1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

59 887 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó:  Nợ Chính phủ được hiểu là các khoản nợ phát sinh do các khoản vay trong vàngoài nước được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, các khoản nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát

Trang 1

Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa Quản trị Kinh doanh

2013 Lý thuyết Tài chính và Tiền tệ

KH NG HO NG N CÔNG ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ẢNG NỢ CÔNG Ợ CÔNG

VÀ TH C TR NG N ỰC TRẠNG NỢ ẠNG NỢ Ợ CÔNG

Giảng viên hướng dẫn: TS Diệp Gia Luật

Lớp: CHK23D4 – Nhóm 1Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh An

Nguyễn Thị Thùy AnThái Đình HuyNguyễn Thị LanNguyễn NamNguyễn Thị Thanh NgaTrần Đình Ngọ

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

1 Trần Thị Thanh An Khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh, Thuyết trình

2 Nguyễn Thị Thùy An Tình hình Nợ công Việt Nam

3 Thái Đình Huy Khủng hoảng nợ công châu Âu, Thuyết trình

4 Nguyễn Thị Lan Khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh

5 Nguyễn Nam Khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh

6 Nguyễn Thị Thanh Nga Tình hình Nợ công Việt Nam

7 Trần Đình Ngọ Khủng hoảng nợ công châu Âu, Làm powerpoint

8 Nguyễn Hoàng Nhã Phương Khủng hoảng nợ công châu Âu

9 Nguyễn Thị Như Quỳnh Khái niệm chung, Tổng hợp bài word

10 Ngô Thị Thanh Tâm Lời mở đầu và kết thúc, Khái niệm chung

Trang 3

MỤC LỤC

Contents

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG

NỢ CÔNG 7

1.1 Nợ công 7

1.1.1 Định nghĩa 7

1.1.2 Phân loại và cách xác định nợ công 8

1.1.3 Tác động của nợ công 10

1.2 Khủng hoảng nợ công 11

1.2.1 Thế nào là khủng hoảng nợ công? 11

1.2.2 Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng khủng hoảng nợ công: 12

1.2.3 Tác động của khủng hoảng nợ công (ở đây xem xét đại diện là nợ chính phủ) 13 CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI 15 2.1 Khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ Latinh những năm 1980 15

2.1.1 Khái quát về khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh và các nguyên nhân gây ra khủng hoảng

15 2.1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng đến kinh tế - xã hội 18

2.1.3 Các chính sách, biện pháp của chính phủ 21

2.2 Khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu (điển hình là Hy Lạp) 24

2.2.1 Khái quát về thực trạng khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp 24

2.2.2 Nguyên nhân 26

2.2.3 Tác động của nợ công đến tình hình tài chính tiền tệ: 29

2.2.4 Các biện pháp chính phủ Hy Lạp đã thực hiện nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công và tác động của nó 34

CHƯƠNG 3:TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VIỆT NAM 37 3.1 Mục đích chính của việc sử dụng nợ công ở Việt Nam 37

Trang 4

3.2.4 Chi phí vay nợ 42

3.2.5 Khả năng thanh toán nợ 42

3.3 Đánh giá của các tổ chức uy tín thế giới về tình hình nợ công Việt Nam 47

3.4 Một số khuyến nghị về hoạt động vay nợ và quản lý nợ công ở Việt Nam 48

3.4.1 Đối với hoạt động vay nợ 48

3.4.2 Đối với hoạt động quản lý nợ 50

3.5 Kết luận chung: 53 KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2-1: Số liệu về thực trạng và thâm hụt ngân sách của EU năm 2009 25

Bảng 3-1: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam 38

Bảng 3-3: Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP) 43

Biểu đồ 2-1 Tổng nợ gần như bùng nổ trong những năm 1970 ở Mỹ LaTinh 15

Biểu đồ 2-2 Bùng nổ Tổng nợ nước ngoài của Mỹ Latinh (so với GDP và Xuất khẩu) qua các năm 16

Biểu đồ 2-3 Lãi suất thực của Mỹ Latinh những năm 1970 – 1980 16

Biểu đồ 2-4 Giá dầu ở các nước Mỹ Latinh qua các năm 17

Biểu đồ 2-5 Tỷ lệ nợ/xuất khẩu và tỷ lệ nợ/GNP của các nước Mỹ Latinh qua các năm 18 Biểu đồ 2-6 Chỉ số lạm phát của các nước Mỹ Latinh qua các năm 19

Biểu đồ 2-7 Biểu đồ so sánh nợ công của Hy Lạp so với khu vực châu Âu 24

Biểu đồ 2-8 Lãi suất Trái phiếu Chính phủ 10 năm qua các năm 2008 – 2011 25

Biểu đồ 2-9 Xác suất vỡ nợ của các quốc gia 26

Biểu đồ 2-10 Lãi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp 30

Biểu đồ 2-11 Tốc độ tăng trưởng GDP của Hy Lạp qua các năm 2007 – 2011 30

Biểu đồ 2-12 Tỷ lệ thất nghiệp ở Hy Lạp qua các năm 2009 – 2011 31

Biểu đồ 2-13 Sự biến động của đồng Euro so với Dollars qua các năm 2006 – 2010 32

Biểu đồ 3-1 Nợ công của Việt Nam ngày càng tăng qua các năm 38

Biểu đồ 3-2 Tỷ trọng nợ công nước ngoài theo các đồng tiên khác nhau 41

Biểu đồ 3-3 Lãi suất và tỷ trọng các khoản nợ công nước ngoài tính đến 31/12/2010 42

