1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn tài chính tiền tệ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI MỘT QUAN ĐIỂM XUYÊN QUỐC GIA

26 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 420 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Desi Peneva and Rati RamKhoa Kinh Tế, Trường ĐH Illinois State, Normal, Illinois, USA Tóm tắt Mục đich - Mục đích của bài nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa “sự giới hạn” về c

Trang 1

XUYÊN QUỐC GIA

Nhóm thực hiện: Nhóm 5, QTKD đêm 4, khóa 23

TP HCM, THÁNG 11/2013

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 5

+ Chỉnh sửa sơ lược phần 8

Xem chi tiếtcác phầnđược đánhdấu trongbản tiếnganh gửi kèmtheo hoặcxem phụ lụcbản in

+ Tổng hợp và chỉnh sửa toàn bài

+ Chỉnh sửa sơ lược phần 1,2

CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI: MỘT QUAN ĐIỂM

XUYÊN QUỐC GIA

Trang 3

Desi Peneva and Rati Ram

Khoa Kinh Tế, Trường ĐH Illinois State, Normal, Illinois, USA

Tóm tắt

Mục đich - Mục đích của bài nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa “sự giới hạn”

về chính sách thương mại của 1 quốc gia và phúc lợi kinh tế - xã hội của quốc gia đó thểhiện qua các chỉ số phát triển con người

Thiết kế/ Phương Pháp/ Cách tiếp cận - Chỉ số hạn chế thương mại (TRI) mới được phát

triển gần đây được coi như là chính xác hơn so với hầu hết các chỉ số về chính sách thươngmại hay “chính sách hướng ngoại” đang hiện hành, chỉ số này liên quan tới tỷ lệ tử vong ởtrẻ sơ sinh, trẻ em, sản phụ, khả năng tiếp cận nguồn nước sạch, tiếp cận với điều kiện vệsinh cơ bản, theo học phổ thông trung học, đều là những thước đo phổ biến và quan trọngcho sự phát triển con người của một quốc gia và liên quan chặt chẽ với một vài mục tiêuphát triển thiên niên kỷ Bên cạnh việc xem xét sự hiệp biến giữa TRI và 6 thước đo sự pháttriển của con người, chuyên đề này cũng nghiên cứu những kết quả ước lượng từ những môhình hồi quy cụ thể Việc kiểm tra độ nhạy được tiến hành bằng cách xem xét những hiệpbiến và ước lượng hồi quy giữa một chỉ số thể hiện chính sách thương mại khác và cácnhóm quốc gia khác nhau

Những phát hiện- Đa số các bằng chứng cho thấy rằng, trái hẳn với các quan điểm được

chia sẻ và phổ biến rộng rãi trước đây, thì không có dấu hiệu nào cho thấy chính sáchthương mại càng hạn chế có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể tới sự phát triển con người hayphúc lợi về kinh tế-xã hội Mọi mối liên hệ giữa chỉ số hạn chế thương mại và các chỉ sốphát triển con người gần bằng không Gần như tất cả các hệ số hồi quy của chỉ số hạn chếthương mại đều thiếu ý nghĩa thống kê tại tất cả các mức ý nghĩa, và thông qua 2 thước đo

là chính sách thương mại và các nhóm quốc gia khác nhau chúng ta có được mô hình đồngnhất

Những ý nghĩa về mặt xã hội – Bằng chứng cho thấy rằng chúng ta cẩn thận trọng trong

việc phổ biến rộng rãi quan điểm cho rằng chính sách hạn chế thương mại sẽ gây ảnh hưởngxấu tới phúc lợi về kinh tế - xã hội của một quốc gia Đặc biệt, điều đó cũng chỉ ra rằng các

tổ chức quốc tế và chính phủ của các nước phát triển không nên áp đặt chính phủ của các

