1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trường hợp tỉnh bắc cạn

98 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu của luận văn Tên đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản... XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB... Đầu tư XDCB chính là một phần

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN MINH NGỌC

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:

TRƯỜNG HỢP TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN MINH NGỌC

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: TRƯỜNG HỢP TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Danh mu ̣c các chữ viết tắt ………

Danh mu ̣c các sơ đồ, bảng ………

Lời mở đầu ………

Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về hiê ̣u quả sử du ̣ng vốn đầu tư XDCB từ NSNN………

1.1 Tổng quan về vốn đầu tư XDCB ………

1.1.1 Khái niệm ………

1.1.2 Vai trò, đă ̣c điểm của đầu tư XDCB ………

1.1.3 Các bước của quá trình đầu tư XDCB ………

1.1.4 Phân loa ̣i dự án đầu tư ………

1.2 Vốn đầu tư XDCB từ NSNN ………

1.2.1 Khái niệm ………

1.2.2 Hiê ̣u quả sử du ̣ng vốn NSNN vào đầu tư XDCB ………

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN 1.3.1 Các nhân tố khách quan ………

1.3.2 Các nhân tố chủ quan ………

1.4 Kinh nghiê ̣m sử du ̣ng vốn đầu tư XDCB có hiê ̣u quả ………

1.4.1 Kinh nghiê ̣m của đi ̣a phương trong nước ………

1.4.2 Kinh nghiê ̣m của mô ̣t số nước khác ………

1.4.3 Những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m rút ra từ tham khảo của các nước và của địa phương trong nước ………

Chương 2: Thực tra ̣ng sử du ̣ng vốn NSNN cho đầu tư XDCB trên đi ̣a bàn tỉnh Bắc Ka ̣n ………

i

ii

1

5

5

5

6

13

16

19

19

22

30

30

32

38

38

40

42

44

Trang 4

2.1 Khái quát chung tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn …………

2.1.1 Khái quát chung ………

2.1.2 Thuâ ̣n lợi ………

2.1.3 Khó khăn ………

2.1.4 Đi ̣nh hướng phát triển kinh tế – xã hội ………

2.2 Đầu tư từ NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2006-2010 và năm 2011-2012 ………

2.2.1 Chi đầu tư được chú tro ̣ng và chiếm tỷ tro ̣ng cao trong tổng chi NSĐP ………

2.2.2 Vốn NSNN chiếm tỷ tro ̣ng cao, đóng vai trò đi ̣nh hướng phát triển trong lĩnh vực đầu tư ………

2.2.3 Tình hình phân bổ vốn đầu tư theo các ngành kinh tế ………

2.3 Đánh giá chung về hiê ̣u q uả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên đi ̣a bàn tỉnh Bắc Ka ̣n ………

2.3.1 Mô ̣t số thành công đa ̣t được trong lĩnh vực đầu tư và đầu tư từ NSNN trên đi ̣a bàn tỉnh Bắc Ka ̣n ………

2.3.2 Những ha ̣n chế yếu kém và nguyên nhân ………

Chương 3: Mô ̣t số giải pháp nâng cao hiê ̣u quả sử du ̣ng vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên đi ̣a bàn tỉnh Bắc Ka ̣n năm 2014, 2015 và giai đoa ̣n 2016-2020 ………

3.1 Phương hướng và mu ̣c tiêu phát triển ………

3.1.1 Phương hướng phát triển kinh tế nói chung và hoa ̣t đô ̣ng đầu tư nói riêng ………

3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015 thể hiê ̣n ở mô ̣t số chỉ tiêu cu ̣ thể ………

3.2 Mô ̣t số giải pháp nâng cao hiê ̣u quả sử du ̣ng vốn đầu tư trên đi ̣a bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2014, 2015 và giai đoạn 2016-2020 …………

3.2.1 Về quản lý công tác quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch ………

3.2.2 Hoàn thiê ̣n công tác chuẩn bi ̣ đầu tư ………

44

44

45

45

46

46

46

48

50

52

52

58

71

71

71

74

76

76

77

Trang 5

3.2.3 Đổi mới và hoàn thiện công tác GPMB nhằm thu hút hơn nữa

các dự án đầu tư ………

3.2.4 Giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân , tránh đầu tư dàn trải , hoàn thiê ̣n công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB ………

3.2.5 Ban hành quy đi ̣nh cu ̣ thể về cơ chế quản lý các dự án đầu tư, quản lý chất lượng công trình ………

3.2.6 Hoàn thiện công tác tư vấn trong đầu tư XDCB ………

3.2.7 Thực hiê ̣n cơ chế dân chủ, công khai, minh ba ̣ch trong đầu tư XDCB ………

3.2.8 Chủ động phát hiện tiêu cực , tham nhũng, lãng phí trong đầu tư XDCB, kiên quyết xử lý triê ̣t để các sai pha ̣m xảy ra ………

3.2.9 Chú trọng công tác đào tạo ………

Kết luâ ̣n và kiến nghi ̣ ………

Danh mu ̣c các tài liê ̣u tham khảo ………

78

80

81

82

83

84

85

86

90

Trang 6

i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 KT – XH Kinh tế – xã hội

Trang 7

ii

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Trình tự trong hoạt động đầu tư 14

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng số 2.1 Chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN 47

2 Bảng số 2.2 Cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ka ̣n

48

3 Bảng số 2.3 Cơ cấu vốn đầu tư từ NSNN theo phân cấp quản lý

50

4 Bảng số 2.4 Phương án phân bổ vốn đầu tư theo ngành kinh tế

của UBND tỉnh Bắc Ka ̣n giai đoạn 2006-2010 và

Trang 8

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Hàng năm, ở Việt Nam ngân sách nhà nước (NSNN) đều dành khoảng 25-30% tổng chi của mình cho chi đầu tư Số chi đó cũng tương ứng với 30-40% tổng số vốn đầu tư của toàn xã hội Chi đầu tư của NSNN chủ yếu được dành cho các công trình, hạng mục quan trọng, có vị trí then chốt, là xương sống đối với nền kinh tế quốc dân (cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các ngành kinh tế quan trọng ) Bên cạnh những cái được như vậy, việc sử dụng vốn đầu tư từ NSNN từ trước đến nay còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại Đó là tình trạng thất thoát, lãng phí quá lớn trong quá trình đầu tư; việc sử dụng vốn sau đầu tư cũng còn nhiều bất cập, kém hiệu quả

