1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

81 502 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Đề xuất các giải pháp để thực hiện quản lý việc chuyển đổi ngành nghề sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao kết hợp với phát triển bền vững trong nông nghiệp và nông thôn Hà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ THÚY

QUẢN LÝ NHỮNG THAY ĐỔI TRONG CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH

HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội - Năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ THÚY

QUẢN LÝ NHỮNG THAY ĐỔI TRONG CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ

NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Bích Đào

Hà Nội – Năm 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “ Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” là

công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong suốt thời gian học tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Bích Đào đã tận tình hướng

dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2010 Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ……….ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THAY ĐỔI TRONG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 6

1.1 Quản lý sự thay đổi trong xã hội hiện đại 6

1.1.1.Khái niệm về quản lý sự thay đổi 6

1.1.2 Nội dung quản lý sự thay đổi 8

1.2 Nhận thức về hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 10

1.2.1 CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn 10

1.2.2 Quan niệm nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp hiện đại 14

1.3 Điều kiện tiền đề của CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn 16

1.3.1 Chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn 16

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 22

Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 30

2.1 Tổng quan về nông nghiệp nông thôn 30

2.1.1 Tình hình sản xuất kinh doanh trong nông thôn 30

2.1.2 Phát triển kinh tế nông thôn 36

2.2 Tình hình chuyển đổi ngành nghề ở ngoại thành Hà nội hiện nay 38

2.2.1 Chuyển đổi ngành nghề theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 39

2.2.2 Chuyển đổi cơ cấu ngành nghề ở ngoại thành Hà Nội trong những năm qua 49

2.3 Đánh giá thực trạng quá trình chuyển đổi ngành nghề 52

Trang 5

2.3.1 Những thành tích đạt được 52

2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 53

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 55

3.1 Định hướng phát triển các dự án chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà nội trong thời gian tới 55

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển các dự án chuyển đổi ngành nghề ở ngoại thành Hà Nội 55

3.1.2 Chính sách hỗ trợ phát triển 60

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuyển đổi ngành nghề ở ngoại thành Hà Nội 61

3.2.1 Thiết lập các mục tiêu, kế hoạch cụ thể, kiện toàn và phát triển các làng nghề 61

3.2.2 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội 62

3.2.3 Hình thành quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm 65

3.2.4 Ban hành các chính sách ưu đãi 66

3.2.5 Tăng cường sự điều tiết và quản lý của nhà nước 68

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

3 CNH- HĐH Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa

4 CN - TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

5 FAO Tổ Chức Lương-Nông Thế Giới

8 HĐND TP Hội đồng nhân dân thành phố

9 HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp

10 IWRA Hiệp Hội Nước quốc tế

14 QHKT Quy hoạch kiến trúc

16 UBND TP Uỷ ban nhân dân Thành phố

17 WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade

Organization)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Phân ngành nông nghiệp tại Việt Nam 17

2 Bảng 1.2 Đô thị hóa Trung Quốc trước năm 2000 24

3 Biểu 1.3 Đô thị hóa Trung Quốc từ năm 2000 trở lại đây 24

4 Bảng 2.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo ngành hoạt động 31

5 Bảng 2.2 Giá trị sản xuất trong nước theo giá thực tế 36

6 Bảng 2.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo địa phương 39

7 Bảng 2.4 Cơ cấu sử dụng đất tính theo địa phương 42

8 Bảng 2.5 Số hợp tác xã phân theo địa phương 42

9 Bảng 2.6 Hiện trạng sử dụng đất phân theo địa phương 45

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với sản xuất xã hội, dân cư và nguồn lao động có vai trò đặc biệt quan trọng Một mặt dân cư và nguồn lao động với thể lực, trí lực và kinh nghiệm sản xuất của mình đã sử dụng các tư liệu lao động tác động vào các đối tượng lao động một cách chủ động, có kế hoạch để tạo ra các sản phẩm nhằm đạt tới mục đích sản xuất Do đó họ là chủ thể của hoạt động sản xuất giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, nhờ đó được xem là lực lượng sản xuất

cơ bản của xã hội

Bên cạnh đó dân cư và nguồn lao động còn là nguồn tiêu thụ chủ yếu các sản phẩm được xã hội sản xuất ra Bởi vì muốn có sản xuất trước hết phải có nhu cầu Con người trong quá trình sống, sinh hoạt và sản xuất thường làm nảy sinh các nhu cầu Khi có các nhu cầu chính đáng cần thiết người ta liền tổ chức sản xuất để tạo ra các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu Do đó các sản phẩm được sản xuất ra dù là tư liệu sản xuất hay sản phẩm tiêu dùng đều chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người Nhưng thông qua quá trình tiêu thụ, con người lại

có tác động trở lại rất lớn tới sản xuất Vì vậy có thể coi dân cư và nguồn lao động là động lực chính để thực hiện và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển

Nghề nghiệp kinh nghiệm sản xuất trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của dân cư và nguồn lao động có ảnh hưởng rất lớn tới chi phí đào tạo, tới thời hạn đưa người lao động tham gia vào chu trình sản xuất xã hội, tới vịêc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tới việc tiếp nhận các thay đổi không ngừng về trang thiết bị, về công nghệ sản xuất

Khi phát triển và phân bố sản xuất cần tận dụng tối đa các nghề nghiệp vốn có của người lao động, nhất là các nghề có tính chất đặc thù hoặc truyền thống, khai thác tối đa các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến của từng người, của từng dân tộc Bên cạnh đó cần tận dụng các lợi thế về trình độ văn hoá, trình độ

Trang 10

khoa học kỹ thuật để đưa nhanh người lao động vào chu trình sản xuất đảm bảo sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, hiệu quả kinh tế cao

Trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm ngày càng chứa đựng dung lượng khoa học kỹ thuật cao, khi đổi mới kịp thời công nghệ, trang thiết

bị sản xuất là chìa khoá cho sự thành công của từng doanh nghiệp thì vai trò ảnh hưởng của mặt này ngày càng quan trọng đến việc tổ chức nền kinh tế- xã hội trong từng vùng đất nước Tuy nhiên trong việc sử dụng ngành nghề truyền thống, cần chú ý đến các ngành nghề có triển vọng, nhưng đồng thời phải hạn chế hoặc loại bỏ những ngành nghề không phù hợp gây hại đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Chính vì lí do trên tôi chọn đề tài “Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay có rất nhiều các tài liệu, giáo trình, luận văn và các công trình nghiên cứu về vấn đề lao động và vịêc làm cũng như sự phân bổ lại cơ cấu ngành nghề cho phù hợp với giai đoạn hiện nay

Trong tác phẩm “Một số vấn đề phát triển nông thôn” Đặng Kim Sơn - Hoàng Thu Hòa Nhà xuất bản thống kê đã nêu lên thực trạng của phát triển nông thôn hiện nay: những thành tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại

Lê Đình Thắng trong tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn – Những vấn đề lí luận và thực tiễn” đã nêu rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông thôn từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp Tác phẩm cũng nêu rõ những vấn đề thực tiễn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở nông thôn hiện nay…

