Bằng kinh nghiệm từ quá trình công tác nhiều năm trong ngành xây dựng, với vốn kiến thức được học và qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản quy định của pháp luật, Nhà nước và để
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ MINH THOA
QUẢN LÝ CHI PHÍ CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG LỚN
SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ MINH THOA
QUẢN LÝ CHI PHÍ CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG LỚN
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt……….… i
Danh mục các bảng, hình……… …ii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ CỦA CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ………11
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước 11
1.1.1 Khái niệm về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 11
1.1.2 Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 12
1.1.3 Tiêu chí quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 12
1.1.4 Mục tiêu quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 13
1.2 Nội dung của quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 14
1.2.1 Quản lý tổng mức đầu tư 14
1.2.2 Quản lý dự toán xây dựng công trình 17
1.2.3 Quản lý định mức xây dựng 20
1.2.4 Quản lý giá xây dựng công trình 21
1.2.5 Quản lý chỉ số giá 22
1.2.6 Quản lý thanh toán hợp đồng xây dựng 22
1.2.7 Quản lý thanh toán vốn đầu tư 23
1.2.8 Quản lý quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình 24
1.3 Kinh nghiệm thực tiễn quản lý chi phí xây dựng tại một số nước trên thế giới 25
1.3.1 Thực tiễn quản lý chi phí xây dựng tại một số nước trên thế giới 25
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với Việt Nam 34
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ CÁC DỰ ÁN XÂY
DỰNG LỚN SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HÀ NỘI 38
2.1 Môi trường pháp lý của công tác quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước 38
2.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý chi phí của dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước 38
2.1.2 Một số tồn tại trong hệ thống văn bản pháp quy hiện hành về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 41
2.2 Phân tích thực trạng quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách nhà nước ở Hà Nội trong giai đoạn 2006-2013 43
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội 43
2.2.2.Thực trạng chung về quản lý chi phí của các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách nhà nước ở Hà Nội (Một số trường hợp điển hình) 45
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách nhà nước ở Hà Nội 50
2.3.1 Những kết quả đạt được 50
2.3.2 Những bất cập, nguyên nhân và hạn chế trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Hà Nội 50
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ CỦA CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG LỚN SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HÀ NỘI 56
3.1 Tình hình về đầu tư xây dựng của Hà Nội trong những năm tới 56
3.1.1 Quy hoạch chung của thủ đô Hà Nội 56
3.1.2 Nhu cầu về xây dựng trong những năm tới 58
3.1.3 Định hướng, mục tiêu đầu tư xây dựng 58 3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí của các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách nhà nước ở Hà Nội (giai đoa ̣n 2015-2020) 59
Trang 53.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý và quá trình quản lý thực hiện các công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình giai đoạn (2015-2020)
59
3.2.2 Đổi mới cơ chế kế hoạch hóa vốn đầu tư xây dựng công trình 60
3.2.3 Nâng cao chất lượng quản lý công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng 63
3.2.4 Nâng cao quản lý chất lượng công tác đấu thầu 66
3.2.5 Đổi mới công tác quản lý khâu thanh, quyết toán công trình 68
3.2.6 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 68
3.2.7 Nâng cao chất lượng quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao tại Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, Tư vấn quản lý dự án, Tư vấn giám sát 71
3.2.8 Hoàn thiện bộ máy quản lý đồng bộ phù hợp trong việc lập, tổ chức thực hiện và điều hành dự án xây dựng 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 Viết tắt tiếng Việt
1 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
2 Viết tắt tiếng Anh
Stt Ký hiệu Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
1
BOT Build - Operation -
Transfer
Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao
2 CFA Construction Floor Area Diện tích sàn xây dựng
3 CM Construction Management Quản lý xây dựng
4 CPM Critical Path Method Phương pháp đường găng
7 SMM Standard Method of Bộ tiêu chuẩn đo bóc khối
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Một trong những tư tưởng về quản lý kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là biện pháp quan trọng để tích lũy vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các nhu cầu của đời sống con người Hàng năm vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư xây dựng cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là rất lớn, chiếm tỷ trọng 30 ÷ 35% GDP Vì vậy, việc cân đối phân bổ và điều hành vốn đối với các Bộ, ngành, địa phương và các thành phố trực thuộc Trung ương để triển khai các dự án đầu tư xây dựng thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, chống thất thoát
và lãng phí là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt
Trên thực tế việc lãng phí, thất thoát vốn ngân sách Nhà nước cho các dự án đầu tư xây dựng công trình là rất lớn Thất thoát, lãng phí vốn ngân sách Nhà nước gây thiệt hại lớn cho Nhà nước, tập thể và nhân dân; ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước, gây trở ngại lớn với quá trình đổi mới đất nước, là một trong những nguy cơ gây bất
ổn định kinh tế - xã hội Việc này đã và đang đặt ra cho các cấp, các ngành quản lý từ Trung ương đến địa phương tìm cách ngăn ngừa chống thất thoát lãng phí trong chi phí đầu tư xây dựng
Trong các dự án đầu tư xây dựng công trình, ba yếu tố quan trọng hàng đầu là: chất lượng thi công xây dựng công trình, thời gian xây dựng và chi phí đầu tư xây dựng Các yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau và có ý nghĩa quyết định thành công hay thất bại của dự án đầu tư xây dựng công trình Hai yếu tố: chất lượng công trình và thời gian xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến yếu tố chi phí đầu tư xây dựng
Quản lý chi phí của các dự án đầu tư xây dựng công trình không chặt chẽ, hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát và lãng phí vốn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến tiến độ thi công xây dựng công trình, có tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Giảm thất thoát, lãng phí chi phí đầu tư xây dựng công trình tức là tăng nguồn vốn phát triển kinh tế - xã hội Để giảm thất thoát, lãng phí cần thực hiện công tác quản lý chi phí ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác, sử dụng
Trang 9Bằng kinh nghiệm từ quá trình công tác nhiều năm trong ngành xây dựng, với vốn kiến thức được học và qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, văn bản quy định của pháp luật, Nhà nước và để có thêm những kiến thức cần thiết, nghiên cứu chuyên sâu phục vụ
cho công tác chuyên môn, tác giả chọn đề tài: “Quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn
sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp
Đề tài được thực hiện nhằm làm sáng tỏ những vấn đề và câu hỏi nghiên cứu sau : Quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử du ̣ng ngân sách Nhà nước ở Hà Nô ̣i có những ưu , nhược điểm gì? Đề xuất những giải pháp hữu hiê ̣u nào trong giai đoa ̣n 2015-2020?
