MỞ ĐẦU Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hành trình gần 12 năm phát triển với vai trò quan trọng là công cụ thu hút vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
VŨ TRỌNG HIẾU
CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
VŨ TRỌNG HIẾU
CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và ngân hàng
Mã số : 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN SƠN
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3
1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 3
1.1.1 Khái quát chung 3
1.1.2 Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán 6
1.1.3 Các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán 10
1.2 Chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán 12
1.2.1 Chính sách thuế chung 12
1.2.2 Chính sách thuế đối với các đối tượng trên thị trường chứng khoán 24
1.3 Kinh nghiệm áp dụng chính sách thuế của một số nước 29
1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 29
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 35
1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản: 40
1.3.4 Một số kinh nghiệm của một số quốc gia khác: 42
1.3.5 Những vấn đề rút ra từ nghiên cứu chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán các nước: 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 49
2.1 Khái quát sự ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam 49
2.2 Khung pháp lý hiện hành thuế đối với TTCK Việt Nam 52
2.2.1 Về thuế Giá trị gia tăng: 53
2.2.2 Về thuế Thu nhập doanh nghiệp: 54
2.2.3 Về thuế Thu nhập cá nhân: 59
Trang 42.2.4 Về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: 62
2.3 Thực trạng triển khai chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam 62 2.3.1 Thuế đối với nhà đầu tư tham gia thị trường 62
2.3.2 Thuế đối với Quỹ đầu tư chứng khoán 69
2.3.3 Thuế đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán 71
2.3.4 Thuế đối với tổ chức phát hành, niêm yết chứng khoán 74
2.4.Đánh giá chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam thời gian qua 76 2.4.1 Thành công 76
2.4.2 Hạn chế 77
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 80
3.1 Một số định hướng hoàn thiện hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 80
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với TTCK 84
3.2.1 Thuế giá trị gia tăng 85
3.2.2 Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán 86
3.2.3 Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn 92
3.2.4 Thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn 93
3.2.5 Các chính sách thuế đối với một số đối tượng tham gia TTCK 96
3.2.6 Một số kiến nghị thực hiện hoàn thiện chính sách thuế đối với TTCK 105
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 5MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hành trình gần 12 năm phát triển với vai trò quan trọng là công cụ thu hút vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế Trong quan điểm phát triển thị trường được nêu tại Quyết định 252/QĐ-TTg ngày 1 tháng 3 năm 2012 về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu rõ:
“Nhà nước thực hiện quản lý bằng công cụ pháp luật, có các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển ổn định, vững chắc; phát huy vai trò của các tổ chức tự quản, hiệp hội nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán’’
Qua gần 12 năm hình thành và phát triển, các chính sách về thuế áp dụng cho các chủ thể tham gia TTCK bước đầu đã đáp ứng là công cụ điều chỉnh đối với thị trường, góp phần đảm bảo thị trường vận hành trơn trôi chảy Sau một thời gian vận hành, thị trường chứng khoán đã có nhưng bước phát triển nhất định và các đối tượng tham gia thị trường đã ít nhiều có những kinh nghiệm, kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán Các quy định đã được ban hành trước đây chỉ đáp ứng được yêu cầu trước mắt và cần thiết phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế và hỗ trợ (ưu đãi) với thị trường
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Chính sách thuế đối với các chủ thể trên thị trường chứng khoán
Việt Nam” nhằm phân tích các mặt tồn tại của chính sách thuế đối với chứng khoán và đưa ra biện pháp
nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách thuế thúc đẩy sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán Việt
Nam
Chính sách thuế nói chung và chính sách thuế đối với TTCK nói riêng đang được Quốc hội và Chính phủ từng bước hoàn thiện để sớm đưa vào thực tế Hiện có một số công trình nghiên cứu về thuế đối với TTCK, tuy nhiên các đề xuất chưa bao quát và toàn diện, do đó đề tài sẽ bổ sung thêm các luận điểm nhằm hoàn thiện hơn chính sách thuế chứng khoán
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu các chính sách về thuế đối với TTCK ; phân tích những tồn tại của chính sách thuế đối với chứng khoán trong thời gian qua áp dụng ở Việt Nam và đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với chứng khoán
Đối tượng chính của đề tài là chính sách thuế áp dụng đối với các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập chung phân tích tác động của thuế đối với chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp chuyên gia