Tuy nhiên những tác phẩm này mới chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ quy

mô tổng thể, nghiên cứu từng khu vực, từng vùng mà chưa có sự phân tích so sánh với đặc trưng của từng cá thể kinh tế riêng lẻ Với xu hướng nghiên cứu

Trang 11

từng đơn vị kinh tế cụ thể đặc trưng kinh tế riêng biệt sẽ giúp các chủ thể kinh

tế có thể sử dụng thông tin một cách chính xác, tiếp cận được với thực trạng kinh tế đặc trưng của từng vùng từ đó có được những quyết định đầu tư đúng đắn tiết kiệm chi phí và các nguồn lực

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

+ Hệ thống hoá những lý luận chung về quản lý sự thay đổi

+ Nghiên cứu thực trạng của việc chuyển đổi ngành nghề của Hà nội trong tiến trình đô thị hóa hiện nay

+ Đề xuất các giải pháp để thực hiện quản lý việc chuyển đổi ngành nghề sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao kết hợp với phát triển bền vững trong nông nghiệp và nông thôn Hà Nội

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Tiếp cận các luận điểm nghiên cứu của Việt Nam và của các nước trên thế giới về vấn đề lao động việc làm và chuyển đổi ngành nghề

+ Tìm hiểu thực trạng của vấn đề chuyển đổi ngành nghề ở ngoại thành Hà Nội hiện nay

+ Phân tích, đánh giá thực trạng của công tác chuyển đổi ngành nghề ở Ngoại thành Hà nội và đề xuất các giải pháp sao cho phù hợp với vị trí địa lý của Hà Nội giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Quản lý những thay đổi trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

- Chuyển đổi ngành nghề trong nông nghiệp nông thôn

* Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: nghiên cứu tại một số vùng nông thôn thuộc ngoại thành Hà nội đã đang và có quá trình công nghiệp hoá đô thị hoá nhanh, phát triển

Trang 12

nhiều khu công nghiệp, đô thị và kết cấu hạ tầng như huyện Sóc Sơn, Đông Anh, và một số huyện mới được sáp nhập về Hà nội

- Về thời gian: Giai đoạn Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới và tiến trình thực hiện Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp được sử dụng trong luận văn này là các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, tư duy logic và các phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích, phương pháp toán học Tác giả quan sát, phân tích và dựa vào các số liệu thống kê cụ thể về tình hình việc làm và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề ở ngoại thành Hà nội trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới, dựa vào các báo cáo, các nghiên cứu có trước để tìm kiếm, khám phá và tìm ra những điểm khác nhau trong lý luận cũng như trong thực tiễn

- Trên cơ sở đó tác giả đã đặt ra các giả thuyết các câu hỏi để nghiên cứu, tiến hành quan sát trả lời các câu hỏi đề đưa ra những quan điểm, luận chứng

và các nguyên tắc để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Trước hết luận văn sẽ hệ thống hoá lại những lý luận chung về nhận thức quản lý sự thay đổi trong xã hội hiện đại, nhận thức được sự thay đổi trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và những điều kiện tiền đề cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Làm rõ và đánh giá được thực trạng trong chuyển đổi cơ cấu ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà nội trong giai đoạn hiện nay

- So sánh và tìm ra điểm khác biệt trong quản lý chuyển đổi cơ cấu ngành nghề từ đó đưa ra được các giải pháp để quá trình chuyển đổi ngành nghề ở ngoại thành Hà nội đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển

Trang 13

7 Bố cục của luận văn

Gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý sự thay đổi trong nông nghiệp nông thôn

Chương 2: Thực trạng chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành

Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chuyển đổi ngành nghề ở ngoại thành Hà Nội

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THAY ĐỔI TRONG

1.1 Quản lý sự thay đổi trong xã hội hiện đại

Thay đổi không phải là một khái niệm mới nhưng trước đây có rất ít người quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, do đó không hề có một cách hiểu thống nhất về sự thay đổi Cac-mac cũng đã từng nói về sự thay đổi nhưng chỉ xét nó dưới góc độ nguyên lý phát triển và ông thừa nhận rằng mọi sự vật và hiện tượng luôn vận động và phát triển không ngừng Đây cũng chính là cách thừa nhận sự thay đổi là tất yếu của cuộc sống

Heralitut nhà triết học cổ đại người Hy Lạp cũng đã từng nói rằng “ Mọi sự vật đều tồn tại, mâu thuẫn và không ngừng thay đổi và bất cứ sự vật nào cũng đều tồn tại bằng cách phá bỏ một cái gì đó” Sự thay đổi là một quá trình diễn ra thường xuyên liên tục, vừa mang tính tích cực, song cũng không thể tránh khỏi những thiệt hại thay đổi mang lại Nhận thức được sự thay đổi

để từ đó biết làm chủ được sự thay đổi, nhằm hạn chế những rủi ro mà thay đổi mang lại

1.1.1.Khái niệm về quản lý sự thay đổi

Khi nói đến sự thay đổi cần phải hiểu đó là sự thay đổi của tất cả mọi quá trình, cải tổ một cách chủ động nhằm mục đích tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn cho doanh nghiệp, cho tổ chức, ngành, vùng Từ việc áp dụng khoa học công nghệ mới những bước chuyển dịch có tính chất chiến lược, tổ chức lại dây chuyền sản xuất liên kết hoặc hợp nhất với các doanh nghiệp khác, tái cơ cấu các bộ phận kinh doanh đến nỗ lực tối ưu hóa phong cách văn hóa tập đoàn [9, tr.20-21] Sẽ thật sai lầm nếu duy trì những tư tưởng bảo thủ chống lại sự thay đổi, bởi điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đang từng bước dấn sâu vào con đường dẫn đến sự sụp đổ Trọng tâm của mỗi cuộc cải tổ chính là

Trang 15

sự thay đổi trong nguyên tắc, đời sống và trong công việc hàng ngày và đem lại những bước phát triển mới Tuy nhiên để những thay đổi tích cực ấy thực hiện được thì đó lại là cả một quá trình gian nan đặt lên vai của những nhà quản lý Sứ mệnh của họ là phải nắm bắt được sự thay đổi và điều chỉnh nó theo hướng có lợi cho tổ chức Chỉ khi đó họ mới có thể đưa tổ chức của mình đạt tới đỉnh cao của sự phát triển

Thay đổi có thể bắt đầu rất nhanh nhưng cũng có thể nhanh chóng biến mất Vấn đề không hẳn nằm ở tiền hay nguồn lực đầu tư cho sự thay đổi đó

mà nằm ngay trong đầu những người thực hiện sự thay đổi Nói cách khác, nằm ở kỹ năng của nhà quản lý trong việc thực hiện thay đổi.Vậy tại sao lại phải thay đổi? Bởi vì thay đổi trước hết để giữ được thế cân bằng đồng thời tạo ra cơ hội đề làm phong phú cho sự phát triển một cách lâu dài và bền vững Có rất nhiều nguyên nhân của sự thay đổi,ví dụ nguyên nhân từ xã hội:

xu hướng tiêu dùng…., nguyên nhân từ kinh tế: toàn cầu hóa, cổ phần hóa các công ty, các doanh nghiệp nhà nước, nguyên nhân về công nghệ: internet, mobilephone…