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
* Về các công trình nghiên cứu của nước ngoài:
International construction cost report, “International construction costs: A
changing world economy”, Paul Moore - Mathew Riley - Tim Robinson -
Nick Smith, EC Harris research, 2012 (Chi phí xây dựng quốc tế - Sự thay đổi nền kinh tế thế giới) Các tác giả đề cập việc xây dựng trên thế giới nên tập trung vào bệnh viện, trường học, cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng…
để giải quyết các vấn đề xã hội và góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế
- xã hội Tuy nhiên, một số nơi chưa coi trọng công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng, hoạt động xây dựng thường ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau: Nhu cầu, lao động, giá cả hàng hóa, lạm phát… tất cả đều ảnh hưởng đến chi phí đầu tư xây dựng
Paul Martin, Concepts and Practies of Model - based Quantity Takeoff
and Estimating – A Case Study, American Society of Professional Estimator
Herrero Builder, 2013 (Lý luận và thực tiễn của việc đo bóc tiên lượng và tính toán dựa trên mô hình thông tin công trình – Nghiên cứu tình huống) Tác giả
đề cập cách tiếp cận mới trong quản lý dự án xây dựng tại Bắc Mỹ, bao gồm: triển khai dự án theo phương thức tích hợp (Integrated Project Delivery - IPD), hợp đồng quan hệ giữa ba bên Chủ đầu tư - Tư vấn - Nhà thầu (Integrated Form of Agreement – IFOA), quản lý chi phí và giá trị dự án theo
Trang 10mục tiêu (Target Value Design and Construction), và sử dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong thiết kế, quản lý khối lượng và chi phí dự án
Du Giang, Invertment Management and Construction Economics in
China, Division 6 Corporation, 2013 (Kinh tế xây dựng và công tác quản lý
đầu tư ở Trung Quốc) Tác giả giới thiệu hai mô hình ứng dụng rộng rãi ở Trung Quốc trong quản lý kinh tế của công trình xây dựng, mô hình tổ chức quản lý công trình xây dựng và xu thế phát triển Quản lý kinh tế công trình xây dựng của Trung Quốc: dựa vào phương pháp lập dự toán theo hình thức tính giá bằng định mức, cách tính giá do Nhà nước hoặc bộ phận quản lý tính giá công trình địa phương được Nhà nước ủy quyền tiến hành lập Hoặc cũng
có thể lập dự toán trong mô hình tính giá theo bảng kê chi tiết khối lượng công trình Các hình thức quản lý đầu tư xây dựng được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc: hình thức đường thẳng, hình thức chức năng, hình thức kết hợp đường thẳng và chức năng, hình thức ma trận và các mô hình giao – nhận thầu của dự án: mô hình tổng thầu và thầu phụ, mô hình phân chia giao thầu,
mô hình liên danh nhận thầu, mô hình hợp tác nhận thầu, mô hình nhận thầu
CM (Construction Management – Quản lý công trình xây dựng)
Peter Elwyn Phillips, Personal Experience of Pre and Post Contract
Management, 2013, Regional Director of Systech International in Japan (Kinh
nghiệm cá nhân về quản lý hợp đồng xây dựng trước và sau khi ký Tác giả đề cập đến vấn đề quản lý hợp đồng FIDIC (Federal International des Ingenieurs Conseils – Hiệp hội Quốc tế của các kỹ sư tư vấn) bằng những kinh nghiệm nhiều năm trong ngành xây dựng, phân tích và làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong quản lý hợp đồng xây dựng
Takahiro KONAMI, Target Price Determination and Cost Estimation
Methods of Public Works in Japan, Ministry of Land, Infrastructure,
Transport and Tourism, Japan, 2013 (Phương pháp xác định dự toán xây dựng
Trang 11và dự toán chi phí gói thầu đối với công trình công cộng tại Nhật Bản Tác giả
đề cập đến giá ước tính công trình Giá ước tính chính là tổng giá trị các nội dung đã nêu trong quá trình đấu thầu liên quan tài sản hoặc dịch vụ đối tượng của hợp đồng để xác định đối tác có thể ký hợp đồng với bên chủ thầu Cấu tạo của chi phí công trình trên hợp đồng để tính giá ước tính, các yếu tố cấu thành chi phí trên hợp đồng, chuyển đổi từ phương thức điều hành trực tiếp sang hợp đồng, hệ thống hóa các hạng mục công trình, vi tính hóa nghiệp vụ hạch toán
Takashi NAKAYAMA, Works and Cost Estimates, The Overseas
Construction Association of Japan, Inc (OCAJI), 2013 (Dự toán chi phí trong xây dựng) Tác giả đề cập đến dòng chi phí và các căn cứ lập dự toán chi phí trong xây dựng
* Về các công trình nghiên cứu của Việt Nam:
Bài viết “Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình”, Quang Trung, Báo điện tử
Điện Biên Phủ, ngày 11/4/2012 Tác giả đề cập công tác quản lý chi phí đầu vào của các
dự án đầu tư xây dựng công trình có vai trò quan trọng đối với hiệu quả đầu tư và tác động trực tiếp tới chất lượng công trình Trong những năm qua các ngành, các cấp, các đơn vị Chủ đầu tư đã quan tâm triển khai thực hiện công tác này góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng nguồn vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước và chất lượng hiệu quả sử dụng công trình sau đầu tư Thực tế qua công tác kiểm tra, giám sát của các ngành chức năng cho thấy hầu hết các Chủ đầu tư, nhà thầu thi công và đơn vị tư vấn đã thực hiện nghiêm túc quy định của Nhà nước và triển khai thực hiện dự án, chất lượng, hiệu quả công trình cơ bản đảm bảo theo hồ sơ thiết kế được duyệt
Bài viết “Quản lý chi phí đầu tư xây dựng - Bài toán đã có lời giải”, Vũ Huyền,
Báo Xây dựng, đăng ngày 03/6/2009 đã đề cập: Quản lý chi phí đầu tư xây dựng sao cho hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực, phù hợp với thông lệ quốc tế luôn là vấn đề nóng bỏng đối với lĩnh vực xây dựng, tạo bước chuyển biến lớn từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường, tạo sự chủ động và dám chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, từng bước xây dựng chính sách quản lý giá phù hợp với sự biến động của thị trường
Trang 12Chính sự phân cấp rõ và giao quyền nhiều hơn cho Chủ đầu tư, giảm sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình định giá xây dựng đã nâng cao hiệu quả đầu tư dự án Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động, đòi hỏi cơ chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng tiếp tục đổi mới phù hợp và linh hoạt hơn với thị trường, hội nhập với thông lệ quốc tế
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Lê Toàn Thắng, đề tài “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội”, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng
viên ngành lý luận chính trị, 2012 Tác giả đã nghiên cứu hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội; đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý vốn đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội
Bài viết “Nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản”, Minh Thanh,
Báo điện tử Quảng Ninh, 2012 Tác giả đã nêu lên vấn đề cần quản lý chi đầu tư xây dựng
cơ bản của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn kiềm chế lạm phát, đồng thời cần tập trung nguồn chi cho các dự án quan trọng Cùng với việc rà soát cắt giảm chi đối với các dự án ngừng, hoãn, giãn tiến độ, UBND tỉnh cũng chỉ đạo tập trung nguồn vốn chi cho các dự án quan trọng, nhằm đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ cho các mục tiêu phát triển của địa phương Trong đó, chương trình nông thôn mới là chương trình
có rất nhiều mục tiêu nhằm đảm bảo sản xuất, đời sống, văn hoá tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đảm bảo an sinh xã hội vùng nông thôn
Bài viết “Tác động các quy luật kinh tế và thể chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Trần Hồng Mai, Tạp chí Kinh tế xây dựng, số
