Trong quan điểm phát triển thị trường được nêu tại Quyết định 252/QĐ-TTg ngày 1 tháng 3 năm 2012 về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 -
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hành trình gần 12 năm phát triển với vai trò quan trọng là công cụ thu hút vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế Trong quan điểm phát triển thị trường được nêu tại Quyết định 252/QĐ-TTg ngày 1 tháng 3 năm 2012 về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện quản lý bằng công cụ pháp luật, có các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển ổn định, vững chắc; phát huy vai trò của các tổ chức
tự quản, hiệp hội nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán’’
Qua gần 12 năm hình thành và phát triển, các chính sách về thuế áp dụng cho các chủ thể tham gia TTCK bước đầu đã đáp ứng là công cụ điều chỉnh đối với thị trường, góp phần đảm bảo thị trường vận hành trơn trôi chảy Sau một thời gian vận hành, thị trường chứng khoán đã có nhưng bước phát triển nhất định và các đối tượng tham gia thị trường đã ít nhiều có những kinh nghiệm, kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán Các quy định đã được ban hành trước đây chỉ đáp ứng được yêu cầu trước mắt và cần thiết phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế và
hỗ trợ (ưu đãi) với thị trường
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Chính sách thuế đối với các chủ thể trên thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm phân tích các mặt tồn tại của
chính sách thuế đối với chứng khoán và đưa ra biện pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống chính sách thuế thúc đẩy sự phát triển ổn định của thị trường chứng
khoán Việt Nam
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chính sách thuế nói chung và chính sách thuế đối với TTCK nói riêng đang được Quốc hội và Chính phủ từng bước hoàn thiện để sớm đưa vào thực tế Hiện có một số công trình nghiên cứu về thuế đối với TTCK, tuy nhiên các đề xuất chưa bao quát và toàn diện, do đó đề tài sẽ bổ sung thêm các luận điểm nhằm hoàn thiện hơn chính sách thuế chứng khoán
Trang 23 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu các chính sách về thuế đối với TTCK ; phân tích những tồn tại của chính sách thuế đối với chứng khoán trong thời gian qua áp dụng ở Việt Nam và đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với chứng khoán
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng chính của đề tài là chính sách thuế áp dụng đối với các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập chung phân tích tác động của thuế đối với chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp chuyên gia
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn dự kiến sẽ đóng góp các luận điểm khoa học về chính sách thuế hiện hành đối với thị trường chứng khoán Việt Nam Những đóng góp này tổng hợp các vấn đề đã được nêu trên báo chí thời gian qua để đưa ra quan điểm độc lập về chính sách thuế Trên cơ sở đó luận văn có hy vọng sẽ đóng góp ý kiến để hoàn thiện chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Nội dung của đề tài gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán và chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái quát chung
1.1.1.1 Khái niệm: Thị trường chứng khoán (TTCK) được định
nghĩa theo từ điển tiếng Anh Longman Dictionary Business English, như sau: một thị trường có tổ chức là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định Tại điều 6 Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006 thì thị trường chứng khoán được định nghĩa
là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán
1.1.1.2 Phân loại thị trường chứng khoán
Cấu trúc của TTCK có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Thông thường, ta có thể xem xét ba cách thức cơ bản là phân loại theo hàng hoá, phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Phân loại theo hàng hoá của thị trường chứng khoán
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân TTCK thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ phái sinh
Thị trường trái phiếu: là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là các trái phiếu
Thị trường cổ phiếu là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là các cổ phiếu
Thị trường các công cụ phái sinh là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là chứng khoán phái sinh Ví dụ: hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn
Trang 4Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Theo cách thức này, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp:
- Thị trường sơ cấp là thị trường nơi các chứng khoán được phát hành và bán cho những người mua đầu tiên (vì vậy còn được gọi là thị trường phát hành) Giá của các chứng khoán được bán trên thị trường sơ cấp gọi là giá phát hành, các chứng khoán được gọi là chứng khoán mới phát hành
- Thị trường sơ cấp là thị trường cung cấp vốn cho nhà phát hành Thông qua việc phát hành chứng khoán, các nhà phát hành có thêm nguồn vốn để tái đầu tư vào sản xuất và nền kinh tế, gia tăng khả năng tiêu dùng Giải quyết được tình trạng mất cân đối cung cầu vốn
Thị trường thứ cấp
- Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội
- Thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đã phát hành Việc này làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc thay đổi thời hạn của vốn, từ vốn ngắn hạn sang trung và dài hạn, đồng thời tạo điều kiện cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả
- Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công ty
- Thông qua việc xác định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hành cũng như các
Trang 5nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp Vốn sẽ được chuyển tới những công ty nào làm ăn có hiệu quả cao nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp:
ở thị trường sơ cấp, nguồn vốn tiết kiệm được thu hút vào công cuộc đầu tư phát triển kinh tế Còn ở thị trường thứ cấp, việc giao dịch không làm tăng quy mô đầu tư vốn, không thu hút thêm được các nguồn tài chính mới mà chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt động trôi chảy Chính sự có mặt của thị trường thứ cấp đã giúp cho các chứng khoán có tính thanh khoản, làm tăng tính hấp dẫn của chứng khoán; từ đó làm tăng tiềm năng huy động vốn của các chủ thể phát hành chứng khoán Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý
là phải tăng cường hoạt động huy động vốn trên thị trường sơ cấp, vì chỉ có tại thị trường này, vốn mới thực sự vận động từ người tiết kiệm sang người đầu tư, còn sự vận động của vốn trên thị trường thứ cấp chỉ là tư bản giả, không tác động trực tiếp tới việc tích tụ và tập trung vốn
Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
Theo cách phân loại này, TTCK được tổ chức thành các Sở giao dịch, TTCK phi tập trung và thị trường tự do
do SGDCK đặt ra
Trang 6- SGDCK được tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ bởi UBCKNN, các giao dịch chịu sự điều tiết của luật chứng khoán và TTCK
Thị trường chứng khoán phi tập trung
- Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của TTCK phi tập trung được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán thông qua điện thoại hay máy vi tính diện rộng
- Khối lượng giao dịch của thị trường này thường lớn hơn rất nhiều lần so với SGDCK
- Thị trường chứng khoán phi tập trung chịu sự quản lý của Sở giao dịch và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Thị trường tự do