Trang 4

nước đang phát triển phải thực hiện những chính sách thương mại mang tính "hướng ngoại"hơn mà hãy để chính họ tự lựa chọn sách thương mại mà phù hợp với đất nước của mình.Những kết quả tính toán cũng củng cố quan điểm cho rằng các học giả cần đặc biệt quantâm tới việc lựa chọn những thước đo về chính sách thương mại cởi mở của 1 quốc gia đểnghiên cứu mối quan hệ gữa chính sách thương mại và phúc lợi kinh tế-xã hội

Tính độc đáo / giá trị - Trong hàng loạt các tài liệu nghiên cứu về quan hệ giữa chính sách

thương mại và phúc lợi kinh tế, bài nghiên cứu này có lẽ là bài duy nhất kết nối 6 thước đoquan trọng của phát triển con người với 1 chỉ số đươc coi là có khả năng nhất dùng để đolường sự hạn chế trong chính sách thương mại của 1 quốc gia Do đó, nghiên cứu này, vốnđược dựa trên một mẫu thử xuyên quốc gia khá lớn, có thể có ý nghĩa với nghiên cứu khoahọc về đề tài này và chính sách liên quan

Từ khóa: Chính sách thương mại, Định hướng hướng ngoại, Chỉ số giới hạn thương mại,

Phát triển nguồn nhân lực, Thương mại

Thể loại: Nghiên cứu khoa học

1 Giới thiệu:

Mối quan hệ giữa việc định hướng chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia

và phúc lợi về kinh tế - xã hội của quốc gia đó là chủ đề của rất nhiều thảo luận mang tínhhọc thuyết cũng như chính sách Câu hỏi đề cập đến trong các cuộc tranh luận là liệu mộtchính sách thương mại "cởi mở" hơn, "hướng ngoại" hơn, hay 1 chính sách thương mại íthạn chế hơn sẽ có tác động tích cực đối với phúc lợi về kinh tế - xã hội của 1 quốc gia haynói cách khác, liệu chính sách thương mại hạn chế hơn có gây hợp bất lợi với phúc lợi kinh

tế - xã hội của một đất nước hay không Ngoài vô số những nghiên cứu đã được tiến hành,các cuộc khảo của Edwards (1993), Rodriguez và Rodrik (2001), Winters (2004) và Hallaert(2006) đã cho thấy sự nỗ lực lớn của giới khoa học trong việc lý giải vấn đề này Rodriguez

và Rodrik (2001,trang 261) chỉ ra rằng trong lịch sử kinh tế, đã có một vài câu hỏi đượctranh luận gay gắt mà một trong những câu hỏi đó là liệu các quốc gia có ít rào cản thươngmại hơn sẽ đạt hiệu quả kinh tế tốt hơn

Mặc dù còn có vài quan điểm khác nhau trong kết luận nghiên cứu về chủ đề này,quan điểm chiếm ưu thế cho rằng một chính sách thương mại ít bị hạn chế sẽ thúc đẩy tăng

Trang 5

trưởng kinh tế và phúc lợi của một quốc gia Rodriguez và Rodrik (2001) nhận thấy có mộtquan điểm phổ biến trong các chính sách ở các nước Bắc Mỹ và châu Âu đó là trong lịch sửkinh tế cận đại cho thấy một quốc gia với chính sách thương mại ít hạn chế hơn thì sẽ cóhiệu quả kinh tế hơn và thịnh vượng hơn Họ chỉ ra rằng quan điểm này cũng rất phổ biếntrong các ngành kinh tế Dựa trên quan điểm đó, "điều kiện" và "những phương án điềuchỉnh cơ cấu" của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới WB thường yêu cầuhoặc bắt buộc các nước đang phát triển áp dụng chính sách thương mại "mở cửa".