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

OPEC Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ Thế giới

EMU Liên minh tiền tệ và kinh tế châu Âu

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian gần đây, nợ công đang trở thành vấn đề nóng không chỉ được dư luậnViệt Nam mà dư luận của các nước trong khu vực và toàn thế giới cũng đang hết sứcquan tâm Nhất là sau khi xảy ra sự bùng nổ khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp, rồi đếnIreland, Bồ Đào Nha v v Nguy cơ lây lan khủng hoảng tài chính đang đè nặng lên cácnước Châu Âu, đe dọa sự ổn định và phát triển của toàn EU, đặc biệt là đối với nhữngnước có tình hình tài chính không vững chắc Nợ công của hầu hết các nước phát triểnđang tăng lên một cách đáng kể Số liệu thống kê cho thấy những nền kinh tế lớn nhấttrên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc cũng chính là những con nợ lớn Tuy nhiên

nợ cao không đồng nghĩa với việc các nước này sẽ lâm vào khủng hoảng mà còn tùythuộc vào khả năng quản lý nợ công của mỗi quốc gia Việc vay nợ để phát triển đối vớimột quốc gia cũng giống như là một doanh nghiệp Đây là cách huy động vốn phổ biếnnhất trên thế giới Nợ công dùng để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng củaChính phủ nhưng nếu không thể kiểm soát được nợ công thì quốc gia đó sẽ dễ dàng lâmvào tình trạng khủng hoảng Tình trạng này sẽ dẫn đến hậu quả là gây bất ổn cho nềnkinh tế và quốc gia đó phải chịu rất nhiều sức ép từ cả bên trong lẫn bên ngoài như làniềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay điều này đã báo động không chỉ choViệt Nam mà cho cả các nước khác cần phải xem xét lại tình hình thu chi của mình Do

đó, việc đánh giá đúng thực trạng nợ công của một quốc gia là vô cùng quan trọng Việcđánh giá này có thể giúp điều chỉnh kịp thời việc vay nợ và ổn định kinh tế Chính vìnhững lý do trên mà việc nghiên cứu về khủng hảng nợ công thiết nghĩ là việc làm cầnthiết và cấp bách hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG

1.1 Nợ công

1.1.1 Định nghĩa

- Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) thì nợ công được hiểu theo 2 nghĩa:

 Theo nghĩa hẹp: Nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương,các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chínhphủ bảo lãnh thanh toán

 Theo nghĩa rộng: Nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm cácnghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngânhàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sáchnhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trongtrường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay)

 Tùy thuộc vào thể chế kinh tế và chính trị thì quan niệm về nợ công ở mỗi quốcgia cũng có sự khác biệt

- Theo Việt Nam: Vào năm 2009 thì Quốc hội đã ban hành Luật Quản lý nợ công

và Bộ Luật này có hiệu lực kể từ 01/01/2010 Trong bộ luật này có quy định rằng nợcông bao gồm: các khoản nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyềnđịa phương Trong đó:

 Nợ Chính phủ được hiểu là các khoản nợ phát sinh do các khoản vay trong vàngoài nước được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, các khoản nợ

do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.Và nợ của chínhphủ thì không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam pháthành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

 Nợ Chính phủ bảo lãnh là các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính,tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

 Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do UBND tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành

- Theo một số quốc gia khác: Tại hầu hết các nước trên thế giới thì nợ công đềuđược xác định là bao gồm các khoản nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh.Nhưng theo một số nước thì nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương như

Trang 9

Đài Loan, Bungari và Rumani…, nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (TháiLan, Macedonia…).

 Dựa trên các định nghĩa về nợ công của IMF và Luật quản lý nợ công ở ViệtNam thì khó có thể thấy được sự khác biệt lớn giữa các cách định nghĩa này Xem xétmột cách khái quát nhất, chúng ta có thể hiểu nợ công (nợ Chính phủ hoặc nợ quốc gia)

là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương

đi vay nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách Vì vậy, nợ Chính phủ nói cáchkhác là sự thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó Để đo lường quy

mô của nợ Chính phủ, người ta thường tính toán xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phầntrăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Và về cơ bản, nợ công có những đặc điểmchủ yếu như sau:

 Nợ công là các khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước

 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quannhà nước có thẩm quyền

 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh

tế - xã hội vì lợi ích chung

1.1.2 Phân loại và cách xác định nợ công

1.1.2.1 Phân loại nợ công

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việcquản lý và sử dụng nợ công Việc phân loại dựa vào các tiêu chí sau:

 Theo nguồn gốc địa lý: Nợ trong nước và nợ nước ngoài

 Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước

 Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnhthổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài

 Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trongquản lý nợ Việc phân loại này sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cáncân thanh toán quốc tế Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo anninh tiền tệ, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyểnđổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác

Trang 10

Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địaphương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợcông của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từngân sách trung ương.

 Theo loại hình vay thì nợ công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, vốn vay ưuđãi và vay thương mại

 Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA) là khoản vay nhân danh Nhànước, Chính phủ Việt Nam từ nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tàitrợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tốkhông hoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràngbuộc, 25% đối với khoản vay không ràng buộc

 Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưngthành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA

 Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường

 Theo các công cụ nợ như tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụkhác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ

→ Việc phân loại nợ công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụng nợcông Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có giải pháp quản lý bảo đảm quy mô nợ phù hợp,qua đó sẽ chủ động tăng hay giảm nợ để tạo nguồn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội

1.1.2.2 Các chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công:

Theo Nghị định số 79/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/7/2010 về nghiệp vụquản lý nợ công tại Điều 7 quy định về các chỉ tiêu giám sát nợ công như sau:

 Nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP);

 Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP;

 Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu;

 Nợ chính phủ so với GDP;

 Nợ chính phủ so với thu ngân sách nhà nước;

 Nghĩa vụ nợ chính phủ so với thu ngân sách nhà nước;

 Nghĩa vụ nợ dự phòng so với thu ngân sách nhà nước;

 Hạn mức vay thương mại nước ngoài và bảo lãnh vay nước ngoài của Chínhphủ

Trang 11

→ Chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất khi cần xác định nợ công chính là chỉ tiêu

nợ công so với GDP

1.1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính an toàn nợ công

An toàn nợ công có thể được hiểu là mức giới hạn tỷ lệ nợ công cao nhất mà tạimức đó, nơ công của một quốc gia được xem là vẫn nằm trong tầm kiểm soáy và có khảnăng trả nợ Nhưng khi vượt quá tỷ lệ này thì khoản nợ công sẽ lâm vào tình trang nguyhiểm và khả năng vỡ nợ của quốc gia đó là rất cao Tại những quốc gia khác nhau thìngưỡng an toàn này cũng khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng nước