Thị trường tự do là thị trường giao dịch tất cả các loại cổ phiếu được phát hành thông qua việc thương lượng và thoả thuận trực tiếp giữa bên mua
và bên bán tại bất cứ nơi đâu, vào bất kỳ lúc nào
1.1.2 Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán có nhiều loại chủ thể tham gia hoạt động theo nhiều mục đích khác nhau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể quản lý và giám sát các hoạt động của TTCK, và các tổ chức có liên quan
Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp và một số tổ chức khác như Quỹ đầu tư
Chính phủ
- Chính phủ là chủ thể phát hành các chứng khoán: trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công trình, tín phiếu Kho bạc nhằm mục đích tìm vốn tài trợ
Trang 7cho những công trình lớn thuộc cơ sở hạ tầng, phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế, hoặc bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước
- Chính quyền địa phương là chủ thể phát hành trái phiếu địa phương để vay nợ nhằm huy động vốn phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể phát hành các cổ phiếu hoặc trái phiếu doanh nghiệp để tìm vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được hình thành bằng vốn góp của các nhà đầu tư để tiến hành đầu tư vào chứng khoán và các loại hình đầu tư khác Mục đích thành lập quỹ đầu tư là tập hợp và thu hút những nhà đầu tư nhỏ, lẻ tham gia kinh doanh Đặc trưng cơ bản nhất của Quỹ đầu tư là quỹ vừa đóng vai trò là tổ chức phát hành bằng việc phát hành ra các chứng khoán như chứng chỉ quỹ đầu tư; vừa đóng vai trò là tổ chức đầu tư, kinh doanh các loại chứng khoán
Nhà đầu tƣ
Chủ thể đầu tư là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng khoán trên TTCK để tìm kiếm lợi nhuận Nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
- Các nhà đầu tư cá nhân: Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, kỳ vọng lợi nhuận càng cao thì mức độ chấp nhận rủi ro phải càng lớn và ngược lại Chính vì vậy các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình
Trang 8- Các nhà đầu tư có tổ chức: Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên TTCK là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương
hỗ, các quỹ bảo hiểm xã hội khác Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có
ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có chuyên môn và có kinh nghiệm
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Các ngân hàng thương mại (NHTM):
Tại một số nước, các NHTM có thể sử dụng vốn tự có để tăng và đa dạng hoá lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán Tuy nhiên, các ngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất định
để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán Một số nước cho phép ngân hàng thương mại thành lập công ty con độc lập để kinh doanh chứng khoán và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh
Cơ quan quản lý và giám sát các hoạt động thị trường chứng khoán
Lịch sử hình thành và phát triển TTCK đã cho thấy, đầu tiên TTCK hình thành một cách tự phát khi có sự xuất hiện của cổ phiếu, trái phiếu và hầu như chưa có sự quản lý Nhưng nhận thấy cần có sự bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư và đảm bảo sự hoạt động của thị trường được thông suốt, ổn
Trang 9định và an toàn, bản thân các nhà kinh doanh chứng khoán và các quốc gia
có TTCK hoạt động cho rằng cần phải có cơ quan quản lý và giám sát về hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán
Cơ quan quản lý và giám sát TTCK được hình thành dưới nhiều mô hình tổ chức hoạt động khác nhau, có nước do các tổ chức tự quản thành lập,
có nước cơ quan này trực thuộc Chính phủ, nhưng có nước lại có sự kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự quản và Nhà nước Cơ quan quản lý Nhà nước
về TTCK do Chính phủ của các nước thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích của người đầu tư và bảo đảm cho TTCK hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững
Các tổ chức có liên quan
Ngoài các chủ thể trên, trên TTCK còn có các tổ chức quan trọng khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động của TTCK như Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán; Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán; các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ cho các hoạt động
giao dịch trên Sở giao dịch Ngoài ra, Sở giao dịch cũng ban hành những
quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở, phù hợp với các quy định của luật pháp và Uỷ ban chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: Hiệp hội các nhà kinh
doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty chứng khoán nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: là tổ chức nhận lưu
giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán
Trang 10Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ
đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể Các mức hệ số tín nhiệm vì thế thường được gắn cho một đợt phát hành, chứ không phải cho công ty Vì thế, một công ty phát hành có thể mang nhiều mức hệ số tín nhiệm cho các phát hành nợ của nó
1.1.3 Các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán
1.1.3.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần [2, tr72]
Khi mua cổ phiếu, những người đầu tư (các cổ đông) sẽ trở thành những người chủ sở hữu đối với công ty Mức sở hữu đó tùy thuộc vào tỷ lệ
cổ phần mà cổ đông nắm giữ Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau chia sẽ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty
Cổ phiếu gồm 2 loại chính: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi
1.1.3.2 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả cho khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn [2, tr82]
Nếu căn cứ vào tính chất có thể chia trái phiếu ra làm bốn loại:[2, tr85-86]
- Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành
Trang 11- Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành Chính phủ phát hành trái phiếu (hay các công cụ nợ nói chung) nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách; tài trợ cho các công trình công ích hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ
- Trái phiếu công ty: là những trái phiếu do các công ty phát hành (có đủ điều kiện của uỷ ban chứng khoán) nhằm mục đích đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Trái phiếu của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của các nhà đầu tư, là nguồn vốn vay chủ yếu cho các công ty cổ phần ở các nước phát triển
1.1.3.3 Chứng chỉ quỹ đầu tƣ:
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp trong quỹ đại chúng Quỹ đại chúng bao gồm hai loại là quỹ đóng và quỹ mở
- Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư
- Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư
1.1.3.4 Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác
Thông thường có cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi thành cổ phiếu thường và trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu thường
1.1.3.5 Các chứng khoán phái sinh
- Quyền mua cổ phiếu (hay quyền mua trước) là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiện hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại một mức giá
Trang 12xác định, thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và trong một thời hạn nhất định, đôi khi chỉ vài tuần
- Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền được mua một số lượng xác định một loại chứng khoán khác, thường