Mặc dù quan điểm này là phổ biến và được nhiều người công nhận, tuy nhiên nócũng có một số nhược điểm đáng kể Một vài nhược điểm đó đã được Rodriguez và Rodrik(2001) và các học giả khác nghiên cứu Một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là hầu hết cácnghiên cứu về chủ đề này đã sử dụng các chỉ số đại diện cho “tính hướng ngoại” hoặc “mởcửa” của chính sách thương mại một cách thiếu sót và có lẽ không phù hợp Rodriguez vàRodrik (2001, trang 265) cho rằng hầu hết các nghiên cứu kinh tế xuyên quốc gia vào cuốinhững năm 1980 tập trung vào mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng chứ không phảitập trung vào chính sách thương mại và tăng trưởng Bên cạnh xuất khẩu, “việc mở cửa”,được định nghĩa bằng tỷ lệ giữa tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu so với GDP, cũng đãđược sử dụng rộng rãi như là một chỉ số của chính sách thương mại, mặc dù trên thực tếcách tính toán như vậy là không chính xác Liên quan đến việc cải thiện một phần nào cácchỉ số được sử dụng trong một số nghiên cứu thực nghiệm vào cuối những năm 1980,Rodriguez và Rodrik (2001, trang 265) nhận thấy rằng trong “nhiều trường hợp, các chỉ số

về độ mở cửa được các nhà nghiên cứu sử dụng đang có vấn đề” Tương tự, Pritchett (1996,trang 307) cũng thấy được sự thiếu tương quan giữa 6 thước đo tương đối phức tạp về chínhsách thương mại đã đặt ra những câu hỏi rõ ràng về độ tin cậy của những thước đo nàytrong việc nắm bắt một số khía cạnh phổ biến của chính sách thương mại [1] Thậm chí liênquan đến các chỉ số gần đây, Coughlin (2010, trang 381) cho rằng, không giống như các chỉ

số hạn chế thương mại (TRIs), các thước đo hạn chế thương mại thông dụng “được mô tả làkhông dự tính được, và do đó có nhiều sai sót”, và rằng chúng ta nên hoài nghi tính chínhxác của những nghiên cứu sử dụng các thước đo không chính xác này để nghiên cứu tácđộng của chính sách thương mại đối với phúc lợi kinh tế

Trang 6

Nghiên cứu này đóng góp cho đề tài này trên 3 khía cạnh Đầu tiên, thước đo chính

về chính sách thương mại của chúng tôi là một chỉ số về mức độ hạn chế thương mại mớiđược phát triển gần đây bởi Kee et al (2009) Chỉ số này dùng để tính toán cho cả các hàngrào thuế quan và phi thuế quan (NTBs) và tính toán cho mỗi quốc gia một con số tươngứng, phản ảnh mức thuế thống nhất mà nếu áp dụng cho nhập khẩu thay thế cho các hệthống bảo hộ hiện hành, sẽ giúp giữ nguyên mức phúc lợi hiện thời của quốc gia đó Vì vậy,chỉ số này có vẻ vượt trội hơn so với các chỉ số khác đại diện chính sách thương mại đangđược sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu Thứ hai, thay vì tìm hiểu mối quan hệ giữa chínhsách thương mại với thu nhập hoặc tăng trưởng kinh tế, như đã được thực hiện trong hầu hếtcác nghiên cứu về chủ đề này, chúng tôi tìm hiểu mối quan hệ giữa các chính sách hạn chếthương mại với 6 thước đo trực tiếp phúc lợi kinh tế - xã hội của một quốc gia [2] Đó là tỷ

lệ tử vong trẻ sơ sinh, xác xuất tử vong ở trẻ em (dưới 5 tuổi), tỷ lệ tử vong người mẹ, mức

độ tiếp cận nước sạch, điều kiện vệ sinh cơ bản, và tỷ lệ theo học trường cấp 2 Đây lànhững chỉ số trong các chỉ số quan trọng nhất về phát triển con người và mức độ phúc lợicủa kinh tế-xã hội và bao gồm một số mục tiêu của Tuyên bố thiên niên kỷ (MDGs) Thứ

ba, chúng tôi đưa ra sự so sánh trong trường hợp thước đo về chính sách thương mại cơ bảnđược biểu thị bởi một chỉ số khác, chỉ số này được xác định dựa trên cùng một nguyên tắcnhưng chỉ thể hiện cho các biện pháp thuế quan, do đó nó không đầy đủ và chưa thỏa đáng