Theo IMF, đánh giá an toàn về nợ được thực hiện thông qua các chỉ tiêu sau:

 NPV của nơ/xuất khẩu: hiện giá thuần của nợ nước ngoài liên quan đến khảnăng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu

 NPV của nợ/thu ngân sách nhà nước: hiện giá thuần của nợ nước ngoài liênquan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu là ngân sách nhà nước

 Dịch vụ nợ/xuất khẩu và Dịch vụ nợ/thu ngân sách: dịch vụ nợ/xuất khẩu đolường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ nguồn thu xuất khẩu và dịch vụnợ/thu ngân sách thì đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ nguồn thu làngân sách nhà nước

Tại Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên hiện nay bao gồm tìnhtrạng thâm hụt ngân sách, sự biến động về tỷ giá, tình trạng lạm phát, tính ổn định tăngtrưởng kinh tế, hiệu quả đầu tư, nguồn huy động vốn và cuối cùng là sự thâm hụt của cáncân thanh toán

1.1.3 Tác động của nợ công

Như những phần trên đã đề cập thì nợ công vừa có những tác động tích cực nhưngcũng không tránh khỏi việc xuất hiện của những tác động tiêu cực Nhận biết những tácđộng tích cực và tiêu cực này sẽ tạo kiện để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực.Việc làm này là điều hết sức cần thiết cho xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợcông

- Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:

 Nợ công giúp gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, tăng cường nguồn vốn đểphát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước

Trang 12

động nợ công một cách hợp lý thì nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giảiquyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nềnkinh tế.

 Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi củangười dân Một bộ phận lớn người dân trong xã hội có các khoản tiết kiệm,thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này đượcđưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vựctư

 Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chínhquốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giaoquan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gianghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương Nếu Việt Nam biếttận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi đểđầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồngthời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng vàNhà nước

- Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên thì nợ công cũng gây ra những tác độngtiêu cực nhất định Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoảntài trợ ngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kémhiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặtchẽ việc sử dụng và quản lý nợ công

1.2 Khủng hoảng nợ công

1.2.1 Thế nào là khủng hoảng nợ công?

Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nềnkinh tế do mất sự cân bằng thu và chi ngân sách quốc gia Nhu cầu chi quá nhiều, trongkhi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như pháthành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ.Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng Nợ không trả sớm, sau một thờigian thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm

Cuộc khủng hoảng nợ công sẽ nổ ra khi chính phủ của một quốc gia không thể trả

nợ đúng hạn, cả phần nợ gốc và lãi, nên phải tuyên bố phá sản quốc gia hoặc cầu cứu sựtrợ giúp quốc tế

Trang 13

1.2.2 Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng khủng hoảng nợ công:

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công, ở mỗi nước và tuỳ từngthời kỳ lại có các nguyên nhân khác nhau, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở chương 2 thựctrạng nợ công trên thế giới Nhìn chung, tình trạng nợ công hiện nay ở nhiều nước đềuxuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau:

Việc gia tăng mạnh chi tiêu của Chính phủ: chi từ ngân sách nhà nước, lương và

chi phí hoạt động của bộ máy nhà nước ở các cấp có xu hướng ngày càng phình to, cácchương trình kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, đầu tư pháttriển có sở hạ tầng không ngừng tăng cao…, đặc biệt, hậu quả to lớn của cuộc khủnghoảng tài chính - kinh tế toàn cầu vừa qua đã buộc nhiều nước phải chi rất nhiều để khắcphục, vực dậy nền kinh tế

Các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, cùng với một số

loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ như thuế quan

và phí hải quan của hầu hết các nước phải cắt giảm hoặc loại bỏ phù hợp với các quyđịnh của WTO và các thoả thuận thương mại khác mà các quốc gia tham gia vào Trongkhi đó, vấn đề quản lý các nguồn thu, nhất là từ thuế, gặp không ít khó khăn ở nhiềunước do tình trạng trốn thuế, nạn tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử lýkhông nghiêm của các cơ quan chức năng

Tình trạng chính phủ không minh bạch các số liệu: chính phủ cố gắng vẽ nên

bức tranh màu hồng về tình trạng ngân sách của quốc gia Thêm vào đó là sự kiểm soátchi tiêu và quản lý nợ của Nhà nước yếu kém, không chặt chẽ, thậm chí bị buông lỏng,cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng với tệ thamnhũng phát triển ở nhiều nước (điển hình Hy Lạp)

Tâm lý ảo tưởng về sức mạnh, uy tín quốc gia dẫn đến tình trạng vay nợ tràn lan,

đầu tư quá trớn, thiếu tính toán với suy nghĩ dù gì đi chăng nữa chính phủ cũng dư sức

bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào và cả vay nợ (điển hìnhArgentina)

Chính phủ không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách nhiệm của một số ngân hàng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng và nhà đất tạo thành bong bóng.

Mặt khác Chính phủ đã lựa chọn bao cấp các ngân hàng này khi họ bị thua lỗ (điển hìnhIreland)

Trang 14

1.2.3 Tác động của khủng hoảng nợ công (ở đây xem xét đại diện là nợ chính phủ)

Khủng hoảng nợ công xảy ra sẽ gây ra những tác động mạnh mẽ lên nền tài chínhtiền tệ của một quốc gia;ảnh hưởng đến chính trị - xã hội, thương mại quốc tế của nước

đó Ngoài ra, khủng hoảng nợ công của một quốc giá còn ảnh hưởng đến thương mại

toàn cầu và các quốc gia liên quan trên thế giới

i Tác động đến kinh tếtrong nước

Khủng hoảng nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt, Chính phủ cần huy động vốn