Bắc Kạn là một trong những tỉnh ngân sách còn nhiều khó khăn, nguồn chi chủ yếu là nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương (NSTW) Vì vậy, ngoài việc bố trí đủ vốn duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy công quyền, bài toán đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền địa phương là làm sao phải sử dụng những khoản tiền huy động được hiệu quả, làm nền tảng giúp tỉnh nhà phát triển, mà cốt lõi là những khoản tiền đầu tư từ NSNN trên địa bàn Đó như là một nguồn nội lực quan trọng, là điểm tựa tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã

hô ̣i (KT-XH) của các tỉnh nhận trợ cấp nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng Đứng trước tình hình đó, với đặc điểm công tác chuyên quản về ngân sách

tỉnh Bắc Kạn, tác giả chọn Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước: Trường hợp tỉnh Bắc Kạn” làm

mục tiêu nghiên cứu của mình, nhằm tìm ra nguyên nhân thành công, tồn tại từ đó đề xuất các ý kiến giúp tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các địa phương trong cả nước nói chung cải thiện việc quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư từ NSNN trong điều kiện nhu cầu thì ngày càng tăng mà nguồn vốn thì có hạn

Trang 9

2

2 Tình hình nghiên cứu

Đến nay, có mô ̣t số tác giả đã nghiên cứu các đề tài về NSNN , trong đó

có: Chuyên đề “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiê ̣u quả đầu tư XDCB tại

tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới” do tác giả Đinh Quang Hào thực hiê ̣n ; Đề

tài “Thất thoát và lãng phí trong đầu tư tại Viê ̣t Nam : Thực trạng và giải pháp” do PGS TS Từ Quang Phương hướng dẫn nhóm tác giả tại Khoa Kinh

tế Đầu tư của Trường Đa ̣i ho ̣c Kinh tế Quốc dân thực hiê ̣n , … Tuy nhiên ,

chưa có người nào làm về đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây

dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước: Trường hợp tỉnh Bắc Kạn”

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu : Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, phân tích,

đánh giá kỹ lưỡng thực trạng đầu tư vốn từ NSNN do tỉnh Bắc Kạn quản lý và hiệu quả sử dụng của nguồn vốn này; tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí, sử dụng kém hiệu quả Từ đó đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục những thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ NSNN của tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

- Nhiê ̣m vụ nghiên cứu: Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau:

+ Đầu tư XDCB có những đặc điểm gì?

+ Các tiêu chí sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB là gì?

+ Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN là gì?

+ Thực trạng sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thời gian qua như thế nào?

+ Những nguyên nhân nào gây ra tình trạng kém hiệu quả trong đầu tư XDCB?

+ Những giải pháp gì cần phải thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn?

Trang 10

3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng vốn từ NSNN cho

hoạt động đầu tư XDCB của tỉnh Bắc Kạn

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Do hạn chế về mặt thời gian và tổng

hợp số liệu nên đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

NSNN do tỉnh quản lý cho hoạt động XDCB trên địa bàn Thời gian khảo sát

tập trung vào giai đoạn từ năm 2006-2010 và năm 2011, 2012; phần đề xuất, kiến nghị chủ yếu là cho từ năm 2014 đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp điều tra khảo sát, thống kê học, toán kinh tế, phân tích tổng hợp các số liệu, phương pháp tư duy logic kết hợp với các phần mềm tin học hiện đại… để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Phương pháp tổng hợp kết hợp với phân tích được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến việc đầu tư XDCB và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB tại tỉnh Bắc Kạn

- Phương pháp điều tra khảo sát:

Đề tài tập trung nghiên cứu, điều tra khảo sát thực tế tình hình sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN của một số công trình xây dựng tại tỉnh Bắc Kạn Khi điều tra, khảo sát đề tài luôn kết hợp phương pháp phân tích định tính và phương pháp phân tích định lượng

6 Những đóng góp của luâ ̣n văn

Với một lượng vốn đầu tư từ NSNN có hạn, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN là yêu cầu bức thiết không những với tỉnh Bắc Kạn mà còn đối với tất cả các địa phương trên cả nước trong giai đoạn hiện nay Việc rút

ra những nguyên nhân của những thành công và những yếu kém kết hợp với

Trang 11

4

kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư XDCB của địa phương trong nước và một số nước là hết sức quan trọng, giúp tác giả đề xuất những giải pháp sát với thực tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB thuộc NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2014, 2015 và giai đoạn 2016 - 2020

Luận văn nghiên cứu những vấn đề phức tạp và cấp bách nhất hiện nay

và là mối quan tâm của các cấp, các ngành không chỉ riêng tỉnh Bắc Kạn

7 Kết cấu của luận văn

Tên đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản

Trang 12

5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ

DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

1.1.1 Khái niệm

Theo cách hiểu chung nhất, đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực

KT-XH để mong thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau trong tương

lai Đầu tư hay hoạt động đầu tư là việc huy động các nguồn lực hiện tại để

tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương

lai Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài

sản vật chất khác Biểu hiện của tất cả nguồn lực bỏ ra nói trên gọi chung là

vốn đầu tư Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền

vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông…), tài sản trí tuệ (trình độ

văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực Có nhiều

cách phân loại đầu tư nhưng xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu

tư đem lại, người ta phân chia ra thành:

- Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người ta bỏ tiền ra cho vay

hoặc mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua

trái phiếu Chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh

doanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)

- Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để

mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lại lợi nhuận do chênh

lệch giá khi mua và khi bán

- Đầu tư tài sản vật chất và nguồn nhân lực: là loại đầu tư trong đó

người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm trực tiếp tạo ra tài

sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh hoặc hoạt

động xã hội khác

Trang 13

6

- Đầu tư cơ bản: là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực KT - XH khác nhau Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động,

tư liệu lao động, đối tượng lao động Khác với đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thành mục đích của mình Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các TSCĐ, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời kỳ

Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB XDCB là các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ (như khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt….) Kết quả của hoạt động XDCB là các TSCĐ có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Như vậy, XDCB là một quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch về các TSCĐ của nền KTQD trong các ngành sản xuất vật chất cũng như không sản xuất vật chất Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia

Đầu tư XDCB là hoạt đô ̣ng đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các TSCĐ và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế [7, tr.9-10]

1.1.2 Vai trò, đặc điểm của đầu tƣ XDCB

* Vai trò của đầu tư XDCB

Trước hết cần phải xác định rõ rằng đầu tư nói chung đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là động lực để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Nếu không có đầu tư thì không có phát triển

Trang 14

7

Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để

Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh - quốc phòng… mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không đầu tư ; các dự án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất đảm bảo cho nền KT - XH phát triển ổn định theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Nhìn trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước, đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Về cầu, đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư chiếm khoảng 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của các nước trên thế giới Đầu tư có tác động to lớn đến việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Đầu

tư còn có mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy, nếu muốn tốc độ phát triển kinh tế tăng cao (9 - 10%) thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu công nghiệp và dịch vụ Ngoài ra đầu tư còn có tác động giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, xoá đói giảm nghèo, phát huy lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh để làm đầu tàu cho vùng khác Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư ít nhất phải đạt từ 15 - 20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước

Hai là, đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế

bởi vì nó tạo ra các TSCĐ Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để sản xuất ra của cải vật chất, đặc biệt là tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội Tất cả các ngành kinh tế chỉ tăng nhanh khi có đầu tư XDCB, đổi mới công nghệ, xây dựng mới để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Đầu

Trang 15

8

tư XDCB nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đầu tư XDCB sẽ tạo điều kiện để phát triển mới, đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất ở các doanh nghiệp Đầu tư XDCB sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực, cải thiện cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển y tế, văn hoá và các mặt xã hội khác Đầu tư XDCB góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện sống ở các địa phương nghèo, vùng sâu và vùng xa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các cơ sở sản xuất và dịch vụ, tạo ra những tác động tích cực cho vùng nghèo, người nghèo, hộ nghèo khai thác các tiềm năng của vùng để vươn lên phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Từ đó đảm bảo tỷ lệ cân đối vùng miền, ngành nghề, khu vực và phân bổ hợp lý sức sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh

Ba là, đầu tư XDCB của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định

hướng XHCN với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai trò hết sức quan trọng, bởi vì vốn dành cho đầu tư XDCB của Nhà nước chiếm một

tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư XDCB của toàn xã hội Đầu tư XDCB của Nhà nước góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơ cấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội Mặt khác, đầu tư XDCB của Nhà nước được tập trung vào những công trình trọng điểm, sử dụng nguồn vốn lớn, có khả năng tác động mạnh đến đời sống KT - XH Bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng đầu tư XDCB của Nhà nước nếu không được quản lý một cách hợp lý sẽ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu tư XDCB từ các nguồn vốn khác [7, tr.11-12]

* Đặc điểm của đầu tư XDCB

Bất kỳ nền kinh tế nào thì đầu tư XDCB cũng mang những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 16

9

Thứ nhất: Đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và

tái sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCB chính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêu dùng lớn hơn trong tương lai

Để tạo ra TSCĐ cho nền kinh tế, là những điều kiện kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: xây dựng hệ thống hạ tầng, các nhà máy và mua sắm các thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại

Muốn đáp ứng được điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi tiềm năng nguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ nền kinh tế, huy động mọi nguồn lực trong các tầng lớp dân cư, đồng thời phải tìm mọi giải pháp để thu hút các nguồn lực nước ngoài như: vốn ODA, FDI, NGO…

Xuất phát từ đặc điểm này đòi hỏi chúng ta trong việc huy động và sử dụng vốn đầu tư XDCB phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ xuất hiện mâu thuẫn gay gắt giữa đầu tư và tiêu dùng

Thứ hai: Quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động

rất dài mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm XDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyền hàng loạt mà mỗi công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục và phân tán Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10 năm, 20 năm,

50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án

Quá trình đầu tư XDCB gồm 3 giai đoạn: xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án

Xây dựng dự án và thực hiện dự án là hai giai đoạn có thời gian dài nhưng lại không tạo ra sản phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn

Trang 17

10

giữa đầu tư và tiêu dùng Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này Muốn nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm, nhằm đưa nhanh các dự án đầu tư vào khai thác sử dụng

Khi xét hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần quan tâm xem xét cả 3 giai đoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án, tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà không chú ý thời gian khai thác dự án Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư XDCB mang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự XDCB Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn cho thích hợp để giảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ động vốn ở sản phẩm dở dang

Thứ ba: Đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư

chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai,

“chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh tế đã nói rằng đầu tư là đánh bạc với tương lai

Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hết khi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư Sự thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho nhà đầu tư

Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất

Trang 18

11

là hoàn đủ vốn đầu tư cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế và tránh được rủi ro Vì vậy, các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến là ưu đãi, miễn giảm thuế, khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chế thanh toán vốn nhanh, kịp thời…

Thứ tư: Sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như

nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tính cố định gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù giải tỏa giải phóng mă ̣t bằng (GPMB), khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác

Sản phẩm của đầu tư XDCB là những TSCĐ, có chức năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ khác cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn, do nhiều người, thậm chí do nhiều cơ quan đơn vị khác cùng tạo ra

Sản phẩm của đầu tư XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuất không theo một dây chuyền mà có tính cá biệt Mỗi công trình đều có điểm riêng nhất định Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàn toàn giống nhau Với những công trình công nghệ cao, có vòng đời thay đổi công nghệ ngắn như: công trình bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử… thì việc thay đổi công nghệ, kiểu dáng luôn xảy ra

Giá thành sản phẩm XDCB rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn Sản phẩm đầu tư XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn mang tính nghệ thuật Sản phẩm đầu tư XDCB phản ánh trình độ kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sử nhất định của một đất nước

Quá trình XDCB bị tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên như tình hình địa chất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Trong đầu tư XDCB, chu kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn Vì

Trang 19

Điều phụ thuộc này buộc nhà thầu phải nắm chắc dự toán và kiểm tra thường xuyên trong quá trình thi công

Ngoài những đặc điểm của đầu tư XDCB nói chung thì đầu tư XDCB từ NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư XDCB bị tách rời nhau

Vốn đầu tư XDCB của NSNN là thuộc quyền sở hữu Nhà nước Nhà nước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành cho đầu tư XDCB và là người đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế dự toán (tổng dự toán) Song quyền sử dụng vốn đầu tư XDCB Nhà nước lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu tư, các Ban Quản lý dự án Chủ đầu tư và các Ban Quản lý dự án là tổ

Trang 20

1.1.3 Các bước của quá trình đầu tư XDCB

Trình tự đầu tư

Dự án đầu tư được hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêng biệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiến trình lôgic Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lập và trên các góc độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm 8 bước công việc, phân thành 3 giai đoạn theo sơ đồ 1.1

Căn cứ vào sơ đồ ta có thể nhận thấy sự liên quan chặt chẽ giữa các bước: Bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của dự án mà một vài bước có thể gộp vào nhau như ở giai đoạn chuẩn bi ̣ đầu tư , đối với dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu cơ hội đầu

tư và bước nghiên cứu dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ và những dự án có thiết kế mẫu Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra và đánh giá đủ các khía cạnh

về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn,

Trang 21

14

quy phạm (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo

Sơ đồ 1.1: Trình tự trong hoạt động đầu tƣ

(Nguồn: Bùi Mạnh Hùng, năm 2010, Giáo trình kinh tế xây dựng, Nhà

xuất bản xây dựng, Hà Nội)

