1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam

109 501 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy sự cần thiết của việc cải cách hệ thống NHTM, tác giả đã chọn đề tài “Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi

Trang 1

HAI MÔ HÌNH CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Ở CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI VÀ HỘI NHẬP VÀ GỢI

Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội, 2012

Trang 2

HAI MÔ HÌNH CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Ở CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI VÀ HỘI NHẬP VÀ GỢI

Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính và ngân hàng

Mã ngành: 60 34 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MẠNH HÙNG

Hà Nội, 2012

Trang 3

2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Cơ sở lý luận về cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập 10

1.1 Đặc điểm cơ bản của các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập 10

1.2 Hệ thống NHTM ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập 21

Chương 2: Hai mô hình cải cách hệ thống NHTM phổ biến ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập 29

2.1 Mô hình “phục hồi”- trường hợp nghiên cứu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc 29

2.1.1 Thực trạng hệ thống ngân hàng Trung Quốc trước cải cách (trước 1997) 29

2.1.2 Quá trình cải cách Hệ thống ngân hàng Trung Quốc 34

2.1.3 Bài học kinh nghiệm 47

2.2 Mô hình “cấp mới”- Trường hợp nghiên cứu của hệ thống NH Nga 49

2.2.1 Hệ thống ngân hàng của Nga trước cải cách 49

2.2.2 Quá trình cải cách Hệ thống ngân hàng Nga 51

2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ cải cách hệ thống ngân hàng Nga 55

Trang 4

1

2.3 So sánh mô hình “phục hồi” và “cấp mới” qua hai trường hợp nghiên

cứu và những thuận lợi, khó khăn nếu áp dụng vào Việt Nam 58

Chương 3: Một số hàm ý chính sách cho việc cải cách 64

hệ thống NHTM của Việt Nam 64

3.1 Đặc điểm cơ bản của hệ thống NHTM tại Việt Nam và sự cần thiết phải cải cách hệ thống NHTM Việt Nam 64

3.1.1 Điểm mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 65

3.1.2 Điểm yếu 65

3.2 Nguyên tắc chung của quá trình cải cách 71

3.3 Các mục tiêu cải cách hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 73

3.3.1 Mục tiêu của giai đoạn 1 74

3.3.2 Giai đoạn 2 từ năm 2016 – 2020 80

3.4 Các định hướng cải cách hệ thống NHTM của Việt Nam 81

3.4.1 Định hướng chung 81

3.4.2 Định hướng cụ thể 82

3.5 Một số kiến nghị về các giải pháp thực hiện 89

3.5.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 89

3.5.2 Đối với các NHTM Việt Nam 98

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

5 IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

7 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 6

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Danh sách các nền kinh tế đang chuyển đổi 11

2 Bảng 2.1 Tiền gửi và cho vay của các tổ chức tài chính

Trung Quốc năm 1997

27

4 Bảng 2.3 Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của

1 Biểu đồ 2.1 Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng thương mại

2 Biểu đồ 2.2 Vốn của Ngân hàng thương mại Nhà nước 30

3 Biểu đồ 3.1 Đường cong lãi suất huy động tại Việt Nam 62

Trang 7

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong 25 năm đổi mới, cùng với nền kinh tế của đất nước, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những chuyển đổi quan trọng, từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp Ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụng (TCTD) trực tiếp kinh doanh tiền

tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng với sự có mặt của hàng chục ngân hàng quốc doanh, cổ phần, liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng lớn mạnh

về mọi mặt, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước

Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu ổn định kinh tế

vĩ mô, tăng trưởng bền vững, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH), cũng như những thách thức to lớn của quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Hệ thống NHTM hiện nay còn chưa có được quy mô hợp lý về số lượng các ngân hàng cũng như các hình thức NHTM để có thể tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng và hiệu quả Điều này dẫn tới một hệ quả là hệ thống NHTM còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và chất lượng dịch vụ ngân hàng không cao Bối cảnh này đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam cần được cải cách

Công cuộc tái cấu trúc - cải cách hệ thống ngân hàng ở các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam luôn đứng trước sự lựa chọn khó khăn giữa việc đảm bảo ổn định và tăng cường hiệu quả kinh tế của hệ thống ngân hàng Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Việt Nam đã đặt mục tiêu đảm

Trang 8

2

bảo ổn định hệ thống ngân hàng lên hàng đầu Tuy nhiên, ổn định và hiệu quả là hai mục tiêu thường đối lập nhau trong quá trình cải cách nên Việt Nam đã trả giá cho mục tiêu ổn định bằng tốc độ cải cách chậm trễ dẫn đến hiệu quả còn thấp của hệ thống ngân hàng

Việc học hỏi kinh nghiệm cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập sẽ giúp Việt Nam có được một chiến lược và lộ trình cải cách hệ thống NHTM phù hợp Luận văn này

sẽ nghiên cứu hai xu hướng có thể gọi là hai mô hình cải cách hệ thống NHTM phổ biến ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập là “phục hồi” và “cấp mới”, để rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam trong quá trình cải cách hệ thống NHTM Nhận thấy sự cần thiết của việc cải cách

hệ thống NHTM, tác giả đã chọn đề tài “Hai mô hình cải cách hệ thống

ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập

và gợi ý chính sách cho Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Cho đến nay, có khá nhiều nghiên cứu ngoài nước về cải cách hệ thống ngân hàng (xem danh mục tài liệu tham khảo) Hầu hết các nghiên cứu này cho thấy, cải cách hệ thống ngân hàng là một vấn đề lớn, có ảnh hưởng sâu rộng tới nền kinh tế của các quốc gia

Nhìn chung, các quốc gia thường cải cách hệ thống ngân hàng khi xảy ra khủng hoảng tài chính, kinh tế hoặc sau khủng hoảng và đang thực hiện các chính sách hỗ trợ phục hồi Thực tiễn này đã được chứng minh trong giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 (Hawkins

và Turner, 1999; Hawkins, 1999; Dookyung Kim, 1999) Trong cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ bắt đầu từ năm 2007, Mỹ cũng

Trang 9

3

thực hiện một biện pháp cải cách mạnh mẽ là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong quá trình xảy ra khủng hoảng và sau khi thực hiện các chính sách kích thích kinh tế Nae-Youn Lee (2000) và Dominique Strauss-Kahn (2009) cho rằng, khi các quốc gia đối mặt với những cuộc khủng hoảng kinh tế và đang theo đuổi các chính sách khôi phục nền kinh tế, cải cách hệ thống ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng yếu kém được coi là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu Sự ổn định của hệ thống tài chính được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất về mặt thể chế cho sự hoạt động hiệu quả của nền kinh tế thị trường và cho quá trình phục hồi nền kinh tế

Theo Hawkins and Turner (1999), Goldstein and Turner (1996),

Klingebiel và Caprio (1996), có thể chia thành các nguyên nhân dẫn đến

khủng hoảng và cải cách thành 3 nhóm sau:

* Yếu tố vi mô, gồm:

- Các quy định và thực tiễn hoạt động ngân hàng kém: đặc biệt lưu

ý là tình trạng không đủ vốn, vi phạm chính sách cho vay

- Các vấn đề liên quan tới mẫu thuẫn giữa chủ sở hữu và người điều hành cũng đóng vai trò quan trọng đặc biệt là các chính sách thưởng để khuyến khích nhân viên cho vay dựa trên số lượng các khoản vay mà không chú ý tới rủi ro ngân hàng có thể gặp phải