2 Mô hình, dữ liệu và các kết quả chính

Bên cạnh việc nghiên cứu về các hiệp biến cơ bản giữa chỉ số chính sách thương mại

và các chỉ số về phúc lợi, một mô hình hồi quy chi tiết như sau:

Trong đó Hij thể hiện chỉ số phát triển con người thứ j của quốc gia thứ i; TRIi là chỉ

số đại diện cho việc hạn chế của chính sách thương mại của quốc gia; RY là chỉ số thu nhậpbình quân trên đầu người; DC nhận giá trị 1 đối với quốc gia phát triển, ngược lại thì nhậngiá trị 0; các biến u là những sai số ngẫu nhiên, và n là số lượng các quốc gia

Như đã đề cập trong phần trước, 6 chỉ số về phát triển con người là:

(1) Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh

(2) Xác xuất tử vong ở trẻ em (dưới 5 tuổi)

Trang 7

đã liệt kê Rodriguez và Rodrik (2001,trang 264, 311) đã giải thích rằng các thước đo lưuchuyển thương mại ví dụ như tỷ lệ thương mại – GDP mà rất nhiều nghiên cứu sử dụngkhông phải là những thước đo chính xác cho chính sách thương mại bởi vì những lưuchuyển thương mại còn phụ thuộc vào vài yếu tố khác ngoài chính sách thương mại Họcũng giải thích (2001, trang 287-91) rằng khoản chênh lệch của thị trường chợ đen về tỷ giáhối đoái, thước đo được được sử dụng phổ biến, không phải là một thước đo chính xác chochính sách thương mại vì nó cũng là một chỉ số đại diện cho nhiều biến số khác không liênquan đến chính sách thương mại Liên quan đến các chỉ số định hướng thương mại, kể cảchỉ số có ảnh hưởng lớn như Sachs-Warner, Yanikkaya (2003, trang 66) kết luận rằngnhững chỉ số đó vẫn có những thiếu sót quan trọng trong việc đo lường chính sách thươngmại của một quốc gia Đối với những thước đo chỉ dựa trên thuế quan, Manole vàSpatareanu (2001) lưu ý rằng chỉ thuế quan đơn thuần hay thuế quan tính theo bình quân giaquyền thương mại sẽ không đủ cơ sở lý luận Coughlin (2010, trang 385) cũng chỉ ra rằng tỉ

lệ thuế quan tính theo bình quân gia quyền thương mại là là 1 thước đo khiếm khuyết.Những hàng rào phi thuế quan như quota, thuế chống bán phá giá hoặc những quy định về

kỹ thuật hoặc độ an toàn được đặt ra thậm chí còn có tác động lớn hơn nhiều Kee el at.(2009, trang 173) cũng đã nêu ra những thiếu sót khi chưa tính toán đầy đủ tác động củahàng rào phi thuế quan trên các phương diện như tần số và độ bao phủ, chênh lệch giá cảhoặc những biện pháp hạn chế số lượng Như Coughlin (2010) cũng đã giải thích, TRIs xâydựng bởi Kee el at.(2009) có những ưu điểm sau:

- bao gồm cả những hạn chế thuế quan và phi thuế quan trong chỉ số này

Trang 8

- tuân thủ một quy trình lý thuyết hợp lý, dựa trên phân tích cân bằng từng phần, tínhtoán tổng hợp thuế nhập khẩu trên nhiều mặt hàng; và

- ước lượng được giá trị của những hàng rào phi thuế quan theo giá trị thuế quan thực

tế tương ứng của mỗi quốc gia

Chính vì vậy, chỉ số này đã trả lời được những câu hỏi sau đây: nếu 1 quốc gia muốngiữ nguyên phúc lợi của mình ở mức hiện tại thì quốc gia đó cần phải áp dụng một mứcthuế quan nhập khẩu chung là bao nhiêu thay vì việc áp dụng đồng thời cả thuế quan và cácbiện pháp bảo hộ phi thuế quan khác như hiện nay Do đó sẽ là hợp lý nếu cho rằng hệ sốTRI mà Kee el at (2009) đã xây dựng là chính xác hơn tất cả các chỉ số khác đã từng được

sử dụng và nó đặc biệt phù hợp với những vấn đề trong bài nghiên cứu này [3]