để trả nợ buộc phải vay của công chúng bằng cách phát hành trái phiếu, vay mượn ở

ngân hàng trung ương hoặc cầu viện cứu trợ từ các nước khác, từ các tổ chức quốc tế

như IMF hoặc tăng thuế để bù đắp thâm hụt ngân sách bên cạnh đó phải thực hiện

chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm chi tiêu

Việc phát hành thêm trái phiếu chính phủ sẽ làm cho giá trái phiếu chính phủgiảm, lãi suất trái phiếu tăng vì phải nâng lãi suất trái phiếu lên cao thì mới thu hút được

 chỉ số nợ/GDP tăng) Việc giảm chi tiêu, giảm đầu tư còn ảnh hưởng đến tình trạng

việc làm giảm, thất nghiệp gia tăng

Mặt khác, cán cân ngân sách thâm hụt đã gây ra sự mất lòng tin của người dân vàcủa nhà đầu tư mới đối với các nền kinh tế quốc gia khiến đồng tiền quốc gia sụt giá

Điều đó có thể dẫn tới một đợt tháo chạy với quy mô lớn trên thị trường trái phiếu và cổ

phiếu làm giá chứng khoán bị sụt giảm

Giá TP ↓

Lãi suất TP ↑

Phát hànhTrái Phiếu

CÁN CÂN NGÂN SÁCH THÂM HỤT

Đầu tư gián tiếp(chứng khoán)↓

Huyđộngvốn

Lạm phát ↑

Trang 15

ii Tác động đến chính trị - xã hội trong nước

Bên cạnh những tác động về mặt kinh tế, mỗi quốc gia khi đối mặt với khủnghoảng nợ công có thể:

 Phải thay đổi quy trình quản lý nhà nước do phải thay đổi chính sách tàichính quốc gia để trang trải các khoản nợ;

 Tổn hại đến hệ số tín nhiệm quốc gia;

 Nguy cơ suy giảm chủ quyền, giảm sự độc lập về chính trị hoặc khả nănglãnh đạo đất nước…

Các quốc gia còn phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế

về việc phải thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội và xa hơn là những yêu cầu

về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay đổi các định hướng kinh tế…

Ngoài ra, cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ songphương, đa phương với các đối tác là chủ nợ

iii Tác động đến thương mại quốc tế

Cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra sẽ kéo theo một loạt hệ quả tất yếu: tốc độphục hồi kinh tế thế giới chậm lại, phải chứng kiến tình hình thất nghiệp và lạm pháttăng cao, biến động tỷ giá hoái đối, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tếngười dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh

iv Tác động đến nguồn vốn FDI toàn cầu

Khủng hoảng nợ công có thể tạo ra sự dịch chuyểnluồng vốn FDI trên phạm vi toàncầu Như trong khủng hoảng nợ công Châu Âu thì những quốc gia có trình độ phát triểntương đương với các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI dịch chuyển từ châu

Âu sang các quốc gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có

xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu Âu Ngược lại, các nước đang phát triển lại hoàntoàn không được hưởng lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênhlệch quá lớn về trình độ công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào cácquốc gia này giảm sút do cuộc khủng hoảng nợ

Trang 16

CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ Latinh những năm 1980

2.1.1 Khái quát về khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh và các nguyên nhân gây ra khủng hoảng.

i Bùng nổ nợ của khu vực Mỹ Latinh thập niên 1970

Biểu đồ 2-1 Tổng nợ gần như bùng nổ trong những năm 1970 ở Mỹ LaTinh

Trong những năm 1960 và 1970, nhiều nước Mỹ Latinh, đặc biệt là Brazil,Argentina và Mexico, vay những khoản tiền lớn để phát triển công nghiệp, đặc biệt làcho cơ sở hạ tầng Các quốc gia này có nền kinh tế tăng vọt vào thời điểm đó nên đượccác chủ nợ tiếp tục cho vay Tình hình tài chính của quốc gia vay nợ được xem là ổnđịnh vì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn hơn so với lãi suất tính trên các khoản vay của

nó (Biểu đồ 2-2) Nếu không, gánh nặng trả nợ ngày càng tăng cuối cùng sẽ làm cạn kiệtkhả năng chi trả của đất nước Bùng nổ tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ Latinh rõ ràng đápứng tiêu chí này trong hầu hết những năm 1970 Tăng trưởng thực tế hàng năm của xuấtkhẩu trung bình là 19%, cũng vượt quá lãi suất liên ngân hàng London (LIBOR) Hơnnữa, tổng thu nhập quốc dân (GDP ) của Mỹ Latinh tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độtrung bình hàng năm ổn định tại 6 %

Trang 17

Tổng số nợ nước ngoài, dài hạn của Mỹ Latinh và Caribe tăng gấp sáu lần từ gần

28 tỷ USD năm 1970 lên hơn 172 tỷ USD trong năm 1980, tốc độ tăng trưởng trung bình20%/năm

Biểu đồ 2-2 Bùng nổ Tổng nợ nước ngoài của Mỹ Latinh (so với GDP và Xuất

khẩu) qua các năm

ii Lãi suất thực tăng cao, gây khó khăn cho việc trả nợ

Lãi suất thực vay rất thấp trong nhiều năm thập niên 1970 Trong thực tế , lãi suấtthực tính cho Mỹ Latin giảm xuống bằng 0 và âm trong cả thập kỷ (biểu đồ ) Lạm phátgia tăng mà không tính toán đầy đủ bù tăng trong lãi suất danh nghĩa nên giảm gánhnặng nợ thực tế và kích thích việc vay nợ mới

Trang 18

Cú sốc dầu mỏ lần thứ 2 năm 1979 dẫn đến chính sách phải ứng của các nướccông nghiệp Những nước này giải quyết cú sốc bằng cách theo đuổi chính sách thắt chặttiền tệ và chính sách tài khóa Điều này dẫn đến việc gia tăng lãi suất thực tế

Tại Mỹ, vào cuối năm 1979, ông Paul Volcker được bổ nhiệm làm Chủ tịch mớicủa Dự trữ Liên bang Mỹ Ngay lập tức, ông đã khởi xướng một chiến dịch chống lạmphát Từ năm 1979 đến năm 1980, FED thắt chặt cung tiền Kết quả là, lãi suất USD tăngmạnh, thậm chí đến 20% mỗi năm hoặc cao hơn