- Giới hạn về trình độ của nhân viên có thể cản trở việc áp dụng công nghệ mới

* Yếu tố vĩ mô: sự biến động mạnh về giá cả hoặc các yếu tố kinh

tế vĩ mô như nền kinh tế tăng trưởng nóng Ví dụ cú sốc về dầu trong những năm 1970 ở châu Mỹ Latinh đã dẫn đến khủng hoảng nợ đầu những năm 1980

Trang 10

- Sự định hướng của chính phủ về tín dụng có thể hạn chế các ngân hàng phát triển kỹ năng đánh giá các khoản cho vay

- Hệ thống pháp luật không đầy đủ có thể hạn chế tính hiệu quả của

hệ thống ngân hàng Ví dụ: các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng lỏng lẻo, không phù hợp với yêu cầu hoạt động của hệ thống ngân hàng, thông tin và các chinh sách không minh bạch Theo Goldstein (1996), hầu hết các nhà phân tích cho rằng hệ thống kế toán và các quy định làm hạn chế vai trò của kỷ luật thị trường Tại nhiều quốc gia châu Á, quy định phân loại nợ không chặt chẽ khiến các ngân hàng

có thể giấu nợ xấu

- Các quy định và cơ chế giám sát không đầy đủ và hiệu quả Trong nghiên cứu của Ouarda Merrouche và Erlend Nier (2010) về nguyên nhân sâu xa của các cuộc khủng hoảng tài chính từ 1999 đến 2007 về mối quan hệ giữa năng lực giám sát, quản lý với khả năng tích tụ rủi ro (hay mất cân đối về tài chính), kết quả cho thấy các quy định đảm bảo an toàn kém và rủi ro đạo đức đã góp phần làm tăng tích tụ rủi ro trong hệ thống tài chính

- Thị trường chứng khoán chưa phát triển, đặc biệt là đối với các chứng khoán dài hạn, thì các khoản vay dài hạn phải được ngân hàng cung cấp, khi đó ngân hàng sẽ tập trung quá nhiều rủi ro

Trang 11

3 Sáp nhập các ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài

4 Sáp nhập ngân hàng trong nước với nhau

5 Thành lập công ty quản lý tài sản

6 Thay đổi cơ cấu sở hữu ngân hàng (ví dụ tư nhân hóa)

Dziobek (1998) cho rằng ngoài các biện pháp trên, cần có những biện pháp vĩ mô đối với từng thể chế và các yếu tố về pháp lý nhằm điều chỉnh và khôi phục hệ thống ngân hàng có vấn đề nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và khả năng sinh lời bền vững Ví dụ như thay đổi, cải

tổ các quy định, chính sách về hoạt động ngân hàng, giám sát hệ thống tài chính, ngân hàng cũng cần được thực hiện Thực tế cho thấy, các quốc gia sử dụng kết hợp nhiều phương pháp (từ 4 tới 6 phương pháp), chỉ có một vài quốc gia sử dụng 2 phương pháp như Nga, Ả rập

(Demirgüç-Kunt, Detragiache, và Poonam Gupta, 2006)

Theo Joseph Stiglitz (2002), cải cách hệ thống ngân hàng sẽ khó hơn rất nhiều tại các nước đang phát triển bởi một số lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, tại các nước này thường thiếu cơ sở luật pháp, khoa học

và năng lực thể chế cho việc tái cấu trúc hệ thống (ví dụ như cơ chế xử

lý tài sản)

Trang 12

6

Thứ hai, tại các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ các ngân hàng ở

trong tình trạng thiếu thanh khoản và có tài sản xấu chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống ngân hàng, số lượng ngân hàng hoạt động hiệu quả để có khả năng mua lại, thâu tóm ít hơn nhiều so với số lượng các ngân hàng yếu kém

Thứ ba, hệ thống ngân hàng có thể phức tạp hơn, bao gồm cả các

ngân hàng nhà nước và ngân hàng tư nhân Những ngân hàng nhà nước

có thể hoạt động với một cơ chế bảo lãnh ngầm đối với người gửi tiền Những tuyên bố của chính phủ về việc không bảo đảm cho các ngân hàng tư nhân có thể tạo ra việc rút tiền khỏi những ngân hàng này, đặc biệt nếu chính phủ đóng cửa một số ngân hàng và gây ra sự nghi ngờ về

sự lành mạnh của những ngân hàng khác trong hệ thống.”

Tình hình nghiên cứu trong nước

Nhìn chung, cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu trong nước tập trung vào vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng một cách chuyên sâu, mà hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc phân tích sơ lược vấn đề cải cách hệ thống ngân hàng, những vấn đề liên quan đến cơ cấu lại từng ngân hàng, hay đánh giá hiệu quả hoạt động của từng ngân hàng độc lập Xuất phát điểm của các nghiên cứu trong nước là các đánh giá thực trạng về hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Điểm mạnh của các nghiên cứu này là đang ngày càng áp dụng các công cụ và mô hình phân tích theo các chuẩn mực nghiên cứu trên thế giới

Trong những năm gần đây, trước sự yếu kém của hệ thống tài chính, ngân hàng của Việt Nam và yêu cầu cần phải cải cách, một loạt công trình nghiên cứu khoa học công phu được tiến hành nhằm phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống này, tìm hiểu các kinh nghiệm

Trang 13

Đề tài “Lý luận và thực tiễn về tự do hóa các giao dịch vốn và sự

ổn định khu vực tài chính Việt Nam: Khuôn khổ chính sách đến năm 2020” đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về tự do hóa giao dịch vốn trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997 như Thái Lan, Indonesia và của Trung Quốc, Ấn Độ, Hungary, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam

Liên quan đến yêu cầu cải cách hệ thống Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt nam, Nguyễn Hồng Sơn và các tác giả khác (2008) đã chỉ

ra những hạn chế trong mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống này hiện nay, đó là (i) tính độc lập tương đối so với các tổ chức bộ máy nhà nước khác, (ii) không phân định rõ ràng giữa chức năng của Ngân hàng Trung ương (NHTW) và chức năng quản lý, (iii) chưa tác bạch chức năng quản trị và điều hành, (iv) tổ chức bộ máy quá cồng kềnh

Trong nghiên cứu về “Cải cách Ngân hàng Việt Nam”, Nguyễn

Hồng Sơn và nhóm tác giả (2008) đã đánh giá thực trạng hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội, từ chiến lược hoạt động đến nguồn vốn, chất lượng tài sản, và lợi nhuận Nghiên cứu này cũng đề xuất định hướng phát triển Ngân hàng chính sách xã hội trở thành một ngân hàng bền vững về tài chính đồng thời tăng được khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho người nghèo và đối tượng chính sách

Trang 14

8

Đặc biệt, trong một nghiên cứu gần đây, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn và Khoa tài chính ngân hàng – Đại học kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội đã có những tổng thuật hết sức công phu về vấn đề cải cách và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trên thế giới và Việt Nam Luận văn này kế thừa nhiều thông tin, phân tích và đánh giá của nghiên cứu nói trên

Do thiếu vắng một nền tảng lý thuyết vững chắc, các nghiên cứu trong nước hiện nay hầu như rất bế tắc trong việc đưa ra một cách tiếp

cận phù hợp, nói rộng hơn là một “triết lý”, đối với việc tái cấu trúc hệ

thống ngân hàng Việt Nam Các kiến nghị chính sách vì thế trở nên rời rạc, ngắn hạn và thiếu tính hệ thống, liên thông

Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam, các nghiên cứu về hệ thống ngân hàng thương mại chủ yếu mới dừng lại ở mức độ mô tả thực trạng Các nghiên cứu mang tính lý luận khái quát về cải cách NHTM còn chưa nhiều Đặc biệt, các nghiên cứu hiện nay đều chưa đề xuất được một mô thức phù hợp cho việc cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu các mô hình cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh

tế đang hội nhập và chuyển đổi trên thế giới

- Đề xuất mô hình cải cách hệ thống NHTM của Việt Nam dựa trên nghiên cứu mô hình cải cách hệ thống NHTM của các nền kinh tế đang hội nhập và chuyển đổi trên thế giới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh

tế đang hội nhập, chuyển đổi và Việt Nam

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phân tích mô hình lý thuyết, nghiên cứu trường hợp và so sánh

Hai trường hợp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng được lựa chọn là: + Nga: theo mô hình cấp mới

+ Trung Quốc: theo mô hình phục hồi

Luận văn sẽ sử dụng khung dưới đây để tổng hợp và so sánh các trường hợp nghiên cứu của các nước Khung này cho phép hình dung rõ nét và tìm ra mối liên hệ giữa những điểm khác biệt giữa hai trường hợp nghiên cứu và những điểm khác biệt trong mo hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập

Chương 2: Hai mô hình cải cách hệ thống NHTM phổ biến ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập

Chương 3: Một số hàm ý chính sách cho việc cải cách hệ thống NHTM của Việt Nam

Trang 16

10

Chương 1

Cơ sở lý luận về cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh tế

đang chuyển đổi và hội nhập 1.1 Đặc điểm cơ bản của các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập

Kể từ khi Liên Xô và khối các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đông

Âu tan vỡ vào đầu thập kỷ 90 của thế kỹ XX, quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới đã nhanh chóng chuyển sang một giai đoạn mới Bối cảnh phát triển mới đó của thế giới được nhìn nhận với nhiều đặc trưng quan trọng: (1) Trật tự thế giới hai cực đã tan vỡ và xu hướng chủ đạo là

sự hình thành một thế giới đa cực với nhiều trung tâm phát triển khác nhau; (2) Đồng thời với sự chấm dứt của trật tự hai cực, các nền kinh tế trên thế giới đều có xu hướng tăng cường hội nhập quốc tế; (3) Quá trình hội nhập được tăng cường khiến cho hầu hết các nền kinh tế trở nên thống nhất hơn, cùng chia sẻ với nhau về cách thức điều hành, điều tiết

kinh tế vĩ mô cũng như các phương thức hội nhập, bao gồm cả hội nhập

bên trong - điều chỉnh, cải cách nền kinh tế từ bên trong cho phù hợp với

điều kiện mới và hội nhập bên ngoài - tức là chủ động tham gia vào quá

trình hội nhập, liên kết với các đối tác quốc tế khác

Bối cảnh phát triển mới của thế giới thời kỳ từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay đã dẫn tới sự hình thành của nhóm các nền kinh tế

đang chuyển đổi, hội nhập Khái niệm nền kinh tế đang chuyển đổi, hội

nhập được sử dụng để chỉ nhóm các nền kinh tế đang trong quá trình cải cách, chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang phát triển kinh tế thị trường tự do Quá trình chuyển đổi này được thực hiện với một số nội dung chuyển đổi chủ yếu bao gồm:

Trang 17

11

- Tự do hoá kinh tế, theo đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ do thị trường quyết định chứ không xác lập bởi các tổ chức kế hoạch hoá tập trung

- Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải tăng cường hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập thương mại theo đó các rào cản thương mại sẽ bị xoá

bỏ

- Quá trình tư nhân hoá được đẩy mạnh để chuyển các doanh nghiệp quốc doanh thành doanh nghiệp tư nhân với hiệu quả cao hơn trong sử dụng các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế

- Hệ thống tài chính được xây dựng để tạo thuận lợi cho ổn định kinh tế vĩ mô và cho sự chuyển dịch của các dòng vốn tư nhân

Với các đặc trưng như vậy, nền kinh tế của hàng loạt các quốc gia khác nhau được xác định là đang trong quá trình chuyển đổi, chủ yếu bao gồm các nhóm quốc gia như: các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, các quốc gia Trung và Đông Âu thuộc khối XHCN trước đây, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ 3 Xem xét ở bối cảnh rộng hơn thì bất kỳ một nền kinh tế nào đang nỗ lực cải cách, thay đổi từ

cơ chế kinh tế cũ để chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường đều có thể được coi là nền kinh tế chuyển đổi Mặc dù vậy, khái niệm kinh tế chuyển đổi thường được gắn với các trường hợp điển hình hơn là các quốc gia Trung và Đông Âu Từ năm 2000, Quỹ tiền tệ Quốc tế đã liệt

kê các nền kinh tế được coi là đang chuyển đổi như trong Bảng 1

Bảng 1.1 Danh sách các nền kinh tế đang chuyển đổi

1 Trung và Đông Âu Albania, Bulgaria, Croatia, Czech, Hungary,

Trang 18

12

Macedonia, Ba Lan, Romania, Slovakia, Slovenia

2 Nhóm thuộc Liên Xô cũ Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia,

Latvia, Lithuania, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan

3 Các nước khác Cambodia, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Mông

do đó nó có sự chuyển đổi lớn về mô hình kinh tế, cơ cấu kinh tế, các quan hệ sở hữu, …

* Mô hình kinh tế tổng quát: từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, giải phóng lực lượng sản xuất, hình thành những động lực phát triển mới cho nền kinh tế Trên thực tế, những thay đổi sâu sắc được thực hiện thông qua việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế

* Quan hệ sở hữu chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa các hình thức sở hữu, từng bước phân định quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý Hình thành cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận hành

Trang 19

13

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng hợp tác, cạnh tranh phát triển trong môi trường kinh doanh ngày càng được thể chế hóa thống nhất, thông thoáng, bình đẳng Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng kinh tế Nhà nước trong GDP và tổng đầu tư xã hội đã giảm đáng kể, trong khi tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài tăng Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực then chốt, bảo đảm vai trò trụ cột cho nền kinh tế Từng bước hình thành một số doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, phát triển thương hiệu, vươn ra cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới

* Quan hệ quản lý được chuyển đổi từng bước từ hành chính, mệnh lệnh, tập trung, quan liêu sang phân công, phân cấp, phối hợp, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Cải cách hành chính Nhà nước thu được những kết quả đáng khích lệ, từng bước xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường Chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức, phương thức hoạt động của Nhà nước được điều chỉnh hợp lý hơn theo hướng giảm các đầu mối và khâu trung gian, thực hiện nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; tách quản lý Nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ quan hành chính công với tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công Nhà nước giảm dần sự can thiệp trực tiếp vào các hoạt động thị trường, từng bước chuyển sang chức năng định hướng, hỗ trợ và kiến tạo phát triển Trên thực tế, thể chế hành chính ngày càng được hoàn thiện

và chuẩn hóa Công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tăng cường trật tự kỷ cương thu được những kết quả nhất định Nhìn