Xét tổng thể 3 giai đoạn thì mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất khác nhau nên có vai trò tác dụng khác nhau đối với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Giai đoạn chuẩn bi ̣ đầu tư và thực hiện dự án đầu tư là 2 giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình thực hiện đầu tư, bao gồm nhiều công việc khác nhau:

- Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bi ̣ đầu tư gồm:

+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

Giai đoạn I

Chuẩn bị đầu tƣ

Nghiên cứu cơ

Chạy thử nghiệm thu, quyết toán

Giai đoa ̣n III Đƣa vào khai thác

s sử dụng

Trang 22

15

+ Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư

+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng

+ Lập dự án đầu tư

+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập dự án đầu tư

- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:

+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển và thềm lục địa

+ Chuẩn bị mặt bằng xây dựng

+ Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế giám định kỹ thuật và chất lượng công trình

+ Phê duyệt, thẩm định thiết kế và tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình

+ Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, thiết bị

+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có) + Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu

+ Thi công xây lắp công trình

+ Kiểm tra giám sát thực hiện các hợp đồng

Đặc điểm của 2 giai đoạn này là chi phí về vốn đầu tư rất lớn nhưng chưa tạo ra sản phẩm, chưa thu lợi ích từ các dự án, dễ xảy ra các trường hợp tiêu cực dẫn tới giảm hiệu quả đầu tư Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của 2 giai đoạn này cần tập trung vào việc nâng cao chất

Trang 23

16

lượng của các sản phẩm khảo sát, thiết kế, lập dự toán , nâng cao chất lượng sản phẩm đầu tư XDCB đảm bảo thời gian thi công, giảm thiểu những thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB

- Trong giai đoạn 3, đưa công trình dự án vào khai thác sử dụng tức là mục tiêu cuối cùng của dự án được thực hiện, các lợi ích KT - XH từ dự án được thu nhận, những chi phí chủ yếu là chi phí vận hành Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giai đoạn này cần phải tập trung vào việc thực hiện tốt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý kỹ thuật công nghệ, quản lý lao động, quản lý tài chính, quản lý tiêu thụ sản phẩm, hiệu suất máy móc thiết bị, năng suất lao động được nâng cao, vốn sản xuất được tiết kiệm, sản phẩm tiêu thụ nhanh, giá cả hợp lý Đó là những yếu tố làm tăng hiệu quả sản xuất trong giai đoạn khai thác dự án, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Vì vậy việc đánh giá hiệu quả vốn đầu tư cần phải được xem xét toàn diện cả ba giai đoạn của quá trình đầu tư hoàn chỉnh [8, tr.44-45]

1.1.4 Phân loại dự án đầu tƣ

Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy mô và thời hạn Do vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta có thể phân loại dự án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau

- Theo tính chất của dự án, người ta có thể chia dự án đầu tư thành các loại dự án: dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển KT -

XH, dự án đầu tư nhân đạo

- Theo nguồn vốn đầu tư , có dự án đầu tư bằng vốn trong nước, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn ODA, vốn đầu tư của Chính phủ, vốn đầu

tư của khu vực tư nhân, vốn liên doanh và vốn cổ phần…

- Theo ngành, lĩnh vực đầu tư, có dự án thuộc ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng dịch vụ…

Trang 24

Dự án nhóm A

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng (không kể mức vốn)

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất độc hại, chất nổ; hạ tầng khu công nghiệp (không kể mức vốn)

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác với các điểm trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bi ̣ y tế , công trình

cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với tổng mức đầu tư trên 1.000 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm, thủy sản với tổng mức đầu tư trên

700 tỷ đồng

Trang 25

18

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác với tổng mức đầu tư trên 500 tỷ đồng

Dự án nhóm B

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư từ 75 tỷ đồng đến 1.500 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác với các điểm trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bi ̣ y tế , công trình

cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với tổng mức đầu tư từ

50 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới, công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản , chế biến nông , lâm, thủy sản với tổng mức đầu tư từ 40 tỷ đồng đến 700 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác với tổng mức đầu tư từ 30 tỷ đến 500 tỷ đồng

Dự án nhóm C

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay,

Trang 26

19

đường sắt , đường quốc lộ ) Các trường phổ thông nằm trong quy hoạch (không kể mức vốn ), xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư dưới 75 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác với các điểm trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bi ̣ y tế , công trình

cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với tổng mức đầu tư dưới 50 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm, thủy sản với tổng mức đầu tư dưới

40 tỷ đồng

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác với tổng mức đầu tư dưới 30 tỷ đồng

Ghi chú: Các dự án nhóm A về đường sắt , đường bộ phải được phân đoạn theo chiều dài đường , cấp đường , cầu th eo hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải Các dự án xây dựng trụ sở, nhà làm việc của cơ quan nhà nước phải thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ [3, Phụ lục I, tr.1-2]

1.2 VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm

Như chúng ta đã biết, chi NSNN là quá trình Nhà nước và các chủ thể khác có liên quan tiến hành, phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu NSNN lập nên nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước và để phục vụ thực hiện các chức

Trang 27

Như vậy, chi đầu tư là một bộ phận của chi NSNN, chúng được sử

dụng để tạo cơ sở vật chất, tài sản, vốn liếng của Nhà nước và của quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển KT-XH trước mắt cũng như lâu dài của quốc gia

Nếu phân loại theo nội dung các khoản chi, chi đầu tư từ NSNN bao gồm: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT - XH không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; chi bổ sung dự trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

Trang 28

21

Nếu phân loại theo phân cấp quản lý ngân sách, chi đầu tư từ NSNN bao gồm: chi đầu tư (chi đầu tư phát triển) của ngân sách trung ương (do các Bộ, ngành quản lý) và chi đầu tư của ngân sách địa phương (do các tỉnh quản lý sử dụng)

Trong chi đầu tư phát triển của ngân sách địa phương, chi đầu tư XDCB luôn chiếm hơn 99% trong tổng chi đầu tư của ngân sách, các khoản chi đầu tư còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ như: chi hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp sản phẩm di ̣ch vu ̣ công ích , chi bổ sung vốn doanh nghiê ̣p nhà nước, … Do vậy, hiệu quả sử du ̣ng vốn đầu tư từ NSNN được coi như là hiệu quả sử du ̣ng vốn đầu tư XDCB từ NSNN

- Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:

+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)

+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ)

- Phân cấp quản lý ngân sách chia vốn đầu tư XDCB từ NSNN gồm: + Vốn đầu tư XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các Bộ, ngành quản lý sử dụng

+ Vốn đầu tư XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý, thực hiện

Nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có

Trang 29

22

tác dụng chung cho nền KT - XH mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ

1.2.2 Hiê ̣u quả sƣ̉ du ̣ng vốn NSNN vào đầu tƣ XDCB

a) Khái niệm hiê ̣u quả vốn đầu tư XDCB

Do nguồn lực khan hiếm, có hạn nên nhu cầu đầu tư luôn luôn cao hơn khả năng đầu tư của nền kinh tế Điều này đòi hỏi vốn đầu tư phải được sử dụng có hiệu quả nhằm trong một thời gian nhất định với một khối lượng vốn đầu tư có hạn nhưng lại có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu đầu tư nhằm góp phần thoả mãn tối đa nhu cầu xã hội

Như vậy hiệu quả vốn đầu tư là một phạm trù kinh tế khách quan Nó tồn tại là do sự có hạn của nguồn lực Yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực nói chung, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nói riêng càng trở nên bức thiết đối với nền kinh tế [7, tr.25]

Hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là so sánh giữa kết quả thu được so với chi phí đã bỏ ra Trong hoạt động đầu tư, hiệu quả đầu tư (E) chính là sự

so sánh giữa kết quả thu được (K) với vốn đầu tư đã bỏ ra (I) Có 2 cách xác định:

- Hiệu quả tuyệt đối: E = K - I (1)

Hoạt động đầu tư kém hiệu quả khi cả (1) và (2) đều nhỏ hơn 0

Hoạt động đầu tư càng có hiệu quả khi cả (1) và (2) càng lớn hơn 0

Trang 30

23

Khi xem xét hiệu quả bất cứ một khoản đầu tư nào, người ta đều xem xét chúng trên 2 giác độ: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân

Hiệu quả tài chính: là hiệu quả trực tiếp mà khoản đầu tư mang lại cho

chủ đầu tư về mặt tài chính Đó chính là so sánh toàn bộ thu nhập (quy ra tiền) mà khoản đầu tư mang lại so với toàn bộ chi phí (quy ra tiền) đã bỏ ra đầu tư Người ta thường dùng thuật ngữ lợi nhuận, lỗ, lãi để chỉ hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính được các nhà đầu tư tư nhân (cá nhân, doanh nghiệp ) quan tâm hàng đầu Hiệu quả tài chính dễ định lượng

Hiệu quả kinh tế quốc dân (còn được gọi là hiệu quả tổng hợp hay

hiệu quả KT - XH): là kết quả về mặt KT - XH mà khoản đầu tư mang lại

Hiệu quả KT - XH được xác định trên cơ sở số nhân kinh tế (hay số nhân đầu tư, tức là một khoản đầu tư sẽ được nhiều đối tượng kế tiếp nhau hấp thụ, chi tiêu theo một tỷ lệ nào đó, và sau một thời gian nhất định, khoản đầu tư này sẽ tự lớn lên gấp nhiều lần so với ban đầu) và các ngoại ứng phát sinh trong hoạt động chi tiêu (chi tiêu này kích thích phát sinh chi tiêu khác )

Khi nói đến hiệu quả KT - XH là xem xét ở tầm vĩ mô, trên phạm vi toàn xã hội Các khoản đầu tư tư nhân cũng có phát huy hiệu quả trên giác độ này, song không nhiều lắm Ngược lại, các khoản đầu tư của Nhà nước, hiệu quả của chúng lại chủ yếu được đánh giá ở tầm vĩ mô Do vậy hiệu quả KT-

XH của khoản đầu tư từ NSNN rất khó định lượng, chỉ có thể xét định tính qua một số chỉ tiêu

Hiệu quả vốn đầu tư XDCB hiểu một cách chung nhất biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa các lợi ích của vốn đầu tư XDCB và khối lượng vốn đầu

tư XDCB bỏ ra nhằm đạt được những lợi ích đó Lợi ích của vốn đầu tư XDCB thể hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu xã hội của sản phẩm do vốn đầu

tư XDCB bỏ ra, bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội

Trang 31

24

Lợi ích kinh tế của vốn đầu tư XDCB thể hiện ở mức độ thực hiện các mục tiêu kinh tế của quá trình đầu tư XDCB nhằm thoả mãn chủ yếu các nhu cầu vật chất của xã hội Do đó lợi ích kinh tế biểu hiện cụ thể về sự thay đổi cán cân thương mại, ở mức độ lợi nhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sản xuất, tăng trưởng của nền kinh tế…

Lợi ích xã hội của vốn đầu tư XDCB, ngoài việc thực hiện các mục tiêu kinh tế nói trên còn thực hiện các mục tiêu xã hội khác như mục tiêu chính trị, mục tiêu an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội…Theo đó lợi ích xã hội của vốn đầu tư XDCB còn bao gồm những sự thay đổi về điều kiện sống và điều kiện lao động, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi công cộng, chăm sóc

y tế và quyền bình đẳng… Dựa vào quá trình quản lý đầu tư XDCB ta thấy: từ khi có vốn đầu tư , tiến hành thực hiện đầu tư sẽ tạo một khối lượng TSCĐ Khi các TSCĐ này được sử dụng (giai đoạn khai thác dự án) sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nhất định Lợi ích của vốn đầu tư chỉ xuất hiện khi mà sản phẩm hàng hoá dịch vụ được sử dụng thoả mãn nhu cầu theo mục tiêu đã định

b) Các tiêu chí sử dụng để đánh giá hiê ̣u quả sử dụng vốn đầu tư XDCB

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:

- Chỉ số ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăng

trưởng

Chi đầu tư của NSNN là một trong những nguồn lực quan trọng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng có được không những là bao gồm phần giá trị mới của chính khoản chi đầu tư mang lại, mà còn nhờ vào số nhân kinh tế và ngoại ứng tích cực (như đã trình bày ở trên) tạo thành phản ứng dây chuyền cho nền kinh tế tăng trưởng Khoản chi đầu tư được coi là có hiệu quả cao khi thông qua khoản chi đó, thu hút được nhiều khoản đầu tư khác kéo theo và một số nhân kinh tế lớn xuất

Trang 32

25

hiện thông qua hàng loạt các hoạt động KT - XH khác được thiết lập và phát huy Ví dụ: Sau khi một hệ thống giao thông hay một mạng lưới chuyển tải điện được xây dựng, chắc chắn hàng loạt các cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ … sẽ được khai trương để tận hưởng những điều kiện mà giao thông và điện mang lại Mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và tăng trưởng được thể hiện qua chỉ số ICOR

Công thức: ICOR = I/GDP = (I/GDP)/(GDP/GDP) = (I/GDP)/g Hay I = ICOR x GDP

Trong đó:

ICOR: là hệ số tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm

quốc nội

I: là vốn đầu tư

GDP: mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội

g: là tốc độ tăng trưởng kinh tế

Hệ số ICOR cho biết trong thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm 1 đồng GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư Hệ số này càng thấp thì hiệu quả vốn đầu

tư càng cao Nếu hệ số ICOR không đổi thì tỷ lệ giữa vốn đầu tư (I) so với GDP sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế (tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng cao và ngược lại)

Hệ số ICOR đóng vai trò rất quan trọng trọng việc xây dựng các kế hoạch kinh tế Đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi nhất trong việc tính toán nhu cầu vốn đầu tư theo các mô hình kinh tế

Thông qua việc sử dụng hệ số ICOR chúng ta thấy rõ sự gia tăng vốn đầu tư đặt trong mối quan hệ với sự gia tăng GDP Chỉ tiêu ICOR ở mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ, cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách

Trang 33

26

kinh tế nói chung ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu phụ thuộc vào việc tận dụng năng lực sản xuất Do đó ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp

Việc đánh giá hiệu quả chi đầu tư thông qua ICOR cần dựa trên nhiều yếu tố liên quan : trình độ phát triển nền kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế từng giai đoạn, các yếu tố bất thường về chính trị, thiên tai… Nhưng nhìn chung, ICOR càng thấp thì hiệu quả chi đầu tư của nền kinh tế càng cao

- Tỷ lệ thất thoát trong chi đầu tƣ:

Thất thoát trong chi đầu tư là số tiền thực tế đã chi ra khỏi quỹ NSNN nhưng không đến được đối tượng chi, không cấu thành trong giá trị của đối tượng chi Khoản thất thoát này chúng được “rẽ ngang”, “rẽ dọc” rất phức tạp và cuối cùng thường phổ biến là chui vào túi các cá nhân một cách bất hợp pháp

Thất thoát xảy ra phổ biến nhất trong các khoản đầu tư XDCB, chi mua sắm và chi cho các hoạt động của các chương trình dự án

Trong XDCB, thất thoát chủ yếu là bớt xén các hạng mục công trình so với thiết kế; thay đổi vật tư nguyên liệu với chất lượng thấp hơn và giá rẻ hơn; rút ruột công trình theo đúng nghĩa đen (bớt xi măng, bớt sắt thép ), để cuối cùng công trình có chất lượng thấp nhưng giá quyết toán vẫn cao, vì có nhiều khoản đã bị quyết toán khống trong đó

Thất thoát trong mua sắm tài sản thường gặp là khai man giá cả cao hơn giá thực tế, hoặc mua hàng cũ, hàng kém chất lượng được tân trang lại nhưng chi thanh toán vẫn theo giá hàng đúng tiêu chuẩn Phần chênh lệch giá này sẽ chạy vào túi các cá nhân có liên quan Kết quả là thực tế chi đầu tư cao, song tài sản mua sắm lại có chất lượng kém, thời gian sử dụng ngắn

Trang 34

27

Thất thoát trong chi đầu tư thực hiện các chương trình dự án về KT -

XH thường là khai man khối lượng công việc đã thực hiện (cả về số lượng và chất lượng) để chi thanh toán nhiều hơn khối lượng thực tế thực hiện

Thất thoát trong chi đầu tư có thể nói là thiên hình vạn trạng, với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan , bằng nhiều ma ̣ng lưới khác nhau Tuy vậy, kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả chi đầu tư, Nhà nước bị mất tiền, các cá nhân tham nhũng Có thể thiết lập chỉ tiêu này như sau:

- Tỷ lệ lãng phí trong chi đầu tƣ:

Lãng phí trong chi đầu tư đó là phát sinh các khoản tiền chi không cần thiết so với yêu cầu đầu tư Giả sử có một đối tượng chi cần một khoản tiền chi là 1, song thực tế cuối cùng phải có một số tiền lớn hơn là (1 + α) thì mới thực hiện xong đối tượng chi đó Ở đây α chính là khoản lãng phí

Có vô số kiểu lãng phí và vô vàn lý do của sự lãng phí Tựu trung lại, trong chi đầu tư của NSNN thì lãng phí trong chi đầu tư XDCB và mua sắm vẫn là nhiều nhất:

+ Lãng phí trong chi đầu tư XDCB:

Thứ nhất, lãng phí trong chi đầu tư XDCB đầu tiên phải kể đến bắt

nguồn từ khâu quy hoạch phát triển, có không ít những công trình vì thiếu quy hoạch hoặc quy hoạch không chuẩn mà xây dựng xong nhưng không đưa vào

Trang 35

28

sử dụng được, phải phá bỏ hoặc phải dời đi nơi khác; đó là chưa kể vì khâu quy hoạch thiếu đồng bộ và thiếu đi trước một bước, nên khâu đền bù giải phóng mặt bằng vừa mất nhiều thời gian, phải đập phá nhiều, gây tốn kém lớn cho Nhà nước, lãng phí lớn cho xã hội

Thứ hai, lãng phí do quy trình xây dựng: Nhiều công trình không tuân

thủ nghiêm quy trình xây dựng, thiếu thiết kế trước, nên vừa thiết kế vừa thi công, gây ra nhiều sai số, phải làm đi làm lại nhiều lần, gây lãng phí không đáng có

Thứ ba, lãng phí do cơ chế đầu tư dàn trải: Do quá nhiều công trình

đầu tư cùng tiến hành, vượt xa khả năng tài chính và số chi đầu tư trong khoảng thời gian đó của Nhà nước, vì thế mà thời gian đầu tư bị kéo dài, nhiều hạng mục phải làm đi làm lại nhiều lần gây lãng phí; thời gian thanh toán kéo dài phải tính thêm cả lãi tiền vay ngân hàng cũng là khoản lãng phí không đáng có [7, tr.29-30]

Ngoài ra, còn nhiều khoản lãng phí phát sinh do thủ tục đầu tư phiền hà, do sự yếu kém trong quản lý

+ Lãng phí trong mua sắm tài sản công cũng muôn hình muôn vẻ Tuy vậy phổ biến nhất là mua phải những tài sản không phù hợp, kém chất lượng nên không sử dụng được hoặc nếu sử dụng được thì tuổi thọ quá ngắn, phi kinh tế

Tỷ lệ lãng phí đƣợc xác lập nhƣ sau:

Số tiền lãng phí

Tỷ lệ lãng phí = - x 100 trong chi đầu tƣ (%) Tổng số tiền chi đầu tƣ

Rõ ràng tỷ lệ lãng phí càng cao thì số tiền chi của Nhà nước càng tốn kém thêm, tức là hoạt động chi đầu tư càng kém hiệu quả