Các nước Mỹ Latin vay tiền từ nước ngoài, cụ thể là các ngân hàng thương mạinước ngoài bằng ngoại tệ USD, nên khi lãi suất USD tăng, khiến cho gánh nặng nợ nầncho các tại các nước Mỹ Latin leo thang với mức lãi suất thực cao, tăng từ mức trungbình thấp hơn 0% trong năm 1970 tăng lên mức 2 con số trong đầu những năm 1980.Dẫn đến việc các quốc gia mang nợ đối mặt khó khăn trong khả năng thanh toán

iii Cú sốc dầu mỏ

Sự tăng mạnh của giá dầu thế giới là yếu tố thứ ba trực tiếp góp phần mở rộng nợ

ở Mỹ Latinh Một sự gia tăng đột ngột của giá dầu thế giới vào năm 1974 làm cho lạmphát cao hơn và lãi vay thấp hơn ở Mỹ Latinh

Trang 19

Việc tăng giá dầu một mặt làm tăng số nợ của các nước Mỹ Latinh phải trả đểnhập dầu Mặt khác, do có nhiều tiền vượt quá khả năng hấp thụ của các nước OPEC, từnăm 1974 đến cuối năm 1981, tổng thặng dư của các thành viên OPEC lên tới 450,5 tỉUSD Các “petrodollar” được đầu tư bởi các ngân hàng ở Mỹ và Châu Âu Các ngânhàng này đem tiền đầu tư vào các nước phát triển ở Mỹ Latin như Brazil, Argentina vàMexico,…

Biểu đồ 2-3 Giá dầu ở các nước Mỹ Latinh qua các năm.

iv Nền kinh tế thế giới gặp phải khủng hoảng lớn

Cũng như việc lãi suất vay bắt đầu đi lên nhanh chóng, thu nhập của các nước MỹLatinh bước đầu giảm mạnh Tăng trưởng kinh tế toàn cầu rơi vào khủng hoảng trongthập kỷ này, kèm theo một sụt giảm trong thương mại thế giới Từ năm 1981 đến năm

1984, GDP thực và xuất khẩu giảm ở mức trung bình hàng năm là 0,1 % và 6,4 % Tốc

độ tăng trưởng kinh tế chậm lại là do sự thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô trong nhiềuquốc gia ở Mỹ Latinh Chính sách tăng trưởng nhanh trong những năm 1970 - đã khuyếnkhích tích tụ nợ nhanh chóng - không còn bền vững Đồng thời, nhu cầu của thế giới vàgiá hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Mỹ Latin giảm mạnh (đồng, thiếc, quặng sắt)

Vấn đề trả nợ leo thang: Trong đầu những năm 1980, người đi vay thấy mình kẹtgiữa tăng nợ phải trả và thu nhập giảm Tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập tăng nhanh ở MỹLatinh là một yếu tố trực tiếp của cuộc khủng hoảng nợ đã phát triển vào đầu thập kỷ này(biểu đồ 2-4) Yêu cầu trả nợ hàng năm của Mỹ Latinh tăng khiêm tốn từ hơn 13,2 % giátrị xuất khẩu của hàng hóa và dịch vụ trong 1970 đến 14,3 % trong năm 1975 Nhưngđến năm 1982, tỷ lệ này đã tăng gần gấp đôi với 26,1 %

Biểu đồ 2-4 Tỷ lệ nợ/xuất khẩu và tỷ lệ nợ/GNP của các nước Mỹ Latinh qua các

năm

Trang 20

2.1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng đến kinh tế - xã hội

Khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh thập niên 80 được gọi là “thập kỷ mất mát”?Tại sao lại có tên gọi này? Bởi những hậu quả mà toàn khu vực phải gánh chịu trongsuốt một thập niên rơi vào khủng hoảng nợ công

2.1.2.1 Tác động đến kinh tế của toàn khu vực

Khủng hoảng nợ công giai đoạn này tác động không nhỏ đến tình hình kinh tếcủa toàn khu vực

i Lạm phát tăng cao

Kinh tế tăng trưởng trì trệ, lạm phát tăng cao làm giảm sức mua của nền kinh tế.Lạm phát gia tăng trong những năm 1980 là tác động của khủng hoảng nợ chứ khôngphải là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ Tỷ lệ lạm phát đạt mức chưa từng có

ở châu Mỹ Latinh, thậm chí đi vào lịch sử lạm phát của một số nước Lạm phát đã tăngtốc trong những năm 1970, cũng như đã xảy ra ở những nơi khác trên thế giới, vàChile, Argentina là hai nước đang ở giữa cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng đãbước vào kỷ nguyên của lạm phát ba con số Các trường hợp xấu nhất là lạm phát phi

mã xảy ra đối với 5 quốc gia giữa thập niên 1980 và đầu những năm 1990 (Argentina,Bolivia, Brazil, Nicaragua và Peru); ba nước khác đăng ký lạm phát ba con số gồmMexico, Uruguay và Venezuela Panama (nền kinh tế duy nhất bị đô la hóa vào thờiđiểm đó) là quốc gia duy nhất có mức lạm phát không vượt quá mức 20%

Tỷ lệ trung bình của lạm phát tăng vọt lên gần 40% vào năm 1990 và lạm pháttrung bình hơn 1000 % trước khi bắt đầu giảm dần trong những năm sau đó Các khủng

Trang 21

hoảng nổ ra trong lĩnh vực tài chính cũng nghiêm trọng, đặc biệt ở các nhóm quốc giaSouthernCone, khủng hoảng đã gây thiệt hại về chi phí tài chính và bán tài chính tươngđương khoảng 40 % hoặc 50% GDP.