Trang 20

14

chung, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể, trở thành một trong những thị trường mới nổi giàu tiềm năng và

là địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế

* Quan hệ phân phối thay đổi theo hướng phân bổ công bằng và hiệu quả các nguồn lực phát triển như đất đai, vốn, lao động, cũng như

cơ hội, điều kiện phát triển theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước và nguyên tắc thị trường; thực hiện phân phối thu nhập và lợi ích theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp các nguồn lực, cũng như thông qua hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội

Ý tưởng ban đầu đằng sau cải cách kinh tế ở Đông Âu, nhiều thập kỉ trước, đã là giữ các hình thức cũ của sở hữu nhà nước, trong khi đơn giản tiến hành sự thay đổi triệt để trong các cơ chế điều phối Nói cách khác, các quan hệ thị trường đã phải được thiết lập giữa các doanh nghiệp quốc doanh Cách tiếp cận này, được cho cái tên “chủ nghĩa xã hội thị trường” ở Đông Âu, đã không có kết quả Cuối cùng, đã phải nhận ra rằng cũng cần đến một cải cách triệt để về quyền sở hữu trước khi nền kinh tế thị trường có thể hoạt động hiệu quả Sự thừa nhận này được chấp nhận nói chung trong các năm 1990 Tuy nhiên, đã vẫn có nhiều tranh luận về tiến hành thay đổi cơ cấu sở hữu thế nào và nên tiến hành cải cách nhanh ra sao Khi điều đó xảy ra, tất nhiên diễn tiến của các sự kiện đã khác nhau tùy từng nước và vị trí hiện tại của chúng cũng khác nhau

Điều quan trọng nhất là để cho các doanh nghiệp tư nhân mới tự

do phát triển Phải chú ý nhất, phải nỗ lực nhất về mặt trí tuệ và phải dùng năng lực hành chính của nhà nước để dỡ bỏ những rào cản đối với các doanh nghiệp mới sao cho việc tham gia thị trường được tự do Sẽ có lợi để đoạn tuyệt với những thành kiến ý thức hệ và cổ vũ, khuyến khích

Trang 21

15

hàng trăm ngàn doanh nghiệp nhỏ khởi - cuộc trong công nghiệp, trong nông nghiệp và giao thông, và trong các ngành dịch vụ, nơi đã có thiếu hụt nhất trong chế độ cũ Cũng phải có sự cổ vũ, khuyến khích cho hàng chục ngàn người có khả năng lập các doanh nghiệp cỡ vừa Các khoản đầu tư dưới dạng công ty mới được tiến hành trên quy mô số đông Cũng chính khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa này đã thúc đẩy các hoạt động mới, lành mạnh vào nền kinh tế Nga khi nó bắt đầu phục hồi sau suy thoái nghiêm trọng

Thứ nhất: Thành phần quan trọng nhất của cải cách sở hữu là đảm bảo sự thâm nhập tự do (tự do tham gia kinh doanh) và phát triển một khu vực tư nhân khởi-cuộc

Phải làm cho việc đầu tư trực tiếp vốn nước ngoài vào trong nước là có thể Nó cũng mở đường cho đưa vào các công nghệ mới, phổ biến các phương pháp công nghiệp hiện đại, và bằng cách ấy đưa tổ chức công việc hiện đại, sản xuất có kỉ luật và định hướng thị trường vào Điều này đòi hỏi phải khắc phục hai ác cảm ý thức hệ: ác cảm với vốn tư

bản nước ngoài và sự bài ngoại, sợ ảnh hưởng nước ngoài

Thứ hai: Cởi mở với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Mục đích kinh tế chủ yếu của cải cách sở hữu là tạo khuyến khích mạnh hơn cho hiệu quả Một trong những vấn đề của sở hữu nhà nước kiểu cũ đã là tính phi cá nhân của nó Chẳng ai cảm thấy lợi ích sở hữu trực tiếp, cái mang lại hiệu quả cao nhất Bõ công thiết lập một cơ cấu sở hữu mới, trong đó lợi ích cá nhân này về hiệu quả thể hiện rõ ràng hơn

Trang 22

16

Đòi hỏi đầu tiên này để chuyển các quyền sở hữu chỉ nếu trả giá đứng đắn cho chúng Giá hợp lí cho các tài sản phải được xác lập bằng

bỏ thầu hay bán đấu giá

Kinh nghiệm ở các nước đã phát triển, và mới đây ở Đông Âu, cho thấy có hiệu quả lớn hơn nếu có các chủ sở hữu bên ngoài đứng đối lập với ban quản lí nội bộ, đặc biệt trong trường hợp các công ty lớn hơn Các chủ sở hữu bên ngoài hẳn đòi hỏi một thành tích cao hơn từ ban quản lí và giám sát hoạt động của nó

Thứ 3: Nhà nước phải kiềm chế việc phân phát các tài sản của mình miễn phí hay để cho các cán bộ quản lí chiếm đoạt Tài sản do nhà nước sở hữu chỉ được chuyển sang cho tư nhân nếu họ trả một giá tương xứng cho tài sản đó

Một điểm thường gây lo ngại là khó áp dụng nguyên tắc bán một cách nhất quán Thường không có người mua khi chào bán các tài sản nhà nước Việc cần làm trong những trường hợp như vậy là đặt câu hỏi vì sao Có thể là vì bầu không khí kinh tế và chính trị không đủ thân thiện với thị trường và doanh nghiệp

Lí do khả dĩ khác vì sao những người mua lại không sẵn lòng là, doanh nghiệp được bán không có khả năng phát triển về mặt thương mại Việc bán thất bại báo hiệu về sự thất bại sắp xảy ra của bản thân doanh nghiệp Trong trường hợp đó, các nhà quản lí tài sản nhà nước phải đối mặt với sự thật cay đắng: các tài sản đáng giá ở mức mà người ta sẵn sàng trả để mua chúng

Nếu một doanh nghiệp không có khả năng sống, hãy thanh lí nó, không được giữ nó sống một cách nhân tạo Thay vào đó, phải làm sao

để có thể tổ chức lại nó, như thế các bộ phận có khả năng phát triển của

Trang 23

Thứ 4: Không được giữ các doanh nghiệp nhà nước không có khả năng hoạt động sống một cách nhân tạo

Cải cách sở hữu là một quá trình tiến hóa Khu vực nhà nước và

tư nhân cùng tồn tại cạnh nhau Quy mô của khu vực tư nhân tăng vững chắc thông qua ba quá trình:

* Thứ nhất, thông qua sự gia nhập của các hãng tư nhân mới

* Thứ hai, thông qua bán các quyền sở hữu nhà nước nhất định với giá hợp lí

* Thứ ba, thông qua thanh lí các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả, tỏ ra không có khả năng hoạt động

Cần phải khuyến khích cả ba quá trình, nhưng chẳng nên ép buộc quá trình nào cả Không có yêu cầu nào về một lịch trình thời gian hay về một mục tiêu định lượng quy định khi nào một mức độ cụ thể của cải cách sở hữu phải được hoàn thành Hệt như việc áp đặt tập thể hóa lên xã hội đã dẫn đến kết quả kinh tế tồi, cũng thế điều ngược lại cũng sẽ chẳng có tác động mong muốn Cần phải có cơ hội cho những thí nghiệm, thử nghiệm về các hình thức khác nhau của cải cách sở hữu

Cạnh tranh lành mạnh giữa các hình thức sở hữu khác nhau Không cần ép buộc sở hữu công cộng (bất luận là sở hữu trung ương hay địa phương, quận huyện, thành phố, hay làng xã) khỏi các vị trí nó có thể