là cổ phiếu thường, với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định
- Hợp đồng kỳ hạn: là thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay
- Hợp đồng tương lai: là một thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán một hàng hóa nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo một mức giá đã định trước
- Quyền lựa chọn: là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hóa tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định Các hàng hóa cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai
1.2 Chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán
Trang 13thực hiện các quy định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ
Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào số lượng các luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần
là động viên tài chính vào ngân sách Nhà nước mà phải được phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân
Tuy nhiên, cho đến nay tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất nào về thuế, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế cần phải nêu bật được các khía cạnh sau:
Thứ nhất: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ
tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp
Thứ hai: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một
cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập
có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
Thứ ba: Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho nhà nước những
khoản thuế đã được pháp luật quy định
Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong giáo trình tài chính công Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một
khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: Thuế
là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng.[10, tr7]
Trang 14b Phân loại
Căn cứ vào phương thức đánh thuế: thuế được phân ra làm hai
loại chung đó là thuế trực thu và thuế gián thu.[10, tr26, 27]
Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập của các
tổ chức kinh tế hoặc cá nhân; người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế cho nhà nước
Thuế trực thu có tính công bằng hơn và mang tính chất của thuế luỹ tiến vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng; thuế trực thu có nhược điểm là hạn chế phần nào sự cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng, vì thu nhập càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều Ngoài ra, thuế trực thu do người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và
có ý thức cho nhà nước nên họ cảm nhận ngay được gánh nặng về thuế và
có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn, lậu thuế Việc quản lý thu thuế này thường phức tạp và chi phí bỏ ra thường cao so với thuế gián thu
Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Người chịu thuế là những người tham gia tiêu dùng những dịch
vụ, hàng hoá đó
Trong thực tế, thuế gián thu là loại thuế đánh vào tiêu dùng, thuế này
do người hoạt động sản xuất kinh doanh nộp cho nhà nước, nhưng người tiêu dùng phải là người phải chịu thuế (tức là mang tính chất gián thu) Thuế này dễ thu hơn thuế trực thu vì tránh được quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế (người tiêu dùng) với cơ quan thu thuế, dễ điều chỉnh hơn thuế trực thu
vì những người chịu thuế thường không cảm nhận đầy đủ gánh nặng của loại thuế này Hiện nay, các nước trên thế giới có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu vì nó có phạm vi rất lớn, đem lại số thu lớn cho ngân sách, dễ thu, dễ quản lý, đồng thời chi phí bỏ ra để thu thuế rất thấp Thuế gián thu mang tính chất của thuế lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người nộp thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải
Trang 15chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của thuế gián thu không những chịu sự chi phối của mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị trường, trong đó có sự tác động của TTCK
Căn cứ vào đối tượng đánh thuế
Theo cách phân loại này thuế được chia thành:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng
- Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất
- Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của ngân sách Nhà nước
- Thuế khác và lệ phí, phí
1.2.1.2 Vai trò của chính sách thuế và các nhân tố tác động tới chính sách thuế
a Vai trò của chính sách thuế
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhà nước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Về phương diện luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế
Trang 16Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh
tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước
Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu ngân sách Nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Hiện nay nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay có trả Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng để
Trang 17góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế đã điều chỉnh được hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã hội Ðây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước
Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Ðiều 26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hoá và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội
Ðiều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung - cầu của nền kinh tế Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự
ổn định và tăng trưởng kinh tế Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà
Trang 18nước tác động tích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế
áp dụng có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định
ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của đất nước trong việc điều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế
Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Hệ thống pháp luật thuế được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự
Trang 19bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và pháp nhân
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng
Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động của pháp luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong
xã hội
Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội
Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, vế thuế suất đều có tác động đến thu nhập và
sử dụng thu nhập trong xã hội
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và thuế suất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làm triệt tiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường
b Các nhân tố tác động đến chính sách thuế
* Tác động từ phía Nhà nước
Các sắc thuế nói chung và thuế trong lĩnh vực chứng khoáng nói riêng được coi là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước Ở một số nước trên thế giới thì thuế đối với TTCK gồm các hình thức sau: thuế đánh trên mỗi giao dịch (thuế tem), thuế đánh vào tài sản ròng khi nắm giữ chứng khoán, thuế đánh vào thu nhập từ cổ tức, trái tức và thuế đánh vào thu nhập từ
Trang 20chênh lệch mua bán chứng khoán (hay còn gọi là thuế đánh vào thặng dư vốn) Còn Việt Nam, tuỳ theo địa vị của nhà đầu tư (tổ chức, cá nhân) mà chính sách thuế cho TTCK có mức chịu thuế khác nhau:
- Nhà đầu tư là cá nhân trong và nước ngoài tạm thời được miễn
và giảm thuế thu nhập từ cổ tức, trái tức và thu nhập từ chênh lệch mua bán chứng khoán đến hết năm 2012