Biểu đồ 2-5 Chỉ số lạm phát của các nước Mỹ Latinh qua các năm.

ii Tỷ lệ đầu tư giảm

Ngược lại với sự gia tăng chóng mặt của lạm phát, tỷ lệ đầu tư giảm trong giaiđoạn này Đầu tư chính phủ giảm mạnh, trong đó có sự cắt giảm đầu tư của các công tykhu vực công và khu vực tư nhân Tỷ lệ đầu tư giảm 6% kể từ lúc đạt đỉnh (giai đoạn1975-80) và cho đến năm 2012 vẫn chưa quay lại đến mức đó Tồn tại điều này do Brazil

và Venezuela, vì thế, nếu loại trừ các nước này, tỷ lệ đầu tư trở lại đỉnh cao vào cuối giaiđoạn 2003-2008 Vì lý do đó, trong lĩnh vực đầu tư, khu vực Mỹ Latinh cũng mất ít nhấtmột phần tư thế kỷ để phục hồi chứ không còn là “một thập kỷ mất mát” nữa

iii GDP giảm

Để giải quyết khủng hoảng nợ công, các quốc gia phải đưa mức thâm hụt ngânsách trở về mức 1-2% GDP , tương tự mức thâm hụt đạt được trong giai đoạn “thần kỳ”– những năm 1970) Các biện pháp điều chỉnh tài chính đã được áp dụng, Chính phủthực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” với mức cắt giảm trung bình từ 5-6% GDP

Trang 22

hãm Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của khu vực chỉ đạt 2.3% từ năm 1980-1985,nhưng tính theo bình quân đầu người GDP của khu vực này âm gần 9%.

ra xuất khẩu Các nguồn vốn khổng lồ chảy ra bên ngoài, đặc biệt là chảy sang Mỹ Tất

cả những điều này khiến cho Châu Mỹ Latinh phụ thuộc vào bên ngoài, giảm chủquyền, giảm sự độc lập, vị thế của mỗi quốc gia trong mối quan hệ với các quốc giakhác ngoài khu vực

Trước tình hình này, các công dân của Mỹ Latinh không thích thực tế là Chínhphủ của họ đã bị kiểm soát bởi “bên ngoài” Quan chức Chính phủ, các nhà lãnh đạo đã

bị nhạo báng, thậm chí bị sa thải do liên quan đến IMF Chế độ chính trị tại các quốcgia Châu Mỹ Latinh đã thay đổi trong giai đoạn này Ở Argentina, Brazil, chế độ độctài quân sự mất uy tín, được thay thế bằng Chính phủ theo đuổi chế độ dân chủ Mâuthuẫn chính trị tại Venezuela trong những năm sau đó là hậu quả của hậu khủng hoảng,điển hình là hai cuộc đảo chính vào năm 1992

ii Tác động đến đời sống xã hội.

Cuộc khủng hoảng nợ thập niên 1980 đã tạo ra chi phí xã hội rất lớn Tỷ lệ hộnghèo tăng mạnh trong giai đoạn 1980-1990 (từ 40,5% đến 48,3% dân số) Tỷ lệ nàychỉ giảm về mức 40.5% vào năm 2004 Như vậy, không chỉ là “một thập kỷ mất mát”như tên gọi của cuộc khủng hoảng này mà liên quan đến tỷ lệ đói nghèo, khu vực nàymất hẳn một phần tư thế kỷ Sự suy thoái của phân phối thu nhập trong một số quốc giacàng làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng vốn dĩ là một đặc điểm của khu vực Châu

Mỹ Latinh, xóa bỏ những thành tựu mà khu vực đã đạt được trong thập niên trước Sựcải thiện nhanh chóng trong chỉ số phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóatrở nên chậm hơn, thay vào đó là sự suy giảm trong một số lĩnh vực như lương thực

Trang 23

Kế hoạch thắt lưng buộc bụng của Chính phủ càng làm gia tăng những bất ổn vềchính trị, xã hội Mức sống và tốc độ tăng trưởng giảm đã gây ra sự giận dữ và oántrách của người dân đối với Chính phủ Tỷ lệ việc làm giảm sút, tệ nạn xã hội xuất hiệnngày càng nhiều như là việc trẻ em và thanh thiếu niên bị buộc phải buôn bán ma túy,thậm chí các bé gái phải đi vào con đường bán dâm Tội phạm đường phố, cướp của,giết người gia tăng Các quốc gia trong khu vực trở thành nơi ít người mong muốn đếnsinh sống.

2.1.3 Các chính sách, biện pháp của chính phủ.

i Cầu viện sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế IMF và WB.

Để có khả năng chi trả các khoản nợ khổng lồ, các nước Mỹ Latinh đã yêu cầu hỗtrợ từ các tổ chức quốc tế, đổi lại các nước này phải thực thi các chính sách điều chỉnh cơcấu khắc nghiệt của IMF như thắt lưng buộc bụng bằng cách: cắt giảm ngân sách, duytrì tăng trưởng tín dụng thấp và chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm chi tiêu trong nước

và lạm phát, phá giá đồng nội tệ để tăng cường xuất khẩu và cải cách cơ cấu như tự dohóa thương mại, tư nhân hóa, gỡ bỏ kiểm soát của chính phủ, nhằm hỗ trợ tăng cungkhu vự tư nhân và cải thiện môi trường tài chính Ngoài ra, WB đưa ra chương trình điềuchỉnh tập trung vào đổi mới cơ cấu sâu rộng hơn và trong dài hạn