Biến thu nhập phổ biến là GDP bình quân đầu người tính bằng đôla quốc tế lấy từbảng Penn World (PWT)

Thông tin về các biến liên quan đến phát triển con người được lấy từ các nguồn đạttiêu chuẩn Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, trẻ dưới 5 tuổi, mức độ tiếp cận nước sạch và điều kiện

vệ sinh cơ bản được lấy từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2010a) Tỷ lệ tử vong ở người mẹ

là từ WHO (2010b) và tỷ lệ theo học trung học là từ Ngân hàng Thế giới (2011) Tất cả đều

là trong năm 2008 hoặc những năm gần đó

Thông tin chỉ số TRI được lấy từ Coughlin (2010, trang 390-1), và lấy từ Kee el at.(2009, trang 192-4) Những chỉ số này dựa vào số liệu từ những năm 2000 GDP thực tếbình quân đầu người năm 2001 từ bảng PTWW được trích từ Heston và el at (2009) Do

đó, theo thời gian cả chính sách thương mại và các biến thu nhập được xác định có liênquan đến các sự báo về phát triển con người

Nên chú ý rằng, mặc dù mô hình này rất đơn giản, nhưng thể hiện được bản chất củamối quan hệ, và chia sẻ tinh thần của thực nghiệm sơ bộ của Rodriguez và Rodrik (2001,trang 263) và của Kee và các cộng sự (2009 trang 197) Ngoài chính sách thương mại, thunhập bình quân đầu người là một nhân tố quan trọng hiển nhiên của sự phát triển con người.Biến giả DC được sử dụng để mô tả sự không đồng nhất về mặt cấu trúc có thể có ở mức độthấp giữa các nước phát triển và đang phát triển

Trang 9

Mặc dù phương trình (1) là phương trình tuyến tính, phiên bản logarit của nó cũngđược ước tính Hơn nữa, ngoài việc ước lượng được mô hình đầy đủ của phương trình (1),một phiên bản rút gọn không có tính thu nhập cũng được đưa ra Các biến này cũng trở nênhữu ích đối với việc dự đoán các mô hình thô

Một vài nhận xét về việc giải thích hệ số thu nhập và TRI trong phương trình (1)dường như hữu dụng Trong phương pháp hồi quy không bao gồm thu nhập, hệ số TRI cóthể được hiểu như sự kết hợp "toàn bộ" hay "toàn diện" hệ số TRI với mỗi chỉ số phát triểncon người Nó phản ánh cả tác động trực tiếp và vai trò gián tiếp phát sinh từ ảnh hưởng củaTRI đến các biến số khác, bao gồm cả thu nhập, điều đó có thể tác động đến phát triển conngười Hệ số thu nhập nhập và TRI có thể thay thế cho nhau, hệ số TRI phản ánh những tácđộng trực tiếp của chính sách thương mại mà không cần đề cập đến thu nhập Nhiều cơ chếnhư vậy đã được đề xuất trong các tài liệu Ví dụ, Owen và Wu (2007) đã chỉ ra rằng sựcộng khai thông tin có mối liên hệ với sự lan tỏa kiến thức về sức khỏe, trong mô hình tănglưu lượng thông tin về các phương pháp điều trị thích hợp cho những căn bệnh khác nhau,các thói quen có lợi cho sức khỏe hay việc thiết kế và quản lí các chương trình y tế cộngđồng Việc công khai lợi ích y tế có thể được thực hiện thông qua việc tăng khả năng tiếpcận với thuốc và vật tư y tế ở các nước đang phát triển

