1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

103 652 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Tình hình quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở 2.2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy 2.2.2 Tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối

1.1 Hoạt động dạy nghề và vai trò của hoạt động dạy nghề trong nền

1.1.1 Khái niệm, các hình thức và đặc điểm hoạt động dạy nghề 6 1.1.2 Vai trò của hoạt động dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân 10

1.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề 11

1.2.1 Khái niệm và nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động

1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề 15 1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề 16

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở

một số địa phương và bài học cho tỉnh Thái Nguyên 20

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở một

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy

nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 31

2.1 Tổng quan về hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.1.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động

2.1.2 Hoạt động dạy nghề ở Thái Nguyên trong thời gian qua 38

Trang 4

2.2 Tình hình quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở

2.2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy

2.2.2 Tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch

2.2.3 Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao chất lượng đội

ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cho các cơ sở dạy nghề 46 2.2.4 Hoàn thiện bộ máy và cơ chế quản lý hoạt động dạy nghề 48 2.2.5 Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chính

sách, chương trình đào tạo đối với các cơ sở dạy nghề 53

2.3 Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà

nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 63

3.1 Định hướng chung tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt

3.1.1 Bối cảnh mới tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động

3.1.2 Định hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy

3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động

dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 –

2015

78

3.2.1 Tổ chức xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, xây

dựng mục tiêu và kế hoạch thực hiện các hoạt động dạy nghề

trên cơ sở nhu cầu thực tế của thị trường lao động

79

Trang 5

3.2.2 Thực hiện rà soát, cơ cấu, quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở

dạy nghề trên địa bàn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm 81 3.2.3 Thay đổi chính sách đầu tư, phân bổ kinh phí cho hoạt động

dạy nghề để đảm bảo tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực 82 3.2.4 Hoàn thiện bộ máy và cơ chế quản lý nhằm tăng quy mô và

Phụ lục

Trang 6

5 GDĐT Giáo dục và Đào tạo

6 GCNĐT Giấy chứng nhận đầu tư

7 HĐND Hội đồng Nhân dân

8 LĐNT Lao động nông thôn

9 LĐTBXH Lao động Thương binh và Xã hội

10 UBND Ủy ban Nhân dân

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Đơn vị hành chính, mật độ dân số và dân số

5 Bảng 2.5 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đào

tạo nghề của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn

6 Bảng 2.6 Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Thái Nguyên

7 Bảng 2.7 Tổng hợp đội ngũ giáo viên dạy nghề của

tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 48

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chuyển sang kinh tế thị trường, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi căn bản Lực lượng sản xuất phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ, cùng với việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế trọng điểm, các công nghệ mới, ngành nghề mới xuất hiện càng nhiều và đa dạng Do vậy, công tác dạy nghề có vai trò rất quan tro ̣ng đối với phát triển kinh tế - xã hội Hàng năm, nhà nước đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng cho công tác dạy nghề và hoạt động này đang ngày càng có xu hướng gia tăng Kết quả của hoạt động dạy nghề những năm qua đã và đang ta ̣o nên sự chuyển biến to lớn chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho sản xuất, đóng góp đáng kể vào công cuô ̣c phát triển kinh tế

- xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiê ̣n công nghiê ̣p hoá, hiê ̣n đa ̣i hoá đất nước

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, việc triển khai hoạt động dạy nghề trên các tỉnh, các thành phố của cả nước cũng không ngừng được đổi mới, đa dạng hóa các hình thức dạy và học để đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác đào tạo Trong thời gian qua, quản lý của nhà nước về dạy nghề ở Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu nhất định: Hệ thống cơ sở dạy nghệ được phát triển mạnh mẽ, quy mô đào tạo có sự gia tăng đáng kể, các nhân tố đảm bảo chất lượng đào tạo được tăng cường khiến chất lượng dạy nghề cũng dần được cải thiện

Tuy nhiên, hoạt động dạy nghề tại tỉnh Thái Nguyên đã và đang bộc lộ nhiều vấn đề bất cập như: đầu tư dàn trải, quản lý lỏng lẻo, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả dạy nghề thấp…mà nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là những yếu kém trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề Từ thực tế đó, nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay là nghiên cứu những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề để từ đó đảm bảo tính

Trang 9

kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của vốn đầu tư và thực hiện được mục tiêu tạo sự thay đổi mang tính đột phá về chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Đó cũng là lý do chủ yếu của viê ̣c lựa cho ̣n đề tài:

“Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”

- Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luận án Tiến sỹ kinh tế, tác giả Phan Chính Thức, Đại học Sư phạm Hà Nội - 2003 Luận án đi sâu nghiên cứu đề xuất những khái niệm, cơ sở lý luận mới về đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề

và giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta;

- Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, tác giả Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội - 2004 Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển lao động kỹ thuật ở nước ta;

- Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp, tác giả Nguyễn Viết

Sự, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội - 2005 Nội dung cuốn sách tập hợp các bài viết đã đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học về lý luận, thực tiễn kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp;

- Quản lý Nhà nước về Đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta, tác giả

Trang 10

Nguyễn Đức Tĩnh, luận án Tiến sỹ kinh tế, Hà Nội - 2007 Nội dung luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề của nước ta;

- Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam, tác giả Bùi Đức Tùng, luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị (năm 2007), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở, lý luận

và thực tiễn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề;

- Quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị (năm 2011), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở, lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Hà Nội;

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên cứu khác được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Những nghiên cứu trên có các cách tiếp cận khác nhau về dạy nghề và quản lý nhà nước về dạy nghề Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thái Nguyên hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Do vậy, đề tài: “Quản

lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp việc khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dạy nghề Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thái Nguyên trong thời gian tới Những câu hỏi nghiên cứu mà đề tài đặt ra là: Cơ sở lý luận của công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ? Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong giai đoạn 2006 - 2010, công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề diễn ra như thế nào? Có tồn tại nào không? Nguyên nhân và cách khắc phục những tồn tại đó?

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở những vấn đề lý luận về quản

lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề nói chung để phân tích thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Từ đó, nhận định ra những mặt đã làm được và những mặt còn tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý để đưa ra các giải pháp khắc phục

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

- Hê ̣ thống hoá có bổ sung một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

- Phân tích thực tra ̣ng thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, chỉ rõ những kết quả đa ̣t được , những ha ̣n chế và các nguyên nhân chủ yếu

- Nêu định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

4 Đối tượng và phạm vi nghiê n cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt

động dạy nghề (chủ yếu là dạy nghề thường xuyên)

Phạm vi nghiên cứu được xác định là công tác quản lý nhà nước đối với

hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2006 - 2010, trong đó tập trung vào loại hình dạy nghề thường xuyên Các vấn đề liên quan được đề cập với một dung lượng nhất định để đạt được mục đích nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: hệ thống hóa những vấn lý luâ ̣n và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp chuẩn tắc: phân tích thực chứng trên cơ sở số liệu và dữ liệu thu thập được để làm nổi bật thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động dạy nghề ở tỉnh Thái Nguyên Sử