04/2013 Tác giả đề cập một số tác động chủ yếu đến sự hình thành phương thức quản lý chi phí đầu tư xây dựng nhìn nhận từ sự vận động của các quy luật kinh tế cơ bản của kinh
tế thị trường và những nội dung chủ yếu hoàn thiện thể chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng vận hành trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Bài viết “Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng – Thực trạng của Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, Phạm Văn Khánh, Tạp chí Kinh tế xây dựng, số 04/2013 Tác giả làm
nổi bật chính sách quản lý đầu tư xây dựng có vai trò rất lớn trong việc thực hiện đúng quy hoạch, tiến độ, bảo đảm chất lượng, an toàn và hiệu quả vốn đầu tư cũng như hiệu quả kinh
tế - xã hội, đặc biệt là đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn Nhà nước
Trang 13Bài viết “Lãng phí trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng dưới góc nhìn lập tiến
độ và quản lý thực hiện tiến độ xây dựng không tốt”, Nguyễn Huy Thanh - Nguyễn Quốc
Toản - Đặng Thị Dinh Loan, Tạp chí Kinh tế xây dựng, số 04/2013 Các tác giả làm rõ những nguyên nhân chủ quan dẫn đến tiến độ không tốt hoặc quản lý thực hiện tiến độ không tốt, làm cho tiến độ thi công kéo dài, gây lãng phí và có thể làm giảm chất lượng trong thi công
Các công trình nghiên cứu trên hoặc chỉ tập trung nghiên cứu một khía cạnh nhỏ trong công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng, hoặc chỉ nghiên cứu những bất cập quản lý chi phí đầu tư xây dựng, dự toán chi phí trong xây dựng Hiện chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về quản lý chi phí các dự án xây dựng sử dụng ngân sách Nhà nước tại
Hà Nội Vì vậy, Đề tài “Quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội” đã được tác giả lựa chọn cho luận văn tốt nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở tổng quan một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về quản lý chi phí của dự án đầu tư xây dựng công trình, phân tích thực trạng công tác quản lý chi phí của các dự án xây dựng sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội trong thời gian qua, làm rõ ưu điểm, tồn tại
và nguyên nhân của chúng, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý chi phí các dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
- Nghiên cứu thực trạng quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý chi phí của các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu một số trường hợp điển hình sau:
+ Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm hội nghị Quốc gia;
+ Dự án đầu tư xây dựng trụ sở làm việc Bộ Tài chính;
+ Dự án tu bổ nâng cấp Nhà hát lớn Hà Nội;
+ Dự án xây dựng cầu Nhật Tân - Hà Nội;
+ Dự án xây dựng đường sắt trên không tuyến Cát Linh - Hà Đông - Hà Nội;
+ Dự án xây dựng đường vành đai I Hà Nội (Đoạn Ô Chợ Dừa - Hoàng Cầu và đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng theo các văn bản quy phạm hiện hành để xem xét đối tượng nghiên cứu là quản
lý chi phí của dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn xây dựng từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
- Phương pháp phân tích tổng hợp được áp dụng nhằm làm rõ những ưu điểm, những tồn tại và nguyên nhân của công tác quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
- Phương pháp so sánh được áp dụng nhằm so sánh, đối chiếu thực trạng công tác quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu (2006-2013), cũng như so sánh thực trạng công tác quản lý chi phí xây dựng một số nước trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm
Trang 15- Các dữ liệu và số liệu chủ yếu dựa trên các nguồn thứ cấp, tuy nhiên chúng đều là nguồn đáng tin cậy: từ Kiểm toán Nhà nước, Tổng hội xây dựng Việt Nam, Viện Kinh tế xây dựng …
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý chi phí của các dự án xây dựng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý chi phí của các dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Chương 2: Thực trạng quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí các dự án xây dựng lớn sử dụng ngân sách Nhà nước ở Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ CỦA CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
1.1.1 Khái niệm về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình (gọi tắt là quản lý chi phí) là quản lý toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng Quản lý chi phí của dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm: quản lý tổng mức đầu tư; quản lý dự toán công trình; quản lý định mức xây dựng và giá xây dựng công trình; quản lý thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình; quản lý kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình [28, tr.183]
Mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình của dự án thì chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình xuất hiện ở mỗi thành phần và tên gọi khác nhau tùy thuộc vào chức năng của nó: ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình thì chi phí của dự án đầu tư xây dựng công trình biểu thị thông qua chỉ tiêu tổng mức đầu tư; ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình thì biểu hiện thông qua chỉ tiêu dự toán xây dựng công trình; khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng thì được biểu thị thông qua chỉ tiêu thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Quản lý chi phí phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình Quản lý chi phí chịu ảnh hưởng của các quy luật kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu và giá cả, quy luật cạnh tranh và chịu sự điều tiết của Nhà nước thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng
1.1.2 Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Quản lý chi phí phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình và các yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường;
Quản lý chi phí theo từng công trình, phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định của Nhà nước
Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được dự tính theo đúng phương pháp, đủ các khoản mục chi phí theo quy định và phù hợp độ dài thời gian xây dựng công
Trang 17trình Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà Chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý chi phí thông qua việc ban hành, hướng dẫn
và kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí
Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý chi phí từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng [22, tr.2]
1.1.3 Tiêu chí quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Gồm 5 tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất: Quản lý chi phí phải đảm bảo tính đúng, tính đủ theo thiết kế,
áp dụng các định mức và đơn giá xây dựng phù hợp về phương pháp lập, yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công và địa điểm xây dựng
Tiêu chí thứ hai: Tổ chức, cá nhân tham gia quản lý chi phí phải có đủ điều kiện
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn, nắm vững cơ chế chính sách, khách quan, trung thực, không vụ lợi;
Tiêu chí thứ ba: Quản lý chi phí bằng hợp đồng kinh tế được ký kết giữa Chủ đầu
tư và các Nhà thầu Hợp đồng kinh tế là căn cứ pháp lý cao nhất để yêu cầu các bên thực hiện đúng và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp;
Tiêu chí thứ tư: Đủ thủ tục pháp lý về thanh, quyết toán vốn đầu tư theo hợp đồng
kinh tế ký kết và định chế tài chính của Nhà nước Cơ quan cấp phát vốn thực hiện kiểm soát thanh toán theo nguyên tắc thanh toán trước, chấp nhận sau cho từng lần thanh toán và kiểm soát trước, thanh toán sau đối với lần thanh toán cuối cùng của gói thầu, hợp đồng