- Nhà đầu tư là tổ chức: nếu tổ chức trong nước và nước ngoài được đăng ký và hoạt động theo Luật pháp Việt Nam (hiện diện tại Việt Nam) thì phải kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với thu nhập từ chênh lệch mua bán chứng khoán; nếu tổ chức nước ngoài, quỹ đầu
tư nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam nhưng có mở tài khoản đầu tư chứng khoán tại Việt Nam thì phải nộp thuế TNDN theo phương thức khoán bằng 0,1% trên tổng giá trị chứng khoán bán ra
Như vậy, chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam khác với quốc tế, đòi hỏi sự tác động mạnh từ phía Nhà nước để việc đánh thuế vào thu nhập đối với cá nhân, tổ chức theo đúng mục tiêu và nâng cao hiệu quả công tác thu thuế đối với TTCK nói chung, góp phần quan trọng trong việc điều tiết
vĩ mô nền kinh tế
*Tác động của nền kinh tế
Tuỳ từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, chính sách thuế sẽ được điều chỉnh cho phù hợp để thể hiện sự phát triển, trình độ phát triển, ngành nghề khu vực cần ưu đãi đầu tư, bộ phận dân cư cần điều tiết thu nhập, các cam kết song phương và đa phương mà Chính phủ đã tham gia liên quan đến chính sách đầu tư và mức độ mở cửa thị trường Nền kinh tế càng phát triển, chính sách thuế càng phải đảm bảo mức độ công bằng, hợp lý, phù hợp với thông lệ quốc tế, ít phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của Nhà nước Mặt khác, chính sách thuế cũng cần phản ánh mức độ phức tạp của các quan hệ kinh tế
vì mỗi đối tượng tham gia thị trường có thể cùng lúc đóng nhiều vai trò trong nhiều mối quan hệ kinh tế đan xen, phức tạp Ví dụ, một tổ chức có
Trang 21thể vừa phát hành cổ phiếu, vừa phát hành trái phiếu, vừa là nhà đầu tư chứng khoán, vừa cung cấp dịch vụ cho các đối tượng tham gia thị trường
Do tác động của nền kinh tế nhiều thành phần và sự phân chia giai cấp, đặc biệt trước tình hình nền kinh tế lạm phát, đồng tiền Việt Nam liên tục bị mất giá so với USD, các nguồn vốn FDI, ODA hết sức hạn chế, các Ngân hàng ngày một mở rộng quy mô nhưng thu hẹp cho vay tín dụng để đầu tư chứng khoán, đòi hỏi công tác thu thuế phải có sự hỗ trợ liên ngành trong đó có các tổ chức nhà nước Một ví dụ điển hình là việc áp dụng trả lương cho cán bộ nhân viên qua thẻ ATM, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy thu khấu trừ thuế trực tiếp của các tổ chức, cá nhân khi áp dụng thu thuế đối với người có thu nhập cao hay thuế thu nhập cá nhân
Nền kinh tế phát triển, ý thức của người dân đối với nghĩa vụ nộp thuế cũng được nâng cao, chính vì vậy, cách thức, hình thức thu thuế cũng theo
đó được quy định cho phù hợp Nhà nước có thể cho phép các đối tượng nộp thuế kê khai và nộp thuế thu nhập một cách trực tiếp hay khấu trừ tại nguồn (nộp gián tiếp tại công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại) tuỳ thuộc vào sự phát triển của hệ thống ngân hàng cũng như khả năng về nghiệp vụ
và nhân sự của các công ty chứng khoán phục vụ cho công tác này
* Tác động của các yếu tố bên ngoài khác: các cam kết đa phương, song phương, chính sách thương mại, chính sách thuế quan và phi thuế quan chung … khi tham gia các hiệp định WTO, Trips, CVA, SPS, TBT …
1.2.1.3 Mục tiêu xây dựng một chính sách thuế
Khi nói đến chính sách thuế của một đất nước là nói về quan điểm, cách nhìn nhận chính thống của Nhà nước đó về một lĩnh vực, một hoạt động trong một giai đoạn Hệ thống chính sách thuế là tổng hợp các quan điểm chính thống của Nhà nước về các loại thuế trong một giai đoạn nhất định để sử dụng chức năng của thuế nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược chung của đất nước Dựa trên khái niệm đó thì khi xây dựng chính sách thuế tốt thì cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 22Tính hiệu quả kinh tế
Trong việc xem xét tính hiệu quả kinh tế của hệ thống thuế, người ta xem xét hệ thống thuế mang lại hiệu quả hay hậu quả cho nền kinh tế khi tồn tại các yếu tố và các mỗi quan hệ hiện hành Mối quan tâm đầu tiên là liệu chính sách thuế của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay tác động tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế Nhiều trường hợp, có thể trong ngắn hạn, một chính sách thuế mang lại hiệu quả nhưng về lâu dài chính sách thuế đó
sẽ làm tổn hại đến nhịp độ phát triển kinh tế của đất nước
Mối quan tâm kế tiếp của việc xác định hiệu quả của nền kinh tế khi xác lập hệ thống thuế là liệu khi thừa nhận một yếu tố mới trong hệ thống thì các yếu tố mới này tác động đến các yếu tố khác tích cực hay tiêu cực Đặc biệt trong giai đoạn kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, việc thừa nhận các yếu tố khác ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả của nền kinh tế
Tính linh hoạt
Với mọi hệ thống, trong một môi trường thay đổi, hệ thống cũng thay đổi để thích ứng Hệ thống thuế cũng có những diễn biến thay đổi nhất định khi môi trường kinh tế, chính trị, xác hội thay đổi Trong việc thay đổi để thích ứng của hệ thống thuế có hai loại diễn biến thay đổi khác nhau: những thay đổi tự động trong hệ thống và những thay đổi mang tính chính trị Một
hệ thống thuế tốt phải đảm bảo cơ chế linh hoạt ở cả hai mặt để các quy luật thị trường chi phối trong một môi trường thông thường và cũng để cho nhà nước có thể can thiệp khi cần thiết mà không gây xáo trộn cả hệ thống Việc tuân thủ tính linh hoạt của hệ thống thuế cần chú ý đến tốc độ điều chỉnh và
độ trễ của các điều chỉnh
Tính minh bạch
Một hệ thống thuế chính sách thuế chính xác thể hiện sự rõ ràng và minh bạch Tức là, hệ thống thuế trước hết phải chỉ rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế Việc minh bạch phải tính đến từ công khai
Trang 23các nội dung cam kết quốc tế về thuế cho tất cả các đối tượng nộp thuế và công dân được biết để họ có thể tính toán và thực hiện nghĩa vụ của mình Việc minh bạch phải xuất phát từ việc ban hành và công bố cho công chúng các chính sách về thuế có ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động kinh doanh của họ Việc minh bạch còn đòi hỏi khả năng tiếp cận các dự thảo và góp ý các dự thảo về chính sách thuế của Nhà nước trước khi ban hành Một hệ thống thuế rõ ràng và minh bạch sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư tính toán được hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ nộp thuế Đây là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm bỏ tiền đầu tư vào các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh Ngược lại hệ thống thuế không rõ ràng và minh bạch sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc xác định hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, do đó làm cản trở việc thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế
Tính công bằng
Tính công bằng đòi hỏi khách quan trong công việc phân chia gánh nặng thuế cho các tầng lớp dân cư trong xã hội Có công bằng thì việc nộp thuế mới trở thành niềm tự hào và không tác động tiêu cực đến các nỗ lực kinh doanh của công chúng Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang, nếu các cá nhân có điều kiện về mọi mặt đều như nhau thì được đối
xử ngang bằng nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác có khả năng nộp thuế ít hơn Việc cho rằng hệ thống thuế là công bằng hay không công bằng, phụ thuộc rất nhiều vào việc nhận định các vấn đề kinh tế, xã hội của các Nhà nước và nền tảng đạo đức, truyền thống của mỗi dẫn tộc Nhưng cho dù ở không gian