Trang 24

Thứ 5: Hãy có cạnh tranh lành mạnh giữa các hình thức sở hữu Nhà nước, với tư cách người mua, không nên phân biệt đối xử chống lại bất kể hình thức sở hữu nào

Thành công của cải cách sở hữu phụ thuộc một phần vào thái độ của những người điều hành khu vực nhà nước, ở trong bộ máy các bộ và các doanh nghiệp Nhiều người sợ thay đổi và chống cải cách vì lí do đó Một số cố cứu lấy sự nghiệp của mình qua tham nhũng Những người khác chiếm đoạt tài sản cho mình, hay chí ít, phần “vô hình” của nó: các tài sản vô hình, các quan hệ và khách hàng của các doanh nghiệp

Những kinh nghiệm ở Nga gợi ý rằng cả hai mối nguy hiểm này

là có thực Đã có các nhóm chính trị những người nghĩ rằng họ phải lôi kéo được tầng lớp các nhà quản lí có ảnh hưởng bằng cách hối lộ thiện ý của họ và ngấm ngầm để cho họ chiếm đoạt nhiều quyền tài sản nhà nước

Đấy là cách ứng xử bất lương, kết thúc bằng việc làm mất tín nhiệm tư tưởng của cải cách sở hữu trong con mắt công chúng Không cần bợ đỡ bằng cách này, ngay cả vì lí do chiến thuật Tầng lớp quản lí mau chóng nhận ra rằng nó chẳng có gì để sợ sự thay đổi về các quan hệ

sở hữu Kinh nghiệm Nga cho thấy, các nhà quản lí và những người làm hành chính có tài năng cũng tìm được vị trí của mình trong hoàn cảnh đã thay đổi Các chủ sở hữu mới thường không thiên vị về việc sử dụng các

Trang 25

19

nhà quản lí trước kia đã làm việc trong bộ máy nhà nước quan liêu hay trong các doanh nghiệp nhà nước Quả thực, họ đánh giá cao kinh nghiệm và mạng lưới quan hệ của những người này Các nhà quản lí có thể yên tâm rằng cải cách sở hữu đã làm tăng uy tín và thu nhập của họ, chứ không giảm chúng

Thứ 6: Tập quán thử tranh thủ các nhà quản lí đối với cải cách

bằng các công cụ tham nhũng sẽ gây tác hại Thực ra, cải cách sở hữu mang lại những cơ hội sự nghiệp thuận lợi và hấp dẫn cho các nhà quản

Những thay đổi lịch sử lớn luôn tạo ra những kẻ thắng và những người thua Điều này cũng đúng với biến đổi ở Đông Âu trong thập kỉ qua

Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung xã hội chủ nghĩa đã hoạt động một cách không hiệu quả Tâm trạng chung bị tổn thương nghiêm trọng bởi những hạn chế nặng nề lên các quyền con người, bởi thiếu pháp trị, và bởi sự nghèo đói bắt nguồn từ sự không có hiệu quả phổ biến Tuy nhiên, những bất lợi này lại được kết hợp với một loại an toàn kinh tế cá nhân đặc biệt Đã không có thất nghiệp hàng loạt ở đô thị Nhà nước, theo cách gia trưởng, đã chăm lo giáo dục và y tế, và lương hưu cho những người làm việc trong khu vực công Biến đổi ở Đông Âu đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng trong các lĩnh vực này

Thất nghiệp hàng loạt nổi lên ở khắp nơi, quy mô của nó phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ trong tái cơ cấu sản xuất

và ngoại thương và cải cách sở hữu

Thứ nhất: Chuẩn bị cho sự xuất hiện của thất nghiệp Các hậu quả của nó phải được giảm nhẹ bằng các hệ thống bảo hiểm và phúc lợi

Trang 26

vụ đóng một phần quan trọng trong hấp thu dữ trữ lao động

Một số trong những vấn đề này là hệt như các vấn đề ở các nước

đã phát triển, nhưng những vấn đề khác mang tính đặc thù, liên quan đến biến đổi mang tính hệ thống Thí dụ, trong cải cách sở hữu nhiều doanh nghiệp tìm cách nhún vai bỏ qua các nhiệm vụ phúc lợi của họ Họ ngưng vai trò của mình về cung cấp chỗ ở cho nhân viên, về cung cấp chăm sóc ý tế và các phương tiện chăm sóc trẻ em cho nhân viên, và về đóng góp cho quỹ hưu trí của họ Tất cả điều này xảy ra vào lúc khi chính phủ, các tổ chức dân sự hay khu vực tư nhân chưa đảm bảo được các chức năng này

Thứ 2: Phải chú ý để tránh khoảng trống chân không trong cung cấp các nhu cầu của công chúng có thể xảy ra sau cải cách sở hữu Khu vực nhà nước và tư nhân phải có sự tổ chức phòng ngừa của hoạt động song song, bổ sung cho nhau trong lĩnh vực phúc lợi

Ý tưởng nảy sinh đầu tiên với cải cách hưu trí bằng tạo ra các hệ thống-con “đa-trụ” Hãy để hệ thống hưu trí nhà nước và hệ thống hưu trí tư nhân, tự nguyện hoạt động cạnh nhau Các ý tưởng tương tự cũng được phát triển cho y tế: cùng với hệ thống bảo hiểm xã hội được tài trợ bởi đóng góp bắt buộc và cung cấp chăn sóc ý tế cơ bản, có thể có các cơ hội hợp pháp cho bảo hiểm tư nhân bổ sung Các định chế nhà nước vẫn chiếm ưu thế, nhưng lác đác đã xuất hiện các định chế phi-nhà nước, một

Trang 27

vụ bị trì hoãn Sự phân chia hợp lí của những gánh nặng liên thế hệ, cùng với tính duy lí kinh tế và ổn định chính trị, đòi hỏi các cải cách thể chế được tiến hành ít nhiều đồng thời trong mọi lĩnh vực cuộc sống

1.2 Hệ thống NHTM ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập

Những đóng góp của hệ thống NHTM vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là rất lớn Các NHTM không chỉ tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế mà còn góp phần ổn định sức mua của đồng tiền Đến nay, vốn cho sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn do các NHTM đáp ứng

Cùng với quá trình cải cách và đổi mới, số lượng các NHTM đã tăng rất nhanh, đã và đang từng bước chuyển dần hướng tới một hệ thống tương thích của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển Sự lớn mạnh của hệ thống NHTM thể hiện ở sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp và sự đóng góp vào GDP hàng năm Các NHTM Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng vốn, đặc biệt trong điều kiện khó khăn của nền kinh

tế của các doanh nghiệp Chính họ là kênh chuyển tải nhanh nhất các cơ

Trang 28

Xét trong nội bộ ngành ngân hàng, sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài đã làm tăng sức ép cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Các ngân hàng nước ngoài không chỉ cạnh tranh với các ngân hàng trong nước trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại mà còn cạnh tranh ngay cả về các sản phẩm truyền thống như tín dụng, thanh toán, nhận tiền gửi, v.v… Thêm vào đó, các ngân hàng nước ngoài có kinh nghiệm trong quản trị tân tiến, công nghệ hiện đại, hệ thống quản trị rủi

ro được đúc kết trong nhiều năm, tính công khai minh bạch của hệ thống các ngân hàng nước ngoài là cơ sở chắc chắn trong quản lý Mặc dù các ngân hàng trong nước thường có lợi thế so sánh về mạng lưới, khách hàng truyền thống, vai trò lịch sử,…nhưng kém hơn so về năng lực cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài về mức độ hiện đại hóa công nghệ