Tiêu chí thứ năm: Kiểm soát chi phí giai đoạn trước xây dựng như kiểm soát chi
phí tổng mức đầu tư, dự toán công trình, hạng mục, bộ phận công trình, giá dự thầu, giá thương thảo trước khi ký kết hợp đồng
Kiểm soát chi phí giai đoạn thực hiện xây dựng công trình: Khối lượng thanh toán, giá trị đề nghị thanh toán, các nội dung công việc phát sinh, điều chỉnh, bổ sung, giá trị quyết toán dự án hoàn thành
1.1.4 Mục tiêu quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Mục tiêu của quản lý chi phí đầu tư xây dựng là đạt được lợi ích mong muốn của Chủ đầu tư Trong mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình, quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể khác nhau: Giai đoạn chuẩn
Trang 18bị đầu tư phải đảm bảo lập ra dự án có giải pháp kinh tế - kỹ thuật mang tính khả thi Giai đoạn thực hiện dự án đảm bảo tạo ra được tài sản cố định có tiêu chuẩn kỹ thuật đúng thiết
kế Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng phải đảm bảo đạt được các chỉ tiêu hiệu quả của dự án về mặt tài chính, kinh tế - xã hội theo dự kiến của Chủ đầu
tư Các mục tiêu cụ thể quản lý chi phí đầu tư xây dựng: chất lượng công trình xây dựng, thời gian thực hiện, chi phí (giá thành), an toàn lao động, vệ sinh môi trường, quản lý rủi ro
và sự thỏa mãn của khách hàng
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng còn tạo thị trường xây dựng cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch; phát huy được các mặt tích cực, khắc phục các tồn tại của hệ thống cơ chế hiện tại, những thất thoát lãng phí đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực hiện, giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng, nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, hiệu quả của đầu tư xây dựng, đặc biệt là đối với các hoạt động đầu tư xây dựng có sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Đối với doanh nghiệp, mục đích của quản lý chi phí đầu tư xây dựng là cực tiểu chi phí và cực đại lợi nhuận Đây là mục tiêu đòi hỏi tính chắc chắn của các chỉ tiêu lợi nhuận thu được theo dự kiến của đầu tư qua các năm
1.2 Nội dung của quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
QUẢN
LÝ GIÁ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
QUẢN
LÝ CHỈ
SỐ GIÁ XÂY DỰNG
QUẢN
LÝ THANH TOÁN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
QUẢN
LÝ THANH TOÁN VỐN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
QUẢN
LÝ QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Trang 19
Hình 1.1 Các dữ liệu chủ yếu hình thành quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Nguồn: Điều 2 Nghị định 112/2009/NĐ-CP [22]
1.2.1 Quản lý tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư là chi phí dự tính để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nội dung dự án và thiết kế cơ sở; đối với trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán xây dựng công trình được xác định phù hợp với nội dung báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công
Tổng mức đầu tư là một chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tổng hợp quan trọng, là cơ sở để xác định khấu hao tài sản cố định, là một trong những cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế
và lựa chọn phương án đầu tư; là cơ sở để Chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình
Tổng mức đầu tư của dự án là chi phí dự tính của dự án được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật
Nội dung các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư gồm những khoản chính sau: Chi phí xây dựng của dự án; chi phí thiết bị của dự án; chi phí bồi thường hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác; chi phí dự phòng
Tổng mức đầu tư đã phê duyệt là chi phí tối đa mà Chủ đầu tư được phép sử dụng
để đầu tư xây dựng công trình và là cơ sở để Chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình [22, tr.2-5]
* Tổng mức đầu tư được xác định theo một trong các phương pháp sau:
a) Tính theo thiết kế cơ sở, trong đó chi phí xây dựng được tính theo khối lượng chủ yếu từ thiết kế cơ sở, các khối lượng khác dự tính và giá xây dựng phù hợp với thị trường; chi phí thiết bị được tính theo số lượng, chủng loại thiết bị phù hợp với thiết kế công nghệ, giá thiết bị trên thị trường và các yếu tố khác (nếu có); chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được tính theo khối lượng phải bồi thường hỗ trợ, tái định cư của dự án và các chế độ của Nhà nước có liên quan; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác được xác định bằng cách lập dự toán hoặc tạm tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên tổng chi phí xây dựng và chi phí thiết bị; chi phí dự phòng được xác định theo quy định;
Đối với công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán công trình và chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định cư (nếu
Trang 20có) Dự toán công trình tính theo khối lượng từ thiết kế bản vẽ thi công và các quy định hiện hành
VÀ GIÁ XÂY DỰNG TỔNG HỢP, SUẤT VỐN ĐẦU
TƯ
THEO SỐ LIỆU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ CHỈ TIÊU KINH TẾ -
KỸ THUẬT TƯƠNG
THỰC HIỆN
PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP
ĐÃ NÊU
Hình 1.2 Các phương pháp xác định tổng mức đầu tư
Nguồn: Phụ lục 1 Thông tư số 04/2010/TT-BXD [9, tr.21-27]
Tổng mức đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình được tính theo công thức sau: V = G XD
Trang 21- G BT, TĐC : chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- G QLDA : chi phí quản lý dự án;
- G TV : chi phí tư vấn đầu tư xây dựng;
- G K : chi phí khác;
- G DP : chi phí dự phòng
b) Tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng của công trình và giá xây dựng tổng hợp theo bộ phận kết cấu, theo diện tích, công năng sử dụng (sau đây gọi là giá xây dựng tổng hợp), suất vốn đầu tư xây dựng công trình tương ứng tại thời điểm lập dự án có điều chỉnh,
bổ sung những chi phí chưa tính trong giá xây dựng tổng hợp và suất vốn đầu tư để xác định tổng mức đầu tư
c) Tính trên cơ sở số liệu của các dự án có chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật tương tự đã thực hiện Trường hợp áp dụng phương pháp này phải tính quy đổi các số liệu của dự án tương tự về thời điểm lập dự án và điều chỉnh các khoản mục chi phí chưa xác định trong tổng mức đầu tư;
d) Kết hợp các phương pháp nêu trên [22, tr4]
1.2.2 Quản lý dự toán xây dựng công trình
Dự toán xây dựng công trình là chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình được xác định trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công
Dự toán xây dựng công trình (sau đây gọi tắt là dự toán công trình) được xác định
theo công trình xây dựng cụ thể và là căn cứ để Chủ đầu tư quản lý chi phí đầu tư xây dựng
công trình
Dự toán công trình được lập căn cứ trên cơ sở khối lượng các công việc xác định theo thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình và đơn giá xây dựng công trình, chi phí tính theo tỷ lệ phần trăm (%) (sau đây
gọi là định mức chi phí tỷ lệ) cần thiết để thực hiện khối lượng, nhiệm vụ công việc đó
Nội dung dự toán công trình bao gồm: chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí
quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng
* Dự toán công trình được lập như sau:
Dự toán công trình được xác định theo công thức sau:
G XDCT = G XD + G TB + G QLDA + G TV + G K + G DP (1.2)
a) Chi phí xây dựng được lập cho công trình, hạng mục công trình chính, các công việc của công trình cụ thể và được xác định bằng cách lập dự toán (dự toán chi phí xây dựng) Đối
