những bản chất chung, còn có những đặc điểm mang tính phổ biến sau:

- Hành vi thất thoát tinh vi, rất khó phát hiện; mức độ ẩn rất lớn so với những gì phát hiện được Đã là sự liên kết, "gắn bó", chẳng hạn giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ, có khi người đưa hối lộ do bị sách nhiễu, bị bức bách, nhưng không hiếm các trường hợp có sự "muốn mất tiền", tức là được người nhận hối lộ "vui lòng" Vì vậy, sự điều tra khám phá không mấy khi thành công

- Một yếu tố thuộc về đặc điểm nữa của thất thoát là địa vị xã hội của người thất thoát Người thất thoát có thể sử dụng lợi thế đó từ hai phía: phía cấp trên và từ phía cấp dưới hoặc dân thường, bởi sự nể trọng chức vụ và vị

Trang 27

trí công tác mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã giao cho họ đảm trách Đó là chưa kể đến sự bao che từ nhiều phía với nhiều loại động cơ khác nhau

- Một yếu tố khó khăn nữa trong việc phát hiện và đấu tranh chống thất thoát là ở chỗ các vụ việc thất thoát thường gắn liền với các phạm vi chuyên môn nghiệp vụ quản lý, mà để nhận ra sự thất thoát cũng phải có chuyên môn nghiệp vụ quản lý

1.2.2.2 Phân loại lãng phí:

- Lãng phí sức lao động: Do kém tinh thần phụ trách, năng lực tổ chức, sắp xếp lao động không hợp lý, việc ít người cũng làm được mà vẫn dùng nhiều người dẫn tới lãng phí sức ngưòi sức dân

- Lãng phí thời gian: Việc có thể làm trong một thời gian nhất định nhưng do tổ chức triển khai công việc không hợp lý dẫn đến mất nhiều thời gian hơn so với kế hoạch, định mức…

- Lãng phí tiền của: Có nhiều hình thức biểu hiện như các cơ quan, tổ

chức sử dụng kinh phí, đơn vị sản xuất kinh doanh không tính đến tính tiết kiệm, đúng định mức và thực hiện vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan Nhà nước quy định; các đề án, dự án phục vụ cho kinh tế, văn hoá, xã hội không có hiệu quả hoặc phát huy hiệu quả không cao do không tính đầy

đủ các yếu tố ảnh hưởng, không sát với hoàn cảnh thực tế hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định nhưng không đúng mục tiêu đã xác định Không có tinh thần trách nhiệm đối với công việc và nhiệm vụ được giao để hoang hoá, mất mát, thất thoát, hay thua lỗ trong sản xuất kinh doanh

Trong thực tế thì lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng thường

Trang 28

với tham nhũng và tiêu cực trong đầu tư xây dựng là rất khó Tuy nhiên, trong các trường hợp, qua kết quả kiểm toán của KTNN đã phát hiện ra thất thoát, lãng phí nhưng không đủ cơ sở để chứng minh, làm rõ được hành vi tham nhũng gắn liền với thất thoát, lãng phí

1.2.3 Nguyên nhân thất thoát lãng phí trong ĐTXD

- Đầu tư xây dựng không phù hợp về địa điểm, thời điểm đầu tư: Điều này được thể hiện rõ trong các dự án do không nghiên cứu, điều tra, khảo sát

kỹ các điều kiện về môi trường, tập quán, thị trường, vùng nguyên liệu, các tài liệu địa chất công trình, địa chất thuỷ văn, xác định trung tâm văn hoá kinh tế

- xã hội nên công trình dự án sau khi đầu tư xong không sử dụng được, hoặc

sử dụng không hết công suất Hoặc tuy có khai thác sử dụng nhưng sản phẩm không tiêu thụ được vì chi phí đầu tư XDCB lớn do thời gian thi công kéo dài, thiếu đồng bộ