Trang 36

29

Thất thoát và lãng phí là những hiện tượng vừa tồn tại độc lâ ̣p , vừa có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau Thông thường những khoản thất thoát có kèm theo lãng phí và các khoản lãng phí cũng không tránh khỏi có thất thoát Từ đó, đánh giá hiệu quả tài chính của các khoản chi đầu tư của NSNN cần áp dụng thêm tiêu chí tổng hợp về tỷ lệ thất thoát lãng phí như sau:

Số tiền thất thoát + Số tiền lãng phí

Tỷ lệ thất thoát lãng phí = - x 100 trong chi đầu tƣ (%) Tổng số tiền chi đầu tƣ

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ về mặt xã hội:

- Chỉ tiêu giải quyết việc làm: Thông thường chi đầu tư thường đi đôi

với việc tạo ra chỗ làm việc mới Để có thể thu hút thêm một chỗ làm việc, xã hội phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư nhất định Ở đây có chỉ tiêu “Suất vốn đầu tư/1 chỗ làm việc” Tuỳ theo loại hình đầu tư mà suất vốn đầu tư có thể thay đổi Nếu suất vốn đầu tư càng thấp thì số lao động mới được thu hút vào càng nhiều và ngược lại Từ đó, số chi đầu tư nếu thu hút được càng nhiều lao động, trong một chừng mực nào đó là thể hiện hiệu quả đầu tư

Trang 37

30

- Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân: Những vùng

nông thôn có điện chắc chắn đời sống của nhân dân được cải thiện vượt bậc

so với vùng chưa có điện Song lượng hoá chúng là bao nhiêu thì không hề đơn giản

- Giữ ổn định cuộc sống cho nhân dân: Nếu một vùng nào đó bị bão

lụt và thiệt hại nặng nề, dự trữ quốc gia đã ứng phó kịp thời, đưa lương thực đến cho người dân, giúp họ sớm ổn định cuộc sống thì hiệu quả về mặt định tính là cũng khá rõ rệt

- Đảm bảo an toàn và giữ gìn môi trường: Hệ thống đê điều, hồ đập,

rừng phòng hộ là những yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo cuộc sống sản xuất, sinh hoạt của nhân dân được an toàn, giữ gìn và bảo vệ môi trường Tất cả hoàn toàn có thể cảm nhận được nhưng không dễ gì lượng hoá được

Tóm lại, chi đầu tư của NSNN được coi là có hiệu quả khi có quyết định đầu tư đúng đắn, phù hợp, tức là tạo ra số nhân kinh tế lớn, giải quyết được nhiều mục tiêu KT - XH; đồng thời, tỷ lệ thất thoát, lãng phí thấp Thêm vào đó, do thực tế khách quan một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả có thể nhìn thấy, phát hiện, định tính được nhưng việc quy ra tiền hay định lượng rất khó khăn và không chính xác

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Chi đầu tư từ NSNN là khoản chi lớn được phân bố từ nhiều nguồn cho nhiều đối tượng chi với các hình thức chi đa dạng, do đó hiệu quả chi bị tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau Đó là:

1.3.1 Các nhân tố khách quan

- Những yếu tố khách quan ảnh hưởng tới việc huy động vốn đầu tư:

Thông thường, đi đôi với kế hoạch đầu tư, Nhà nước đã bố trí nguồn vốn đầu tư phù hợp Số vốn này có thể được huy động từ nhiều nguồn như: từ

Trang 38

31

thu thuế và các khoản thu khác của NSNN, từ vay trong nước, vay ngoài nước (ODA) Do đó, nếu vì một lý do khách quan nào đó làm cho tiến độ huy động vốn bị chậm, sẽ ảnh hưởng tới tiến độ giải ngân và cung cấp vốn, làm chậm trễ quá trình đầu tư, gây ra tình trạng lãng phí vốn

- Tác động của điều kiện tự nhiên:

Có nhiều công trình đầu tư, mặc dù trong quá trình chuẩn bị đã thăm

dò, khảo sát, đánh giá rất kỹ lưỡng nhưng đến khi bắt tay vào thi công mới phát hiện ra nhiều vấn đề nan giải phải xử lý, gây ra tốn kém thêm rất nhiều mới có thể tiếp tục thi công được (ví dụ: có một công trình thuỷ điện, mặc dù đã khảo sát kỹ, song khi tiến hành thi công mới phát hiện ra một hệ thống hang động ngầm sâu dưới chân công trình, đòi hỏi phải xử lý kỹ thuật với chi phí rất lớn mới tiếp tục thi công được); hoặc là thực trạng về địa hình, đường xá, không cho phép vận chuyển các máy móc thiết bị có trọng tải lớn bằng đường bộ, mà phải dùng phương tiện vận tải khác như máy bay chẳng hạn, làm cho chi phí vận chuyển tăng cao Tất cả những khó khăn khách quan này đã làm cho tổng số tiền chi thực tế vào công trình tăng vọt và nếu như lường được chúng trước thì đã có thể lựa chọn những phương án đầu tư khác có hiệu quả cao hơn nhiều

- Các yếu tố không lường trước được:

Trên thực tế, các công trình đầu tư luôn phải đối mặt với vô số những rủi ro bất thường, như:

+ Rủi ro về thiên tai: Mưa, bão, lụt lội, động đất, những hiện tượng tự

nhiên thường xảy ra song không dễ dàng gì dự báo và lường trước được Ngược lại, các hiện tượng này xảy ra nhiều khi đã gây nên những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng cho các công trình đầu tư Để khắc phục chúng đòi hỏi phải có chi phí lớn, buộc phải tăng vốn đầu tư một cách bất đắc dĩ

Trang 39

32

+ Rủi ro về địch họa : Những rủi ro do chiến tranh, hay bị phá hoại

mặc dù không nhiều như rủi ro của thiên tai, song khi đã xảy ra thì hậu quả vô cùng trầm trọng, không kém gì rủi ro thiên tai Kết quả là vốn đầu tư lại phải tăng lên nhiều ngoài ý muốn

+ Rủi ro của thị trường: Ảnh hưởng của thị trường đến chi đầu tư

nhiều nhất là ở các yếu tố lãi suất, tỷ giá và giá cả máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu Suy cho cùng đó là sự biến động bất thường của giá cả nói chung Các công trình đầu tư thường diễn ra trong khoảng thời gian khá dài, mọi yếu tố của thị trường đều được tính toán tại thời điểm lập dự toán ban đầu Trong quá trình thực hiện, những biến động bất thường của thị trường đã làm cho giá cả bị đội lên cao, dự toán tăng, buộc số tiền chi phải tăng tương ứng Trong trường hợp số tiền chi không được tămg tương ứng thì dễ dẫn tới hiện tượng nhà đầu tư phải bớt xén các hạng mục, làm suy giảm số lượng và chất lượng công trình