Trang 22với các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, chi phí xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán; nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường, chi phí xây dựng được xác định bằng định mức tỷ lệ;
Dự toán chi phí xây dựng bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng, chi phí xây dựng nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường Dự toán chi phí xây dựng có thể xác định theo từng nội dung chi phí hoặc tổng hợp các nội dung chi phí
Dự toán chi phí xây dựng được lập theo một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp khối lượng và đơn giá xây dựng công trình đầy đủ;
- Phương pháp tổng khối lượng hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công và bảng giá tương ứng;
- Phương pháp suất chi phí xây dựng công trình có các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật tương tự đã thực hiện;
- Các phương pháp khác phù hợp với tính chất, đặc điểm xây dựng công trình
b) Chi phí thiết bị trong dự toán công trình bao gồm chi phí mua sắm thiết bị, kể cả chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có); chi phí lắp đặt thiết bị, chi phí thí nghiệm, hiệu chỉnh và các chi phí khác liên quan (nếu có);
Chi phí mua sắm thiết bị được xác định trên cơ sở khối lượng, số lượng chủng loại thiết bị cần mua, gia công và giá mua hoặc gia công thiết bị Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ, chi phí lắp đặt thiết bị, chi phí thí nghiệm, hiệu chỉnh và các chi phí khác liên quan (nếu có) được xác định bằng dự toán;
c) Chi phí quản lý dự án bao gồm các khoản chi phí cần thiết để Chủ đầu tư tổ chức thực hiện quản lý dự án Chi phí quản lý dự án được xác định bằng định mức chi phí tỷ lệ hoặc lập dự toán;
d) Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm chi phí tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng, khảo
sát, thiết kế, thẩm tra, giám sát xây dựng, quản lý chi phí và các chi phí tư vấn khác có liên quan Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng được xác định trên cơ sở tham khảo định mức chi phí
tỷ lệ do Nhà nước công bố hoặc xác định bằng dự toán
Mức lương tháng của chuyên gia tư vấn khi lập dự toán tháng - người được xác định căn cứ vào mức lương cơ bản, các khoản chi phí xã hội, chi phí quản lý, lợi nhuận, các phụ cấp khác bình quân thị trường hoặc do Nhà nước công bố Trường hợp đã xác định được tổ chức tư vấn cụ thể thì căn cứ trên mức lương thực tế, các khoản chi phí xã hội, chi phí
Trang 23quản lý, lợi nhuận, các phụ cấp khác trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc đã được xác nhận của cơ quan thuế, tài chính hoặc các hợp đồng tương tự đã ký kết hoặc đang
thực hiện trong năm gần nhất của tổ chức tư vấn đó và mức trượt giá tiền lương hàng năm
1.2.3 Quản lý định mức xây dựng
Định mức xây dựng bao gồm định mức kinh tế - kỹ thuật và định mức chi phí tỷ lệ Định mức kinh tế - kỹ thuật quy định mức hao phí cần thiết về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng
Định mức chi phí tỷ lệ dùng để xác định chi phí của một số loại công việc, chi phí
trong đầu tư xây dựng bao gồm: quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng, chuẩn bị công
trường, chi phí chung, trực tiếp phí khác, nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường, thu nhập chịu thuế tính trước và một số công việc, chi phí khác
* Lập và quản lý định mức xây dựng :
a) Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp lập định mức xây dựng và công bố định mức xây dựng
b) Trên cơ sở phương pháp lập định mức xây dựng theo quy định của Bộ Xây dựng, các Bộ,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập và công bố các định mức xây dựng cho các công việc
đặc thù của ngành, địa phương
c) Đối với công tác xây dựng đã có trong hệ thống định mức xây dựng được công bố nhưng chưa phù hợp với biện pháp, điều kiện thi công hoặc yêu cầu kỹ thuật của công trình thì Chủ đầu tư, Nhà thầu, tổ chức tư vấn được điều chỉnh những định mức đó cho phù hợp để áp dụng cho công trình
d) Đối với các công tác xây dựng mới chưa có trong hệ thống định mức xây dựng đã được công bố thì Chủ đầu tư, nhà thầu, tổ chức tư vấn căn cứ theo yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và phương pháp xây dựng định mức do Bộ Xây dựng hướng dẫn để xây dựng định mức hoặc áp dụng các định mức xây dựng tương tự ở các công trình khác
Trang 24e) Chủ đầu tư được thuê tổ chức tư vấn có đủ điều kiện năng lực, kinh nghiệm để thực hiện lập, điều chỉnh, thẩm tra các định mức xây dựng quy định Tổ chức tư vấn chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư về tính hợp lý, chính xác của các định mức xây dựng
đã thực hiện
f) Trường hợp các định mức được lập theo quy định được sử dụng để lập các đơn giá trong các gói thầu sử dụng vốn ngân sách Nhà nước áp dụng hình thức chỉ định thầu thì Chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định (riêng công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định) [22, tr.9-10]
1.2.4 Quản lý giá xây dựng công trình
Hệ thống giá xây dựng công trình bao gồm đơn giá xây dựng công trình và giá xây dựng tổng hợp Đơn giá xây dựng công trình được lập cho công trình xây dựng cụ thể Giá
xây dựng tổng hợp được tổng hợp từ các đơn giá xây dựng công trình
Hệ thống giá xây dựng công trình dùng để xác định chi phí xây dựng trong tổng mức đầu tư và dự toán công trình
Chủ đầu tư căn cứ phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình, yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công cụ thể của công trình tổ chức lập đơn giá xây dựng công trình, giá xây dựng tổng hợp làm cơ sở cho việc xác định tổng mức đầu tư và dự toán xây dựng công
trình để quản lý chi phí
Chủ đầu tư xây dựng công trình được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực, kinh nghiệm thực hiện các công việc hoặc phần công việc liên quan tới việc lập giá xây dựng công trình Tổ chức, cá nhân tư vấn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư về tính hợp lý, chính xác của giá xây dựng công trình do mình lập
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố giá nhân công, giá ca máy và thiết bị thi công phổ biến theo phương pháp do Bộ Xây dựng hướng dẫn và công bố giá nhân công xây dựng
trên địa bàn tỉnh làm cơ sở tham khảo cho việc lập đơn giá xây dựng công trình [22,
tr.10-11]
1.2.5 Quản lý chỉ số giá
Chỉ số giá xây dựng gồm: Chỉ số giá tính cho một nhóm hoặc một loại công trình xây dựng; chỉ số giá theo cơ cấu chi phí; chỉ số giá theo yếu tố vật liệu, nhân công, máy thi công Chỉ số giá xây dựng là một trong các căn cứ để xác định tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình, gói thầu và giá thanh toán theo hợp đồng xây dựng
Trang 25Bộ Xây dựng công bố phương pháp xây dựng chỉ số giá xây dựng và định kỳ công
bố chỉ số giá xây dựng để Chủ đầu tư tham khảo và áp dụng Chủ đầu tư, Nhà thầu cũng có thể tham khảo áp dụng chỉ số giá xây dựng do các tổ chức tư vấn có năng lực, kinh nghiệm công bố
Chủ đầu tư căn cứ xu hướng biến động giá và đặc thù công trình để quyết định chỉ
số giá xây dựng cho phù hợp [22, tr11]
1.2.6 Quản lý thanh toán hợp đồng xây dựng
Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự, là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng Hợp đồng xây dựng là văn bản pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng; các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng được giải quyết trên cơ sở hợp đồng