Trang 12

dụng phương pháp chuẩn tắc để đánh giá thực trạng và xác định nguyên nhân làm

cơ sở để đề xuất các giải pháp

- Phương pháp thống kê, so sánh: sử dụng các số liệu thống kê để phân tích,

so sánh rút ra các kết luận làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở tỉnh Thái Nguyên

- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia: trong quá trình thực hiện

đề tài, tác giả tham khảo ý kiến của các nhà quản lý có kinh nghiệm đã trực tiếp quản lý hoạt động dạy nghề của địa phương để thu thập thông tin nhiều chiều phục vụ các nội dung nghiên cứu

6 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa có bổ sung cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dạy nghề;

- Đưa ra cái nhìn tổng quan và đầy đủ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Thái Nguyên, những việc làm được, đặc biệt là những hạn chế, thiếu sót, những bất cập, lỗ hổng trong quản lý

- Đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thái Nguyên trong thời gian tới

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ

1.1 Hoạt động dạy nghề và vai trò của hoạt động dạy nghề trong nền

kinh tế quốc dân

1.1.1 Khái niệm, các hình thức và đặc điểm của hoạt động dạy nghề

1.1.1.1 Khái niệm dạy nghề

Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu

“Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.” [9,tr.1] Theo Điều 5, Luật Dạy nghề số 76/2006QH11 được Quốc

hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006: “Dạy nghề là hoạt

động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [9,tr.1]

Như vậy, dạy nghề khác với đào tạo lý thuyết học thuật mặc dù ranh giới không dễ phân định Dạy nghề cũng có những nhân tố sư phạm như các thiết chế giáo dục khác nhưng nhấn mạnh nhiều hơn vào khía cạnh kỹ thuật và công nghệ

So với những thiết chế giáo dục khác, dạy nghề thể hiện rõ hơn sự cần thiết của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành cũng như thể hiện rõ sự liên quan mật thiết giữa nội dung, phương pháp đào tạo với những thay đổi diễn ra trong thế giới lao động

1.1.1.2 Các hình thức dạy nghề

Trang 14

Thông thường, có các cách phân loại các hoạt động dạy nghề như sau:

- Theo trình độ đào tạo: Dạy nghề chia thành 3 trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, TCN, CĐN

- Theo hình thức đào tạo: Dạy nghề chia thành 2 loại là dạy nghề chính quy

và dạy nghề thường xuyên

- Theo hình thức và tính chất sở hữu của cơ sở đào tạo: Dạy nghề chia làm

3 loại là dạy nghề của các cơ sở công lập, dạy nghề của các cơ sở tư thục và dạy nghề của cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài

- Theo nghề đào tạo đối với người học: Dạy nghề chia làm 3 loại là đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao

1.1.1.3 Đặc điểm chung của hoạt động dạy nghề

* Dạy nghề là hình thành nhân cách người lao động mới

Khác với giáo dục phổ thông, dạy nghề là đào tạo cho người học có được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định để

có thể làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới mà hoạt động dạy nghề phải mang lại cho người học trong quá trình đào tạo nghề

* Dạy nghề gắn liền với quá trình sản xuất

Đặc thù cơ bản của dạy nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất Mối liên quan này chặt chẽ hơn nhiều so với mối liên quan giữa dạy khoa học cơ bản với quá trình nhận thức khoa học Để nắm vững được nội dung khoa học cơ bản không đòi hỏi phải lặp đi lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức khoa học đã hình thành ra nội dung này Còn muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó (thiết bị luyện tập) Những mặt cơ bản của quá trình sản xuất gồm: đối tượng lao

Trang 15

động (tự nhiên, nhân tạo, nguyên vật liệu, bán thành phẩm) phương tiện lao động (công cụ cầm tay, bằng máy, bán tự động và tự động hoá) quá trình công nghệ và quá trình hỗ trợ (phụ); quá trình lao động (hành động, động tác, thao tác, cách thức) và sản phẩm lao động Trong nhiều năm trước đây, con người được sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động để có được sản phẩm Ngày nay, con người tác động lên đối tượng lao động thông qua các phương tiện điều khiển phức tạp Như vậy nội dung lao động của người công nhân và nội dung, phương pháp dạy nghề trước hết phụ thuộc vào cơ sở kỹ thuật của sản xuất và thay đổi cùng với sự phát triển của nó

Muốn dạy nghề có kết quả cần phải có một số điều kiện cơ bản sau: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ngũ giáo viên, giảng viên lý thuyết và thực hành vừa giỏi kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp vụ sư phạm Đặc biệt phải tính đến và sử dụng các thành tựu của các lĩnh vực: kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và tổ chức lao động khoa học Thiếu điều này dạy nghề không thể đạt hiệu quả cao

* Dạy nghề là dạy thực hành sản xuất

Nói đến dạy nghề người ta thường nói đến dạy lý thuyết và dạy thực hành sản xuất Đó là 2 mặt của một quá trình thống nhất không thể tách rời nhau, nhưng dạy thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo, chính nó là bộ phận quan trọng nhất của dạy nghề, không nắm vững điều đó sẽ đơn giản hoá việc dạy nghề Thời gian dạy thực hành sản xuất thường chiếm 2/3 thời gian đào tạo Ví dụ: tuyển học sinh tốt nghiệp Trung học sơ sở vào học nghề tiện, thời gian 3 năm, tay nghề khi tốt nghiệp

là bậc 3/7 thì học lý thuyết 1.500 giờ, thực hành 3.360 giờ Riêng đối với những nghề đòi hỏi các thành phẩm trí tuệ nhiều hơn như thợ sửa chữa các loại, thời gian thực hành sản xuất khoảng 60% Đào tạo tại nơi sản xuất và tại Trung tâm Dạy nghề thời gian thực hành là chủ yếu (80-90%) Mỗi nghề được xây dựng theo một

Trang 16

cấu trúc khoa học bao gồm: mục tiêu đào tạo, đặc điểm nghề, nội dung lao động phản ánh đúng trình độ sản xuất hiện tại và danh mục nghề đào tạo quy định

Ngày nay khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh làm thay đổi công nghệ sản xuất và nội dung lao động nghề nghiệp của người công nhân Vì thế trong vòng 5 -7 năm cần thiết phải xây dựng lại danh mục nghề đào tạo một lần Đó cũng là điểm khác biệt của đào tạo nghề với giáo dục phổ thông

* Phương pháp dạy nghề

Trong khi dạy lý thuyết nghề người ta sử dụng những phương pháp như dạy phổ thông: phương pháp thuyết trình: thầy nói – trò nghe; phương pháp đàm thoại: thầy hỏi – trò đáp; phương pháp trực quan: thầy chỉ - trò xem Nếu nói theo nguồn gốc tri thức thì có các phương pháp: Diễn đạt bằng lời (thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề); phương pháp trực quan (giới thiệu, quan sát thí nghiệm) Các phương pháp này phần lớn chỉ có tác dụng bên ngoài chứ chưa kính thích được tính tích cực bên trong của người học Để điều khiển hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành và phát huy năng lực độc lập sáng tạo của người học cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với bản chất của quá trình điều khiển, với quy luật khách quan của quá trình đó Dạy nghề nêu vấn đề đáp ứng được yêu cầu này