Với các chương trình hà khắc của các tổ chức quốc tế đưa ra như trên, các nước

Mỹ Latinh đã phải chịu những tác động nặng nề như kinh tế tăng trưởng trì trệ, thu nhậpbình quân đầu người suy giảm, nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng

ii Các quốc gia châu Mỹ Latinh thực hiện các chính sách thỏa hiệp lại các

khoản nợ

Từ khi diễn ra khủng hoảng cho đến năm 1985, những điều chỉnh vĩ mô quy môlớn đã được thực hiện với giả định cuộc khủng hoảng sẽ diễn ra trong thời gian ngắn, vớigiả định đây chỉ là một cuộc khủng hoảng thanh khoản hơn là một cuộc khủng hoảngkhả năng thanh toán nên trì hoãn trả nợ sẽ giải quyết được vấn đề Uỷ ban ngân hàng tạođiều kiện cho đàm phán lại các khoản nợ theo chiến lược từng trường hợp đàm phán.Các ngân hàng này hoạt động như cartel nợ và phải đối mặt với sự vô tổ chức của nhữngngười mắc nợ, họ nhận được sự ủng hộ của chính phủ các nước công nghiệp phát triển.Đặc biệt là Mỹ, chính phủ Mỹ đã can thiệp vào vì nhận thấy hệ thống ngân hàng củamình đang bị đe dọa nghiêm trọng Một số quốc gia khác thể hiện lập trường cứng rắn

Trang 24

khoản nợ của Bolivia và Ecuador đều được hoãn lại, nhưng các con nợ lớn như Mexico,Brazil, Venezualar thì lại vẫn phải tiếp tục thỏa hiệp trực tiếp với các ngân hàng của họ,riêng Argentina vẫn cương quyết và không chịu thỏa hiệp Rõ ràng dù đã có nhiều cốgắng nhưng khu vực này vẫn chưa có một sự đồng thuận nhất định trong khu vực, nhiềuquốc gia vẫn đưa ra ý kiến riêng tự mình giải quyết các khoản nợ của mình Chính vìvậy, những chính sách đã được thông qua đã phát huy tác dụng trong điều chỉnh khủnghoảng ngân hàng ở Mỹ giúp Mỹ dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng ngân hàng thì khuvực Mỹ Latinh vẫn rơi sâu vào khủng hoảng Họ không những không trả được nợ màtình trạng còn trở nên tồi tệ hơn.

iii Hỗ trợ tín dụng, điều chỉnh luật cho vay, tạo điều kiện cho hoạt động mua

lại và trao đổi nợ kết hợp với cho phép phát hành trái phiếu với lãi suất thấp

Tháng 9 năm 1985, cuộc khủng hoảng bước vào giai đoạn thứ hai Bản thân Mỹ,nơi các tổ chức tài chính và ngân hàng là chủ nợ của hơn 30% nợ công các nước châu

Mỹ Latinh đã đưa ra biện pháp giải quyết khủng hoảng cho châu Mỹ Latinh Mỹ khởiđộng kế hoạch Baker đầu tiên, trong đó đưa ra một điều chỉnh về cơ cấu do WB lãnh đạo

và chính sách hỗ trợ tín dụng với điều kiện cho vay tốt hơn Tuy nhiên điều chỉnh này làkhông đủ nên hai năm sau đó kế hoạch Baker lần 1 được thay thế bằng kế hoạch Bakerlần 2 thêm vào việc cho phép các nước Mỹ Latinh mua lại nợ, phát hành trái phiếu ra vớilãi suất thấp và giao dịch hoán đổi nợ

Trang 25

iv Thực hiện giảm quy mô nợ và tạo điều kiện cho việc vay mượn từ các

nguồn tài chính tư nhân quốc tế

Cuộc khủng hoảng bước vào giai đoạn cuối vào tháng 3 năm 1989 (gần 7 năm saubùng nổ khủng hoảng), một vấn đề cần được làm sáng tỏ đây thực chất là một cuộckhủng hoảng khả năng thanh toán, là vỡ nợ - không có khả năng trả được nợ chứ khôngđơn thuần là khủng hoảng thanh khoản Do đó, giải pháp cho cuộc khủng hoảng cần đưa

ra lúc này là giảm quy mô nợ chứ không phải là trì hoãn trả nợ Theo đó, Mỹ đưa ra kếhoạch Brady, bao gồm cắt giảm cán cân nợ cùng với việc cho các nước Mỹ Latinh vay từcác nguồn tài chính tư nhân quốc tế Sự tiếp cận của Mỹ trong hai giai đoạn cuối đã cónhững khác biệt so với lần đầu tiên Các nước châu Mỹ Latinh có cơ hội tham gia mua

nợ của chính mình với giá thấp ở các thị trường thứ cấp với những công cụ khác nhau.Những khoản cứu trợ của IMF và WB đều có thể sử dụng cho cơ chế này Mặc dù vậy,

kế hoạch này đã gặp phải một số vấn đề ngay từ khi thực hiện như: phần lãi chưa trả làmột phần của khoản nợ sẽ được thương lượng lại dẫn đến các nước này phải trả lãi suấtkép trên các khoản nợ tức là trả lãi trên những khoản trả lãi trước đó và sau đó dẫn đến

hệ quả là một số chính phủ đã không thể tiếp tục trả được nợ vay Kết quả là cuộc khủnghoảng nợ ở châu Mỹ Latinh vẫn kéo dài và chỉ dịu dần vào đầu những năm 1990

Mặc dù kế hoạch Baker đặc biệt là kế hoạch Brady cuối cùng dẫn đến làm giảm

hệ số nợ nước ngoài của các nước Tuy vậy, xu hướng tăng hệ số nợ đã bị đảo ngược dothương mại lớn và thặng dư tài khoản vãng lai mà các quốc gia đã xây dựng Mười nước

Mỹ Latinh đã thực hiện kế hoach Brady, đã phát hành tổng số 148 tỉ đô la trái phiếutương đương với 35,7% nợ nước ngoài của khu vực này trong tháng 12 năm 1989 Cáccông cụ chủ yếu là trái phiếu mệnh giá thấp hơn lãi suất thị trường và trái phiếu giảmgiá Giảm nợ trung bình cho hai lần đầu tiên và chủ yếu là kế hoạch Brady (kể cả gốc vàlãi) là 30-45% với bình quân là 35,3% theo số liệu được cung cấp bới Merrill Lynch(năm 1999) Tuy nhiên, những cắt giảm này không bao gồm tất cả các khoản nợ được cơcấu lại, vì thế giảm nợ trung bình là 19,7% nếu tính cả trái phiếu chỉ ngang và giảm giá.Tổng mức giảm nợ bởi kế hoạch Brady là từ 7 đến 12% tổng số nợ của Mỹ Latinh vàocuối tháng 12 năm 1989, và từ 8 đến 15% đối với 10 quốc gia đã thực hiện kế hoạchBrady Một ảnh hưởng quan trọng nhất của Kế hoạch Brady là đã tạo ra một thị trường

có tính thanh khoản đối với trái phiếu Mỹ Latinh, thu hút các hãng mới vào thị trường và

là nền tảng mở rộng thị trường trái phiếu Mỹ Latinh phát triển vào đầu những năm 1990