Chúng ta có thể nhận biết được sự thay đổi và quản lý sự thay đổi như thế nào cho hợp lý và phù hợp với điều kiện phát triển của từng quốc gia, từng khu vực, từng ngành và từng lĩnh vực Chúng ta có thể nhận biết được sự thay đổi từ bên trong: thay đổi thường xuất phát từ cấp cao nhất…, thay đổi từ đối thủ cạnh tranh: sản phẩm mới, hạ giá thành sản phẩm…, thay đổi từ môi trường xung quanh: pháp lý, các nhà đầu tư, khách hàng…

Người ta phân loại sự thay đổi thành hai loại:

+ Thứ nhất: Thay đổi từ từ: tái cấu trúc…

+ Thứ hai: thay đổi tức thì: chính sách an toàn…

Từ sự phân loại sự thay đổi trên có thể chọn lựa sự thay đổi bằng cách tập trung vào một vài quy trình thật sự cần thiết, có thể ưu tiên thay đổi ở những

Trang 16

lĩnh vực chính, sau đó hãy tập trung theo diện rộng hơn và quan trọng nhất là phải có mục tiêu rõ ràng Từ đó có thể thiết lập các mục tiêu cụ thể:

- Quy trình thay đổi nên được bắt đầu với những tuyên bố rõ ràng và chi tiết

về các mục tiêu mà bạn muốn vươn tới

- Các mục tiêu này nên được trình bày trong bối cảnh tình hình thực tế và liên quan với mục đích chung của tổ chức

Như vậy, thay đổi là sự vận động không ngừng của sự vật và hiện tượng, vì vậy cần phải quản lý sự thay đổi để hạn chế những rủi ro

Quản lý sự thay đổi là việc tiếp cận một cách có hệ thống nhằm đối phó với những thay đổi của sự vật và hiện tượng Quản lý sự thay đổi gồm ba quá trình:

+ Thích ứng sự thay đổi;

+ Kiểm soát sự thay đổi;

+ Tác động đến sự thay đổi

Để quản lý sự thay đổi cần phải thực hiện qua nhiều bước

1.1.2 Nội dung quản lý sự thay đổi

Quản lý sự thay đổi phải tuân theo 6 bước dưới đây, nó sẽ hạn chế được những biến động xấu nói chung trong thời gian diễn ra một thay đổi nào đó, đồng thời đảm bảo việc thay đổi đạt được kết quả tốt nhất:

Bước 1: Thiết lập các mục tiêu cụ thể:

Quy trình thay đổi nên được bắt đầu với những tuyên bố rõ ràng và chi tiết về các mục tiêu muốn vươn tới Các mục tiêu này nên được trình bày trong bối cảnh tình hình thực tế và liên quan với mục đích chung

Bước 2: Tổ chức và Lên kế hoạch:

Để quá trình thay đổi tiến hành thuận lợi, cần phải có khả năng và những nguồn lực (tài lực và nhân lực) nhằm phát triển cũng như truyền tải một cách hiệu quả các kế hoạch thiết kế/tái thiết kế và lịch trình diễn ra trên

Trang 17

thực tế, trong khi vẫn duy trì sự cân bằng giữa một tầm nhìn bao quát và các hoạt động thường nhật Việc sắp xếp lại cấu trúc tổ chức thường chỉ diễn ra trong giai đoạn quá độ, nhưng lại chiếm một vị trí quan trọng trong cả quá trình và thường được xem như một thách thức trong bầu không khí của sự thay đổi

Bước 3: Giao tiếp:

Những giao tiếp hiệu quả, cung cấp được lượng thông tin đầy đủ và kịp thời về các nội dung khác nhau luôn rất cần thiết trong giai đoạn thay đổi Các kênh thông tin càng đa dạng, thì nguồn thông tin càng được tiếp cận nhanh hơn, thông tin càng có độ tin cậy cao hơn và mau chóng dẫn đến hành động hơn Bằng các phương tiện giao tiếp rõ ràng, một quy trình hành động trong thời gian diễn ra sự thay đổi sẽ được xác định, những thông tin thích hợp sẽ được cung cấp và các mục tiêu sẽ được đáp ứng

Bước 4: Động viên:

Động cơ làm việc là sự thúc đẩy hướng đến hành động Đây là khái niệm khá phức tạp tùy thuộc vào mỗi cá nhân, tập thể, nhà quản lý, và vào sản phẩm/dịch vụ mà tổ chức cung cấp Các chuyên gia cho rằng mức độ tình cảm của mỗi cá nhân hay tập thể hướng tới lãnh đạo – người “tiếp nhiên liệu” cho động cơ làm việc của họ - sẽ xác định công suất làm việc của cá nhân hay tập thể đó Mọi thứ sẽ càng trở nên lý tưởng hơn, nếu có sự hợp tác trọn vẹn của tất cả những cá nhân hay tập thể có ảnh hưởng trực tiếp tới quy trình thay đổi

Bước 5: Đào tạo nguồn nhân lực:

Phát triển con người nên được coi là mục tiêu hàng đầu Việc phát triển đội ngũ nhân lực hiện tại trong suốt thời gian chuyển tiếp còn giữ vai trò thiết thực hơn, vì nó sẽ ảnh hưởng lâu dài đến tương lai Các nhà lãnh đạo của chương trình cải cách cần có đủ năng lực và quyền hành để tạo ra môi trường và cơ hội cho người lao động thể hiện chính mình, đồng thời khuyến khích mọi người tự thân phát triển

Trang 18

Bước 6: Đánh giá và Phân tích:

Các nhà quản lý không chỉ có trách nhiệm theo dõi, đánh giá và phân tích

cả các quy trình diễn ra sự thay đổi, mà còn phải kiểm tra từng cá nhân Mỗi người lao động đều phải biết rõ về những thay đổi trong công việc hiện tại của

họ, đồng thời họ cũng cần được hướng dẫn để có thể thực thi các công việc, nhiệm vụ mới

Cần phải xác định một cách rõ ràng các mốc thời gian quan trọng của

cả quá trình, khi giai đoạn phát triển kết thúc và những hành động bắt đầu Sự phát triển, khác với sự thay đổi, là một quy trình được thực thi trong hoàn cảnh tương đối ổn định Sự thay đổi tự thân đã bao hàm ý nghĩa bất ổn, nhưng đây lại là quãng thời gian tạo ra nhiều tài năng, đặc biệt trong thời kỳ quá độ, những người lao động có khả năng sẽ bắt đầu toả sáng

Sự phát triển của xã hội tác động đến sự thay đổi trong phương thức sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn

1.2 Nhận thức về hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

1.2.1 CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn

- Công nghiệp hóa:

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về công nghiệp hóa Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, "công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền sản xuất

cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong công nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động

và nâng cao năng suất lao động" Từ khái niệm chung về công nghiệp hóa

đó, có thể hiểu "công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong toàn ngành nông nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động" [2, tr.13-14]

Trang 19

“Công nghiệp hóa là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, v.v ”

Đây là quá trình chuyển biến kinh tế-xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa Sự chuyển biến kinh tế-xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt

là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn

Công nghiệp hóa nông nghiệp là một bộ phận của CNH nông thôn Nội dung chủ yếu của nó là đưa máy móc thiết bị và phương pháp sản xuất công nghiệp cùng các hình thức tổ chức sản xuất kiểu công nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác triệt để lợi thế của mỗi ngành, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu Nội dung này được cụ thể hóa trên các mặt cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa, sinh học hóa và điện khí hóa các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp

CHN nông nghiệp và nông thôn gắn liền với xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội nông thôn, mà trọng tâm là thủy lợi, đường giao thông, điện nước, thông tin, chợ, trường học, trạm xá….CNH nông nghiệp, nông thôn liên quan và phụ thuộc chặt chẽ với quá trình Hiện đại hóa

- Hiện đại hóa:

Xét về phạm vi, HDH nông thôn rộng hơn CNH, nó không chỉ bao gồm CNH, nâng cao trình độ kỹ thuật – công nghệ và tổ chức, quản lý trong lĩnh vực sản xuất vật chất ở nông thôn mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nông dân

và các dịch vụ sinh hoạt ở cộng đồng nông thôn

Trang 20

Về bản chất HDH là quá trình phát triển có tính kế thừa và tính liên kết cao độ giữa khoa học kỹ thuật với khoa học quản lý, giữa tính hiện đại của máy móc, thiết bị với lao động có tính kỹ thuật, kỷ luật của con người với các phương pháp quản lý và tổ chức khoa học trên cơ sở tiếp thu các thành tựu mới nhất của nhân loại

Hiện đại hóa nông nghiệp là áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và khoa học quản lý để tạo ra sự phát triển bền vững, với nhịp độ cao của năng suất và chất lượng, đáp ứng đòi hỏi khắt khe của thị trường trong nước và thế giới [2, tr.16-17]

Đối với hiện đại hóa nông thôn thì nội dung quan trọng là xây dựng nông thôn mới có nông nghiệp hiện đại, công nghệ kỹ thuật cao, dịch vụ phát triển theo hướng văn minh hiệu quả, quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp với tính chất

và trình độ của lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng nông thôn hoàn thiện, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân không ngừng cải thiện xã hội ổn định và công bằng

CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn gắn liền với yêu cầu chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn theo chiều hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn Vấn đề quan trọng mà CNH, HĐH không thể thiếu là phát triển ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn từng bước đô thị hóa nông thôn, áp dụng phương pháp công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của lao động nông thôn, tạo thêm công

ăn việc làm để tăng thu nhập cho nông dân

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nông thôn

Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực

Trang 21

thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền

Có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Trong đó lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và

xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào

Lao động chính là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động, bắt lực lượng tự nhiên phục tùng theo yêu cầu của con người Như vậy con người với động lực sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Do vậy giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng của thiên nhiên, trước hết là giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người

Nguồn lao động trong nông nghiệp nông thôn bao gồm số lượng những người trong và ngoài độ tuổi lao động Đồng thời nguồn lao động không chỉ gồm có số lượng người có khả năng lao động trong nông nghiệp nông thôn mà còn gồm cả chất lượng lao động của họ, chất lượng lao động được biểu hiện ở trình độ sức khỏe, văn hóa chuyên môn và trình độ giác ngộ chính trị của người lao động Do sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng cho nên lao động trong nông nghiệp nông thôn cũng có những đặc điểm riêng của nó

+ Sản xuất nông nghiệp mang tính chất thời vụ nên trong lao động nông nghiệp cũng mang tính chất thời vụ

Trang 22

+ Tỷ suất sử dụng lao động trong nông nghiệp thấp hơn so với tỷ suất sử dụng lao động trong các ngành sản xuất vật chất khác

+ Lao động nông nghiệp có tính thích ứng cao và phân bố không đồng đều

+ Nguồn lao động trong nông nghiệp nông thôn luôn biến động theo sự tăng giảm của tự nhiên và tăng giảm cơ học

Do đặc điểm của nguồn lao động nông nghiệp như vậy nên đã ảnh hưởng đến vấn đề việc làm trong nông thôn Chúng ta biết, lao động nông thôn chiếm tới ¾ lao động cả nước nhưng lại tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động rất thấp và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do quá trình đô thị hóa trong nông nghiệp Kết quả nhiều lao động mất đất, hoặc thiếu đất dẫn đến

dư thừa lao động và thiếu việc làm Nếu quá trình đô thị hóa càng nhanh thì quỹ đất canh tác càng bị thu hẹp, nhiều lao động bị mất đất sẽ phải chuyển hướng tìm việc làm mới hoặc chuyển đổi ngành nghề

Để thực hiện chuyển đổi ngành nghề trong nông nghiệp nông thôn trước hết cần phải hiểu rõ bản chất của các nền nông nghiệp

1.2.2 Quan niệm nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp hiện đại

Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà) Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi

Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:

Trang 23

- Nông nhiệp thuần nông hay nông nhiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông

nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai

- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên

môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nôn nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường,

mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine )

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp [7, tr.30-31]

Như vậy nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị và xã hội

Trang 24

Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế Nó vừa có đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn

- Xét về mặt kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu

- Xét về mặt kinh tế xã hội, kinh tế nông thôn bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể

- Xét về không gian lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các vùng như vùng chuyên canh lúa

Sự chuyển đổi từ phương thức canh tác Truyền Thống sang Hỗn Hợp và Đa Dạng: Nói một cách ngắn gọn, chính phủ có thể tiến hành những bước sau đây để đảm bảo sự chuyển đổi nhẹ nhàng Đó là:

- Cung cấp cho người nông dân cách tiếp cận với tín dụng ngân hàng, phân bón hoá học, nước, thông tin về vụ mùa và các hình thức thị trường

- Bảo đảm về giá cả

- Giúp cho người nông dân tin tưởng chắc chắn rằng họ cùng gia đình sẽ là những người hưởng lợi đầu tiên từ bất cứ tiến bộ nào

Khi sự chuyển đổi sang canh tác đa dạng diễn ra, người nông dân tự mình

sẽ đi theo hướng canh tác mang tính thương mại và chuyên biệt

1.3 Điều kiện tiền đề của CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn

1.3.1 Chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn

- Ngành:

Khi các hoạt động kinh tế phát triển, các lĩnh vực mới xuất hiện ngày càng nhiều đặt ra yêu cầu phải thực hiện sự phân ngành

Trang 25

Việc xây dựng hệ thống phân ngành là cần thiết đối với các tổ chức liên quan tới lĩnh vực kinh tế mang tính chất thống kê như ngành nông nghiệp Điều đó không chỉ giúp chúng ta quản lý dữ liệu một cách hiệu quả khoa học mà còn nâng cao giá trị sử dụng của dữ liệu lên mức độ cao hiệu quả Tại Việt Nam Theo Nghị định số 75/CP ngày 27/10/1993 đã phân chia ngành nông nghiệp như sau:

Bảng 1.1 Phân ngành nông nghiệp tại Việt Nam

A NÔNG NGHIỆP VÀ LÂM NGHIỆP

01 Nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan

011 Trồng trọt

Trồng lúa

Trồng cây lương thực khác

Trồng cây công nghiệp

Trồng cây dược liệu

Trồng cây ăn quả ( trừ cây đã tính vào cây công nghiệp)

Trồng rau đậu, hoa và cây gia vị

Trồng các cây khác chưa được phân vào đâu

012 Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc

Chăn nuôi gia cầm

Chăn nuôi khác chưa được phân vào đâu

02 Lâm nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan

020 Lâm nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan

Trang 26

- Nghề:

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000

Trong chuyển đổi ngành nghề xã hội nông thôn, kết quả nghiên cứu đã cho thấy 3 xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động-nghề nghiệp ở vùng nông thôn:

+ Xu hướng đa dạng hóa (hỗn hợp) việc làm/nghề nghiệp, tức là người dân tìm kiếm mọi việc làm có thể được để tạo ra các nguồn thu nhập cho gia đình

+ Xu hướng kết hợp giữa các loại việc làm với nhau, tạo thành nhóm nghề liên hoàn hỗ trợ và phát huy hiệu quả lẫn nhau

+ Xu hướng chuyên môn hóa việc làm/nghề nghiệp, tức là đi sâu vào một nghề, yêu cầu có trình độ tay nghề cao hơn, hiệu quả kinh tế mang lại cũng lớn hơn Nền tảng căn bản của 3 xu hướng trên vẫn là tư tưởng trọng nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm gốc của cư dân nông thôn còn tồn tại khá nặng nề

Xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp xã hội nông thôn trên đây đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình phân tầng xã hội theo mức sống ở nông thôn Sự chuyển biến từ hộ thuần nông, thu nhập từ nông nghiệp là chính sang hộ thu nhập từ hoạt động phi nông ngày càng nhiều là nguyên nhân chính làm tăng thu nhập Trong phạm vi rộng hơn và lâu dài hơn, yếu tố tác động mạnh mẽ này có lẽ sẽ được "dịch chuyển" sang yếu tố học vấn và năng lực biết tính toán làm ăn (yếu tố dân trí) Hiện nay ở Việt Nam các ngành nghề ở nông thôn thu hút khoảng 29,5% lực lượng lao động tại chỗ Hoạt động ngành nghề

đã phát triển mạnh trong khuôn khổ hộ gia đình Hiện cả nước có khoảng trên

Trang 27

1,33 triệu hộ nông dân phát triển ngành nghề phi nông nghiệp Thu nhập từ các nghành nghề này cao gấp 2 đến 3 lần so với sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân trong vùng được cải thiện rõ rệt

1.3.1.2.Các bước chuyển đổi

Thứ nhất là phải thiết lập được các mục tiêu cụ thể:

Đối với nước ta gần 80% dân số đang sống tại các vùng nông thôn

Vì thế nông thôn sẽ là thị trường rộng lớn cho các ngành kinh tế đặc biệt là công nghiệp, dịch vụ…Vì vậy muốn nông nghiệp phát triển, trở thành thị trường rộng lớn thì trước hết phải quan tâm đến phát triển nông nghiệp toàn diện, tạo điều kiện cho nông dân chuyển sang phát triển sản xuất hàng hóa, để nâng dần sức mua của cư dân nông thôn Mặc khác các ngành công nghiệp dịch vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân để nghiên cứu sản xuất ra những tư liệu sản xuất cũng như hàng tiêu dùng và các loại dịch vụ phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và sức mua của nông dân Sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển kinh tế của đất nước và tốc độ tăng trưởng của GDP vì thế phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ làm tăng được nguồn lương thực dự trữ cho quốc gia để hạn chế những rủi ro và khó khăn trong phát triển kinh tế và đời sống nhân dân, tạo cơ sở cho việc ổn định và phát triển kinh tế đất nước

Bên cạnh việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn còn phải quan tâm đến bảo vệ và cải tạo môi trường thiên nhiên Vì thế đòi hỏi mỗi quốc gia phải có một chiến lược phát triển nông nghiệp dúng đắn, phải biết khai thác lợi thế từng vùng, phải biết kết hợp nhiều loại nông sản theo một hệ sinh thái hoàn chỉnh, tránh sử dụng quá mức các loại hóa chất tiến tới một nền nông nghiệp sạch, một nền nông nghiệp sinh thái

Trang 28

Thứ hai: Tổ chức và lên kế hoạch trong nông nghiệp nông thôn

Xét trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường thì nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nước Trong điều kiện hiện nay hầu hết các nước đều nhận thức được rằng: nếu không có một nền nông nghiệp phát triển, nếu không có một nền nông nghiệp tiên tiến thì nền kinh tế quốc dân đó khó có thể phát triển với tốc độ cao được Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm đến phát triển nông nghiệp Thực

tế nhiều nước đã chứng minh nước nào có nền nông nghiệp phát triển vững chắc thì đều đạt được những bước phát triển ổn định về kinh tế Để nông nghiệp nông thôn phát huy vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội thì cần phải có những kế hoạch cụ thể và thiết thực Con đường tất yếu là phải chuyển nông nghiệp nông thôn từ tình trạng là sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa, đó là một quá trình vận động lâu dài, khó khăn và phức tạp đòi hỏi có sự quan tâm tích cực của nhà nước về ưu tiên cho phát triển nông nghiệp

Thứ ba: Giao tiếp

Trước hết chúng ta phải hiểu giao tiếp ở đây chính là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau

Hình 1.1: Sơ đồ mô hình giao tiếp

(Nguồn: Khoa học giao tiếp, Nguyễn Ngọc Lâm, 2000)

NgưNgười

ời gửi

nhận

Phản hồi

Trang 29

Trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, giao tiếp trước hết đó là sự đa dạng hóa các kênh thông tin, các nguồn thông tin đến người lao động Làm sao các chính sách của nhà nước như đầu tư, tín dụng, thuế…đến với người lao động một cách công khai, minh bạch từ đó họ có toàn quyền quyết định việc sản xuất và phân phối các sản phẩm làm ra, kích thích được sản xuất vật chất, và họ có thể mang sản phẩm của mình trao đổi trên thị trường mà không gặp bất cứ một ngăn cản nào Bên cạnh việc sản xuất và tiêu dùng trong nước, ngày nay nông nghiệp nông thôn còn hướng tới hoạt động hợp tác quốc tế Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế giữa các nước, với chủ trương “ mở cửa”

và “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển thu hút được tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới và thu hút đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp nông thôn