và thời gian nào thì việc ứng dụng tính công bằng trong hệ thống thuế cũng chỉ mang tính tương đối Các hiện tượng công bằng rồi sẽ trở nên bất công
Trang 24và xã hội sẽ lại thiết lập một sự công bằng mới ở mức độ nhận thức cao hơn, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia
1.2.2 Chính sách thuế đối với các đối tượng trên thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán hoạt động được là nhờ hoạt động của các chủ thể tham gia TTCK Các chủ thể này là các pháp nhân hoặc thể nhân Để xác định nghĩa vụ thuế trước hết cần xác định những chủ thể hoạt động trên TTCK Xem xét một cách tổng hợp, thì trên TTCK chính sách thuế điều chỉnh 4 nhóm tác nhân lớn sau :
a Chủ thể phát hành hay chủ thể đi vay
Là những người huy động vốn bằng cách phát hành và bán các chứng khoán trên thị trường sơ cấp Thuộc loại này có: Chính phủ, các cơ quan Chính phủ, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp và các công ty cổ phần Trong số đó chủ yếu là Chính phủ và các công ty cổ phần
Đối với Nhà nước, toàn bộ các khoản chi tiêu khổng lồ đều trông chờ vào các khoản thu có hạn của Ngân sách (trong đó chủ yếu là các loại thuế), nhưng rất nhiều trường hợp Ngân sách không đủ chi Để giải quyết nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư và bù đắp thiếu hụt Ngân sách quốc gia, Chính phủ phải huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ Các Chính phủ thường giao Bộ Tài chính, Bộ Ngân khố hoặc kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu Chính phủ Bộ Tài chính cũng là người chịu trách nhiệm trả nợ các loại trái phiếu này Các loại trái phiếu trung và dài hạn trở thành nguồn cung cấp chứng khoán trên TTCK Ngoài ra, nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương thường phát hành loại trái phiếu ngắn hạn (còn gọi là tín phiếu kho bạc) để thực hiện nghiệp vụ thị trường
mở (open market) Khi Ngân hàng Trung ương thấy cần rút bớt khối lượng tiền tệ trong lưu thông về thì Ngân hàng Trung ương thực hiện bán tín phiếu
ra Ngược lại, khi cần thiết phải đưa thêm tiền vào lưu thông thì Ngân hàng
Trang 25Trung ương mua tín phiếu về Số tín phiếu này thường được giao dịch trên thị trường tiền tệ
Sau Nhà nước, loại chủ thể thứ hai cũng có nhu cầu rất lớn và thường xuyên về vốn tiền tệ là các doanh nghiệp, bất luận doanh nghiệp đó thuộc loại hình tổ chức theo mô hình quản lý nào: doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh hay công ty cổ phần Tuy nhiên, ở đây đề cập tới loại hình công
ty cổ phần, loại hình có liên quan nhiều đến hoạt động phát hành chứng khoán trên thị trường
Công ty cổ phần biến những hoạt động kinh doanh chỉ có tính chất cá nhân và riêng lẻ trở thành những tổ chức mà trong đó tài năng, tiền bạc, nhân lực và vốn liếng các loại được quy tụ lại, kết hợp với nhau hướng về mục đích chung như lợi nhuận, phát triển sản phẩm và phát triển cuộc sống Chính tính liên đới giữa các cá nhân trong công ty cổ phần đã giúp con người thêm điều kiện để ý thức về sự cần thiết và phụ thuộc lẫn nhau Công
ty cổ phần phát hành cổ phiếu và gắn chặt với TTCK Công ty cổ phần là công ty mà số vốn là sở hữu chung của nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần, do đó vốn tự có của công ty cổ phần là vốn cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông cũng đồng thời là chủ sở hữu một phần doanh nghiệp tương đương với tỷ lệ góp vốn
Công ty cổ phần hoàn toàn tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần bao gồm các loại: vốn cổ phần, vốn vay, lợi nhuận tích lũy
Như vậy, chủ thể đi vay là pháp nhân kinh doanh hoặc không kinh doanh: là pháp nhân kinh doanh việc huy động vốn để đầu tư mới hoặc đầu
tư mở rộng trong chính sách ưu đãi thuế TNDN đã đề cập là được miễn và giảm thuế thu nhập trong một thời gian Đối với thuế GTGT, thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư thì toàn bộ thuế GTGT đầu vào cấu thành nên tài sản đầu tư đều không tính vào giá trị tài sản đầu tư mà kê khai thuế đầu vào
Trang 26để khấu trừ hoặc nếu chưa có thuế GTGT đầu ra thì được thoái trả thuế Tuy nhiên, chủ thể này còn có nghĩa vụ thu thuế khấu trừ tại nguồn đối với lãi tiền vay hoặc lợi tức cổ phần Chủ thể là pháp nhân không kinh doanh như Nhà nước phát hành trái phiếu, công trái thì không phải thực hiện các nghĩa
vụ thuế Tuy nhiên khi chi trả lãi cho tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ thuế khấu trừ tại nguồn Nhưng tùy chính sách thuế của từng nước mà quy định khoản thu nhập này chịu thuế hay không chịu thuế Đối với các cá nhân có thu nhập từ lãi trái phiếu nhìn chung các nước đều miễn thuế, còn đối với tổ chức có nước thu thuế lại có nước cho miễn thuế đối với khoản thu nhập từ lãi trái phiếu Nhà nước
b Chủ thể đầu tƣ hay chủ thể cho vay
Đầu tư chứng khoán là chỉ việc bỏ vốn tiền tệ ra mua các chứng khoán để kiếm lời Việc kiếm lời trong đầu tư chứng khoán có thể là từ thu nhập cổ tức, trái tức, nhưng cũng có thể là từ chênh lệch giá từ kinh doanh chứng khoán đem lại Mục tiêu của đầu tư chứng khoán là nhằm kiếm lời từ hai nguồn thu nhập nêu trên Vì vậy an toàn về vốn trong đầu tư chứng khoán là vấn đề quan trọng của đầu tư chứng khoán Mục tiêu đầu tư chứng khoán có đạt như ý muốn trong chính sách đầu tư hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư Đối với các chủ đầu tư, rủi ro là nhân tố khách quan vượt ra ngoài tầm quản lý và khống chế của họ
Chủ thể đầu tư là những người có tiền nhàn rỗi, sử dụng tiền đầu tư vào TTCK bằng cách mua các chứng khoán đang được phát hành trên TTCK nhằm hưởng lãi và lợi nhuận Có thể phân các chủ thể đầu tư thành hai loại
Nhà đầu tư cá nhân
Các tổ chức đầu tư: các quỹ hưu bổng, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm hiểm, các Ngân hàng thương mại, các công ty đầu tư quốc gia, các quỹ tài chính công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ …
Trang 27Chính sách điều tiết đối với các chủ thể đầu tư là thuế TNDN đối với các tổ chức đầu tư và thuế TNCN đối với nhà đầu tư cá nhân cụ thể:
Hàng hóa được mua bán trao đổi trên thị trường chứng khoán gồm 2 loại chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu Người nắm giữ cổ phần cuối năm nhận được lợi tức cổ phần Nhà đầu tư trái phiếu, sau kỳ kinh doanh cũng nhận được khoản lãi trái phiếu Lãi cổ phần còn gọi là cổ tức là khoản thu nhập được chia từ thu nhập còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập Công ty căn cứ vào số cổ phần, cổ phiếu hoặc các quyền lợi công ty do đối tượng hưởng thu nhập nắm giữ hoặc sở hữu Cổ tức do bị đánh thuế ở cấp công ty nếu chia lại cho cổ đông lại đánh thuế thì mức độ điều tiết đối với khoản thu nhập này quá nặng, các cá nhân sẽ cân nhắc lựa chọn hình thức đầu tư dưới dạng góp vốn cổ phần hay cho vay vốn
Lãi từ trái phiếu được coi là khoản tiền trả cho việc sử dụng vốn vay dưới bất kỳ hình thức nào Tổ chức cá nhân kinh doanh khi chi trả lãi tiền đi vay được hạch toán là khoản chi phí kinh doanh vì vậy khoản thu nhập này đối với bên cho vay chưa bị đánh thuế ở cấp độ công ty Bên cho vay có thu nhập nên phải chịu thuế thu nhập
Thông thường các nước đều áp dụng phương pháp thu thuế khấu trừ tại nguồn đối với lãi từ tiền cho vay và lợi tức cổ phần Khoản thuế này có thể là khoản thuế tạm thời (tức là người nhận thu nhập sẽ phải kê khai và tính thuế lại trong tổng thu nhập của mình) hoặc là khoản thuế cuối cùng (tức là chỉ chịu thuế khấu trừ tại nguồn, thu nhập còn lại không phải kê khai nữa) Tuy nhiên, cần xác định rằng khoản thu nhập từ tiền cho vay này không phải khi nào cũng là thu nhập thuần vì có thể còn có chi phí hoặc khoản được trừ phát sinh (ví dụ: chi phí lãi vay phải trả hoặc tỷ lệ lạm phát cấu thành trong lãi được trừ) Chính vì lý do này nên luật thuế của một số nước cho phép đối tượng nộp thuế được lựa chọn một trong hai phương pháp thu thuế khấu trừ tại nguồn như đã nêu hoặc chỉ áp dụng thuế khấu trừ