Neumayer và de Soysa (2007 , pp.1531 -2 ) phát biểu rằng việc tăng cường mở cửa(toàn cầu hóa) có mối liên hệ với các quyền lợi về kinh tế tốt hơn dành cho phụ nữ, giảm tỷ

lệ lao động trẻ em và bóc lột sức lao động ,và giảm thiểu việc vi phạm luật lao động.Bussmann (2009) lưu ý rằng sự mở cửa nên kinh tế có thể làm tăng chi tiêu công và tăng chitiêu của chính phủ cho an ninh xã hội, giáo dục và y tế Bà đưa ra giả thuyết rằng sự mởcửa buộc các chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn cho y tế và giáo dục cho lực lượng lao động

để duy trì năng lực cạnh tranh trong một thị trường toàn cầu Bà cũng cho rằng sự mở cửanền kinh tế có thể làm tăng sự tham gia của lực lượng lao động nữ và thu nhập của họ, giúp

họ cải thiện sức khỏe, giáo dục và cũng trả giá bằng việc chậm trễ trong hôn nhân và sinh

đẻ Bergh và Nilsson (2010) phát biểu quan điểm sự mở cửa có thể thay đổi phân phối thunhập trong nước điều này có thể tác động phát triển con người Việc tăng cường việc mởcửa có thể liên quan đến việc giảm chất lượng môi trường sống, căng thẳng hơn trong cuộc

Trang 10

sống, và sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm Do đó, dựa vào các chỉ số về hạn mức thunhập, hệ số TRI cho biết ảnh hưởng của việc kết hợp tất cả các cơ chế này hầu như đềuđược công nhận có sự liên kết tích cực với việc phát triển con người.

Trong khi hệ số đại diện chính cho chính sách thương mại chúng tôi sử dụng là TRI ,chúng tôi cũng sử dụng một chỉ số khác được viết trong Kee et al (2009), với cùng phươngpháp tương nhưng chỉ dựa trên mức thuế Chúng tôi gọi chỉ số chưa đầy đủ, hợp lý này làTRITAR ,và thực hiện so sánh các mối tương quan, ước lượng hồi quy cho TRI và cho cảTRITAR [4] Những so sánh này về bản chất cũng khá lý thú và cũng có thể cung cấp thêmdấu hiệu chỉ ra sự vững chắc của mô hình

Bảng I trình bày các mô tả biến chính, các nguồn dữ liệu và số liệu thống kê cơ bản

Số lượng quan sát bị hạn chế vì chỉ có 77 quốc gia có hệ số TRI Kee et al (2009 ) đã xemLiên minh châu Âu (EU) như “một quốc gia”, điều này dẫn đến một sự cắt giảm số lượngcác quan sát Phụ lục 1 liệt kê các nước và những nước được coi là phát triển đều đượcđánh dấu

Coughlin (2010)

Tỉ lệ tử vong ở bà mẹ trên 10.000 ca sinh sống vì lý do liên quan đến sinh đẻ trong quá trình mang thai và sinh con

WHO (2010b) 174.51 225.94 76 WAT (%) Phần trăm dân số tiếp cận với nước sạch WHO (2010a) 86.39 16.16 71 SAN (%) Phần trăm dân số được tiếp cận với điều kiện vệ sinh

cơ bản WHO (2010a) 71.12 28.18 69SEC (%) Phần trăm dân số học PTTH đúng độ tuổi The World

Bank (2011) 75.76 27.48 68TRITAR (0-1) TRI sử dụng riêng cho hệ thống thuế , bắt đầu từ Kee et al 0.16 0.09 77

Trang 11

những năm 2000(Giá trị càng lớn chỉ ra nhiều hạn chế trong chính sách thương mại)

(2009)

WBTARIFF(%) Thuế quan trung bình có trọng số trên tất cả các sản

phẩm, từ năm 2002-2003

The World Bank (2006)