Thứ tư: Động viên

“Bạn có thể đưa con ngựa ra tới tận bờ sông nhưng không thể bắt nó uống nước Ngựa chỉ uống khi nó khát- và con người cũng vậy" Con người chỉ làm việc khi người ta muốn hoặc được động viên để làm việc Cho dù là

cố gắng tỏ ra nổi trội trong công việc hay thu mình trong tháp ngà, người ta cũng chỉ hành động do bị điều khiển hoặc được động viên bởi chính bản thân hay từ các nhân tố bên ngoài Động viên là kỹ năng có và cần phải học và không thể thiếu của người quản lý nếu tổ chức muốn tồn tại và thành công

Đối với phát triển nông nghiệp nông thôn, các chính sách kinh tế vĩ mô

là tạo ra những kích thích cần thiết để khai thông và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Các chính sách kinh tế nếu được đưa ra kịp thời và đúng thời điểm

sẽ đem lại hiệu quả cao khi nó phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương và tạo động lực cho người lao động sản xuất và phát triển

Trang 30

Thứ năm: Phát triển nguồn nhân lực

Con người là yếu tố năng động, tích cực nhất trong lực lượng sản xuất,

là lực lượng chủ đạo, sáng tạo ra của cải vật chất xã hội Để phát triển nông nghiệp con người đóng vai trò quyết định Tuy nhiên, không phải bất kỳ nguồn nhân lực nào cũng có tác dụng này mà phải là nguồn nhân lực có chất lượng cao

Thứ sáu: Đánh giá và phân tích

Trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn cần đánh giá những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình ứng dụng thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, những kết quả trong sản xuất nông nghiệp Phân tích và đánh giá các số liệu đã thống kê từ đó đưa ra được các chính sách phát triển phù hợp, tạo động lực cho quá trình CNH, HĐH

Từ những đánh giá và phân tích ở trên đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi thích hợp và tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.3.2.1 Bài học của Trung Quốc

Chính sách phát triển nông thôn mới ở Trung Quốc, đó là sự điều chỉnh mối quan hệ trong phân phối thu nhập, quy phạm, trật tự phân phối: thu nhập, tăng thu nhập cho tầng lớp người có mức sống trung bình và thấp Kiên trì “Cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” đặc biệt là áp dụng nhiều biện pháp trong việc “cho nhiều” đối với nông dân; đồng thời đưa ra các giải pháp nhiều mặt về xây dựng nông thôn, vấn đề xã hội và dân chủ Thu nhập thuần đầu người của nông thôn Trung Quốc năm 2005 là 3.255 nguyên (402 USD), trong lúc của dân đô thị là 10.493 nguyên, cao hơn 322%, nếu lấy sự khác nhau về cơ sở hạ tầng, phúc lợi

xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa thì còn cao hơn nhiều Thu nhập và sức mua thấp của nông dân làm cho nhu cầu của nông thôn không mở rộng, năm 2005 chỉ chiếm 32,9% của giá trị bán lẻ trong nước Trong khi đó GDP tính theo đầu

Trang 31

người của Trung Quốc đạt hơn 1000 USD trong năm 2003, nhảy vọt lên mức

3000 USD vào năm 2008 và dự kiến sẽ tăng lên mức 4000 USD vào năm 2010 Chính vì thế Trung Quốc đã có những chính sách thích hợp cho phát triển nông nghiệp nông thôn

Trước hết nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp: Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp

và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân

sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế, đầu tư ngân sách, tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu, vốn ngân sách sẽ đi

về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng

Thứ hai là đầu tư vào cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và nhiều thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn Sẽ có các quy định để đảm bảo, điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông nghiệp Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển đất nông nghiệp nhỏ và bảo vệ nước Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các cơ sở hạ tầng cần cấp thiết cho đời sống nông dân Trong quá trình đô thị hóa có những diện tích đất bị thu hồi

và Trung Quốc là một quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thu hồi đất nông nghiệp Từ khi cải cách mở cửa đến nay, tiến trình đô thị hóa ở Trung Quốc đã đạt được những thành tựu nổi bật, nhất là kể từ sau năm 1992 - thời điểm mà thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa được thiết lập Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006 - 2010), Trung Quốc đã thực thi chiến lược "Tích cực thúc đẩy tiến trình đô thị hóa", tốc độ đô thị hóa không ngừng được đẩy mạnh, ước tính, đến năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa ở Trung Quốc ít nhất đạt 48% Ngay từ năm 2002, trong Báo cáo về tình hình

Trang 32

phát triển thành phố ở Trung Quốc, các chuyên gia Trung Quốc đã chỉ ra rằng, trong vòng 50 năm tới, tỷ lệ đô thị hóa ở Trung Quốc sẽ đạt trên 76%, mức đóng góp của thành phố vào nền kinh tế quốc dân đạt trên 96% Theo thống kê, đến cuối năm 2007, tỷ lệ số dân ở thành phố của Trung Quốc đạt tới 44,9%

Bảng 1.2 Đô thị hóa ở Trung Quốc trước năm 2000

Trong quá trình đô thị hóa vẫn có những vấn đề tồn tại trong hoạt động thu hồi đất nông nghiệp ở Trung Quốc.Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh, Chính phủ Trung Quốc luôn nhận thấy rằng, muốn phát triển thì phải giải quyết tốt vấn đề "tam nông", và muốn giải quyết tốt vấn đề "tam nông", phải giải quyết ổn thỏa vấn đề ruộng đất cho người nông dân Cùng với tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa được đẩy mạnh và công cuộc xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa được thúc đẩy, hoạt động thu hồi đất thuộc quyền sở hữu tập thể của nông dân ở nông thôn ngày càng được quan tâm hơn bao giờ hết, bởi đây là vấn đề hết sức quan trọng và nhạy cảm trong thời kỳ mới

Trang 33

Từ ngày 1-1-2008, Bộ Lao động và An sinh xã hội, Bộ Tài nguyên Thổ nhưỡng Trung Quốc yêu cầu các địa phương đề ra các chính sách quan tâm kịp thời những người nông dân bị thu hồi đất, bảo đảm cho các đối tượng này được hưởng các chế độ an sinh xã hội Hiện nay, đã có 15 tỉnh, thành phố ở Trung Quốc đề ra các chính sách cụ thể phù hợp với địa phương mình, chẳng hạn tỉnh Giang Tô đã chia nông dân bị thu hồi đất thành bốn nhóm đối tượng thuộc các độ tuổi khác nhau: nhóm thứ nhất gồm các đối tượng dưới 16 tuổi, tùy theo khu vực, được lĩnh một lần tiền ổn định cuộc sống với các mức 6.000 nhân dân tệ (NDT), 5.000 NDT, 4.000 NDT, 3.000 NDT, ngoài ra không được hưởng chế độ an sinh nào khác; Nhóm thứ hai là nhóm đối tượng từ 16 đến 45 tuổi đối với nữ và từ 16 đến 50 tuổi đối với nam, được lĩnh tiền trợ cấp hằng tháng trong vòng 2 năm, đến tuổi dưỡng lão sẽ được hưởng tiền trợ cấp dưỡng lão hằng tháng; Nhóm thứ ba là nhóm đối tượng từ 45 đến 55 tuổi đối với nữ, từ 50 đến 60 tuổi đối với nam, hằng tháng được lĩnh tiền trợ cấp, đến tuổi dưỡng lão sẽ được hưởng tiền trợ cấp dưỡng lão hằng tháng; Nhóm thứ 4

là nhóm đối tượng trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam, hằng tháng được hưởng tiền trợ cấp dưỡng lão