Trang 28tại nguồn cuối cùng đối với khoản lãi chi trả cho các cá nhân hoặc tổ chức không là đối tượng cư trú
Đối với thuế GTGT nhiều nước không áp dụng vì đây là hình thức đầu tư gián tiếp không xác định chủ thể kinh doanh, mặt khác khó xác định giá trị tăng thêm để làm căn cứ tính thuế
Chủ thể trung gian
Chủ thể trung gian là người tạo điều kiện để hai bên gặp nhau Không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể gặp ngay được những đối tượng cần mua chứng khoán để cả hai cũng thực hiện việc mua bán Cũng như không phải bất kỳ người dân nào muốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng đủ hiểu biết, đủ thông tin để tìm được cho mình nơi mua loại chứng khoán hợp túi tiền, có mức lãi suất và thời gian đáo hạn (nếu là trái phiếu) theo ý muốn Vì vậy trên thị trường xuất hiện những người trung gian
Người trung gian chứng khoán không phải là người môi giới thông thường, mà giữ vai trò vô cùng chủ động trong việc thương lượng chứng khoán, thay thế thân chủ để cam kết mua bán chứng khoán với giá định sẵn
do chính trung gian chứng khoán lựa chọn Trung gian chứng khoán phải giữ bí mật nghề nghiệp và không được tiết lộ danh tính và các chi tiết liên quan đến nghiệp vụ và tài khoản của khách hàng ngoại trừ trường hợp thân chủ cho phép hay bản chất nghiệp vụ bắt buộc phải tiết lộ
Nhà trung gian chứng khoán có thể với tư cách là:
Nhà trung gian cá nhân (thể nhân)
Tổ chức trung gian (pháp nhân): như công ty chứng khoán; công ty quản lý quỹ và các ngân hàng lưu ký chứng khoán
Vai trò chủ yếu của nhà trung gian chứng khoán là: kinh doanh, môi giới và bảo lãnh chứng khoán Hầu hết các công ty chứng khoán đều vừa có hoạt động môi giới vừa có hoạt động kinh doanh chứng khoán Tuy nhiên, trong giao dịch, để đảm bảo tính trung thực, công bằng và uy tín của ngành, hai loại hoạt động này được đặc biệt lưu ý tổ chức và giám sát tách bạch
Trang 29Thuế TNDN hoặc thuế TNCN áp dụng đối với các nhà trung gian chứng khoán có thu nhập từ hoạt động môi giới, bảo lãnh, tuy nhiên cần có chính sách ưu đãi thuế cho hoạt động này trong một thời gian Vấn đề khó khăn xác định chính xác thu nhập của người hoạt động môi giới chứng khoán để tính và thu thuế thì không phải dễ dàng
Người quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán: có nghĩa vụ đảm bảo cho TTCK hoạt động theo đúng các
quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo cho việc mua bán chứng khoán trên thị trường diễn ra một cách công khai, công bằng, tránh những yếu tố tiêu cực có thể xảy ra, từ đó bảo vệ lợi ích cho những người đầu tư
Vai trò quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động thuộc hai nhóm: Nhóm mang tính chất tự quản đó là Sở giao dịch chứng khoán, các Trung tâm lưu ký chứng khoán và Nhóm quản lý nhà nước đó là các Ủy ban Chứng khoán Thông thường các hoạt động quản lý nhà nước sẽ không bị điều chỉnh về yếu tố thuế (chỉ có một số loại phí dịch vụ), còn đối với hoạt động của các SGDCK thì tùy theo mô hình cấu trúc tổ chức để có nghĩa vụ thuế cụ thể
1.3 Kinh nghiệm áp dụng chính sách thuế của một số nước
1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Thị trường chứng khoán Hàn Quốc chính thức ra đời năm 1956 với 12 công ty niêm yết Trong những năm đầu, thị trường chủ yếu là giao dịch Trái phiếu Chính phủ, mức giao dịch không đáng kể Nhưng từ giữa thập kỷ
60, thị trường Hàn Quốc bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh, góp phần quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế Hàn Quốc và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân huy động vốn cho phát triển thông qua kênh chào bán chứng khoán ra công chứng Ngày nay, TTCK Hàn Quốc trở thành một trong những TTCK hàng đầu trong khu vực Châu Á, cùng với nền kinh tế phát triển nhanh và hiện đại, Hàn Quốc trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới
Trang 30Thuế là một công cụ quan trọng trên TTCK nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sự phát triển của thị trường Hiện nay, thuế liên quan đến lĩnh vực chứng khoán tại Hàn Quốc bao gồm: thuế chuyển nhượng chứng khoán và thuế đánh trên thu nhập khác liên quan đến chứng khoán Thuế chuyển nhượng chứng khoán thuộc nhóm thuế gián thu trong khi thuế thu nhập khác liên quan đến chứng khoán thuộc nhóm thuế trực thu
Thuế chuyển nhượng chứng khoán (Securities Transaction Tax – STT) Thuế chuyển nhượng chứng khoán là thuế đánh vào việc chuyển nhượng chứng khoán Thuế này áp dụng cho tất cả các hợp đồng mua bán, chuyển nhượng chứng khoán kể cả cổ phiếu niêm yết hoặc không niêm yết Đối với cổ phiếu được giao dịch trên SGDCK Hàn Quốc (KSE), thuế chuyển nhượng chứng khoán được đánh với tỷ lệ 0,15% trên giá trị mua bán
Đối với cổ phiếu được giao dịch trên KOSDAG, mức thuế suất được
áp dụng là 0,3% trên giá trị của hợp đồng mua bán Trong trường hợp thực hiện chuyển nhượng cổ phiếu ngoài sàn giao dịch (kể cả cổ phiếu niêm yết) thuế suất thuế chuyển nhượng chứng khoán được áp dụng là 0,5% trên giá trị hợp đồng chuyển nhượng
Bảng 1.1: Thuế suất thuế chuyển nhượng chứng khoán tại Hàn Quốc
Loại giao dịch Cổ phiếu niêm
yết (%)
Cổ phiếu chƣa niêm yết (%)
Thuế đặc biệt (%)
Thị trường
(Nguồn: Price Water House Cooper 2011)
Đối với cổ phiếu niêm yết, thuế chuyển nhượng chứng khoán được khấu trừ ngay tại công ty chứng khoán và công ty chứng khoán sẽ thay nhà đầu tư thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với cơ quan thuế có thẩm quyền Đối
Trang 31với cổ phiếu không niêm yết, thông thường người thực hiện chuyển nhượng
sẽ thông qua một văn phòng thuế có thẩm quyền, thực hiện nộp thuế chuyển nhượng chứng khoán theo quy định vào ngày 10 của tháng tiếp theo kể từ khi giao dịch bán được thực hiện
Thuế đánh vào Thu nhập khác có liên quan đến chứng khoán: bao
gồm các loại thuế đánh vào cổ tức và lợi vốn từ đầu tư chứng khoán Theo quy định tại Luật Thuế thu nhập Hàn Quốc, trước khi thực hiện đánh thuế thu nhập, đối tượng nộp thuế cần phải được phân loại rõ ràng Đối với cá nhân, phải xem xét người nộp thuế là người cư trú hay không cư trú tại Hàn Quốc; đối với doanh nghiệp, phải xem xét là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài Cụ thể như sau:
- Thuế áp dụng đối với người cư trú:
Một người được xét là người cư trú là một cá nhân sinh sống lâu dài ở Hàn Quốc hoặc đã sinh sống Hàn Quốc tối thiểu 1 năm Cá nhân Hàn Quốc được thuê bởi một công ty Hàn Quốc nhưng làm việc ở nước ngoài thì vẫn được coi là người cư trú Những người cư trú thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập phải nộp thuế theo một tỷ lệ nhất định trên thu nhập và đánh theo tỷ lệ lũy tiến
Tại Luật Thuế thu nhập, thu nhập chịu thuế được chia thành hai loại là: Tổng thu nhập (Global Income) và các thu nhập theo từng khoản mục (Schedular Income) Tổng thu nhập bao gồm: lãi, cổ tức, tiền cho thuê, thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, lương hưu, các khoản thu nhập khác Các khoản thu nhập này được cộng dồn và bị đánh thuế theo tỷ lệ lũy tiến Thu nhập theo từng khoản mục bao gồm: lãi vốn có kỳ hạn, lương hưu, lãi vốn
vô thời hạn