Phương pháp dạy nghề nêu vấn đề cũng sử dụng tốt tất cả các phương pháp

kể trên đồng thời đưa vào những tiến bộ mới dựa trên thành quả của tâm lý học dạy học và lý luận dạy học Tuy các phương pháp sử dụng ở phổ thông được áp dụng khi đưa vào các trường nghề vẫn có dấu hiệu riêng do tính đa dạng của sản xuất Các panô, bản vẽ, các thiết bị được mổ xẻ, các máy luyện tập mẫu dùng trong dạy lý thuyết đều là mô hình của quá trình sản xuất thực Hơn nữa việc dạy

lý thuyết luôn luôn được luân phiên với dạy thực hành sản xuất và học sinh làm ra sản phẩm ngay từ những ngày đầu học nghề

Trang 17

Việc dạy thực hành sản xuất thì phức tạp hơn nhiều Đặc điểm này được quy định bởi tính biến động và đa dạng của quá trình sản xuất (chủ yếu là quy trình công nghệ của quá trình lao động, tổ chức lao động) bởi sự tất yếu phải kết hợp 2 quá trình học tập và sản xuất với nhau ngay từ năm đầu

Mục đích chủ yếu của dạy thực hành sản xuất là hình thành cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển tư duy và năng lực sáng tạo kỹ thuật Cụ thể

là đảm bảo cho học sinh:

- Lập được kế hoạch, quy trình sản xuất (hiểu nhiệm vụ, chuẩn bị vật liệu, phương tiện kỹ thuật, quy trình công nghệ, các thao tác lao động)

- Có kỹ năng, kỹ xảo để chuẩn bị quá trình sản xuất (chọn vật liệu, dụng cụ, phụ tùng, tổ chức nơi làm việc)

- Có kỹ năng, kỹ xảo để thực hiện quá trình sản xuất (kỹ năng, kỹ xảo vận hành các thiết bị)

- Có kỹ năng, kỹ xảo điều chỉnh và kiểm tra quá trình sản xuất (kiểm tra thiết bị, xem xét đánh giá các thao tác lao động, đánh giá chất lượng phục vụ các sản phẩm)

- Nắm được kỹ năng, kỹ xảo phục vụ quá trình sản xuất và duy trì trạng thái làm việc của thiết bị chuyên dùng

Do đặc điểm trên mà đòi hỏi hoạt động dạy nghề không chỉ phải giúp người học nắm vững các kiến thức chuyên môn mà còn phải đào tạo, rèn luyện cho người học có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thao tác chuẩn mực

1.1.2 Vai trò của hoạt động dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân

Đào tạo nghề có thể cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ cho sự phát triển nền kinh tế đất nước Họ là những người đưa lí thuyết đến thực hành, đưa khoa học công nghệ tới các vùng chậm phát triển của đất nước Công tác đào tạo nghề cho mọi người để họ đi vào lao động sản xuất luôn

Trang 18

luôn là một yếu tố quan trọng trong việc táI sản xuất sức lao động vì thế mà công tác đó là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội

Vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã khẳng định sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng

Như vậy, có thể thấy rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), đặc biệt là trong bối cảnh đang tiến hành xây dựng và hoàn thiện một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới như ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề con người là vấn đề chủ chốt Một trong những công tác hàng đầu để hình thành con người mới XHCN đó chính là đào tạo nghề cho người lao động

1.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

1.2.1 Khái niệm và nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề

Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào

đó Một cách chung nhất, quản lý có thể được hiểu là: Quản lý là sự tác động có tổ

chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật [5,tr.26]

Trang 19

Quản lý vừa là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học

tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học, xã hội học, vừa là một “nghệ thuật" Do vậy các nhà quản lý trong quá trình quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt tổ chức, điều khiển, hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng hướng tới mục tiêu xác định, tránh được tình trạng rối ren và bất ổn định của tổ chức, đồng thời có thể kích thích và phát huy được năng lực của mọi thành viên trong tổ chức

Có nhiều dạng quản lý của nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội Trong đó, quản lý nhà nước là một dạng quản lý có

ý nghĩa quan trọng nhất Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm

chủ thể, định hướng điều hành, chi phối để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định [5,tr.27]

Quản lý nhà nước là sự quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước, ý chí Nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống điều khiển quan hệ xã hội

và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao

Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề là một dạng quản lý do các

cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan đến dạy nghề như: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức hoạt động của các CSDN, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động dạy nghề, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế; đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động dạy nghề

1.2.1.2 Nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

Hoạt động quản lý nhà nước về dạy nghề bao gồm các nội dung sau:

Trang 20

Thứ nhất, Nhà nước ban hành và thực thi một hệ thống các văn bản pháp luật về dạy nghề

Nhà nước xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho hoạt động dạy nghề ở các hình thức đào tạo, nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động dạy nghề ở nước ta trong thời kỳ mới Mọi hoạt động quản lý nhà nước về dạy nghề đều phải dựa vào cơ sở pháp lý

là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành Hệ thống này bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục dạy nghề: bậc học,, thời gian đào tạo, điều kiện học lực, văn bằng tốt nghiệp;

- Quy định mạng lưới các trường, danh mục các ngành nghề đào tạo, mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo;

- Quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đối với việc quản lý hoạt động dạy nghề;

- Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn nghề, phát hành các tài liệu đào tạo nghề, các ấn phẩm bồi dưỡng nghề;…

Thứ hai, Nhà nước hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển dạy nghề

Nhà nước hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển dạy nghề theo định hướng:

- Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, với việc làm trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vực nông thôn, các ngành kinh tế mũi nhọn và xuất khẩu lao dộng;

- Mở rộng đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp dựa trên nền học vấn trung học cơ sở;

- Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và đào

Trang 21

tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao dựa trên nền học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp

Thứ ba, Nhà nước huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển hoạt động dạy nghề

Muốn phát triển công tác dạy nghề cần có nhiều yếu tố, trong đó có vốn đầu tư Ngân sách quốc gia là nguồn cung cấp tài chính lớn nhất cho giáo dục – đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêng Tuy nhiên, do đất nước còn nghèo nên tỷ lệ chi cho phát triển hoạt động dạy nghề trong tổng chi ngân sách quốc gia còn ở mức hạn chế Số chi này cũng chỉ mới tập trung được cho việc trang bị cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, đồ dùng dạy học và trả lương cho giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý Trong những năm gần đây, Nhà nước đã đầu tư nhiều hơn cho công tác dạy nghề thông qua kinh phí của các chương trình mục tiêu quốc gia, các

dự án… Việc huy động thêm từ các nguồn lực ngoài ngân sách (cả trong và ngoài nước) cũng đã có tác dụng đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề Nhà nước quy định về quản lý tài chính, tài sản, đầu tư phát triển dạy nghề (quy định về quản lý chi tiêu công, quy định cấp đất, cho thuê đất, chính sách thuế, học bổng, học phí, kinh phí đào tạo…) Bên cạnh đó, Nhà nước tổ chức chỉ đạo nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đối với hoạt động dạy nghề