1.3.2.2 Bài học của Hàn Quốc

Quá trình phát triển kinh tế ở Hàn Quốc đi cùng với việc phát triển công nghiệp quy mô nhỏ theo hình thức vệ tinh ở nông thôn Chính vì thế Hàn Quốc không chỉ giải quyết được bài toán kinh tế mà trong quá trình chuyển đổi ngành nghề đã giải quyết bài toán công bằng xã hội ở nông thôn Cụ thể quá trình chuyển dịch ngành nghề của Hàn Quốc tập trung vào:

Thứ nhất: Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Chiến lược áp dụng của Hàn Quốc là tập trung mọi nguồn lực cho công nghiệp, nhờ công nghiệp phát triển để tích lũy kinh tế Điều này đã làm tiền

đề cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn theo các bước đi và biện pháp như:

Trang 34

rút dân lao động trẻ ra khỏi nông nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng với phương trâm nhà nước và nhân dân cùng làm (phong trào làng mới Saemaul undong) Phát triển các hoạt động phi nông nghiệp để thu hút lao động nông nhàn Phát triển các hoạt động phi nông nghiệp truyền thống trong đó đặc biệt chú ý đến chế biến nông sản và sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại chỗ kết hợp với phát triển làng xã thông qua phong trào “làng mới”.Đưa nhà máy về nông thôn, xây dựng cụm công nghiệp nông thôn, kinh doanh du lịch nông thôn

GS Kim Young – Chul, chuyên gia về HTXNN của Hàn Quốc cho biết, nguyên nhân của tình trạng trì trệ là do việc sản xuất dựa trên kinh nghiệm là chính khiến lợi tức thấp, nông dân không có khả năng tái đầu tư nên tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo Trước tình trạng này, chính phủ quyết định phá vỡ sự bế tắc đó bằng cách thực hiện biện pháp “hai mũi giáp công đồng bộ”: đưa kỹ thuật sản xuất mới (giống mới, phân bón và nông dược, cung cấp tín dụng đầy đủ và xác định giá nông sản nâng đỡ cho nhà nông), thay đổi cơ chế chính sách nông nghiệp (cải cách ruộng đất để mọi nông dân đều có đất canh tác, đồng thời ban hành Luật hợp tác xã và xây dựng HTXNN đa mục tiêu khuyến khích nông dân tham gia)

Thứ hai: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

HTXNN đa mục tiêu của Hàn Quốc có nhiệm vụ hướng dẫn và đào tạo

kỹ năng sản xuất cho bà con, cung cấp các phương tiện cần thiết cho an ninh

xã hội, làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm và cung cấp vật tư nông nghiệp cho xã viên từ đồng ruộng đến chợ hàng hóa (bao gồm sản xuất, chế biến và bán ra thị trường), dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm (bao gồm kinh doanh tài chính nông nghiệp, tín dụng và tiết kiệm của các HTCNN thành viên), dịch vụ về chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, từ sản xuất chế biến và tiêu thụ Điều này

đã vực nền nông nghiệp Hàn Quốc từ yếu ớt trở nên ổn định Nhờ đó giá trị sản lượng nông nghiệp tăng gấp đôi so với 15 năm trước Năm 2005 mặc dù

Trang 35

tăng trưởng về nông nghiệp chậm lại nhưng Hàn Quốc đã đạt được mục tiêu hàng đầu là tự cung tự cấp về gạo – nguồn lương thực chủ yếu của đất nước – với sản lượng 4,8 triệu tấn Tuy nhiên khi Hàn Quốc ra nhập WTO vào năm

1995, nông dân Hàn Quốc lại đứng trước một thách thức mới, đó là cam kết cắt bỏ mọi khoản trợ cấp cho nông dân Để thích ứng với những cam kết WTO một lần nữa chính phủ Hàn Quốc lại ban hành chiến lược nông nghiệp mới, trong đó chú trọng đổi mới khả năng cạnh tranh của nông nghiệp bằng cách huấn luyện nông dân, hiện đại hóa hệ thống Marketing, áp dụng công nghệ thông tin, ổn định an ninh nông thôn thông qua đầu tư cho giáo dục, y tế

và đặc biệt là hưu trí của nông dân xã viên Ngoài ra, nhà nước còn cải tiến cơ chế chính sách, đặc biệt là chuyển hướng mục tiêu hoạt động của HTXNN Theo đó, thay vì hoạt động dàn trải trước đây, HTXNN tập trung vào những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ có lợi thế cạnh tranh cũng như khả năng thành công cao Thủ tục tài chính được cải cách với hình thức thanh toán trực tiếp thay vì qua trung gian

Thứ ba: Hỗ trợ đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp

Từ năm 1994 đến năm 2003,chính phủ Hàn Quốc đã dành 48 tỷ USD thực hiện chiến lược trên và dự trù khoảng 110 tỷ USD cho giai đoạn 2004 –

2013 để tiếp tục cải tiến thủy lợi, cải cách ruộng đất, hiện đại hóa phương tiện Marketing, nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ ứng dụng vào sản xuất cải tiến chất lượng cuộc sống của bà con nông dân…

1.3.2.3 Bài học của Thái Lan

Thái Lan vốn là một nuớc nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân

Trang 36

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị… Ngoài ra, Nhà nước Thái Lan còn tính toán phân

bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; Giải quyết tốt những mâu thuẫn

về tư tưởng trong nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác

Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp

Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Trang 37

Thứ nhất, Thái lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản

xuất hàng nông, thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển

Thứ hai: Thái lan chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang ngành

dịch vụ, đặc biệt là du lịch nông thôn

Chính phủ Thái Lan đặc biệt chú trọng phát triển du lịch nông thôn dựa vào lợi thế về đa dạng văn hóa, truyền thống và nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực nông thôn Hiện tại du lịch nông thôn được phát triển theo 5 hướng:

du lịch nghỉ dưỡng, du lịch gắn với tìm hiểu văn hóa, lịch sử và khảo cổ, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì giá trị nhân văn và giá trị xã hội truyền thống của người dân địa phương, du lịch gắn với làng bản, chia sẻ cuộc sống với người dân làng, chia sẻ những thành quả kinh tế và các lợi ích khác, du lịch nông học có thể nhìn quan sát và thực hành các hoạt động nông nghiệp truyền thống, nhưng các hoạt động này không ảnh hưởng đến hệ sinh thái và năng suất của vùng