Trang 29

23

ngân hàng, về nguồn nhân lực, về trình độ quản trị hoạt động và vấn đề quản lý rủi ro Như vậy, quản trị hoạt động cũng như quản trị công nghệ Ngân hàng đang là một thách thức lớn trước sức ép hội nhập của hệ thống Ngân hàng

Tuy nhiên sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài cũng có những mặt tốt đẹp cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng Bên cạnh sự cạnh tranh là nguyên nhân thúc đẩy sự tiến bộ, không ngừng phát triển thì hệ thống ngân hàng trong nước có thể học hỏi được rất nhiều từ các ngân hàng nước ngoài từ kinh nghiệm quản lý, quản trị rủi ro, công nghệ và quy trình tân tiến, đồng thời có thể có sự liên kết, hợp tác cùng phát triển cùng nâng tầm cỡ của nhau,…

Với một một thị trường tài chính còn non trẻ, rất chật hẹp, số lượng Ngân hàng và TCTD phi ngân hàng là không nhỏ Một khi mỗi phân đoạn thị trường có nhiều Ngân hàng / chi nhánh trong và ngoài nước khai thác, mức độ canh tranh để giữ thị phần sẽ càng trở nên khốc liệt, nhưng đa số các Ngân hàng chưa nâng cao được chất lượng, tính tiện ích của dịch vụ, lợi thế công nghệ và trình độ quản lý để cạnh tranh,

mà chỉ dựa vào lãi suất và chính sách khuyến mại Điều này đôi khi đã buộc NHNN phải xử lý bằng các mệnh lệnh hành chính, để tránh những

cú sốc nảy sinh từ nguy cơ bất ổn này

Một số NHTM CP qui mô vốn nhỏ, mới ra đời chưa có điều kiện khảng định được uy tín và thương hiệu với khách hàng, chưa có điều kiện để phát triển dịch vụ phi tín dụng, chỉ tập trung vào hoạt động tín dụng, phát triển mạnh cho vay tiêu dùng, cho vay chứng khoán và bất động sản với lãi suất thỏa thuận, nên đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của thị trường này Ttrước những một số diễn biến bất ổn từ nền

Trang 30

24

kinh tế, thì sự chậm trễ hay những can thiệp quá mức của cơ quan quản

lý, những bất ổn của hệ thống ngân hàng dễ nảy sinh

Các nghiên cứu hiện nay cho thấy quá trình cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập nhìn chung đều đứng trước sự lựa chọn theo một trong 2 hai đường lối chính:

Một đường lối ủng hộ công cuộc tự do hoá nhanh bằng cách phát triển đồng thời một hệ thống tài chính mới cùng với hệ thống cũ đang có nhiều khiếm khuyết (Claessens, 1998; Lardy, 1998), có thể

được hiểu là tái cấu trúc theo đường lối “cấp mới” Đường lối này cho

phép chia tách và tư nhân hoá các ngân hàng quốc doanh, thi hành chính sách tự do cấp phép cho các ngân hàng mới và đóng cửa các ngân hàng

cũ (hoạt động không hiệu quả) Đây là xu hướng phổ biến ở các nước mới độc lập như Étxtônia và Nga

Đường lối thứ hai ủng hộ tự do hoá từng bước bằng cách củng

cố và duy trì hệ thống ngân hàng cũ (Dornbusch and Giavazzi, 1999;

Lau, 1999), có thể được hiểu là tái cấu trúc theo đường lối “phục hồi”, vì

cho rằng cải cách nhanh sẽ dẫn đến các cuộc khủng hoảng hoặc biến động bất thường trên thị trường tài chính Đường lối này tiến hành tái cấp vốn và cơ cấu lại thể chế của các ngân hàng quốc doanh hiện có để phục hồi các ngân hàng này, cho phép ở mức giới hạn chia tách các ngân hàng, hạn chế tư nhân hoá và cấp phép mới Đây là xu hướng phổ biến ở các nền kinh tế Trung và Đông Âu như Hunggari và Ba Lan

Việc lựa chọn đường lối cải cách “cấp mới” hay “phục hồi” phụ

thuộc vào điều kiện ban đầu của quá trình chuyển đổi, đặc biệt là điều kiện thể chế, môi trường phát triển kinh tế vĩ mô và cải cách ở các lĩnh vực khác như môi trường pháp lý và doanh nghiệp Phương pháp “phục hồi” được sử dụng ở các nền kinh tế có độ sâu tài chính khi có một vài

Trang 31

25

ngân hàng lớn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và thống trị thị trường tín dụng Ngược lại, phương pháp “cấp mới” được sử dụng ở các nền kinh tế ít có độ sâu tài chính khi các ngân hàng cũ có vai trò ít cả về kinh tế lẫn chính trị khiến cho chính phủ không chú trọng nhiều vào hỗ trợ hệ thống ngân hàng

Phương pháp “cấp mới” được áp dụng tại các nước có nguồn thu tài khoá không đáng kể khi quá trình chuyển đổi bắt đầu vì thế chính phủ các nước này không có nhiều lựa chọn ngoài việc phải tự do hoá lĩnh vực ngân hàng Ngược lại, phương pháp “phục hồi” phù hợp với các nước có thu nhập ngân sách còn tương đối lớn, cho phép chính phủ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng

So sánh mức độ phát triển thể chế của hệ thống ngân hàng của 25 nền kinh tế đang chuyển đổi có thể thấy rằng thể chế ngân hàng phát triển nhanh hơn ở các nền kinh tế thi hành chính sách cấp phép mới so với các nước theo đường lối phục hồi Vì vậy, đường lối “phục hồi” tỏ ra không hiệu quả đối với các nền kinh tế có hệ thống thể chế yếu kém khi bắt đầu cải cách ngân hàng vì nó không giúp các nước này đạt tiến bộ nhanh Biện pháp “cấp mới” cải thiện thể chế của hệ thống ngân hàng và qua đó nâng cao chất lượng của các khoản vay và giúp giải quyết tình trạng nợ xấu ở Ấn Độ và Trung Quốc Lợi ích của chiến lược cấp phép mới là nó khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng và điều này sẽ thúc đẩy chất lượng dịch vụ ngân hàng phát triển Nghiên cứu các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Âu, cho thấy rằng tư nhân hoá các ngân hàng quốc doanh đã làm tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả của lĩnh vực ngân hàng, nâng cao chất lượng dịch

vụ, giảm chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và cải thiện tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng Đặc biệt, các ngân hàng

Trang 32

26

nước ngoài có vai trò khá cao trong quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng trong nước: Nguồn vốn đầu tư của các ngân hàng nước ngoài làm giảm chi phí tài chính cho quá trình cơ cấu lại các ngân hàng; Các ngân hàng nước ngoài mang đến những tập quán tốt trong quản lý giúp cho các ngân hàng trong nước trở nên hiệu quả hơn; các ngân hàng nước ngoài cung cấp dịch vụ có chi phí thấp, làm tăng cạnh tranh, buộc các ngân hàng trong nước phải giảm chi phí và tăng cường hiệu quả; và các ngân hàng trong nước được hưởng lợi về chuyển giao công nghệ ngân hàng;