Thứ tư, Nhà nước tổ chức bộ máy quản lý về dạy nghề, hoàn thiện cơ chế quản lý

Bộ máy quản lý Nhà nước về dạy nghề bao gồm từ Bộ LĐTBXH, Tổng cục Dạy nghề đến các cơ quan quản lý hoạt động dạy nghề tại địa phương (thành phố, tỉnh, huyện, xã) Đồng thời, Nhà nước tiến hành phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương Hiện nay, Nhà nước đang xúc tiến đổi mới cơ chế quản lý, nhằm hoàn thiện hơn nữa, sao cho quản lý nhà nước đối với dạy nghề ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả hơn

Trang 22

Thứ năm, Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc tổ chức thực hiện các hoạt động dạy nghề

Nhà nước thực hiện việc thanh tra, kiểm toán công tác dạy nghề nhằm ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật về dạy nghề, đồng thời bảo vệ lợi ích của người học nghề và của các cơ sở đào tạo nghề Qua công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện những bất cập của cơ chế chính sách để kiến nghị sửa đổi cho phù hợp Đồng thời, Nhà nước giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động dạy nghề

1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề

Giáo dục – đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêng giữ vai trò đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi con người và của cả xã hội Vốn con người bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất về đạo đức, về nhân cách Vốn đó nhờ giáo dục – đạo tạo mà có Giáo dục – đào tạo làm cho con người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Loài người đang có ngày càng nhiều phát minh khoa học, công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống, làm cho năng suất lao động xã hội tăng vượt bậc, tạo ra nhiều của cải, vật chất hơn cho xã hội Muốn thực hiện được như vậy, trước tiên phải có nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn do ngành giáo dục – đào tạo cung cấp Do đó, vị trí của giáo dục – đào tạo có ý nghĩa quyết định đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Dạy nghề là một loại hình đào tạo trong hệ thống giáo dục – đào tạo Dạy nghề chính là việc đào tạo để có được những người đưa lý thuyết đến thực hành, đưa khoa học công nghệ đến các vùng chậm phát triển Công tác dạy nghề cho mọi người để họ đi vào lao động sản xuất luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động và luôn là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội Vì vậy, Nhà nước cần phải quản lý hoạt động dạy nghề để thực hiện được các mục tiêu vĩ mô về phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Trang 23

1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý Nhà nước về dạy nghề

* Nhu cầu của thị trường tác động đến QLNN về dạy nghề

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO Vì vậy đào nguồn nhân lực chất lượng cao đối với Việt Nam chính là chìa khóa để phát triển kinh tế Đây là một nhiệm vụ rất lớn đặt ra cho ngành giáo dục Việt Nam Vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay đã trở thành yếu tố cơ bản trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm gần đây, thực tế từ nhu cầu của thị trường lao động của một số địa phương cho thấy nhu cầu lao động có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm 20% đến 25%; nhu cầu lao động có trình độ trên đại học chỉ chiếm 2% - 5%, nhưng nhu cầu lao động

có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề lại cần tới 35% đến 40% Điều này là một sự chuyển biến về nhu cầu lao động thể hiện sự phát triển hội nhập của đất nước, thời gian tới sẽ còn tiếp tục dịch chuyển mạnh mẽ, mà thấy rõ nhất là nhu cầu lao động kỹ thuật

Bản chất của dạy nghề là đáp ứng nhu cầu xã hội, mục tiêu của dạy nghề là cung cấp nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Tuy nhiên, từ trước đến nay, về cơ bản, các cơ sở dạy nghề chủ yếu chỉ đào tạo “cái mình có” theo chương trình mà chưa chú trọng đến nhu cầu từng ngành nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường Chính vì vậy, một trong những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Vai trò của các cơ sở dạy nghề trong việc đào tạo

và cung ứng lao động đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp là điều rất cần thiết

và cấp bách

Ở Việt Nam, tình trạng “mâu thuẫn” học sinh tốt nghiệp phổ thông đổ xô thi đại học nhưng học đại học ra lại không tìm được việc làm là thực tế không thể phủ nhận Điều này cho thấy sự tác động lớn từ nhu cầu của thị trường đến công

Trang 24

tác dạy nghề, đặt ra yêu cầu bắt buộc cần nâng cao chất lượng công tác dạy nghề

Do đó sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp là cần thiết bởi vì sự tồn tại và phát triển bền vững đem lại lợi ích chung cho cả hai bên

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, các nhà quản lý, giáo viên và cán bộ doanh nghiệp cho thấy, sự gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở dạy nghề vẫn là một trong những hạn chế, bất cập lớn nhất trong công tác đào tạo nghề cần phải được tháo gỡ Theo Bộ LĐ-TB&XH, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với hoạt động dạy nghề trên thực tế hiện nay rất lỏng lẻo Nhiều doanh nghiệp thờ ơ với hoạt động dạy nghề Nếu có nhu cầu về lao động, họ chỉ tổ chức ứng tuyển các lao động đạt yêu cầu mà không chịu tổ chức đào tạo hay bỏ chi phí liên kết với cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho lao động Đồng thời, nhiều doanh nghiệp không chịu tiếp nhận nhà giáo, học sinh, sinh viên từ các cơ sở dạy nghề đến thực hành, thực tập, nâng cao tay nghề, kể cả trong trường hợp đã có sự thỏa thuận trước với các cơ sở dạy nghề Việc làm này đã khiến cho người học nghề sau khi tốt nghiệp đã không đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội

Hầu hết, các doanh nghiệp trong nước không mặn mà trong hoạt động dạy nghề Đó là một nguy cơ tạo tư duy xấu về bằng cấp trong xã hội, tâm lý thích hưởng thụ mà không thích sản xuất Theo các nhà quản lý, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy nghề Ở các nước phát triển, doanh nghiệp đóng vai trò như là một trong những điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề bên cạnh các điều kiện khác như giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất… Việc dạy nghề chính là đào tạo lao động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp được thụ hưởng kết quả, sản phẩm của quá trình dạy nghề Do vậy, doanh nghiệp phải tham gia vào dạy nghề Để tạo ra sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề cần xác định rõ cơ chế lợi ích cho doanh nghiệp Lợi ích sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp chủ động tham gia vào hoạt động dạy nghề mà không cần đến chế

Trang 25

tài bắt buộc Có như vậy, công tác dạy nghề mới đảm bảo đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thị trường

* Nhận thức của xã hội tác động đến QLNN về dạy nghề

Luật Dạy nghề đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/6/2007 Với sự chủ động tích cực của toàn ngành và sự phối hợp tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, Luật Dạy nghề đã thực sự đi vào thực tiễn, là

cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển dạy nghề, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề, góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật trực tiếp cho sự phát triển kinh tế đất nước

Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế không thể phủ nhận là đa số người dân không muốn học nghề mà chỉ muốn học đại học Cánh cửa các trường đại học ngày một rộng mở với nhiều hệ đào tạo, nhiều loại hình, tạo cơ hội tốt nhất để mọi người có thể đến với các giảng đường đại học Và hệ lụy tất yếu, số người đến với học nghề thì ngày càng ít đi, trong khi đó, lao động qua đào tạo nghề lại là lực lượng lao động chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Để khắc phục vấn đề này, Nhà nước đã có nhiều chính sách để tạo sự phân luồng học nghề Tuy nhiên, các chính sách phân luồng nêu trên đều chưa thực hiện được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ những chính sách quy định trong các văn bản luật không cụ thể.Với nhận thức không đúng của xã hội về việc học nghề, làm nghề nên trong nhưng năm qua, người dân chỉ muốn con em của họ vào học đại học Điều này dẫn đến một

hệ lụy đáng buồn: Ngoài việc gây mất cân đối trong cơ cấu nhân lực của quốc gia, thiếu hụt lực lượng lao động qua đào tạo nghề cho sự phát triển kinh tế đất nước thì đó còn là sự lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức của người học và gia đình của họ

Trang 26

Thực trạng trên cả xã hội đều nhận biết, nhưng đây là vấn đề lớn, có tính hệ thống, để khắc phục cần phải được giải quyết đồng bộ trong cả hệ thống, phải được điều chỉnh từ các luật liên quan như: Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Dạy nghề, Luật Việc làm, Bộ Luật lao động.v.v

* Tác động của các nguồn lực đầu tư cho hoạt động dạy nghề

Nói chung, tài chính bền vững cho dạy nghề là một yếu tố quan trọng

để thực hiện chức năng của các hệ thống dạy nghề Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo nguồn lực tài chính đầy đủ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề có năng lực, cơ sở vật chất học nghề… và chất lượng đầu ra được

kỳ vọng để thực hiện đào tạo nghề theo các tiêu chuẩn nghề Việc nâng cao chất lượng đầu ra thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính Ở Việt Nam và nhiều nước khác, việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính cũng xuất phát từ công tác mở rộng hệ thống đào tạo nghề do gia tăng dân số và nhu cầu đang tăng lên về nhân lực có chất lượng

Trước bối cảnh gia tăng cạnh tranh đối với những nguồn lực tài chính công có hạn cũng như các yêu cầu tài chính cho việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu khiến việc đảm bảo tài chính bền vững cho đào tạo nghề trở thành một thách thức chính và là vấn đề then chốt của các nỗ lực phát triển đào tạo nghề Về mặt này, việc giải quyết các yêu cầu tài chính đối với đào tạo nghề hướng cầu là một vấn đề rất quan trọng Nó bao gồm thông tin về chi phí thực tế, các nguồn phát sinh chi phí chính và các chi phí giới hạn theo tính khả thi Một vấn đề quan trọng khác đó

là huy động các nguồn tài trợ bổ sung cho tài chính công, tập trung chủ yếu vào các khoản đóng góp của các doanh nghiệp và các học viên (từ cha mẹ) với vai trò là các bên tham gia và những người hưởng lợi Vấn đề cốt yếu thứ

ba đó là quản lý và phân bổ nguồn vốn, tập trung vào tính minh bạch, trách

Trang 27

nhiệm giải trình cũng như hiệu suất và hiệu quả của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở một số địa phương và bài học cho tỉnh Thái Nguyên

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở

một số địa phương

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc đang ở trong trình trạng thừa lao động thủ công, không có chuyên môn kỹ thuật nhưng lại thiếu lao động có trình độ kỹ thuật trong các ngành nghề và trong các khu vực kinh tế, tình trạng thất nghiệp vẫn còn nan giải Thực trạng trên đặt ra cho công tác dạy nghề ở Vĩnh Phúc phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, nhằm đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ đặt ra Tỉnh đã có nhiều chủ trương, chính sách rất quan trọng để tạo ra sự phát triển đồng đều trên các lĩnh vực và đảm bảo an sinh xã hội Sau 5 năm thực hiện, về cơ bản chủ trương, chính sách trên đã đi vào cuộc sống, tạo được sự đồng thuận và hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân

Hệ thống CSDN được mở rộng đầu tư, hiện có 55 CSDN Đến cuối năm 2011, toàn tỉnh đã đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo là 51,2%, trong đó đào tạo kỹ thuật nghề là 37,45%; mỗi năm giải quyết việc làm từ 18-20 nghìn lao động Cơ sở dịch vụ và giới thiệu việc làm được tăng cường mở rộng Ngày 19/12/2011, Hội đồng Nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết 37 về một số chính sách hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo giai đoạn 2012 –

2015 Sau 2 năm thực hiện, những kết quả tỉnh Vĩnh Phúc thu về khá khả quan và đáng được khích lệ Tính đến cuối năm 2013, tỉnh đã cơ bản đáp ứng đầy đủ các yêu cầu , nhiệm vụ theo Quyết định của Chính phủ , từng bước

Trang 28

nâng cao chất lượng lao đô ̣ng với 20.000 học sinh, sinh viên được tuyển mới vào các trường Cao đẳng, Trung cấp, Sơ cấp nghề, đạt 88% kế hoạch Bên cạnh đó, toàn tỉnh mở trên 400 lớp bồi dưỡng kiến thức cho lao động nông thôn tại 87 xã, phường, thị trấn với khoảng 40.000 người tham gia Việc truyền nghề ở các làng nghề cũng được tỉnh chú trọng Kết quả nổi bật là đã

tổ chức truyền nghề thành công cho 380 người, gồm các nghề rèn, mộc và mây tre đan ở 8 xã có các làng nghề Cũng trong gần 2 năm qua, mặc dù kinh

tế suy thoái, thị trường lao động kém phần sôi động, công tác giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn nhưng với chính sách ưu đãi theo quy định của Nghị quyết 37, tỉnh đã giải quyết được khoảng 30.000 lao động cả trong nước và xuất khẩu

Để đạt được những kết quả trên, Vĩnh Phúc đã thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Quy hoạch hệ thống đào tạo nghề: Sắp xếp lại hệ thống dạy nghề trên

cơ sở dự báo nhu cầu của thị trường lao động và khả năng đào tạo của các trường nghề Quy hoạch hệ thống đào tạo nghề phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng ngành, từng địa phương, từng vùng kinh tế Xây dựng một số trường đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo;

- Đầu tư kinh phí, nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị trong các trường dạy nghề nhằm khắc phục tình trạng yếu kém, tụt hậu cả về quy mô chất lượng dạy nghề hiện nay;

- Có chính sách khuyến khích giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, tuyển giáo viên giỏi nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ giáo viên;

- Đổi mới nội dung và chương trình giảng dạy nghề trong các trường nghề ở Vĩnh Phúc, nội dung chương trình đào tạo nghề phải theo hướng tiếp

Trang 29

cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, để người lao động sau khi đào tạo nghề có thể thích ứng ngay với công việc thực tế;

- Tăng cường công tác thanh kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện các quy phạm pháp luật, các chế độ chính sách về đào tạo nghề nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, lệch lạc để điều chỉnh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong công tác đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng công tác dạy nghề;

- Thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, nhằm hỗ trợ và giúp cho các CSDN tự khẳng định chất lượng đào tạo, đảm bảo quyền lợi cho người học và cung cấp nhân lực có chất lượng cao;