đã ký kết có hiệu lực pháp luật; các tranh chấp chưa được thỏa thuận trong hợp đồng thì giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật có liên quan
Việc thanh toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với loại hợp đồng, giá hợp đồng
và các điều kiện trong hợp đồng mà các bên đã ký kết
Các bên thỏa thuận trong hợp đồng về số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán, thời hạn thanh toán, hồ sơ thanh toán và điều kiện thanh toán
Bên giao thầu phải thanh toán đầy đủ (100%) giá trị của từng lần thanh toán cho bên nhận thầu sau khi đã giảm trừ tiền tạm ứng, tiền bảo hành công trình theo thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên có quy định khác [10]
1.2.7 Quản lý thanh toán vốn đầu tư
Việc thanh toán vốn đầu tư cho các công việc, nhóm công việc hoặc toàn bộ công việc lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát thi công và các hoạt động xây dựng phải căn cứ trên khối lượng thực tế hoàn thành và nội dung, phương thức thanh toán trong hợp đồng đã ký kết Đối với trường hợp tự thực hiện, việc thanh toán phù hợp với từng loại công việc trên cơ sở báo cáo khối lượng công việc hoàn thành và dự toán được duyệt
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị thanh toán và hồ sơ hợp lệ, cơ quan cấp phát, cho vay vốn có trách nhiệm thanh toán vốn đầu tư theo đề nghị thanh toán của Chủ đầu tư (hoặc đại diện hợp pháp của Chủ đầu tư) trên cơ sở kế hoạch vốn được giao
Trang 26Chủ đầu tư (hoặc đại diện hợp pháp của Chủ đầu tư) chịu trách nhiệm trước pháp luật về giá trị đề nghị thanh toán với tổ chức cấp phát, cho vay vốn Trong quá trình thanh toán vốn đầu tư xây dựng nếu phát hiện thấy sai sót, bất hợp lý về giá trị đề nghị thanh toán của Chủ đầu tư (hoặc đại diện hợp pháp của Chủ đầu tư) thì tổ chức cấp phát, cho vay vốn đầu tư phải thông báo ngay với Chủ đầu tư để Chủ đầu tư giải trình, bổ sung hoàn thiện hồ sơ
Chủ đầu tư có quyền yêu cầu bồi thường hoặc kiện ra các toàn án hành chính, kinh tế đòi bồi thường về những thệt hại do việc chậm trễ thanh toán của các tổ chức cấp phát, cho vay vốn đầu tư gây ra cho Chủ đầu tư Nghiêm cấm các tổ chức cấp phát, cho vay vốn đầu tư và Chủ đầu tư tự đặt ra các quy định trái pháp luật trong việc thanh toán vốn đầu tư xây dựng [22, tr.19]
1.2.8 Quản lý quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán đã được phê duyệt kể cả phần điều chỉnh, bổ sung, đúng với hợp đồng đã ký kết, phù hợp với các quy định của pháp luật Đối với các dự án
sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trong trường hợp quyết toán đã được phê duyệt, nếu số vốn được quyết toán thấp hơn số vốn đã thanh toán cho dự án, Chủ đầu tư có trách nhiệm thu hồi lại của nhà thầu
để hoàn trả cho Nhà nước số vốn thanh toán thừa; nếu số vốn được quyết toán cao hơn số vốn đã thanh toán, Chủ đầu tư có trách nhiệm thanh toán tiếp hoặc bố trí vốn vào kế hoạch năm sau để thanh toán cho nhà thầu
Tùy theo quy mô, tính chất và thời hạn xây dựng công trình, Chủ đầu tư có thể thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng từng hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình ngay sau khi hạng mục công trình, công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư
Chủ đầu tư có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình hoàn thành để trình người quyết định đầu tư phê duyệt chậm nhất là
12 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, 9 tháng đối với dự án nhóm B và 6 tháng đối với dự án nhóm C kể từ khi công trình hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án
Trang 27hoàn thành, Chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản của dự án tại cơ quan thanh toán, cho vay, cấp phát vốn đầu tư [22,tr.19-20]
1.3 Kinh nghiệm thực tiễn quản lý chi phí xây dựng tại một số nước trên thế giới
1.3.1 Thực tiễn quản lý chi phí xây dựng tại một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Quản lý chi phí xây dựng ở Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một nước có ngành xây dựng là ngành công nghiệp lớn nhất, đóng góp hàng nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm quốc gia
Ở Hoa Kỳ, việc quản lý chi phí được các nhà thầu đặc biệt quan tâm; để thi công công trình với chi phí thấp nhất có thể, các nhà thầu đã tiến hành nghiên cứu điều kiện thi công, kế hoạch ngân quỹ rồi kế tiếp là các hoạt động sửa chữa Các chi phí lao động và các thiết bị được kiểm soát rất chặt chẽ theo từng giờ Chi phí về vật liệu và các công việc đều được mã hóa để tiện cho việc sử dụng máy tính điện tử
Các nhà khoa học luôn tìm ra những công cụ để quản lý sản xuất đạt hiệu quả cao như phương pháp quản lý dự án bằng sơ đồ mạng PERT (Program Evaluation and Review Technique), CPM (Critical Path Method) là những công cụ quản trị hữu hiệu được sử dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất xây dựng, các phần mềm quản lý hiện đại, xử lý số liệu nhanh chóng, thuận tiện, dễ quản lý: Chương trình Microsoft Project - Lập tiến độ thi công
và đồng thời quản lý vài trăm dự án xây dựng cùng thời điểm với hàng ngàn công việc [55]
1.3.1.2 Quản lý chi phí xây dựng ở Anh
*Tổng quan về sơ đồ tổ chức và quy trình quản lý chi phí
Ở nước Anh, tổ chức Chính phủ có tính tập trung cao, mặc dù vậy, các Bộ thường
có quyền tự chủ cao Đối với các dự án quan trọng của Chính phủ , các tổ chức đóng vai trò Chủ đầu tư của các dự án Mỗi tổ chức này quản lý các dự án thuộc về chuyên môn của họ.Ví dụ: dự án đầu tư xây dựng một tuyến đường cao tốc được quản lý bởi cơ quan quản
lý đường cao tốc, dự án đường sắt được quản lý bởi cơ quan quản lý giao thông, cơ quan Năng lượng nguyên tử quản lý các dự án năng lượng, cơ quan Dầu khí quản lý các dự án dầu khí, các dự án cấp thoát nước do cơ quan môi trường quản lý, các dự án cảng hàng
Trang 28không được quản lý bởi cơ quan cảng hàng không…Ngoài ra còn có các công ty, các quỹ đầu tư làm Chủ đầu tư của các dự án do họ đầu tư
Đối với các dự án của Chính phủ Anh Chủ đầu tư ủy nhiệm cho Kỹ sư chuyên ngành và Kiến trúc sư là công ty tư nhân (hoặc Nhà nước tuyển) để phác thảo dự án và thiết kế sơ bộ Trong giai đoạn này, Kỹ sư chuyên ngành và Kiến trúc sư được hỗ trợ bởi
Tư vấn thiết kế và Tư vấn quản lý chi phí (Quantity Surveyor) là các công ty tư nhân Các công ty này được giới thiệu bởi Kỹ sư chuyên ngành và Kiến trúc sư cho Chủ đầu tư lựa chọn Khái toán chi phí được tính trên đơn vị m2 để xác định lượng vốn cho dự án và được
Tư vấn quản lý chi phí tính toán dựa trên các thông tin cơ bản về dự án, dựa trên diện tích một mét vuông sàn
Khi lượng vốn dành cho dự án được chấp thuận, thiết kế sơ bộ sẽ được trình cho Chủ đầu tư Tư vấn quản lý chi phí lập dự toán sơ bộ mô tả lượng vốn xây đựng sẽ được chi tiêu như thế nào Dự toán sơ bộ được xác định dựa trên thiết kế Do đó, dự toán sơ bộ đưa ra mục tiêu chi phí cho mỗi người trong nhóm thiết kế Khi các quyết định về thiết kế được đưa ra, Tư vấn quản lý chi phí sẽ lập dự toán và dự toán này có liên quan đến dự toán
sơ bộ đó được duyệt Nếu bị vượt quá dự toán sơ bộ được duyệt, dự toán sơ bộ hoặc thiết
kế sẽ được cảnh báo Chi phí dự phòng trong dự toán sơ bộ sẽ giúp giải quyết các vấn đề xảy ra Mặc dù vậy, thường thì ít khi gặp những thay đổi trong ngân sách hoặc thiết kế sơ
bộ trong giai đoạn thiết kế thi công Khi xong thiết kế thi công, Tư vấn quản lý chi phí sẽ lập Biểu khối lượng bao gồm chi tiết tất cả các hạng mục công việc theo yêu cầu thiết kế Biểu Khối lượng sẽ được áp giá và sau đó sẽ được sử dụng để phân tích Hồ sơ thầu của các Nhà thầu
Tại Vương quốc Anh, không có Nhà thầu thuộc Nhà nước (chỉ có các cơ quan quản