Tổ chức hoặc cá nhân chi trả lãi, cổ tức, tiền cho thuê, tiền lương có trách nhiệm khấu trừ tại nguồn đối với các khoản thu nhập trên với tỷ lệ tương ứng tại thời điểm chi trả
Trang 32Bảng 1.2: Thuế suất thuế đánh trên tổng thu nhập đối với người cư trú
Đơn vị: Triệu won
Phân loại thu nhập Giá trị tính thuế Tỷ lệ đánh thuế
Tổng thu nhập từ lãi, cổ tức,
tiền cho thuê, thu nhập từ hoạt
động kinh doanh, tiền lương,
- 5,9+26% của khoản vượt mức 40
- 16,3+35% của khoản vượt mức 80
(Nguồn: Price Water House Cooper 2011)
Thuế thu nhập liên quan đến chứng khoán chủ yếu là thuế đánh trên phần thu nhập từ cổ tức và lãi vốn từ đầu tư chứng khoán
Đối với thuế thu nhập thuế từ cổ tức: được chia làm 2 bước là thuế
đánh trên tổng thu nhập và thuế khấu trừ tại nguồn Theo đó để tránh đánh thuế trùng thu nhập từ cổ tức (ở mức độ cá nhân và công ty), Hàn Quốc áp dụng chính sách giảm trừ thuế (tax credit) đối với thu nhập từ cổ tức Khi thu nhập từ cổ tức của một người cư trú nhận được từ một doanh nghiệp trong nước thì sẽ được tính vào tổng thu nhập chịu thuế sau đó sẽ được khấu trừ thuế
Đối với thuế lãi vốn:
Hàn Quốc thực hiện chính sách khá ưu đãi đối với nhà đầu tư, cụ thể: Những cổ đông nhỏ nắm giữ một loại cổ phiếu niêm yết mà tổng số cổ phiếu anh ta nắm giữ dưới 3% tổng số cổ phiếu lưu hành của loại cổ phiếu đó hoặc tổng giá trị thị trường của loại cổ phiếu mà anh ta nắm giữ dưới 10 tỷ won
sẽ không bị đánh thuế lãi vốn Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn phải chịu thuế lãi vốn trong trường hợp cổ phiếu anh ta nắm giữ là cổ phiếu giao dịch trên Sàn
tự do (Free board)
Trang 33Khi một cổ đông lớn (hay cổ đông nắm quyền kiểm soát) nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị đánh thuế lãi vốn với thuế suất 30% của doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ sẽ bị đánh thuế lãi vốn là 10% và 20% cho các trường hợp khác
Cổ đông lớn hay cổ đông nắm quyền kiểm soát của một công ty là cổ đông nắm giữ hơn 3% tổng số cổ phiếu được phát hành tính tới ngày kết thúc năm tài khóa, hoặc là cổ đông nắm giữ hơn 10 tỷ won giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu đó (bao gồm cả phần giá trị vốn hóa số lượng cổ phiếu nắm giữ của người có liên quan)
Sau đây là các mức thuế suất thuế lãi vốn áp dụng cho người cư trú:
Bảng 1.3: Mức thuế suất lãi vốn áp dụng cho người cư trú của Hàn Quốc
Phân loại Phân loại cổ
đông Mức áp dụng thuế lãi vốn
Tỷ lệ đánh thuế (%)
30
Cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty
có quy mô vốn vừa và nhỏ (SMEs) 10
Cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty
Cổ đông nhỏ
Cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty
(Nguồn: Price Water House Cooper 2011)
Trang 34Cá nhân hay doanh nghiệp khi thực hiện việc trả lãi, chi cổ tức, chia các khoản chia có được từ thu nhập từ kết quả kinh doanh, trả lương sẽ phải khấu trừ phần thuế thu nhập theo tỷ lệ tương ứng tại thời điểm mà việc thanh toán được thực hiện
Thuế khấu trừ tại nguồn được tính với thuế suất là 14% và khấu trừ từ các nguồn sau: cổ tức, các khoản phân chia lợi nhuận, thu nhập giữ lại, các khoản chi lãi nhận được từ doanh nghiệp trong và ngoài nước; các khoản phân chia lợi nhuận từ các đơn vị không phải doanh nghiệp như hiệp hội các doanh nghiệp tư nhân; các khoản phân phối lợi nhuận phát sinh từ ủy thác đầu tư chứng khoán
- Thuế cho người không cư trú và các doanh nghiệp nước ngoài Người không cư trú tại Hàn Quốc được xác định là người không có địa chỉ cư trú cụ thể hoặc không cư trú tại Hàn Quốc ít nhất 1 năm
Doanh nghiệp nước ngoài là doanh nghiệp có trụ sở chính được đặt ở nước ngoài
Người không cư trú và doanh nghiệp nước ngoài thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập sẽ bị đánh thuế trên phần thu nhập có nguồn gốc từ Hàn Quốc gồm Thuế đánh trên tổng thu nhập và Thuế đánh trên từng khoản mục thu nhập (separate taxation) Cụ thể như sau:
- Thuế đánh trên tổng thu nhập là thuế đánh trên thu nhập từ hoạt động kinh doanh hoặc có nguồn thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản tại Hàn Quốc Tất cả các nguồn thu nhập có được từ Hàn Quốc bị đánh thuế tổng thu nhập ngoại trừ thu nhập từ lương hưu, lãi vốn ngắn hạn và lãi vốn dài hạn, các khoản này sẽ áp dụng giống như thuế thu nhập của người cư trú theo tỷ lệ lũy tiến (tham khảo bảng thuế suất thuế đánh trên tổng thu nhập đối với người cư trú)
- Thuế đánh trên từng khoản mục thu nhập hay thuế khấu trừ tại nguồn được đánh vào các khoản thu nhập có được từ Hàn Quốc đối với những người không cư trú và doanh nghiệp nước ngoài và hiện không có địa
Trang 35điểm kinh doanh tại Hàn Quốc cũng như không có thu nhập từ việc kinh doanh bất động sản tại Hàn Quốc
Sau đây là biểu thuế suất của thuế khấu trừ tại nguồn áp dụng cho người không cư trú và doanh nghiệp nước ngoài tại Hàn Quốc:
Bảng 1.4: Biểu thuế suất của thuế khấu trừ tại nguồn áp dụng cho người
không cư trú và doanh nghiệp nước ngoài tại Hàn Quốc
(Nguồn: Price Water House Cooper 2011)
Như vậy, việc đánh thuế liên quan tới lĩnh vực chứng khoán của Hàn Quốc được phân chia thành hai nhóm chính là thuế chuyển nhượng chứng khoán và thuế khác Thuế chuyển nhượng chứng khoán không đề cập tới đối tượng nộp thuế là cư trú hay không cư trú mà chỉ quan tâm tới thị trường nơi chứng khoán đó chuyển nhượng là thị trường niêm yết (KOSDAG, KSE) hay thị trường tự do (free Board) Thuế thu nhập khác đánh trên các khoản thu nhập khác từ đầu tư chứng khoán bao gồm: thuế lãi vốn, thuế đánh trên
cổ tức, trái tức – thuế này lại quan tâm tới đối tượng nộp thuế là cư trú hay không cư trú hay không cư trú và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ và tính thuế trên từng khoản mục hay phương thức đánh thuế trên tổng thu nhập chịu thuế
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Hệ thống thuế hiện tại của Trung Quốc đã trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển kể từ khi chính phủ Trung Quốc thông qua chính sách cải
Trang 36cách và mở cửa, đặc biệt là từ cuộc đại cải cách hệ thống thuế năm 1994 Hệ thống thuế chính bao gồm 2 sắc thuế: một là thuế doanh thu đánh trên hàng hóa và dịch vụ; và hai là thuế thu nhập đánh trên thu nhập của các cá nhân
và doanh nghiệp Thêm vào đó là một số loại thuế khác đánh lên tài sản, tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động biểu diễn thu nhập Cụ thể:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là thuế lũy tiến Theo luật thuế TNCN của Trung Quốc thì từ năm 2008, thu nhập của cá nhân sẽ bị đánh thuế lũy tiến từ 5% tới 45%
Thuế TNDN năm 2008 là thuế đánh vào thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty trong nước và nước ngoài với thuế suất 25% Đối với các công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh từ trước năm 2008
sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi là 15% Các công ty có số vốn nhỏ trong một số trường hợp sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi là 20%
Thuế thu nhập cá nhân
Luật thuế thu nhập cá nhân có quy định cụ thể đối với cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Theo Luật thuế TNCN, thu nhập để tính thuế đối với cá nhân có thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh (tiền mặt, cổ tức; lợi nhuận chia cho các cổ đông chiến lược; tổng lợi nhuận thặng dư phải trả cho các đối tác; lợi nhuận thu được từ việc bán tài sản…);