* Tại Trung Quốc: Hệ thống ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Trung Quốc, vì nó thu hút gần như toàn bộ tiền tiết kiệm của hộ gia đình và cung cấp đến 95% vốn cho khu vực doanh nghiệp Tiền gửi tiết kiệm ở hệ thống ngân hàng Trung Quốc là rất lớn, chiếm đến 160% GDP

Khu vực ngân hàng cũng là một khu vực tăng trưởng vào loại nhanh nhất ở Trung Quốc, đạt tốc độ tăng trung bình 19% trong suốt hai thập kỷ qua Tính đến cuối năm 2008, tổng tài sản của toàn hệ thống là 62,3 ngàn tỷ Nhân dân tệ, hơn gấp hai lần GDP của nước này Đến nay,

về mặt quy mô và phạm vi hoạt động, ngành ngân hàng Trung Quốc có thể sánh ngang với các nền kinh tế công nghiệp hóa hàng đầu Tuy nhiên, ngành ngân hàng Trung Quốc vẫn được coi là đang ở giai đoạn đầu phát triển khi nguồn thu nhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại vẫn từ hoạt động tín dụng, chiếm trên 85%

* Tại Nga (Liên Xô) : Hơn một thập kỷ sau sự sụp đổ của Liên

Xô năm 1991, Nga vẫn còn đang cố gắng để thiết lập một nền kinh tế thị trường và để thu được sự phát triển kinh tế bền vững Trong 5 năm đầu nền kinh tế Nga đã phát triển không ổn định do các cơ quan hành pháp và lập pháp còn nhiều bất đồng trong việc hoàn thiện công cuộc cải

Trang 33

27

cách và các nền tảng công nghiệp của Nga chịu sự suy thoái nặng nề Sau sự tan rã của Liên Xô, sự phục hồi nhỏ của Nga dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường lần đầu tiên diễn ra vào khoảng năm 1997 Trong năm

đó, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã lên đến điểm đỉnh trong việc phá giá của đồng rúp vào tháng 8 năm 1998, làm cho chính phủ bị vỡ

nợ và làm suy giảm trầm trọng mức sống tiêu chuẩn của phần lớn dân chúng Vì thế, năm 1998 cũng đã được ghi nhận như là năm của suy thoái và sự tăng cường rút vốn ra khỏi nền kinh tế

Thách thức lớn nhất đối với Nga là các biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của các xí nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong điều kiện môi trường kinh doanh với hệ thống ngân hàng trẻ và khác thường, được nắm

giữ bởi các ông trùm Nga (oligarch) Nhiều ngân hàng Nga là sở hữu

của các nhà doanh nghiệp hay các ông trùm, là những người thông thường sử dụng các khoản tiền gửi ở ngân hàng để cho các doanh nghiệp của chính mình vay mượn Ngân hàng tái thiết và phát triển châu

Âu (EBRD) và Ngân hàng thế giới (WB) đã có những cố gắng để kích hoạt khởi động các hoạt động ngân hàng thông thường bằng cách cấp vốn và mua lại các khoản nợ trong một số ngân hàng nhưng thành tựu thu được là rất không đáng kể

Các vấn đề khác bao gồm sự phát triển mất cân bằng giữa các khu vực của Nga Trong khi khu vực thủ đô Moskva là hối hả, có cuộc sống thịnh vượng với thu nhập trên đầu người nhanh chóng đạt tới mức của các nền kinh tế hàng đầu châu Âu thì phần lớn các khu vực còn lại, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và khu vực của người thiểu số ở châu

Á, đã bị tụt lại đằng sau rất nhiều Sự phân hóa thời kinh tế thị trường cũng cảm nhận được ở các thành phố lớn khác như Sankt-Peterburg, Kaliningrad và Ekaterinburg

Trang 34

28

Thúc đẩy đầu tư nước ngoài cũng là một thách thức lớn Ngoài

ra, Nga cũng được hưởng lợi từ việc tăng giá dầu mỏ và vì thế có khả năng thanh toán các khoản nợ khổng lồ cũ Sự phân bổ công bằng các thu nhập từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên này từ công nghiệp cho các lĩnh vực khác cũng là một vấn đề

Trang 35

29

Chương 2 Hai mô hình cải cách hệ thống NHTM phổ biến ở các nền kinh

tế đang chuyển đổi và hội nhập 2.1 Mô hình “phục hồi”- trường hợp nghiên cứu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc

2.1.1 Thực trạng hệ thống ngân hàng Trung Quốc trước cải cách (trước 1997)

Trước khi tái cấu trúc, hệ thống ngân hàng Trung Quốc rất tập trung và phân khúc rất rõ ràng giữa các nhóm ngân hàng có chế độ sở

hữu khác nhau: 4 ngân hàng thương mại nhà nước và 3 ngân hàng chính

sách đóng vai trò chủ đạo Năm 1997, bảy ngân hàng này chiếm 2/3 tổng tiền gửi và 3/4 tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng (Bảng 2.1) Mặc dù

có ngân hàng chính sách để quản lý và thực hiện các khoản vay theo chính sách, một phần đáng kể khoản vay chính sách (cho các doanh nghiệp nhà nước vay) vẫn là từ ngân hàng thương mại nhà nước Các tổ chức tài chính khác kể cả Hợp tác xã tín dụng nông thôn chiếm 13% tổng số tiền gửi và 10% tổng dư nợ, ngân hàng thương mại quốc gia và khu vực chiếm 10% tổng số tiền gửi và 5% tổng dư nợ

Bảng 2.1: Tiền gửi và cho vay của các tổ chức tài chính

Trung Quốc năm 1997

(%)

Tiền vay (%)

Ngân hàng Trung Ương

Trang 36

30

1 Ngân hàng Đầu tư và thương mại Trung Quốc 28 26

1 Ngân hàng Phát triển nông nghiệp Trung Quốc 0 11

4 Hợp tác xã Tín dụng thành phố/Ngân hàng hợp

tác xã đô thị

Nguồn: Albert Part and Kafa Sehrt (2001)

Lợi nhuận thực tế của các ngân hàng thương mại nhà nước có thể thấp hơn nhiều so với mức lợi nhuận chung Hoạt động của ngân hàng kém hiệu quả chủ yếu là do việc cấp tín dụng lỏng lẻo

Trang 37

31

Biểu đồ 2.1: Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng thương mại nhà nước

Nguồn: Lardy (1999)

Những rủi ro trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc là do sự

khác biệt với những tiêu chuẩn Basel, khả năng về vốn nhỏ hơn nhiều so

với những tài liệu được công bố chính thức và giảm trong nhiều năm

Trang 38

32

Biểu đồ 2.2: Vốn của Ngân hàng thương mại Nhà nước

Nguồn: Lardy (1999)

Chất lượng tín dụng rất thấp, nợ xấu cao và số liệu công bố được

đánh giá là thấp hơn nhiều so với thực tế: Ước tính chính thức tỷ lệ nợ

xấu của bốn ngân hàng thương mại nhà nước trong năm 1997 là 24%

Tuy nhiên, ước tính này dựa trên hệ thống phân loại nợ cũ của Trung

Quốc Các ước tính ở phương Tây thường cao hơn Hơn nữa, nhiều

khoản nợ xấu này không được trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ Tuy

nhiên, theo nghiên cứu của Erika Leung, et al (2002), năm 1999, nợ xấu

chiếm hơn 40% tổng dư nợ Các ngân hàng Trung Quốc nhìn chung

không có đủ dự trữ để giải quyết các khoản nợ xấu Thủ tục xử lý nợ xấu

cũng không phù hợp

Ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong hệ

thống ngân hàng Trung Quốc Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ngân hàng

thuộc sở hữu nhà nước hoạt động không hiệu quả hoặc mất khả năng

thanh toán luôn ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ thống ngân hàng