lý công trình công cộng nhưng chủ yếu cho các công việc bảo trì và khẩn cấp), do đó các
dự án quan trọng được đấu thầu giữa các công ty tư nhân Có thể trao thầu dưới hình thức thầu chính, Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao hoặc chìa khóa trao tay
Sau khi trao thầu xây dựng, quy trình quản lý chi phí được thiết lập để kiểm soát giá trong quá trình xây dựng do Tư vấn quản lý chi phí tiến hành
Một cách khác để thực hiện dự án của Chính phủ Anh là dự án được thực hiện bởi một Nhà thầu chịu trách nhiệm cả về thiết kế và xây dựng Nhà thầu thiết kế và xây dựng
có thể được lựa chọn một cách đơn giản thông qua thương thảo hợp đồng giữa Nhà thầu và Chủ đầu tư
Trang 29Hoặc, nhà thầu thiết kế và xây dựng được chọn thông qua đấu thầu Chủ đầu tư sẽ nêu ra yêu cầu về công trình xây dựng hoàn thành, những phần việc còn lại sẽ thuộc trách nhiệm của Nhà thầu thiết kế và xây dựng Chủ đầu tư yêu cầu các Nhà thầu đệ trình đề xuất bao gồm thiết kế và giá trọn gói Sau đó sẽ thương thảo hợp đồng để lựa chọn nhà thầu Chủ đầu tư sẽ lấy ý kiến từ các Nhà tư vấn Kiến trúc, kỹ thuật và tư vấn quản lý chi phí để chọn lựa Nhà thầu thiết kế và xây đựng Tư vấn quản lý chi phí tham gia vào dự án
để giúp Chủ đầu tư kiểm soát chi phí dự án [55]
* Nguồn dữ liệu phục vụ cho công tác dự toán
Bộ tiêu chuẩn đo bóc khối lượng (Standard Method of Measurement –
SMM) được sử dụng tại Anh cho các dự án hạ tầng và dân dụng Nguồn dữ liệu được xây dựng bởi các nhà Tư vấn quản lý chi phí (Quantity Surveyor) giàu kinh nghiệm, với ngân hàng dữ liệu về đơn giá được xây đựng từ nhân công, vật liệu và máy móc Đơn giá được
áp dụng cho bất cứ dự án nào có sử dụng SMM và như vậy sẽ tương đối dễ dàng cho Tư vấn quản lý chi phí đo bóc khối lượng của một dự án và vận dụng áp giá các dự án tương
tự đó thực hiện trước đây và có sử dụng cùng một phương pháp đo bóc chuẩn
Ngân quỹ được xác định dựa trên phác thảo dự án bằng cách tính toán diện tích sàn xây dựng (CFA - Construction Floor Area) sau đó áp giá tính cho một mét vuông CFA Tư vấn xây dựng có một ngân hàng dữ liệu đơn giá tính trên một mét vuông CFA cho các loại công trình xây dựng khác nhau và giá được dựa trên các hệ số tiêu chuẩn như hệ số sử dụng đất, hệ số diện tích lưu thông, hệ số diện tích sử dụng chung …
Khái toán (Cost model) được xác định dựa trên thiết kế phác thảo hoặc thiết kế sơ
bộ Bản khái toán này sẽ xem xét thông số, các hệ số để dự tính chi phí Ví dụ, mặt tiền hay khu vực lưu thông Các thông số này có thể sử dụng để phát triển dự toán một cách cụ thể hơn
Khi thiết kế được triển khai, các chi tiết thiết kế được cung cấp và dự báo chi phí xây dựng được xác định bởi Tư vấn quản lý chi phí Dựa trên thiết kế chi tiết và bản vẽ sơ
bộ, khối lượng và đơn giá được lập để thực hiện Dự toán sơ bộ (Cost plan) - cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố của dự án
Các dữ liệu chi phí quan trọng, được sử dụng để lập ngân sách, dự báo, dự toán sơ
bộ lấy từ Biểu khối lượng và đơn giá của dự án được đấu thầu trước đây Điều này giải thích tại sao SMM rất quan trọng, SMM không chỉ đưa ra cơ sở cho việc tính toán và áp giá mà còn tạo ra sự nhất quán về đơn giá ở các dự án khác nhau Tư vấn quản lý chi phí
Trang 30cũng sử dụng cả chỉ số giá để lập, xác định sự khác nhau về giá ở các địa phương và biến đổi giá theo thời gian về nhân công, máy móc và vật liệu Đây là công cụ quản lý chi phí chủ yếu của Tư vấn quản lý chi phí với mục đích đánh giá ngân sách và lập dự toán
Tư vấn quản lý chi phí của Anh rất giàu kinh nghiệm và chuyên nghiệp, họ sử dụng nguồn dữ liệu được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và các dự án tương tự đã có nghiên cứu giá thị trường vật liệu, nhân công, máy móc để lập dự toán ngân sách và chi phí xây dựng, được sử dụng làm cơ sở đánh giá hồ sơ thầu Phương pháp luận của hệ thống quản lý chi phí xây dựng của Anh là liên tục cải tiến dự toán chi phí dự án dựa trên mức độ chi tiết của thiết kế đưa ra Do đó, việc phân tích chi phí được triển khai từ tính toán trên m2, chi phí cơ bản đến Bảng khối lượng chi tiết [55]
* Biểu khối lượng và quy trình đấu thầu
Biểu khối lượng là phương pháp thường được sử dụng cho các mục đích như chuẩn
bị hồ sơ thầu, phân tích hồ sơ thầu, quản lý chi phí sau hợp đồng xây dựng Bản vẽ thi công, tiêu chuẩn kỹ thuật, bản thảo hợp đồng, các mẫu bảo lãnh dự thầu cùng với biểu khối lượng sẽ được gửi cho các Nhà thầu chính để họ lựa chọn và đệ trình giá thầu cạnh tranh Các Nhà thầu chính sẽ làm giá cho biểu khối lượng trong đó phân ra làm hai loại biểu giá, giá cho những công việc cụ thể đã được xác định (Prime - cost sums) và giá cho phần công việc chưa được xác định rõ ràng tại thời điểm đấu thầu (Provisional Sum) và sau đó tổng hợp thành giá dự thầu trọn gói Giá trọn gói sẽ được đệ trình cho Kiến trúc sư Giá bỏ thầu
sẽ được phân tích bởi Tư vấn quản lý chi phí Thông thường trong trường hợp này nhà thầu đưa ra giá thầu thấp nhất sẽ được quyết định trúng thầu tuy nhiên giá cả sẽ được xem xét
kỹ và nếu có bất kỳ một lỗi nào thì sẽ được thông báo cho Nhà thầu liên quan [55]
* Mẫu hợp đồng
Thường thì các cơ quan chính phủ sử dụng hợp đồng xây dựng dưới
các dạng hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định Việc thiết kế do Chủ đầu tư tiến hành Tuy nhiên hợp đồng bao gồm cả thiết kế và xây dựng (Design and Build) cũng thường sử dụng đối với các dự án chuẩn và trong những năm gần đây có xu hướng áp dụng hợp đồng Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao (BOT) và dự án sử dụng vốn tư nhân Dưới đây là hai ví dụ về dạng hợp đồng chuẩn thường được áp dụng tại Anh:
+ Mẫu chuẩn hợp đồng xây dựng JCT 2005;
+ Mẫu chuẩn hợp đồng NEC
Trang 31Hầu hết các hợp đồng ở Anh áp dụng hình thức có thầu phụ được chỉ định Điều đó
có nghĩa Chủ đầu tư được phép chỉ định Nhà thầu cụ thể có đủ khả năng làm thầu phụ mặc
dù vẫn dưới sự quản lý Nhà thầu chính Hình thức này cũng phù hợp khi áp dụng hợp đồng FIDIC (Federal International des Ingenieurs Conseils – Hiệp hội Quốc tế các kỹ sư tư vấn) [55]
* Quản lý chi phí trong giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng xây dựng
Tại Anh, trong giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng xây dựng, phương pháp kiểm soát chi phí được sử dụng là phương pháp xác định mốc ngân sách và dự báo ngân sách Mốc ngân sách được lập bởi Tư vấn quản lý chi phí Mốc ngân sách được dùng để so sánh ngân sách ở thời điểm hiện tại và dự báo cho các giai đoạn trong tương lai Mốc ngân sách này
sẽ được cập nhật bất cứ khi nào có sự thay đổi quan trọng (các phát sinh), và được cập nhật hàng tháng
Thanh toán cho Nhà thầu thường được dựa trên các đánh giá hàng tháng về khối lượng công việc thực hiện theo tính toán của nhà thầu và đơn giá kiểm tra bởi Tư vấn quản
lý chi phí Ví dụ: Các công việc được thanh toán hàng tháng dựa trên cơ sở tính toán cơ bản
Trong trường hợp có những thay đổi được thực hiện theo yêu cầu công việc Nhà thầu sẽ nhận được hướng dẫn cho lệnh thay đổi này, giá trị thay đổi được thoả thuận giữa Nhà thầu và Tư vấn chi phí quản lý Những lệnh thay đổi có thể đó được thoả thuận trong biểu khối lượng
Trong trường hợp chậm trễ nhà thầu có thể yêu cầu kéo dài thời gian và vấn đề này
sẽ được Kiến trúc sư hoặc Tư vấn quản lý chi phí xem xét và những chi phí phát sinh do việc kéo dài thời gian sẽ được tính toán bởi Tư vấn quản lý chi phí
Trong bất cứ hợp đồng nào thường thì thời gian cho phép để tiến hành nhanh các thủ tục thanh toán cuối cùng sau khi công trình đó hoàn thành là ba tháng [55]