- Tiền lãi vay nhận được từ các khoản tín dụng công (như là lệnh phiếu, trái phiếu, chứng khoán, các chứng chỉ do Chính phủ phát hành), trái phiếu công ty, trái phiếu kho bạc, các hợp đồng thương mại ngắn hạn, tiền gửi ngân hàng và các khoản vay khác
- Lãi vốn từ việc chuyển nhượng chứng khoán
Các khoản miễn, giảm thuế bao gồm:
Trang 37- Các khoản lãi vay từ các định chế tài chính, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty hoặc các loại trái phiếu tài chính, lợi nhuận thu được từ các quỹ tín thác có bản chất là tiền gửi tiết kiệm Tuy nhiên chỉ miễn thuế tối
đa là 270.000 NDT tiền lãi vay mỗi năm trong đó loại trừ lãi vay từ tiết kiệm ngân hàng và các khoản vay ngắn hạn là không thuộc diện miễn, giảm
- Lãi thu được từ giao dịch các hợp đồng tương lai không chịu thuế và khi giao dịch này lỗ thì khoản lỗ sẽ được khấu trừ vào các khoản thu nhập chịu thuế
- Lãi từ việc bán các cổ phiếu, trái phiếu công ty được Chính phủ chỉ định phát hành và các trái phiếu phát triển do Ngân hàng được Chính phủ chỉ định phát hành sẽ chỉ tính thuế trên ½ số lãi mà cá nhân đó nhận được với điều kiện cá nhân đó phải nắm giữ những chứng khoán trên ít nhất một năm
- Miễn thuế đối với thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ
- Cá nhân cư trú bị đánh thuế trên khoản thu nhập thu được từ ngoài lãnh thổ Trung Quốc và phải ghi nợ cho các khoản thuế nước ngoài
- Tiêu chuẩn người cư trú đối với cá nhân: Cư trú dài hạn trên lãnh thổ Trung Quốc hoặc hiện tại có thể không cư trú ở Trung Quốc nhưng đã từng cư trú trong quá khứ 5 năm trở lên sẽ bị tính thuế đối với thu nhập ở Trung Quốc, hoặc thu nhập từ nước ngoài có nguồn gốc từ Trung Quốc
Việc quản lý thuế đối với thu nhập từ nước ngoài sẽ áp dụng phương pháp khấu trừ thuế tại nguồn nhằm tránh việc đánh thuế hai lần – Quy định chi tiết tại các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa các nước và các vùng lãnh thổ
Ngoài ra, việc khấu trừ thuế còn áp dụng đối với người lao động bằng việc khấu trừ tại nguồn hàng tháng theo bảng lương, việc khấu trừ này do người thuê lao động có nghĩa vụ thực hiện ngoài việc khấu trừ thêm khoản tiền bảo hiểm xã hội
Trang 38Thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới của Trung Quốc có hiệu lực vào ngày 01/01/2008 Theo Luật này, các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc bị đánh thuế với mức thuế suất khác nhau
Cụ thể như sau:
- Thuế suất chung: 25%
- Thuế suất áp dụng đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc
có lợi nhuận thấp: 20%
- Các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật cao: 15%
- Các quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào một doanh nghiệp kỹ thuật cao quy mô vừa và nhỏ chưa niêm yết, trong vòng 2 năm đuợc phép ghi nợ đến 70% số thuế phải nộp
Thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc mà có thu nhập từ các khoản như cổ tức, lãi vay … Thuế suất khấu trừ tại nguồn là 20%
Thuế thu lãi vốn
Thu nhập từ lãi vốn của cá nhân tại Trung Quốc bị đánh thuế với thuế suất 20%
Đối với các doanh nghiệp trong nước, khoản thu nhập từ lãi vốn được tính vào thu nhập chịu thuế thông thường của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, khoản thu nhập từ lãi vốn sẽ bị khấu trừ thuế với mức thuế khấu trừ là 10%
Thu nhập thụ động như lãi vay và thu nhập từ bản quyền được tính ở mức thuế suất 20%
Thuế chuyển nhượng chứng khoán:
Theo quy định của Trung Quốc việc thực hiện chuyển nhượng chứng khoán bao gồm các giao dịch chuyển nhượng các loại chứng khoán sau: cổ phiếu hoặc các chứng chỉ sở hữu cổ phiếu do các công ty phát hành, trái
Trang 39phiếu công ty, trái phiếu Chính phủ hoặc bất kỳ một loại chứng khoán nào được phát hành ra công chúng mà đã được Chính phủ chấp thuận
Bất kỳ người nào bán chứng khoán đều phải nộp thuế chuyển nhượng chứng khoán Tuy nhiên để kê khai thuế được thuận lợi, cơ quan thuế thực hiện thu thuế áp dụng phương pháp khấu trừ thuế tại nguồn
Cụ thể, thuế chuyển nhượng chứng khoán được tính bằng thuế suất từng loại nhân với giá cổ phiếu:
- Đối với cổ phiếu: 0,3% nhân với giá cổ phiếu
- Tỷ lệ 0,1% nhân với giá trái phiếu công ty hoặc bất kỳ chứng khoán nào đã phát hành ra công chúng và đã được chính phủ chấp thuận
Miễn thuế: áp dụng đối với tất cả giao dịch trái phiếu chính phủ; các giao dịch chuyển nhượng các cổ phiếu mới phát hành của một công ty mới hoặc một công ty phát hành tăng vốn; các giao dịch chuyển nhượng trái phiếu công ty phát hành lần đầu và chào bán ra công chúng đã được cơ quan
có thẩm quyền chấp thuận; giao dịch của bất kỳ chứng khoán nào qua thừa
kế, biếu tặng
Kê khai và quyết toán: cơ quan thu thuế thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn của người bán với tỷ lệ 0,3% hoặc 0,1% nhân với giá giao dịch ngay sau khi giao dịch kết thúc và phải nộp thuế cho kho bạc nhà nước ngay trong ngày hôm sau Trong cùng ngày hôm đó, cơ quan thu thuế cũng phải nộp bản kê khai cho cơ quan có thẩm quyền Bản kê khai bao gồm tên và địa chỉ của người bán; Tên, khối luợng, giá mỗi đơn vị, và tổng giá trị giao dịch chứng khoán và khối lượng tổng hợp thuế chuyển nhượng chứng khoán khấu trừ tại nguồn và thuế phải nộp (Khoản thuế đã khấu trừ, số thuế mà cơ quan thuế sẽ thu từ người bán)
Ngoài ra, Luật thuế Trung Quốc cũng quy định về thuế áp dụng đối với trường hợp chuyển nhượng các hợp đồng tương lai (Ban hành và công
bố năm 1998, chiếu theo Luật giao dịch các hợp đồng tương lai nhằm đảm bảo tính công bằng về thuế giữa TTCK tương lai và thị trường cổ phiếu)
Trang 40Như vậy, Luật thuế Trung Quốc quy định khá chi tiết, cụ thể về chính sách thuế trong lĩnh vực chứng khoán Thuế đánh trên thu nhập của cá nhân ngoài thuế đánh trên tiền lương, tiền công, trong lĩnh vực chứng khoán còn quy định rõ về thuế đánh trên lãi thu được chuyển nhượng chứng khoán, thuế đánh vào từng giao dịch chuyển nhượng chứng khoán, chuyển nhượng hợp đồng tương lai Đối với thu nhập của doanh nghiệp, khoản lãi vốn được cộng chung vào thu nhập tính thuế của doanh nghiệp, thuế đối với việc chuyển nhượng chứng khoán có quy định riêng và áp dụng chung đối với cả
cá nhân cũng như doanh nghiệp Chính sách thuế cũng có quy định cụ thể đối với đối tượng nộp thuế là cư trú hay không cư trú Ngoài ra, để khuyến khích thu thuế nhanh và đầy đủ, hàng năm, Bộ Tài chính có trích lại cho các
cơ quan thu thuế với số tiền là 1/1.000 tổng số thuế thu được nhưng giới hạn không quá 24 triệu NDT Bên cạnh đó cũng có những quy định khắt khe về việc kê khai, nộp thuế, trách nhiệm của cơ quan thu và nộp thuế; các chế tài phạt tiền nếu các đối tượng thu nộp thuế vi phạm các quy định của Luật thuế
1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Hệ thống thuế đối với chứng khoán đã được sửa đổi vài lần và cải cách từ 1987 – 1989 đã đặt nền móng cơ bản cho hệ thống thuế đối với chứng khoán hiện tại Căn cứ theo những đợt cải cách này, cấu trúc các mức thuế được đơn giản từ chỗ gồm 15 mức (10,5% - 70%) đã giảm xuống còn 5 mức (10% - 50%), và cấu trúc thuế đối với thu nhập từ tài chính cũng đã được xem xét kỹ lưỡng
Năm 1999, trong lĩnh vực thuế đối với chứng khoán, thuế đối với giao dịch chứng khoán và thuế đối với TTCK (đánh vào các giao dịch tương lai
và quyền lựa chọn) đã bị xoá bỏ vào tháng 4/1999 Và với mục tiêu nhằm tăng cường tính quốc tế hoá đồng yên, hàng loạt các biện pháp đã được thực hiện trong thời gian này, kể cả việc miễn thuế khấu trừ tại nguồn với lợi tức
từ việc mua lại chứng chỉ Kho bạc và chứng chỉ tài chính đăng ký trên sàn giao dịch mà các đối tượng không cư trú đáp ứng những tiêu chuẩn nhất