- Quy mô đầu tư không phù hợp với yêu cầu sử dụng: Quy mô lớn hơn nhu cầu sử dụng nên lãng phí đầu tư, thời gian hao mòn vô hình lớn, nhất là trong điều kiện tốc độ khoa học kỹ thuật phát triền nhanh, việc hao mòn vô hình gây lãng phí càng lớn Hoặc quy mô nhỏ hơn nhu cầu sử dụng nên phải

bổ sung, điều chỉnh, phá vỡ sự tổng thể dẫn đến đầu tư chắp vá, suất đầu tư sau khi điều chỉnh sẽ cao hơn suất đầu tư ban đầu

- Công trình không phù hợp giữa nội dung và hình thức: Hình thức tốt nhưng nội dung như công năng sử dụng, chất lượng nội thất, công nghệ thiết bị không phù hợp, gây lãng phí đầu tư cho hình thức và ngược lại

- Công trình không đảm bảo cảnh quan, môi trường: Đầu tư xây dựng không đảm bảo cảnh quan đã làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên cần bảo tồn, phát

Trang 29

triển và các chi phí đầu tư cũng lãng phí như thiết kế phải phù hợp với cảnh quan nên nhiều hạng mục buộc chi tiết phần kiến trúc có thể sẽ phức tạp hơn làm tăng chi phí nhân công, tăng chi phí vật tư, thiết bị Đầu tư không chú ý tới môi trường xung quanh, làm ô nhiễm môi trường và đương nhiên phải đầu

tư bổ sung để xử lý môi trường đã làm tăng chi phí xây dựng gây lãng phí

- Bố trí vốn dàn trải, không kịp thời tạo nên sự lãng phí do kéo dài thời gian xây dựng, không kịp thời đưa vào khai thác sử dụng

- Mua sắm thiết bị công nghệ lạc hậu, giá cả không phù hợp

- Công trình không đảm bảo chất lượng, quy phạm, quy chuẩn do bớt khối lượng, hoặc kê khống khối lượng để thanh toán; thi công không tuân thủ đúng thiết kế được cấp thẩm quyền phê duyệt, thi công vượt tiến độ và quyết toán không đúng dự toán hoặc giá trúng thầu được duyệt Đây là dạng lãng phí, thất thoát phổ biến

- Thiết kế vượt quá yêu cầu so với tiêu chuẩn và quy chuẩn hoặc sử dụng nhiều vật liệu đắt tiền trong khâu trang trí nội, ngoại thất, hoặc thiết kế dựa trên kết quả khảo sát sơ sài, dẫn đến thiết kế sai, phải bổ sung trong quá trình thực hiện

- Không tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của nhà nước về đầu thầu, chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế sai quy định…

- Việc kiểm tra, giám sát và quyết toán công trình không tuân thủ theo

quy định về quy chế quản lý đầu tư xây dựng

- Thời gian thi công kéo dài do những nguyên nhân chủ quan như thiếu vốn, đền bù giải phóng mặt bằng chậm, phải thay đổi thiết kế, tổng mức đầu tư,

Trang 30

Hình 1.1 : Nguyên nhân thất thoát lãng phí

Nguồn: Tác giả tự xây dựng

1.2.4 Tác hại của tham nhũng, thất thoát lãng phí trong ĐTXD

Ở nước ta, từ lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng gọi tham nhũng là giặc nội xâm Trong tác phẩm “Chống quan liêu, tham ô, lãng phí”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến; những kẻ tham ô, lãng phí, quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực tiêu hao của cải của Chính phủ và nhân dân Như vậy có thể khái quát những mối nguy hại của tệ tham nhũng nói chung và tham nhũng, thất thoát lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng ở một số điểm sau đây:

Trang 31

- Thất thoát, lãng phí gây thiệt hại rất lớn về tiền, tài sản của nhà nước, tập thể và công dân Hậu quả không chỉ là việc tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân bị xâm hại, biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi mà nó còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ Thậm chí còn làm đất nước tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học, công nghệ và làm thất thoát nguồn lực đầu tư từ NSNN hoặc vốn vay nước ngoài, tiếp nhận những công nghệ lạc hậu… Chẳng hạn việc nhà nước chủ trương đầu tư cho một chương trình kinh tế hoặc xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế như đường, cầu cống, sân bay, bến càng, đê điều, các nguồn vốn đó bị tham nhũng thông qua công tác tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình làm cho chi phí đầu tư các dự án, công trình tăng lên, làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án, công trình, làm giảm chất lượng công trình; Hậu quả đã

có không ít công trình chưa làm xong hoặc vừa đưa vào sử dụng đã bị sự cố, sụp đổ hoặc chất lượng kém, xuống cấp nhanh chóng, không sử dụng được, gây lãng phí lớn cho ngân sách

- Thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB ảnh hưởng đến các nguồn lực của đất nước cũng như đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam:

Tại một đất nước đang phát triển như Việt Nam, có nhiều yếu tố khiến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế không phát huy hết mức Đó có thể là

do nguồn nhân lực chất lượng thấp, hạn chế của chính sách, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp… nhưng có một yếu tố khác làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế đó là thất thoát, lãng phí Tăng trưởng tạo ra của cải, thất thoát, lãng phí phân phối bất bình đẳng khối của cải đó và đáng lẽ nguồn lợi sẽ được đem đầu tư phát triển thì nó lại rơi vào túi của một số người có chức, có

quyền Tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng đã gây ảnh hưởng

xấu đến tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài và gây nghi hại cho các nhà

Trang 32

tài trợ quốc tế Ví dụ như vụ việc tiêu cực, tham nhũng tại Ban quản lý dự án

18 (PMU 18) - Bộ Giao thông vận tải, vụ hối lộ Dự án Đại lộ Đông - Tây và môi trường nước thành phố Hồ Chí Minh là một điển hình, có thể thấy một nguồn lực đáng ra sẽ được đầu tư cho phát triển, đã rơi vào túi một số người, làm giảm sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào Việt Nam

Sai phạm trong quy hoạch đầu tư dẫn đến những tổn thất lớn, quy hoạch sai còn tạo điều kiện cho lãng phí và gây tổn thất rất dài hạn Như hàng loạt nhà máy đường có quy hoạch sai, khiến nông dân điêu đứng, ảnh hưởng nặng nề của nó không chỉ ở số tiền bị mất từ dự án đầu tư sai đó mà còn ảnh hưởng lâu dài Quy hoạch sai có nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân do nôn nóng phát triển, có nguyên nhân do năng lực kém nhưng có một nguyên nhân

là do tiêu cực “chia phần dự án” Thiệt hại do sai phạm này là rất lớn vì nó làm giảm nội lực quốc gia

Tham nhũng đang kéo tụt tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam: nếu không có tiêu cực, tham nhũng dẫn đến thất thoát, lãng phí một lượng lớn tiền, tài sản của cải xã hội sẽ bổ sung tốt cho phát triên Nó sẽ giúp những chính sách dân sinh phát huy tối đa tác dụng, tạo cơ hội phát triển cho một doanh nghiệp, một vùng hay cả một ngành Mà ở các nước sự lớn mạnh của một tập đoàn, một ngành có tác dụng rất lớn, thúc đẩy cho sự phát triển kinh

tế của một quốc gia

Vấn đề này đã được nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải nói tại Hội nghị triển khai các Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch và ngân sách năm 2005 như sau: “lẽ ra tăng trưởng kinh tế GDP năm 2004 tăng không chỉ là 7,7% và năm 2005 tăng trưởng hoàn toàn có thể đạt trên 8,5%, nếu bộ máy hành chính không yếu kém, trì trệ và tiêu cực” và Quốc hội nhận định nếu ước tính tiêu cực, tham nhũng, thất thoát và lãng phí tới 20% - 30% vốn đầu tư XDCB thì tốc độ tăng trưởng GDP ở Việt Nam đã bị giảm tử 4-5%

Trang 33

- Thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước: đội ngũ cán bộ công chức là xương sống của bộ máy nhà nước, là yếu tố quan trọng quyết định trong việc thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Thế nhưng trong những năm qua, nhất là từ khi chúng ta chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và tiến hành đổi mới, một bộ phận cán bộ, Đảng viên đã bị đồng tiền và những lợi ích cám dỗ Nhiều người đã không còn giữ được đạo đức lý tưởng cách mạng, bị cám dỗ bởi những đòi hỏi vật chất tầm thường, nghiêm trọng hơn còn có cả sự cấu kết móc ngoặc, thông đồng với nhau

- Thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB làm giảm niềm tin của nhân dân với nhà nước: trước tình trạng thất thoát lãng phí khiến người dân mất lòng tin, có phản ứng đối với chính quyền cở sở Tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo, tình trạng những đoàn người khiếu tố đông người kéo lên Trung ương trong những năm qua gần đây chính là sự thể hiện rõ nét nhất sự mất lòng tin của quần chúng vào bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước

- Tác hại thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là một trở lực lớn đối với sự nghiệp đổi mới, là một trở lực không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Thất thoát, lãng phí đã biến sự thông thoáng, cởi mở của cơ chế, chính sách thành sự ban ơn, vụ lợi của một số người Ngược lại, thất thoát lãng phí làm cho sự tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát và các biện pháp khác để đảm bảo tăng cường pháp chế, kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước bị lợi dụng, đòi hối lộ của những kẻ tham nhũng, gây thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB Tình trạng này làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư Việt Nam trong thời gian qua, thu hút nguồn đầu tư bị giảm sút,

Trang 34

mặc dù Việt Nam được coi là quốc gia ổn định về chính trị và an toàn về xã hội Với những hậu quả của nạn tham nhũng, thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB và việc kiểm soát tốt được vấn nạn này sẽ mang lại nhiều lợi ích Do

đó vai trò đặt ra đối với các cơ quan kiểm tra, kiểm soát trong phòng, chống tham nhũng, thất thoát lãng phí là rất quan trọng và cần thiết trong đó có Kiểm toán Nhà nước

1.2.5 Tiêu thức xác định thất thoát, lãng phí

- So sánh Dự toán vốn đầu tư với vốn đầu tư thực hiện (Dự toán vốn đầu tư/Vốn đầu tư thực hiện) Chỉ tiêu này đánh giá lãng phí trong đầu tư Nguồn vốn đầu tư theo dự toán lớn hơn vốn đầu tư thực hiện thì dẫn đến lãng phí nguồn vốn, vốn ứ đọng, nằm chờ công trình, mất chi phí cơ hội cho các công trình khác Nếu Nguồn vốn đầu tư nhỏ hơn Vốn đầu tư thực hiện thì dẫn đến công trình, dự án thiếu vốn, dự án kéo dài, phải chờ vốn Hạn chế của chỉ tiêu này là dự toán khó chính xác do năng lực của phía lập dự án và biến động của giá cả vật liệu đầu vào

- So sánh Tổng vốn đầu tư đã giải ngân với giá trị tài sản cố định được hình thành (Vốn đầu tư đã giải ngân/Giá trị tài sản hình thành) Khi chi phí đầu tư lớn hơn giá trị tài sản cố định thì thể hiện thất thoát nguồn vốn, có sự hao hụt trong quá trình thi công Hạn chế trong chỉ tiêu này là khó đánh giá giá trị tài sản cố định được hình thành

- So sánh Giá trị vốn đầu thực hiện với số Kiểm toán nhà nước giảm trừ Chỉ tiêu này thể hiện sự thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện đầu tư do kiểm toán phát hiện và đề nghị giảm trừ thanh toán (Xem bảng 1.1; bảng 1.2)

Trang 35

Bảng 1.1: Tỉ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của KTNN năm 2009

Đơn vị tính : VNĐ

Tên Công trình, dự án Vốn đầu tư

thực hiện

Số kiểm toán giảm trừ

Tỉ lệ giảm trừ (%)

Các dự án CNTT của KTNN 11.678.749.680 11.880.000 0,101 Đường cao tốc TP HCM -

Dự án đa dạng hóa nông nghiệp 261.010.479.520 10.357.020.301 3,968

Đề án bồi thường di dân tái định

cư dự án thủy điện Sơn La 2.141.933.087.464 28.028.684.135 1,308

Dự án nâng cấp cải tạo QL 3 494.083.409.388 6.890.432.086 1,394

Dự án thoát nước Hà Nội 1.971.714.777.991 156.684.732 0,008 Chương trình mục tiêu QG nước sạch

và vệ sinh môi trường nông thôn 221.900.000.000 2.310.471.986 1,041

Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ

em có hoàn cảnh khó khăn 853.520.471.617 1.257.112.892 0,147

Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm

Trang 36

Bảng 1.2: Tỉ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của KTNN năm 2010