Thứ ba: Đào tạo cho lao động nông thôn nhằm nâng cao cơ hội tìm

kiếm việc làm Chủ yếu là đào tạo lại lao động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, đào tạo ngành phi nông nghiệp, nhất là chế biến thực phẩm, thủ công

mỹ nghệ, du lịch sinh thái, đào tạo kỹ năng Marketing và buôn bán nông nghiệp quy mô nhỏ, hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa

và nhỏ nhằm thu hút lực lượng lao động

Từ bài học kinh nghiệm chuyển đổi ngành nghề của một số quốc gia trên thế giới, chúng ta nghiên cứu đánh giá thực trạng chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay: những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Tổng quan về nông nghiệp nông thôn

2.1.1 Tình hình sản xuất kinh doanh trong nông thôn

Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lãnh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp – nông thôn – nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xã hội Việt Nam Từ khi đổi mới mở cửa đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi mới chính sách đất đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh và đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

Trong thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt những thành tựu nổi bật, duy trì tốc độ tăng trưởng đều và ổn định, thể hiện được lợi thế so sánh của Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới Nông nghiệp đã thực sự trở thành chỗ dựa nền tảng cho công nghiệp và dịch vụ, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định xã hội ở nước ta

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo ngành hoạt động

Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động Tổng số Trồng trọt Chăn nuôi Chia ra Dịch vụ

Trang 39

(Nguồn: Niên gián tổng cục thống kê năm 2009)

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, giá trị sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch giữa ba ngành sản xuất trong nông nghiệp Xu thế ngành trồng trọt và dịch vụ giảm đi Trong năm 2000 tỷ trọng ngành trồng trọt là 78,2% trong khi đó ngành dịch vụ chiếm 2,5%, nhưng đến năm 2008 tỷ trọng ngành trồng trọt giảm xuống còn 70,2% trong khi đó ngành dịch vụ giảm 1,3%

Tỷ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng lên, năm 2000 là 19,3% trong khi đó đến năm 2008 là 28,5% Như vậy cơ cấu sản phẩm có sự thay đổi theo xu thế đáp ứng nhu cầu của thị trường góp phần làm tăng thu nhập cho nông dân, đồng thời phân công lại lao động và giải quyết việc làm ở nông thôn, tạo thế ổn định trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

Trong giai đoạn từ năm 1986 đến 2003, năng suất các loại nông sản đã

có mức tăng đáng kể Cụ thể là: năng suất lúa tăng từ 2,81 tấn/ha lên 5,20 tấn/ha (gấp 1,85 lần); ngô từ 1,42 tấn/ha tăng lên 3,97 tấn/ha (gấp 2,79 lần); sắn từ 9,16 tấn/ha tăng lên 14,53 tấn/ha (gấp 1,8 lần), lạc từ 0,94 tấn/ha tăng đến 1,74 tấn/ha (gấp 2,2 lần) Đặc biệt, có một số cây trồng cho năng suất bình quân tăng trên 2 lần trong thời gian gần 20 năm như hồ tiêu, cao su, cà

Trang 40

phê, bông Riêng năng suất cây điều tăng hơn 2 lần trong vòng 4 năm (2001 - 2004) So với năm 1986, năng suất nông sản năm 2009 đã tăng gấp nhiều lần Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu, hạt điều thứ nhất thế giới, xuất khẩu gạo,

cà phê đứng thứ nhì thế giới; chiếm lĩnh và khẳng định vị trí trên thị trường thế giới về thanh long, hạt điều; có thứ hạng cao trong xuất khẩu cá ba sa, cá tra, tôm, cao su, chè

Không chỉ tăng về sản lượng, chất lượng các mặt hàng nông sản cũng đang được nâng lên Nhiều năm qua, chúng ta đã tạo ra được bộ giống cây trồng phong phú, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của sản xuất ở các vùng sinh thái, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước Đối với gạo - một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, với phương châm “muốn đẩy mạnh xuất khẩu gạo trước hết phải có giống tốt”, trong những năm gần đây, công nghệ hạt giống được quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều tiến bộ Sản lượng và chất lượng gạo của Việt Nam, vì thế, đã có những bước cải tiến đáng kể Mặc dù diện tích gieo trồng lúa trong những năm gần đây mỗi năm một giảm (trung bình mỗi năm giảm khoảng 40 ngàn - 50 ngàn ha) do chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp và đất nông nghiệp được thu hồi để làm đường, làm nhà phục vụ công nghiệp, nhưng sản lượng lúa của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng đều qua từng năm, mỗi năm sản lượng lúa tăng trung bình 600 ngàn -

700 ngàn tấn Tiêu chí chất lượng gạo cũng ngày càng được chú trọng Đây là một thành công trong xuất khẩu gạo của năm 2007 Trước đây, mỗi tấn gạo xuất khẩu cùng cấp hạng của Việt Nam thấp hơn Thái Lan 20 USD - 40 USD, làm thiệt cho chúng ta khoảng 80 triệu USD, nhưng nay, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học vào chọn tạo giống đã tạo ra được những giống lúa chất lượng cao, giảm sự chênh lệch này xuống còn 2 USD - 5 USD, thậm chí có thời điểm bằng 0 Điều này thể hiện những bước tiến vượt bậc trong công nghệ hạt

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Bích Đào(2004), Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn,Tập bài giảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Đào
Năm: 2004
3. Frank Ellis (1995), Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển
Tác giả: Frank Ellis
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
8. Đặng Kim Sơn(2003), Làm gì cho nông thôn Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì cho nông thôn Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 2003
9. Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hòa(2002), Một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2002
10. Stiglits và JusufS (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á
Tác giả: Stiglits và JusufS
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
11. Lê Đình Thắng (1998), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Đình Thắng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Hayami Y (1986), Agricultural protectionism in the industrialized word, East-West center, Honolulu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural protectionism in the industrialized word
Tác giả: Hayami Y
Năm: 1986
14. HayamiY (1985), Agricultural deverlopment- an international perpectives, Johns Hopkins University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural deverlopment- an international perpectives
Tác giả: HayamiY
Năm: 1985
15. Kuznets (1971), Economic growth of Nations, Total output and Production Structure, Haverd University Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic growth of Nations, Total output and Production Structure
Tác giả: Kuznets
Nhà XB: Haverd University Press, Cambridge
Năm: 1971
16. Todaco (1982), Economic development in the third word, Longman, Newyork – London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic development in the third word
Tác giả: Todaco
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  Nội dung  Trang - Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
nh Nội dung Trang (Trang 8)
Bảng 1.1.  Phân ngành nông nghiệp tại Việt Nam - Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.1. Phân ngành nông nghiệp tại Việt Nam (Trang 25)
Hình 1.1: Sơ đồ mô hình giao tiếp - Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.1 Sơ đồ mô hình giao tiếp (Trang 28)
Bảng 1.2. Đô thị hóa ở Trung Quốc trước năm 2000 - Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.2. Đô thị hóa ở Trung Quốc trước năm 2000 (Trang 32)
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất nông nghiệp theo ngành hoạt động - Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất nông nghiệp theo ngành hoạt động (Trang 38)
Bảng 2.4. Cơ cấu sử dụng đất tính theo địa phương - Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.4. Cơ cấu sử dụng đất tính theo địa phương (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w