Trang 66 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn dự kiến sẽ đóng góp các luận điểm khoa học về chính sách thuế hiện hành đối với thị trường chứng khoán Việt Nam Những đóng góp này tổng hợp các vấn đề đã được nêu trên báo chí thời gian qua để đưa ra quan điểm độc lập về chính sách thuế Trên cơ sở đó luận văn có hy vọng sẽ đóng góp ý kiến
để hoàn thiện chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
Nội dung của đề tài gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán và chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TTCK VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI TTCK
1.1.1 Khái quát chung
Dictionary Business English, như sau: một thị trường có tổ chức là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định Tại điều 6 Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006 thì thị trường chứng khoán được định nghĩa là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán
và giao dịch chứng khoán
Phân loại theo hàng hoá của thị trường chứng khoán
Thị trường trái phiếu: là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là các trái phiếu
Thị trường cổ phiếu là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là các cổ phiếu
Thị trường các công cụ phái sinh
Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là thị trường nơi các chứng khoán được phát hành và bán cho
những người mua đầu tiên (vì vậy còn được gọi là thị trường phát hành)
Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán
đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội
Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK): SGDCK là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện
tại một địa điểm tập trung
Thị trường chứng khoán phi tập trung: Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường không có
trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của TTCK phi tập trung được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán thông qua điện thoại hay máy vi tính diện rộng
Thị trường tự do: Thị trường tự do là thị trường giao dịch tất cả các loại cổ phiếu được phát hành
thông qua việc thương lượng và thoả thuận trực tiếp giữa bên mua và bên bán tại bất cứ nơi đâu, vào bất kỳ lúc nào
1.1.2 Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán
Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK Các chủ thể phát hành bao gồm:
Chính phủ: Chính phủ là chủ thể phát hành các chứng khoán: trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công
trình, tín phiếu Kho bạc nhằm mục đích tìm vốn tài trợ cho những công trình lớn thuộc cơ sở hạ tầng, phát
triển sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế, hoặc bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước
Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể phát hành các cổ phiếu hoặc trái phiếu doanh nghiệp để tìm
vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Quỹ đầu tư: Quỹ đầu tư là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được hình thành bằng vốn góp của
các nhà đầu tư để tiến hành đầu tư vào chứng khoán và các loại hình đầu tư khác
Nhà đầu tư
Trang 8Chủ thể đầu tư là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng khoán trên TTCK để tìm kiếm lợi nhuận Nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán
Các ngân hàng thương mại (NHTM)
Cơ quan quản lý và giám sát các hoạt động thị trường chứng khoán
Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do Chính phủ của các nước thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích của người đầu tư và bảo đảm cho TTCK hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững
Các tổ chức có liên quan: Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán;
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán; các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
1.1.3 Các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán
1.1.3.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty
cổ phần
Cổ phiếu gồm 2 loại chính: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi
1.1.3.2 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả cho khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Nếu căn cứ vào tính chất có thể chia trái phiếu ra làm bốn loại: Trái phiếu vô danh, Trái phiếu ghi danh, Trái phiếu chính phủ, Trái phiếu công ty
1.1.3.3 Chứng chỉ quỹ đầu tư:
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp trong quỹ đại chúng Quỹ đại chúng bao gồm hai loại là quỹ đóng và quỹ mở
1.1.3.4 Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác
1.1.3.5 Các chứng khoán phái sinh: Quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng
tương lai, quyền lựa chọn
1.2 Chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán
1.2.1 Chính sách thuế chung
a Khái niệm
Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng
b Phân loại
và thuế gián thu
Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân; người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế cho nhà nước