7.77 5.68 75

BảngI Mô tả biến và thống kê mẫu

Lưu ý:Các mức ý nghĩa và độ lệch chuẩn trong bảng báo cáo là số giản đơn (không

có trọng số) được tính bởi SAS

Bảng II cho thấy mối tương quan của hệ số TRI với mỗi chỉ số trong sáu chỉ số pháttriển con người và với thu nhập bình quân đầu người TRITAR cũng có mối tương quantương tự Năm điểm chính cũng được đưa ra trong bảng Thứ nhất, tương quan của TRI vớimỗi chỉ số là gần bằng không, và không có dấu hiệu cho thấy một chính sách thương mạithắt chặt hơn (giá trị TRI lớn hơn) làm giảm phúc lợi kinh tế, xã hội Thứ hai, mặc dù chưađầy đủ và chưa hợp lý , thậm chí TRITAR hầu như không có mối tương quan với mỗi chỉ số[5] Thứ ba, xem xét các dấu hiệu của các mối tương quan, TRI có sự liên kết với tỷ lệ tửvong ở trẻ sơ sinh và trẻ em Chính sách thương mại càng thắt chặt ( giá trị TRI càng lớn )làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ em Thứ tư, TRITAR cũng cho thấy mối liên hệ với

tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em Thứ năm, TRI hầu như không có một mối tương quanvới biến thu nhập bình quân, trong khi TRITAR có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập Cácmối tương quan này, đặc biệt là đối với TRITAR, đi ngược lại với quan điểm phổ biến chorằng một chính sách thương mại thắt chặt làm giảm thu nhập và tăng trưởng

IMR -0.005 -0.009 UND5 -0.011 -0.007 MMR 0.076 0.009 WAT -0.006 -0.031 SAN -0.026 -0.060 SEC -0.048 -0.006

RY -0.003 0.231 *

Trang 12

BảngII Mối liên hệ của hệ số TRI với các chỉ số phát triển con người

Lưu ý:*Ý nghĩa thống kê của giá trị p ở mức 5% được tính bởi SAS, hãy xem bảng I

để biết định nghĩa các biến

Bảng III bao gồm các kết quả hồi quy chính Nó cho thấy ước tính của phương trình(1) khi các biến được nhập vào và phiên bản logarit (trừ DC) Trong mỗi trường hợp, ướctính toàn bộ mô hình được hiển thị cùng với các phiên bản rút gọn, bỏ qua số liệu thu nhập

Số liệu thống kê hiển thị trong bảng được dựa vào phương sai thay đổi và sai số chuẩn.Bảng này chỉ ra một số điểm

Thứ nhất, khía cạnh nổi bật nhất của ước tính là có rất ít dấu hiệu cho thấy một chínhsách thương mại càng thắt chặt (giá tri TRI lớn hơn) có mối liên hệ bất lợi đến các chỉ sốphát triển con người Không một hệ số nào có trong 24 hệ số của TRI (hoặc logarit của nó)

có nghĩa ở mức ý nghĩa 5%, và chỉ có một hệ số có nghĩa ở mức 10% Xem xét các dấu hiệucủa các hệ số TRI, mười ước tính cho thấy một sự liên kết tích cực giữa hệ số TRI với cácchỉ số phát triển con người

Thứ hai, sự nhất quán đáng kể giữa các ước tính từ các phiên bản tuyến tính vàlogarit , và do đó cũng là sự gắn kết giữa mô hình đầy đủ với mô hình rút gọn Chúng đưa radấu hiệu chắc chắn rằng một mô hình chính với một hệ số TRI lớn không phải là sự liên kếtbất lợi đối với phát triển con người

Thứ ba, các biến thu nhập thể hiện ý nghĩa thống kê cao và có dấu hiệu kì vọng trong mọi trường hợp Xét sự phù hợp của hàm hồi quy, thu nhập được coi như là tác độngchính và quan trọng nhất đến việc phát triển con người

Phần A-hồi quy tuyến tính [H= a + b(TRI) + c (RY) + d (DC) + u]

Trang 13

Có tính RY 245.021(3.30) 176.247(0.89) -15.002(- 3.17) 198.328(1.60) 0.30 76Không tính RY 159.504(15.17)* 102.135(0.45) -181.003(-6.50) * 0.07 76

Phần trăm dân số tiếp cận nước sạch (WAT)