(Dziobek, 1998) Các ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động như

Trang 39

33

công cụ để thực thi chính sách phát triển kinh tế Trung Quốc Chức năng

sở hữu và điều hành không được tách biệt Các ngân hàng thương mại nhà nước Trung Quốc không có cơ chế quản lý rủi ro và cũng không có động lực tạo ra lợi nhuận Đây được đánh giá là nguyên nhân chính hay

“lỗi” mang tính cấu trúc trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng và lợi nhuận thấp của ngân hàng thương mại nhà nước Trung Quốc

Nhìn chung, những vấn đề trên có thể không phải là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng xảy ra ở Trung Quốc, nhưng rõ ràng đã để lại những rủi ro và hạn chế triển vọng phát triển tại nước này Hệ thống ngân hàng của Trung Quốc ngày càng dễ bị tổn thương trước những cú sốc tiêu cực Trong khi đó, theo Lardy (1998), ngay cả những dữ liệu chính thức đã chỉ ra mức độ nợ xấu vượt quá ngưỡng 15% tổng dư nợ Bằng chứng thực nghiệm cũng chỉ ra rằng mức độ sở hữu nhà nước ở các ngân hàng, hoặc sự tham gia của chính phủ trong việc cấp tín dụng là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng ngân hàng

Những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên:

- Nhận thức chưa đúng về mối quan hệ hàng hóa- tiền tệ, xem nhẹ quy luật giá trị và kinh tế thị trường, chỉ nhắm đến những mục tiêu cao siêu mà ít chú ý đến những kết quả trước mắt

- Cải tạo quan hệ sản xuất mà ít chú ý đến phát triển lực lượng sản xuất

- Quá chú trọng phát triển công nghiệp nặng mà không chú ý đến công nghiệp nhẹ và nông nghiệp

Trang 40

34

- Chế độ quản lý tập trung, cứng nhắc, nhất là trong thành phần kinh tế quốc doanh Các doanh nghiệp nhà nước không phát huy được quyền chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh

- Không kiểm soát được cơn sốt dân số, thực hiện đường lối đóng cửa hoàn toàn, kể cả với các nước xã hội chủ nghĩa Kim ngạch buôn bán rất thấp

Tất cả những hạn chế trên đòi hỏi phải tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để củng cố hệ thống ngân hàng và đưa các tổ chức tài chính yếu kém nhất thoát khỏi thị trường

2.1.2 Quá trình cải cách Hệ thống ngân hàng Trung Quốc

Hệ thống ngân hàng Trung Quốc trải qua quá trình phát triển, đổi mới, cải cách đi kèm với giai đoạn tái cấu trúc nhưng khái niệm về cải

tổ, tái cấu trúc, đổi mới lại chưa có sự phân biệt rõ ràng và được sử dụng với ý nghĩa tương đồng Quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc có thể chia làm 3 giai đoạn chính:

- Giai đoạn 1 (1978 – 1992): Đến năm 1978, Trung Quốc điều

hành hoạt động kinh tế và hệ thống tài chính trên cơ sở những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBC) không chỉ phát hành tiền mà còn là trung tâm tài chính cho các phương án kinh tế nhà nước Năm 1978, Trung Quốc bắt tay vào cải cách nền kinh tế lớn với mục tiêu tăng hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng được cải cách dần dần Đặc điểm của giai đoạn này là (i) tạo ra hệ thống ngân hàng hai cấp, bao gồm ngân hàng nhân dân Trung Quốc (NHTƯ) và bốn ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước là Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc; (ii) Năm

Ngày đăng: 17/03/2015, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quách Mạnh Hào” (15/12/2011), “Những điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay”, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN, Công ty Chứng khoán Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
2. Phạm Bảo Khánh, “ Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Trung Quốc- vai trò của quản trị công ty”, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Trung Quốc- vai trò của quản trị công ty
3. Nguyễn Phi Lân, “Kinh nghiệm các nước trong khu vực và Đông Âu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng”, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm các nước trong khu vực và Đông Âu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
4. Lê Hoàng Nga, “Một vài hướng đi trong tái cơ cấu ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới”, Trung tâm NCKH & Đào tạo Chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài hướng đi trong tái cơ cấu ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới
5. Nguyễn Thị Mùi , “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cần đặt trọng tâm vào tính hiệu quả và sự phát triển bền vững”, Trường Đào tạo và phát triển Nguồn nhân lực, Vietinbank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cần đặt trọng tâm vào tính hiệu quả và sự phát triển bền vững
6. Đặng Hoàng Thanh Nga, “Kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam”, Viện Kinh tế- Học viện Chính trị, Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam
7. Hoàn Trần và Thuân Nguyễn (2011), “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt nam theo hướng nào”, Working Paper, StoxPlus Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt nam theo hướng nào
Tác giả: Hoàn Trần và Thuân Nguyễn
Năm: 2011
8. Nguyễn Thị Kim Thanh (tháng 6/2011), “ Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng thông qua các giải pháp công nghệ thông tin”, Tạp chí ngân hàng số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng thông qua các giải pháp công nghệ thông tin
10. Nguyễn Hồng Sơn (2011), “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế và một số hàm ý về tư duy cho Việt Nam”, Hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế và một số hàm ý về tư duy cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2011
8. International Monetary Fund (April 12, 2011), “Staff Report for the 2011 Article IV Consultation for Vietnam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Staff Report for the 2011 Article IV Consultation for Vietnam
10. Vietnam Banking Finance News (December 29, 2010), “Vietnam central bank proposes tasks for banking sector in 2011”.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam central bank proposes tasks for banking sector in 2011”
9. Trần Thị Thanh Tú (2012), “Các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng của Hàn Quốc- so sánh với Trung Quốc và Hàm ý chính sách cho Việt Nam Khác
9. International Monetary Fund and World bank (2005), Financial Sector Assessment Program Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1  Danh sách các nền kinh tế đang chuyển đổi  11 - Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam
1 Bảng 1.1 Danh sách các nền kinh tế đang chuyển đổi 11 (Trang 6)
2  Bảng 2.1  Tiền  gửi  và  cho  vay  của  các  tổ  chức  tài  chính - Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam
2 Bảng 2.1 Tiền gửi và cho vay của các tổ chức tài chính (Trang 6)
Bảng 2.1: Tiền gửi và cho vay của các tổ chức tài chính - Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam
Bảng 2.1 Tiền gửi và cho vay của các tổ chức tài chính (Trang 35)
Bảng 2.2: Thành lập công ty quản lý tài sản                                                                           Đơn vị: Tỷ NDT - Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam
Bảng 2.2 Thành lập công ty quản lý tài sản Đơn vị: Tỷ NDT (Trang 44)
Bảng 2.3. Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của NHTMNN - Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam
Bảng 2.3. Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của NHTMNN (Trang 46)
Bảng 2.4: Bảng so sánh 02 mô hình “phục hồi” và “cấp mới” - Hai mô hình cải cách hệ thống ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập và gợi ý chính sách cho Việt Nam
Bảng 2.4 Bảng so sánh 02 mô hình “phục hồi” và “cấp mới” (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w