- Nghiêm túc thực hiện quy định về cấp chứng chỉ, bằng nghề đã ban hành Tuyệt đối không xảy ra tiêu cực trong việc xét cấp chứng chỉ, bằng nghề Thanh tra, kiểm tra, xem xét phát hiện những chứng chỉ, bằng nghề giả, thiết lập lại trật tự kỷ cương trong việc cấp chứng chỉ, bằng nghề;

- Tăng cường các hình thức hợp tác quốc tế về dạy nghề như trao đổi kinh nghiệm, hội thảo, tập huấn, liên kết đào tạo nước ngoài những nghề mà ở Việt Nam chưa đủ điều kiện để đào tạo;

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Nghệ An

Là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ với diện tích 16.490,25 km2 và dân số 2.929.500 nghìn người, Nghệ An được xác định là một trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng với sự tích hợp đa dạng các ngành công nghiệp, cảng, dịch vụ cảng, du lịch và là nơi giao thương, trung chuyển hàng hóa Trong những năm qua, vấn đề phát triển đào tạo nghề được lãnh đạo tỉnh Nghệ An đặc biệt quan tâm và đã có những chuyển biến tích cực Tính đến năm 2010, số lao động đã qua đào tạo nghề của toàn tỉnh chiếm 40%

Trang 30

(tăng 7,5% so với năm 2006), trung bình hằng năm đào tạo được trên 45.000 người, giải quyết việc làm cho hơn 165.000 lao động

Thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về chương trình phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010 và Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án phát triển Thành phố Vinh trở thành Trung tâm Kinh tế - Văn hóa vùng Bắc Trung bộ bằng các giải pháp và cơ chế, chính sách cụ thể trong vấn

đề đào tạo nghề, đến nay trên địa bản tỉnh Nghệ An có 62 CSDN, bao gồm:

05 trường CĐN (03 trường địa phương, 02 trường trung ương), 8 trường TCN, 35 trung tâm dạy nghề, 14 cơ sở có dạy nghề Trong đó, có 37 CSDN công lập, 25 CSDN ngoài công lập (tăng thêm 11 CSDN so với năm 2005)

Hàng năm, năng lực đào tạo của hệ thống dạy nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An đáp ứng cho khoảng 66.000 lao động, quy mô đào tạo tăng từ 31.150 người (năm 2006) lên 66.000 người (năm 2010) Bình quân giai đoạn

2006 - 2010 mỗi năm đào tạo được trên 45.000 người Trong đó, đào tạo nghề cho lao động miền núi 5.500 - 6.000 lao động/năm, cho các đối tượng chính sách, người tàn tật, bộ đội xuất ngũ và người sau cai nghiện 1.500 người

Giai đoạn 2006 - 2010, các trường dạy nghề trên địa bàn đã bổ sung thêm 12 nghề đào tạo trình độ trung cấp trên tổng số 30 nghề và 15 nghề được

tổ chức đào tạo trình độ Cao đẳng (từ năm học 2007-2008) Đặc biệt một số ngành nghề như: Điện, Điện tử, Cơ khí, Công nghệ ô tô, Du lịch, Thương mại tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, Trường Cao đẳng Nghê

kỹ thuật Việt - Đức, Trường cao đẳng Giao thông Vận tải miền trung, Trường Công nhân Kỹ thuật xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Hà nội, Trường CĐN Du lịch - Thương mại Nghệ An, đồng thời đã đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề trình độ cao (đào tạo có ứng dụng khoa học kỹ thuật số) các

Trang 31

nghề Cơ khí chế tạo, Lắp ráp cơ khí, Công nghệ thông tin, Điện, Điện tử tại Trường CĐN Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn quốc Bước đầu đáp ứng

sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và các nhu cầu sử dụng lao động kỹ thuật ngoại tỉnh và xuật khẩu lao động

Theo số liệu của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỷ lệ học sinh học nghề tốt nghiệp năm học 2010 - 2011 là 96% trong đó tỷ lệ đạt khá giỏi là 32%, kỹ năng thực hành đạt khá trở lên là 30,4% Trên 75% hoạc sinh tốt nghiệp các trường dạy nghề vào làm việc tại các doanh nghiệp được đánh giá

là có kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp đạt yêu cầu, trong đó số được đánh giá là tốt chiếm trên 39% Từ năm 2006 đến năm 2010 đã đào tạo cho: 228.528 người bao gồm: CĐN: 8.047 người trong đó nữ: 1.449 (chiếm 18%); TCN: 39.307 người trong đó nữ : 8.373 (chiếm 21,3%); Sơ cấp nghề và da ̣y nghề thường xuyên: 181.147 người trong đó nữ: 66.663 (chiếm 36,8%);

Để đạt được các kết quả trên, tỉnh Nghệ An đã thực hiện tốt và đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất : Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò , vị trí của đào tạo nghề và học nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục định hướng cho toàn xã hội nhận thức đúng vị trí, vai trò của dạy nghề trong giải quyết việc làm, trong đảm bảo

cơ cấu nguồn nhân lực, về yếu tố có tính quyết định để phát triển kinh tế - xã hội bền vững; nhận thức đúng thang giá trị về dạy nghề để thay đổi hành vi, thu hút phần lớn thanh niên vào học nghề Nâng cao nhận thức của các doanh nhân về lợi ích của dạy nghề đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp,

từ đó chủ động tham gia, đóng góp chính và tích cực vào dạy nghề v.v…

Thứ hai: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước về đào tạo nghề

Xây dựng, hoàn thiện khung chính sách tài chính để tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển dạy nghề Cải tiến

Trang 32

cơ chế phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước cho phát triển dạy nghề Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích và có cơ chế mạnh để thu hút doanh nghiệp tăng cường đầu tư kinh phí cho việc xây dựng Tiếp tục hoàn thiện thể chế dạy nghề, nhất là cơ chế tài chính đảm bảo lợi ích đối với người dạy nghề, người học nghề, người lao động (tiền lương, vinh danh …), chính sách đối với doanh nghiệp tham gia dạy nghề, …Xây dựng các chính sách hỗ trợ riêng của tỉnh cho các giáo viên dạy nghề được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, nhất là đào tạo trình độ cao (sau đại học) Thực hiện chính sách ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút nghệ nhân, thợ bậc cao, học sinh, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi tham gia công tác dạy nghề