Có tính RY 72.611(13.24)* 4.294(0.38) 1.650(4.39)* -27.783(- 2.74)* 0.39 71Không tính RY 84.502(15.17)* 0.542(0.04) 15.202(7.26) * 0.09 71

Phần trăm dân số tiếp cận với điều kiện vệ sinh cơ bản(SAN)

Có tính RY 42.140(5.44) * 7.666(0.45) 3.788(8.44)* -73.554(- 6.16)* 0.53 69Không tính RY 68.918(8.01) * -3.214(- 0.14) 32.102(9.03) * 0.12 69

Phần trăm đi học PTTH đúng tuổi (SEC)

Có tính RY 63.187(7.52) * -12.653(- 0.64) 1.621(3.45)* - 0.429( - 0.03) 0.42 68Không tính RY 74.852(8.61) * - 9.667(- 0.40) 39.887(5.51) * 0.20 68

Part B – hồi quy logarit [LH = a + b (LTRI) + c (LRY) + d (DC) + u]

Tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi (LIMR)

Có tính RY 10.200(16.73)* 0.208(1.65) - 0.806(-12.01)* - 0.228(-1.04) 0.76 76Không tính RY 3.198(10.60)* 0.073(0.28 -1.755(-10.11)* 0.27 76

Xác xuất tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi (LUND5)

Tính với RY 11.254(17.32)* 0.173(1.28) -0.906(-12.60)* -0.119(-0.53) 0.77 76Không tính RY 3.383(10.00)* 0.020(0.07) -1.836(-10.22)* 0.25 76

Tỉ lệ tử vong ở bà mẹ (LMMR)

Có tính RY 14.544(20.28)* 0.302(1.73)** -1.143(-14.64)* -0.060(-0.21) 0.75 76Không tính RY 4.614(11.13)* 0.1100.32 -2.226(-9.42)* 0.23 76

Phần trăm dân số tiếp cận nước sạch (LWAT)

Có tính RY 2.837* 0.022 0.191* -0.189* 0.61 71

(13.38) (0.67) 7.55 (-4.41) Không tính RY 4.457(57.42)* 0.034(0.53) 0.189(6.38)* 0.07 71

Phần trăm dân số tiếp cận với điều kiện vệ sinh cơ bản(LSAN)

Có tính RY 0.053(0.10) 0.032(0.34) 0.487(7.49)* -0.482(-4.44)* 0.59 69Không tính RY 4.134(22.40)* 0.048(0.31) 0.521(6.90)* 0.07 69

Phần trăm đi học PTTH đúng độ

tuổi (LSEC)

Có tính RY 0.948 * -0.002 0.380 * -0.191 * 0.72 68

(2.73) (-0.03) (9.64) (-1.90) Không tính RY 4.216 * 0.026 0.517* 0.12 68

Ngày đăng: 17/03/2015, 14:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng I trình bày các mô tả biến chính, các nguồn dữ liệu và số liệu thống kê cơ bản. - Tiểu luận môn tài chính tiền tệ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI MỘT QUAN ĐIỂM XUYÊN QUỐC GIA
ng I trình bày các mô tả biến chính, các nguồn dữ liệu và số liệu thống kê cơ bản (Trang 10)
Bảng II cho thấy mối tương quan của hệ số TRI với mỗi chỉ số trong sáu chỉ số phát triển con người  và  với thu nhập bình quân đầu người - Tiểu luận môn tài chính tiền tệ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI MỘT QUAN ĐIỂM XUYÊN QUỐC GIA
ng II cho thấy mối tương quan của hệ số TRI với mỗi chỉ số trong sáu chỉ số phát triển con người và với thu nhập bình quân đầu người (Trang 11)
Bảng III bao gồm các kết quả hồi quy chính. Nó cho thấy ước tính của phương trình - Tiểu luận môn tài chính tiền tệ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI MỘT QUAN ĐIỂM XUYÊN QUỐC GIA
ng III bao gồm các kết quả hồi quy chính. Nó cho thấy ước tính của phương trình (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w