Đơn vị tính : VNĐ

Tên Công trình, dự án Vốn đầu tư

thực hiện

Số kiểm toán giảm trừ

Tỉ lệ giảm trừ (%)

Dự án hai đoạn tuyến qua thị xã Gia

Nghĩa - tỉnh Đăk Nông (Thuộc dự

án đường Hồ Chí Minh giai đoạn 2)

912.876.550.442 7.826.184.456 0,85

Tổng 7.880.758.980.881 105.676.249.652 1,404

Nguồn: Kiểm toán Nhà nước 2010

1.2.6 Các nhân tố tác động đến thất thoát, lãng phí 1.2.6.1 Nhân tố con người

Trong hoạt động đầu tư có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giám sát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản

lý doanh nghiệp tư vấn, người có thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý

dự án, quản lý thi công,…chức danh nhiều trong khi để xẩy ra sai phạm lại không có cá nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liên đới trách nhiệm, vậy nên đã xảy ra tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất ít người chịu trách nhiệm cụ thể” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai

dự án nên thất thoát dễ dàng xẩy ra

Trang 37

Phẩm chất đạo đức là yếu tố cơ bản đầu tiên của người cán bộ Cán bộ

có giỏi nhưng phẩm chất kém cũng không mang đến hiệu quả trong công tác

Đó là sự sa sút, biến chất về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ, công nhân, viên chức, lợi dụng cương vị được giao cố ý làm trái, thông đồng, móc ngoặc với nhau để làm ăn phi pháp trong đầu tư XDCB, coi việc nhận dự án công trình XDCB như một cơ hội làm ăn để tăng thu nhập, làm giàu bất chính và thăng tiến, làm giảm hiệu lực của các nguyên tắc pháp

lý, phá vỡ các quy trình quy phạm trong ĐTXD, gây nên những hậu quả đáng tiếc Điển hình nhất là vụ PMU18 ở Bộ Giao thông vận tải

Hiện nay, tình trạng thiếu trách nhiệm, không sâu sát thực tế, vì lợi ích cục bộ của ngành, địa phương và vì thành tích đã có những quyết định chủ trương đầu tư sai là nguyên nhân quan trọng gây ra dàn trải, thất thoát, lãng phí không nhỏ, ảnh hưởng về lâu dài Tuy chưa có số liệu đầy đủ nhưng nhiều chuyên gia cho rằng trong đầu tư và xây dựng, lãng phí ở các khâu do các quyết định không sát, không đúng chiếm khoảng 60-70% tổng số thất thoát, lãng phí Chưa kể tình trạng cố ý làm sai, vi phạm pháp luật, vụ lợi trong đầu

tư XDCB còn diễn ra ở nhiều dự án

Ngoài việc một số chủ thể tham gia quá trình triển khai các dự án cố ý

vi phạm các quy định quản lý dự án thì ở nhiều trường hợp khác, năng lực hạn chế, trình độ chuyên môn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, giá thành của dự án Tại Hội thảo toàn quốc về nguồn nhân lực ngành xây dựng mới đây đã thống nhất nhận định: nguồn nhân lực trong XDCB vừa thiếu vừa yếu ở tất

cả các khâu, các chủ thể tham gia quản lý triển khai (chủ đầu tư, Ban quản

lý dự án, tư vấn khảo sát, thiết kế, giám sát, đến nhà thầu xây lắp) Thực tế này cũng đã được Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ghi nhận

trong quá trình làm việc với các bộ, ngành địa phương Báo cáo của Đoàn

Trang 38

giám sát cho biết: Một số Ban quản lý dự án không có kỹ sư xây dựng; Việc phân cấp mạnh cho huyện, xã trong XDCB tỏ ra vượt quá khả năng chuyên môn của cán bộ thuộc các cấp này