Trang 26

2.2 Khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu (điển hình là Hy Lạp)

2.2.1 Khái quát về thực trạng khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp

- Tháng 10/2009 Khi thủ tướng mới của Đảng xã Hội Hy Lạp là Ông GeorgeA.Papandreou thông báo rằng người tiền nhiệm của Ông đã che dấu tình trạng thâm hụtngân sách khổng lồ mà nước nay đang mắc phải Thâm hụt ngân sách chính phủ nướcnày là 12,7% GDP, chứ không phải là 3,7% như chính phủ tiền nhiệm dự báo trước đó

Nợ công của nước này đã tới ngưỡng gần 300 tỷ Euro, tương đương 125% GDP, chiếmkhoảng 4% tổng nợ công của khu vực đồng tiền chung (dự tính đến 2010 con số này sẽtăng đến 326 tỷ Euro tương đương 133% GDP)

Biểu đồ 2-6 Biểu đồ so sánh nợ công của Hy Lạp so với khu vực châu Âu

- Sự nghi ngờ của giới đầu tư lên đến đỉnh điểm lần nữa vào tháng 4/2010 khi Cơquan Thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) công bố ước tính về thâm hụt ngânsách của Hy Lạp Với con số 13,6% GDP, ước tính của Eurostat cao hơn hẳn so với con

số ước tính được chính phủ Hy Lạp đưa ra trước đó vào tháng 10/2009 Điều này lặp lạimột câu hỏi về khả năng trả nợ của Hy Lạp với 8,5 tỷ euro (11,1 tỷ đô la Mỹ) đến hạnvào giữa tháng 5/2010 Tới cuối tháng 11, thì những lo ngại về tình trạng vỡ nợ củaDubai World lại dấy lên những quan ngại về khả năng xảy ra tình trạng vỡ nợ quốc giahàng loạt của các chính phủ dưới sức ép của khủng hoảng tài chính, trong đó Hy Lạp vớinhững khoản nợ nước ngoài lớn đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư.Những nghi ngờ về việc chính phủ Hy Lạp đã làm sai lệch số liệu thống kê và cố tìnhche giấu mức độ nợ thật sự nhờ vào các công cụ tài chính phức tạp đã khiến các nhà đầu

tư giảm sút lòng tin nặng nề vào quốc gia này Trước khủng hoảng, lãi suất trái phiếu kỳ

Trang 27

hạn 10 năm của Hy Lạp cao hơn từ 10 đến 40 điểm cơ sở so với trái phiếu cùng kỳ hạncủa Đức thì khi khủng hoảng nợ nổ ra, khoảng cách này tăng lên tới 400 điểm cơ sở vàotháng 01/2010, mức kỷ lục bấy giờ.

Biểu đồ 2-7 Lãi suất Trái phiếu Chính phủ 10 năm qua các năm 2008 – 2011

(Nguồn: ECB – European Central Bank)

- Nợ còn hạn của Hy Lạp lên tới gần 400 tỷ đô la Mỹ, trong đó riêng nợ đến hạnnăm 2010 đã lên tới 73 tỷ đô la Mỹ Lãi suất Hy Lạp phải trả cho các khoản vay nợ lêntới mức kỷ lục cao, trên 9% đối với các khoản vay có kỳ hạn Các nhà đầu tư ngày càngtrở nên lo lắng hơn về khả năng hoàn trả các khoản nợ đến hạn, ước tính vào khoảng 54

tỷ euro (72,1 tỷ đô la) của Hy Lạp cho năm 2010

Trang 28

Bảng 2-1: Số liệu về thực trạng và thâm hụt ngân sách của EU năm 2009

- Hy Lạp đang đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt ngânsách (vượt hơn 13% GDP năm 2010) và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai (trung bìnhvào khoảng 9% GDP) so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone là 1% Cả haimức thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp đều vượt quá trần quyđịnh cho phép của Liên minh Tiền tệ và Kinh tế châu Âu (EMU), đặc biệt là Hiệp ướcBình ổn và Tăng trưởng của Liên minh châu Âu (EU) với quy định trần thâm hụt ngânsách 3% GDP và trần nợ nước ngoài 60% GDP Phần lớn thâm hụt trên tài khoản vãnglai phải bù đắp bằng nguồn vốn đầu tư gián tiếp chứ không phải vốn đầu tư trực tiếp,nghĩa là Hy Lạp gần như hoàn toàn kỳ vọng vào bong bóng giá cổ phiếu và các khoảnvay nước ngoài để thu hút ngoại tệ bù đắp cho tài khoản vãng lai Một khi bong bóng cổphiếu vỡ và không thể vay thêm tiền, Hy Lạp đứng trước rủi ro vỡ nợ lớn

Biểu đồ 2-8 Xác suất vỡ nợ của các quốc gia

Trang 29

Hy Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăngcường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công.

ii Chi tiêu tăng cao trong khi nguồn thu giảm sút

Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàngnăm là 4,3% (2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1% Tuynhiên, trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu củachính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3% GDPcủa EU

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý côngtrong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nướcthành viên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiện

Ngày đăng: 17/03/2015, 14:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2-1: Số liệu về thực trạng và thâm hụt ngân sách của EU năm 2009 - TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2 1: Số liệu về thực trạng và thâm hụt ngân sách của EU năm 2009 (Trang 28)
Bảng 3-2: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam - TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 3 2: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam (Trang 41)
Bảng 3-3: Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP) - TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 3 3: Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP) (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w