Trang 9Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Người chịu thuế là những người tham gia tiêu dùng những dịch vụ, hàng hoá đó
a Vai trò của chính sách thuế
- Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước
- Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
- Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
b Các nhân tố tác động đến chính sách thuế
- Tác động từ phía Nhà nước
- Tác động của nền kinh tế
- Tác động của các yếu tố bên ngoài khác
- Tính hiệu quả kinh tế
- Tính linh hoạt
- Tính minh bạch
- Tính công bằng
1.2.2 Chính sách thuế đối với chủ thể tham gia TTCK
Là những người huy động vốn bằng cách phát hành và bán các chứng khoán trên thị trường sơ cấp Thuộc loại này có: Chính phủ, các cơ quan Chính phủ, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp và các công
ty cổ phần Trong số đó chủ yếu là Chính phủ và các công ty cổ phần
Chính sách thuế đối với pháp nhân kinh doanh là thuế TNDN và thuế GTGT ngoài ra chủ thể này còn có nghĩa vụ thu thuế khấu trừ tại nguồn đối với lãi tiền vay hoặc lợi tức cổ phần
Chủ thể là pháp nhân không kinh doanh như Nhà nước phát hành trái phiếu, công trái thì không phải thực hiện các nghĩa vụ thuế Đơn vị khi chi trả lãi cho tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ thuế khấu trừ tại nguồn
Chủ thể đầu tư thành hai loại: Nhà đầu tư cá nhân và Các tổ chức đầu tư: các quỹ hưu bổng, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm, các Ngân hàng thương mại, các công ty đầu tư đa quốc gia, các quỹ tài chính công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ …
Chính sách điều tiết đối với các chủ thể đầu tư là TNDN đối với các tổ chức đầu tư và thuế TNCN đối với nhà đầu tư cá nhân cụ thể:
Chính sách thuế đối với cổ phiếu và trái phiếu
Cổ tức là khoản thu nhập được chia từ thu nhập còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập Cổ tức do bị đánh thuế ở cấp công ty nếu chia lại cho cổ đông lại đánh thuế thì mức độ điều tiết đối với khoản thu nhập này quá nặng, các cá nhân sẽ cân nhắc lựa chọn hình thức đầu tư dưới dạng góp vốn cổ phần hay cho vay vốn
Trang 10Lãi từ trái phiếu được coi là khoản tiền trả cho việc sử dụng vốn vay dưới bất kỳ hình thức nào Tổ chức cá nhân kinh doanh khi chi trả lãi tiền đi vay được hạch toán là khoản chi phí kinh doanh vì vậy khoản thu nhập này đối với bên cho vay chưa bị đánh thuế ở cấp độ công ty Bên cho vay có thu nhập nên phải chịu thuế thu nhập
Đối với thuế GTGT nhiều nước không áp dụng vì đây là hình thức đầu tư gián tiếp không xác định chủ thể kinh doanh, mặt khác khó xác định giá trị tăng thêm để làm căn cứ tính thuế
Chủ thể trung gian
Các nhà trung gian chứng khoán có thu nhập từ hoạt động môi giới, bảo lãnh chịu thuế TNDN hoặc thuế TNCN
Người quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán: Thông thường
các hoạt động quản lý nhà nước sẽ không bị điều chỉnh về yếu tố thuế (chỉ có một số loại phí dịch vụ), còn đối với hoạt động của các SGDCK thì tùy theo mô hình cấu trúc tổ chức để có nghĩa vụ thuế cụ thể
1.3 Kinh nghiệm áp dụng chính sách thuế của một số nước
nước:
Trên cơ sở nghiên cứu chính sách thuế đối với TTCK các nước có thể rút ra những vấn đề chính sau:
Về thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là thuế gián thu đánh vào việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, doanh nghiệp là người nộp thuế còn người tiêu dùng là người chịu thuế Rất nhiều quốc gia hiện nay đều miễn thuế GTGT trong lĩnh vực chứng khoán Tùy vào điều kiện kinh tế, tình hình phát triển của TTCK cũng như thị trường tài chính, sự tương quan giữa các lĩnh vực kinh doanh mà mỗi quốc gia lại có quy định riêng về vấn
đề này
Thuế đối với lãi tiền vay và lợi tức cổ phần:
Các khoản thu nhập từ kinh doanh chứng khoán như lãi tiền cho vay và lợi tức cổ phần đều là khoản thu nhập chịu thuế Thông thường các nước đều áp dụng phương pháp thu thuế khấu trừ tại nguồn đối với lãi
từ tiền cho vay và lợi tức cổ phần Khoản thuế này có thể là khoản thuế tạm thời (tức là người nhận thu nhập
sẽ phải kê khai và tính thuế lại trong tổng thu nhập của mình) hoặc là khoản thuế cuối cùng (tức là chỉ chịu thuế khấu trừ tại nguồn, thu nhập còn lại không phải kê khai nữa)
Hầu hết các nước đều miễn thuế đối với lãi tiền vay có bản chất là lãi tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, lãi từ trái phiếu chính phủ, lãi từ giao dịch các chứng khoán được thừa kế, biếu tặng Tuỳ theo từng nước mà
có các mức miễn giảm thuế khác nhau
Thuế đánh vào lãi vốn từ giao dịch chứng khoán:
Đối với thuế lãi vốn liên quan đến chứng khoán, quy định của Hàn Quốc là không đánh thuế đối với đối tượng là cổ đông nhỏ giao dịch cổ phiếu niêm yết, nhưng lại đánh thuế đối với cổ đông nhỏ giao dịch chứng khoán chưa niêm yết Chính sách này thể hiện sự ưu đãi rất lớn của Hàn Quốc nhằm khuyến khích và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, nhưng lại thể hiện sự nghiêm ngặt và hạn chế trong việc phát triển tự do Đây là một nét thể hiện được vai trò của thuế là một công cụ nhằm khuyến khích hay hạn chế