1.2.6.2 Cơ chế chính sách

Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh Mặc dù nước ta đã có Pháp lệnh, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhưng vẫn chưa có cơ chế phòng ngừa, đấu tranh một cách cụ thể, đồng bộ, thống nhất chặt chẽ Những nội dung pháp luật chưa thật sự tuyên truyền sâu rộng đến với dân, chưa thấm nhuần vào nhận thức, hành động của mọi người; chưa có chế tài xử

lý nghiêm minh, kịp thời những người vi phạm Việc thực hiện cải cách hành chính vừa chậm vừa lúng túng, chưa tạo ra tác động tích cực cho phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí

Cơ chế quản lý, thanh tra giám sát không hiệu quả Tổ chức bộ máy quản lý điều hành các dự án đầu tư còn nhiều yếu kém, nhiều đầu mối Vẫn còn tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước can thiệp sâu vào công việc của đơn vị kinh doanh Cơ chế quản lý nhiều khi chưa được xác lập rõ ràng, minh bạch Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đã tiến hành và đạt được một số kết quả nhưng vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu chống quan liêu, lãng phí, chưa phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, đồng bộ giữa những cơ quan, tổ chức cùng ngăn chặn, chống thất thoát lãng phí Chưa thật

sự huy động đông đảo nhân dân tham gia chống lãng phí Chưa có cơ chế bảo

vệ những người phát hiện, lên án các hành vi lãng phí, thất thoát Trong bộ máy nhà nước, ở không ít nơi chưa thiết lập chế độ kiểm tra, giám sát quyền lực một cách chặt chẽ, cụ thể Chính sách tài chính vẫn còn biểu hiện cơ chế

“xin - cho” Việc thực hành dân chủ còn nhiều hạn chế, do độc đoán chuyên

quyền dẫn đến những quyết định không chuẩn xác, gây lãng phí tiền của, thời

Trang 39

1.2.6.3 Nhóm nhân tố khách quan khác

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng là do nguyên nhân từ các yếu

tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh trong nước, giá cả trên thị trường thế giới biến động Những tác động trên sẽ làm giảm tiến độ của công trình, ảnh hưởng tới các đối tượng tham gia xây dựng công trình, làm tăng giá cả nguyên vật liệu dẫn đến thời kỳ đầu tư kéo dài tạo nên những lãng phí cho dự án

1.3 Vai trò của Kiểm toán Nhà nước đối với việc chống thất thoát lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

Kiểm toán Nhà nước (KTNN) với vai trò và địa vị pháp pháp lý là cơ quan kiểm tra tài chính công do Quốc hội thành lập và hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật KTNN có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với các cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Với địa vị và vai trò quan trọng như vậy, KTNN là một công cụ hữu hiệu để thực hiện công tác kiểm tra, giám sát

và tư vấn chi tiêu ngân sách

KTNN là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát độc lập các hoạt động tài chính công Ở các quốc gia trên thế giới, KTNN được coi là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất của Nhà nước, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Về nguyên tắc, tất cả các đơn vị có sử dụng ngân sách đều chịu sự kiểm tra của KTNN Với trình độ chuyên môn sâu và tính độc lập trong hoạt động đối với hệ thống quản lý Nhà nước, theo quy định của Luật kiểm toán thì KTNN thực hiện kiểm toán ở tất cả các hoạt động tài chính công

KTNN thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng

đắn, trung thực của Báo cáo quyết toán NSNN các cấp và Báo cáo tổng quyết

toán NSNN; báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính của các đơn vị có sử dụng

Trang 40

NSNN; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Hoạt động của KTNN

có phạm vi rộng trên địa bàn cả nước, liên quan đến tất cả các Bộ, ngành ở Trung ương, các cấp Ngân sách địa phương, các đơn vị kinh tế,

Thực tế trong thời gian qua, đầu tư phát triển luôn là vấn đề nóng được nhiều người quan tâm Tình hình triển khai các dự án đầu tư gặp khá nhiều khó khăn Tình trạng chậm tiến độ xảy ra phổ biến ở nhiều dự án và có xu hướng gia tăng so với các năm trước Theo báo cáo của các bộ, ngành và địa phương thì các dự án chậm tiến độ trong các năm là rất cao, cụ thể là năm