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

Trên thực tế đã có vô số các nhân tố chủ quan, do con người mà ở đây cụ thể là các cơ quan, đơn vị và cá nhân khác đã làm ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử du ̣ng vốn đầu tư từ NSNN Cụ thể:

- Một là, quy hoạch phát triển:

Chi đầu tư phần lớn hình thành nên các công trình cố định, bất động sản, tồn tại lâu dài và không dễ gì di dời đi chỗ khác Từ đó khâu quy hoạch phát triển có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ phù hợp của các công trình đầu

Trong phát triển KT - XH, kinh nghiệm của các nước phát triển đi trước cho thấy quy hoạch phát triển là công việc vô cùng quan trọng, trọng tâm của Nhà nước, là “Cương lĩnh thứ 2 của Đảng” như Lênin đã chỉ dạy Quốc gia có quy hoạch phát triển tốt là:

Trang 40

33

+ Quy hoạch đó phải dài hạn, tổng thể và đồng bộ:

Dài ha ̣n thể hiện ở chỗ , quy hoạch phải hình dung được toàn cảnh phát triển của quốc gia đến mức độ tột đỉnh cuối cùng, trong đó có hình dung cho từng giai đoạn cụ thể 5 năm, 10 năm, 20 năm, 25 năm và cho đến đích (có thể là hàng trăm năm) Có như vậy thì giai đoạn phát triển sau mới kế thừa được giai đoạn trước, không dẫm đạp, hủy hoại lên giai đoạn trước

Tính tổng thể của quy hoạch phát triển là quy hoạch không chỉ bó hẹp riêng rẽ cho từng vùng, từng địa phương, mà ngược lại, phải có quy hoạch phát triển chung toàn quốc, đồng thời kèm theo là quy hoạch của các vùng, địa phương Quy hoạch của các vùng, địa phương là chi tiết hóa, cụ thể hoá và hoàn toàn thống nhất với quy hoạch chung của toàn quốc

Tính đồng bộ của quy hoạch phát triển là thể hiện không chỉ quy hoạch chung của toàn quốc và quy hoạch chi tiết của các vùng miền, mà còn gắn với quy hoạch phát triển của tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân , từ mạng lưới cơ sở hạ tầng đến các cơ sở kinh tế công, nông nghiệp , các trường học, bệnh viện trong từng thời kỳ và cả quá trình lâu dài

+ Quy hoạch phát triển phải đi trước một bước:

Quy hoạch là dự kiến, dự định, hình dung trước Vì vậy, một trong những tất yếu khách quan là quy hoạch phải đi trước một bước của sự phát triển Nếu quá trình phát triển đã được hình dung trước và đã được “vẽ trên giấy” một cách chuẩn xác thì các bước phát triển phía sau chẳng khác gì “mắt sáng đi giữa ban ngày” Như vậy chắc chắn sẽ thực hiện tốt ý đồ phát triển và tiết kiệm

+ Quy hoạch phát triển phải công khai, minh bạch:

Bản quy hoạch như là tài liệu cung cấp chính thức thông tin cho sự phát triển Do vậy, quy hoạch đòi hỏi phải được công khai, minh bạch, dễ hiểu đối

Ngày đăng: 17/03/2015, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Chính phủ (2009), Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 về
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
10. Quốc hội (2005), Luật Đấu thầu, Số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đấu thầu
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
11. Quốc hội (2002), Luật Ngân sách Nhà nước, Số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà nước
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
12. Quốc hội (2003), Luật Xây dựng, Số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xây dựng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
13. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Kạn (2010, 2011, 2012), Báo cáo hoạt động đầu tư XDCB năm 2006-2010, 2011, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động đầu tư XDCB năm 2006-2010, 2011, 2012
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Kạn
Năm: 2010, 2011, 2012
18. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2010, 2011), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 tỉnh Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn
Năm: 2010, 2011
1. Bộ Tài chính (2005), Thông tư số 10/2005/TT-BTC ngày 2/2/2005, Hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với việc phân bổ, quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN Khác
2. Bô ̣ Tài chính (2006-2012), Số liê ̣u tổng hợp của Phòng Đi ̣a phương – Vụ Ngân sách nhà nước Khác
3. Chính phủ (2009), Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Khác
4. Chính phủ (2009), Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009, Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng Khác
7. Nguyễn Văn Cho ̣n (2003), Kinh tế đầu tư xây dựng , Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Khác
8. Bùi Mạnh Hùng (2010), Giáo trình kinh tế xây dựng , Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Khác
9. Bích Loan (2011), Hỏi – Đáp về chế độ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Khác
14. Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn (2010, 2011, 2012), Báo cáo tài chính ngân sách năm 2006-2010, 2011, 2012 Khác
15. Nguyễn Thống (2007), Lập và thẩm đi ̣nh dự án đầu tư xây dựng , Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Khác
16. Tỉnh ủy Bắc Kạn (2010), Báo cáo chính trị Đại h ội Đảng bộ tỉnh lần thứ X Khác
17. Tỉnh ủy Bắc Kạn (2013), Báo cáo kiểm điểm 2 năm rưỡi thực hiê ̣n Nghi ̣ quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Trình tự trong hoạt động đầu tƣ - nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trường hợp tỉnh bắc cạn
Sơ đồ 1.1 Trình tự trong hoạt động đầu tƣ (Trang 21)
Bảng 2.1: Chi đầu tƣ phát triển trong tổng chi NSNN - nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trường hợp tỉnh bắc cạn
Bảng 2.1 Chi đầu tƣ phát triển trong tổng chi NSNN (Trang 54)
Bảng 2.2: Cơ cấu vốn đầu tƣ trên địa bàn tỉnh Bắc Ka ̣n - nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trường hợp tỉnh bắc cạn
Bảng 2.2 Cơ cấu vốn đầu tƣ trên địa bàn tỉnh Bắc Ka ̣n (Trang 55)
Bảng 2.4: Phương án phân bổ vốn đầu tư theo ngành kinh tế của  UBND tỉnh Bắc Ka ̣n giai đoạn 2006-2010 và năm 2011, 2012 - nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trường hợp tỉnh bắc cạn
Bảng 2.4 Phương án phân bổ vốn đầu tư theo ngành kinh tế của UBND tỉnh Bắc Ka ̣n giai đoạn 2006-2010 và năm 2011, 2012 (Trang 59)
Bảng 2.6: Một số kết quả đạt đƣợc của tỉnh Bắc Ka ̣n giai đoạn 2006-2010 - nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trường hợp tỉnh bắc cạn
Bảng 2.6 Một số kết quả đạt đƣợc của tỉnh Bắc Ka ̣n giai đoạn 2006-2010 (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w