Thứ ba : Giải pháp phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Xây dựng, qui hoạch phát triển mạng lưới các CSDN trên địa bàn tỉnh phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cơ sở đào tạo công nhân

kỹ thuật theo Nghị quyết 04 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hình thành hệ thống CSDN theo 3 cấp trình độ đào tạo (Trung tâm dạy nghề, trường TCN, trường CĐN) Các CSDN được phân bổ hợp lý theo vùng, và các ngành kinh

tế - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống trường chất lượng cao, đạt chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu lao động

kỹ thuật cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu công nghiệp, khu chế xuất Tiếp tục phát triển và mở rộng quy mô, nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề, trưởng TCN, trường CĐN Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia về trình độ đào tạo, kỹ năng và sư phạm nghề Tăng cường ngân sách nhà nước đầu tư nâng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề, trong đó ưu tiên đầu tư phát triển các trường, nghề chất lượng cao, các nghề tiếp trình độ quốc tế, khu vực ASEAN, chuẩn quốc gia và CSDN ở các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc, Nâng cấp và đầu

tư mới các thiết bị dạy nghề cho phù hợp với thực tế sản xuất Tránh tình

Trang 33

trạng phải đào tạo lại trước khi giao việc Các CSDN phải đảm bảo đầu tư cơ

sở vật chất và thiết bị dạy nghề tối thiểu cho các nghề đào tạo Áp dụng công nghệ tiên tiến vào giảng dạy, đặc biệt là công nghệ thông tin, ngoại ngữ trong học tập, tăng thời lượng thực hành, giảm thời lượng lý thuyết Đối với các nghề trọng điểm quốc gia, xây dựng và ban hành chương trình, giáo trình dạy nghề trên cơ sở tiêu chuẩn nghề quốc gia Đối với các nghề cấp độ khu vực và quốc tế, tiếp nhận và sử dụng chương trình, giáo trình dạy nghề của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN và quốc tế phù hợp với thị trường lao động Việt Nam

Thứ tư: Xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động

Xây dựng và củng cố hệ thống thông tin thị trường lao động đặt tại các Trung tâm giới thiệu việc làm để cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; đưa trang Website về thị trường lao động vào hoạt động Mở chuyên mục “Người tìm việc - việc tìm người” trên một số phương tiện thông tin đại chúng của địa phương Đồng thời tổ chức các đợt khảo sát, nắm tình hình và khai thác thị trường lao động tại một số tỉnh trong nước và nước ngoài để đàm phán, ký kết hợp đồng cung ứng lao động của tỉnh cho phía đối tác Hệ thống thông tin

về thị trường lao động được cập nhật, xử lý thường xuyên có hệ thống với các chỉ số thống nhất có độ tin cậy cao là một điều kiện quan trọng để nâng cao tính thích ứng của công tác dạy nghề với thị trường lao động trong cả nước nói chung và ở tỉnh Nghệ An nói riêng Duy trì hoạt động sàn giao dịch việc làm vào ngày 15 và 30 hàng tháng tại Trung tâm giới thiệu việc làm để người lao động nắm bắt được thông tin nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn, trong nước và xuất khẩu lao động

Thứ năm: Tăng cường nguồn lực và đầu tư quốc tế cho dạy nghề

Tăng cường nguồn lực đầu tư ngân sách nhà nước cho dạy nghề, tăng tỉ

lệ ngân sách đầu tư cho dạy nghề so với tổng ngân sách cho giáo dục - đào tạo

Trang 34

lên 10 - 12 % trong giai đoạn 2010-2015 Bên cạnh việc tranh thủ nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia, tỉnh cần tiếp tục tăng ngân sách các cấp địa phương (tỉnh, huyện) cho dạy nghề, nhất là đối với cấp huyện, đồng thời ngân sách đầu tư cấp huyện phải phân định rõ khoản mục đầu tư ngân sách cho dạy nghề Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút nhiều tập đoàn kinh tế vào Nghệ

An để đầu tư hoặc mở các CSDN, mở rộng xã hội hoá dạy nghề đến vùng có nguồn nhân lực dồi dào và có mức sống dân cư cao (khu vực đô thị và vùng đồng bằng) Tranh thủ các khả năng nguồn lực đầu tư quốc tế cho dạy nghề

Thứ sáu: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về dạy nghề

Khuyến khích mở rộng và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác song phương giữa các CSDN của tỉnh với các cơ sở đào tạo có uy tín và chất lượng trong khu vực và trên thế giới nhằm trao đổi những kinh nghiệm trong đào tạo nghề và tăng thêm nguồn lực để phát triển Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tăng cường quy mô và hiệu quả đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức xuất khẩu lao động phổ thông và lao động đã qua dạy nghề

Thứ bảy : Thực hiện công tác kiểm định chất lượng đào tạo nghề

Thực hiện kiểm định chất lượng dạy nghề theo qui định Luật dạy nghề

và hướng dẫn của Bộ LĐTBXH ; có kế hoạch để hàng năm các CSDN đều phải được kiểm định chất lượng dạy nghề Trên cơ sở kết hợp cơ chế tự chủ kiểm định của cơ sở và tổ chức kiểm định của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề Đối với các trường TCN, CĐN định kì thông báo kết quả kiểm định

để người học và xã hội đánh giá Tăng cường thanh tra, kiểm tra dạy nghề để duy trì hoạt động dạy nghề trên địa bàn theo đúng Luật Dạy nghề và các quy định của Bộ LĐTBXH

1.3.2 Bài học cho tỉnh Thái Nguyên

Trang 35

Từ thực tiễn đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở Vĩnh Phúc và Nghệ An, có thể thấy những bài học cho tỉnh Thái Nguyên để nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề như sau:

Bài học thứ nhất: Rà soát, bổ sung qui hoạch phát triển mạng lưới CSDN trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động

Thực hiện rà soát, đánh giá lại quy mô đầu tư, mật độ, danh mục ngành nghề và năng lực của các CSDN trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở đó đánh giá đúng thực trạng của hoạt động dạy nghề hiện nay cũng như nhu cầu việc làm của xã hội; qua đó sắp xếp, quy hoạch lại mạng lưới CSDN cho phù hợp với nhu cầu thực tế của từng địa phương để tránh đầu tư dàn trải, kém hiệu quả

Mạng lưới CSDN của tỉnh sẽ phát triển theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa, linh hoạt, năng động, thiết thực, thích ứng với cơ chế thị trường và đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động trong – ngoài tỉnh Hình thành và phát triển đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề trình độ cao theo yêu cầu của một số ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, của các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động Đồng thời các điạ phương cần phải có chính sách đầu tư phát triển mạng lưới dạy nghề phù hợp với nhu cầu đào tạo và khả năng tài chính của từng điạ phương

Bài học thứ hai, cần mở rộng quy mô, đi đôi với nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn dạy nghề với giải pháp tạo việc làm, tự tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tư cho công tác dạy nghề

Phát triển CSDN tại doanh nghiệp: Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đóng trên điạ bàn tỉnh thành lập cơ sở đào tạo

Trang 36

nghề, lớp dạy nghề phục vụ nhu cầu lao động kỹ thuật phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Phát triển mạnh đào tạo nghề theo hướng này sẽ gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng lao động, khắc phục được tình trạng thiếu giáo viên, thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất đào tạo, đảm bảo cho người lao động sau khi học nghề sẽ có việc làm ổn định Duy trì và phát triển hình thức kèm cặp, truyền nghề, dạy nghề tư nhân, chuyển giao công nghệ trong sản xuất

Đa dạng hóa trình độ đào tạo nghề, ngành nghề đào tạo và phương thức đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người và điều kiện phát triển kinh tế

xã hội ở từng địa phương Chú trọng đào tạo lao động cho phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và đào tạo lao động ở nông thôn tạo điều kiện để chuyển nhanh lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp Nâng cao hiệu quả dạy nghề của các CSDN công lập trên địa bàn tỉnh Đẩy mạnh công tác tư vấn nghề nghiệp và việc làm cho học sinh trước và sau khi học nghề, quản lý tốt vấn đề việc làm của học sinh sau khi tốt nghiệp Ưu tiên dạy nghề cho người dân tộc, hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, bộ đội xuất ngũ

Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên: Đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giao viên dạy nghề theo tiêu chuẩn quy định để bổ sung, cung cấp đội ngũ giáo viên cho Trường Cao đẳng nghề tỉnh và các Trung tâm Dạy nghề cấp huyện, thành phố trong những năm tới Phát triển đội ngũ giáo viên thỉnh giảng bao gồm các công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ trình

độ cao trong các doanh nghiệp, các sở ban ngành, các giảng viên của các Trường cao đẳng, đại học trong khu vực

Bài học thứ ba: Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của xã hội về học nghề, lập nghiệp; thông tin cho xã hội về hiệu quả hoạt động dạy nghề, kết quả đào tạo nghề trên các phương tiện thông tin truyền thông Đổi mới công tác quản lý nhà nước về dạy nghề

Trang 37

Tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác dạy nghề, về vai trò vị trí của dạy nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và có vai trò quyết định đối với việc lập thân, lập nghiệp của người lao động nhằm thu hút ngày càng nhiều học sinh tham gia học nghề

Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo, hướng nghiệp - dạy nghề, các tổ chức khoa học - công nghệ với các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển nhân lực của Đảng, Nhà nước và Tỉnh Đặc biệt, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo và cơ hội việc làm

từ các doanh nghiệp Phối hợp các hoạt động tư vấn nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo, dạy nghề và tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên, người lao động lựa chọn ngành nghề phù hợp ngay từ khi vào trường, đồng thời có nhiều thông tin cần thiết về việc làm khi sắp tốt nghiệp

Tiếp tục chấn chỉnh củng cố lại công tác quản lý nhà nước về dạy nghề tại điạ phương theo hướng cơ chế quản lý, điều hành phải được đổi mới theo hướng vừa phát huy tính chủ động, năng động của từng cơ sở đào tạo nghề, từng điạ phương vừa phải tuân thủ và thực hiện những quy định chung của pháp luật về dạy nghề trên cơ sở đó kiện toàn hệ thống quản lý đào tạo nghề Đưa nhanh công nghệ thông tin vào công tác quản lý Thường xuyên bồi dưỡng và đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về dạy nghề của điạ phương

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

2.1 Tổng quan về hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010

2.1.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động dạy nghề ở Thái Nguyên

2.1.1.1 Các điều kiện tự nhiên

Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ

Thái Nguyên có vị trí địa lý: phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km) Với diện tích tự nhiên 3.562,82 km² Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: và tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du

Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50

km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam - Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang

Hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên - Hà Nội

- Lạng Sơn

Trang 39

Tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng… Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất

đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng

2.1.1.2 Các điều kiện kinh tế - xã hội

Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y

tế của Việt Nam nói chung, của vùng trung du miền Đông Bắc nói riêng Đây

là một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút Thái Nguyên là nơi tụ hội các nên văn hoá dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục của vùng núi phía Bắc rộng lớn Với

6 trường Đại Học, trên 20 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật Thái Nguyên xứng đáng là trung tâm văn hóa, nghiên cứu khoa học và giáo dục - đào tạo của các tỉnh miền núi phía Bắc Vị trí địa lý của tỉnh

đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong vùng, trong cả nước cũng như với nước ngoài trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế

Theo số liệu thống kê năm 2009 toàn tỉnh có 1.127.430 người, sinh sống trên địa bàn: 144 xã, 23 phường, 15 thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: 2 thành phố, thị xã là Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công; 2 huyện không thuộc huyện miền núi là Phổ Yên, Phú Bình và 5 huyện thuộc miền núi là: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ và Đại Từ

Trang 40

Bảng 2.1: Đơn vị hành chính, mật độ dân số và dân số nông thôn

Mật độ (người/km)

Dân số nông thôn

Nguồn: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 - 2015

của UBND tỉnh Thái Nguyên

Địa bàn có nhiều đơn vị hành chính và dân số trung bình đông là Thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, huyện Phú Bình, huyện Phổ Yên Địa bàn

có mật độ dân số thấp là huyện Võ Nhai, huyện Định Hóa, huyện Đồng Hỷ Địa bàn có tỷ lệ dân số nông nghiệp cao là: huyện Đại Từ chuyến 95,2% lao động xã hội; Võ Nhai 94,5%; Phú Bình 94,4%; Phú Lương 92,9%; Phổ Yên 91,4% Toàn tỉnh dân cư nông thôn hiện có 838.574 người chiếm 74,38% và lao động nông nghiệp 454.840 người chiếm 40,34% lao động toàn xã hội

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2009), Nghị định số 70/2009/NĐ – CP ngày 21/08/2009 Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 70/2009/NĐ – CP ngày 21/08/2009 Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
2. Chính phủ (2012), Quyết định 630/QĐ – TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 630/QĐ – TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
3. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2004
4. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
5. Phan Huy Đường (2008), Quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về kinh tế
Tác giả: Phan Huy Đường
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
6. Học viện Hành chính (2010), Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên, Phần III - Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2010
7. Kiểm toán Nhà nước (2011), Báo cáo kiểm toán Dự án tăng cường năng lực dạy nghề thuộc Chương trình MTQG GDĐT đến năm 2010 tại tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm toán Dự án tăng cường năng lực dạy nghề thuộc Chương trình MTQG GDĐT đến năm 2010 tại tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Kiểm toán Nhà nước
Năm: 2011
8. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011),“Quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Năm: 2011
9. Quốc hội (2006), Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
10. Nguyễn Viết Sự (2005), Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Viết Sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
11. Bùi Đức Tùng (2007), “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam”
Tác giả: Bùi Đức Tùng
Năm: 2007
12. Phan Chính Thức (2003), “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận án Tiến sỹ giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Tác giả: Phan Chính Thức
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Tĩnh (2007), “ Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta – Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Nguyễn Đức Tĩnh
Năm: 2007
14. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2010), Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 – 2015, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2010
15. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2011), Báo cáo kết quả thực hiện công tác đào tạo nghề giai đoạn 2006 – 2010, phương hướng nhiệm vụ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Thái Nguyên.Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác đào tạo nghề giai đoạn 2006 – 2010, phương hướng nhiệm vụ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020," Thái Nguyên
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đơn vị hành chính, mật độ dân số và dân số nông thôn - Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.1 Đơn vị hành chính, mật độ dân số và dân số nông thôn (Trang 40)
Bảng 2.2: Lao động làm việc trong các ngành tạo việc làm mới - Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2 Lao động làm việc trong các ngành tạo việc làm mới (Trang 41)
Bảng 2.3: Các Trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp - Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.3 Các Trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp (Trang 41)
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010 - Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.4 Kết quả đánh giá các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 43)
Bảng 2.6: Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn   2006 - 2010 - Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.6 Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 49)
Bảng 2.7: Tổng hợp đội ngũ giáo viên dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên  giai đoạn 2006 - 2010 - Quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.7 Tổng hợp đội ngũ giáo viên dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w