2009 mặc dù Chính phủ đã có nhiều biện pháp chỉ đạo, tháo gỡ nhưng số dự

án chậm tiến độ cũng chiếm ở mức là 18,3%, năm 2008 ở mức 16,6% (2007

là 14,8% và năm 2006 là 13,1%) Tình trạng chậm tiến độ các công trình, dự

án đã làm tăng chi phí và giảm hiệu quả của các dự án đầu tư, trong đó có nhiều dự án hạ tầng quan trọng Bên cạnh đó cũng có nhiều dự án xây dựng giữa chừng không có nguồn vốn để hoàn thành đã gây ra thất thoát lãng phí lớn Nhiều bộ, ngành, địa phương có tình trạng nợ vốn nhiều và kéo dài nhiều năm không xử lý được cũng gây ra kém hiệu quả của đồng vốn đầu tư phát triển (cả nước nợ hàng chục ngàn tỷ đồng) Nguyên nhân của chậm tiến độ đầu tư và nợ lớn có nhiều nhưng có thể tóm tắt một số điểm chính như: chậm tiến độ đền bù giải phóng mặt bằng, tư vấn kém, năng lực thi công và tổ chức hạn chế, thời gian thẩm định, phê duyệt dự án kéo dài và cũng do tình hình giá cả biến động nhiều, chủ đầu tư và nhà thầu không điều chỉnh dự toán ngay

mà có tâm lý chờ Bên cạnh những điều nêu trên là sự thất thoát, lãng phí trong đầu tư phát triển đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội Thực chất của vấn đề đến đâu, hiện chưa có lời giải xác đáng, đang rất cần các cơ quan chức năng nghiên cứu và có giải pháp nhằm đưa ra câu trả lời cụ thể Một trong những cơ quan có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề này chính

Ngày đăng: 17/03/2015, 16:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1  Tỷ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của Kiểm - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
1 Bảng 1.1 Tỷ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của Kiểm (Trang 7)
1  Hình 1.1  Nguyên nhân thất thoát lãng phí  22 - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
1 Hình 1.1 Nguyên nhân thất thoát lãng phí 22 (Trang 8)
Hình 1.1 :  Nguyên nhân thất thoát lãng phí - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Hình 1.1 Nguyên nhân thất thoát lãng phí (Trang 30)
Bảng 1.1: Tỉ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của KTNN năm 2009 - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Bảng 1.1 Tỉ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của KTNN năm 2009 (Trang 35)
Bảng 1.2: Tỉ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của KTNN năm 2010. - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Bảng 1.2 Tỉ lệ giảm trừ của một số dự án theo kết quả của KTNN năm 2010 (Trang 36)
Bảng 2.1:  Số lƣợng dự án ĐTXD từ NSNN giai đoạn 2006 – 2010 - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Bảng 2.1 Số lƣợng dự án ĐTXD từ NSNN giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 49)
Bảng 2.2. Cơ cấu nhóm dự án ĐTXD đƣợc bố trí vốn giai đoạn 2006-2010 - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Bảng 2.2. Cơ cấu nhóm dự án ĐTXD đƣợc bố trí vốn giai đoạn 2006-2010 (Trang 51)
Bảng 2.3 - Tổng hợp kết quả xử lý tài chính qua kết quả kiểm toán - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả xử lý tài chính qua kết quả kiểm toán (Trang 79)
Hình 3.1. Trình tự các bước quản lý và thực hiện dự án theo mô  hình hợp tác giữa tư nhân và nhà nước (mô hình PPP) - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Hình 3.1. Trình tự các bước quản lý và thực hiện dự án theo mô hình hợp tác giữa tư nhân và nhà nước (mô hình PPP) (Trang 92)
Hình 3.2: Lỗi gây thất thoát, lãng phí của các bên - Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Hình 3.2 Lỗi gây thất thoát, lãng phí của các bên (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w