1.3.1.3 Quản lý chi phí xây dựng ở Trung Quốc
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, nhà cao tầng đã được xây dựng hàng loạt tại các thành phố lớn của Trung Quốc: Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến, Thiên Tân, Nam Ninh…
Đến những năm đầu của thế kỷ XXI thì tại tất cả các thành phố của Trung Quốc việc xây dựng các tòa nhà cao tầng đã phát triển với tốc độ nhanh, xây dựng nhà cao tầng ngày càng tăng và tỷ lệ xây dựng chiếm 40 ÷ 50%, cùng với nó là số tầng và chiều cao
Trang 32ngày càng lớn Hiện tại ở Trung Quốc đã xây dựng hàng ngàn ngôi nhà có chiều cao trên
100 mét
Để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của ngành xây dựng và đặc biệt là xây dựng nhà cao tầng, các tổ chức quản lý thi công ở Trung Quốc rất được chú trọng và đặc biệt là công tác quản lý chi phí của Nhà thầu
Nguyên lý cơ bản của quản lý chi phí của Nhà thầu Trung Quốc là lấy giá trị kế hoạch làm mục tiêu khống chế chi phí xây dựng, lấy giá trị kế hoạch chia thành giá trị mục tiêu nhỏ của bộ phận công trình hoặc mỗi công việc hay mắt xích trong quá trình thi công, tiến hành so sánh giá trị chi thực tế và giá trị kế hoạch phát hiện sai lệch từ các mặt tổ chức, kinh tế - kỹ thuật và hợp đồng, nhanh chóng tìm biện pháp hữu hiệu sửa chữa
Giá trị kế hoạch được xác định từ dự toán do Nhà thầu lập khi đấu thầu và được Chủ đầu tư chấp thuận
Như vậy, việc lập kế hoạch khống chế chi phí xây dựng rất được chú trọng trong quản lý chi phí xây dựng cơ bản tại Trung Quốc Trong quá trình triển khai thực hiện dự án việc so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí kế hoạch được thực hiện thường xuyên để phát hiện những chi phí thiếu và thừa Còn tại Việt Nam việc lập kế hoạch (lập tổng mức đầu tư) chỉ mang tính khái toán để dễ phê duyệt dự án Trong quá trình thực hiện dự án việc điều chỉnh chi phí cũng không bám sát và thường khi dự án đã hoàn thành thì mới điều chỉnh trong quá trình quyết toán
Quản lý chi phí công trình xây dựng của Trung Quốc chủ yếu dựa vào phương pháp lập dự toán theo hình thức tính giá bằng định mức, cách tính giá
do Nhà nước hoặc bộ phận quản lý tính giá công trình địa phương được Nhà nước ủy quyền tiến hành lập Hoặc cũng có thể lập dự toán trong mô hình tính giá theo bảng kê chi tiết khối lượng công trình Các hình thức quản lý đầu tư xây dựng được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc: hình thức đường thẳng, hình thức chức năng, hình thức kết hợp đường thẳng và chức năng, hình thức ma trận và các mô hình giao – nhận thầu của dự án: mô hình tổng thầu và thầu phụ, mô hình phân chia giao thầu, mô hình liên danh nhận thầu, mô hình hợp tác nhận thầu, mô hình nhận thầu CM (Construction Management – Quản lý xây dựng) [4, 55]
Trang 331.3.1.4 Quản lý chi phí xây dựng ở Nhật Bản
Ban đầu, Nhật Bản áp dụng “Phương pháp cạnh tranh giá cả”, theo đó hợp đồng xây dựng được ký kết với công ty thi công công trình đáp ứng được các yêu cầu của bên đặt hàng với giá cả thấp nhất Tuy nhiên việc cạnh tranh giá khốc liệt làm cho các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu có cơ hội phát sinh, nổi bật như việc thông thầu, dàn xếp giữa các Nhà thầu, có thể làm cho các Nhà thầu có năng lực cao nhưng “cạnh tranh lành mạnh” mất cơ hội trúng thầu.Việc đảm bảo chất lượng và ứng dụng các đổi mới, tiến bộ kỹ thuật vào công trình càng trở nên khó khăn hơn Nhật Bản đã thay đổi phương pháp cũ bằng “Phương pháp đánh giá tổng hợp” - Nhà thầu được chọn là Nhà thầu có khả năng thực hiện công trình tốt nhất với sự đánh giá tổng hợp của các yếu tố giá cả và chất lượng Phương pháp này được Quốc hội Nhật Bản thông qua bằng Luật “Thúc đẩy đảm bảo chất lượng công trình”
Theo phương pháp đánh giá tổng hợp, giá cả và các tiêu chí kỹ thuật quan trọng trong đó có: độ bền công trình, độ an toàn thi công, mức giảm thiểu tác động môi trường, hiệu suất công việc, chi phí cho một chu kỳ dự án, mức độ tiết kiệm nguyên vật liệu được xem xét đồng thời với giá bỏ thầu Trong đó, điểm đánh giá kỹ thuật là điểm xác định theo các tiêu chí quy định tại hồ sơ thầu có xét đến điểm được cộng thêm tùy theo nội dung phương án kỹ thuật đề xuất và không cho điểm đối với trường hợp phương án kỹ thuật đề xuất không phù hợp
Sau khi chấm thầu bằng phương pháp đánh giá tổng hợp, Chủ đầu tư sẽ chọn được nhà trúng thầu là Nhà thầu có “số điểm đánh giá” cao nhất Đồng thời với việc lựa chọn nhà thầu tốt nhất như đã nêu trên, các cơ quan xét thầu vẫn chú trọng xem xét nghiêm khắc các nhà thầu vi phạm quy định chống phá giá nhằm ngăn chặn nhà thầu bỏ giá thấp bất hợp
lý chỉ nhằm mục đích thắng thầu Một trong những giải pháp đang được áp dụng ở Nhật Bản là thực thi và công khai hệ thống khảo sát giá cả đấu thầu thấp và ban bố hệ thống giới hạn giá cả thấp nhất [4, 55]
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với Việt Nam
Qua nghiên cứu quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở các nước trên thế giới như Hoa
Kỳ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản ta thấy: Việt Nam là một quốc gia “Sinh sau đẻ muộn” trong lĩnh vực xây dựng, việc học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm trong quản lý vốn, quản
lý đầu tư và quản lý chất lượng công trình là một việc làm cần thiết Cần căn cứ vào thực tế tình hình xây dựng ở Việt Nam để lựa chọn tham khảo kinh nghiệm trong lĩnh vực cụ thể ở
Trang 34mỗi quốc gia sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu thực tiễn chứ không nên áp dụng một cách máy móc nguyên mẫu mô hình xây dựng của quốc gia đó
Có rất nhiều mô hình quản lý chi phí mang lại hiệu quả cao, chẳng hạn quy trình quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở Anh là khá thành công và được nhiều quốc gia học hỏi, áp dụng mang lại hiệu quả cao
Quản lý chi phí trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư được thực hiện ở việc thương thảo hợp đồng để lựa chọn nhà thầu Chủ đầu tư sẽ lấy ý kiến từ các nhà Tư vấn kiến trúc, kỹ thuật và Tư vấn quản lý chi phí để chọn lựa Nhà thầu thiết kế và xây dựng Tư vấn quản lý chi phí tham gia vào dự án để giúp Chủ đầu tư kiểm soát chi phí dự án
Tư vấn quản lý chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý chi phí xây dựng ở Anh Đó là điểm mạnh trong hệ thống quản lý chi phí xây dựng của Anh Bởi vì,
Tư vấn quản lý chi phí chịu trách nhiệm quản lý chi phí xây dựng từ khởi đầu đến khi dự
án được hoàn thành Tư vấn quản lý chi phí chịu trách nhiệm kiểm soát chi phí từ ngân sách đến thanh toán cuối cùng Mặc dù vậy, việc áp dụng ở Việt Nam không dễ vì không
có tổ chức chuyên nghiệp nào để phát triển Tư vấn quản lý chi phí, sẽ mất thời gian dài để thay đổi một hệ thống
Quy trình quản lý chi phí bao gồm dự toán, đấu thầu, hợp đồng, thanh toán, thay đổi và khiếu nại rất rõ ràng Quy trình này được thiết lập bởi tổ chức chuyên nghiệp về quản lý chi phí Royal Institute of Chartered Surveyor Điều này rất quan trọng để Việt Nam học hỏi và xây dựng một hệ thống phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam
Việc sử dụng SMM và áp dụng giá cả thị trường trong lập dự toán và giá xây dựng
là thế mạnh của hệ thống quản lý chi phí ở Anh bởi vì nó đảm bảo tính chính xác trong dự toán và giá cả cạnh tranh Áp dụng phương pháp này có thể giải quyết được những tồn tại trong cơ chế quản lý ở Việt Nam
Biểu khối lượng được sử dụng cho quản lý chi phí và cho quá trình đấu thầu Biểu khối lượng là chìa khoá để hiểu một cách đầy đủ phân tích hồ sơ thầu, để tạo ra sự minh bạch liên quan đến việc xác định giá cho các thay đôi Ở Việt Nam, Biểu khối lượng cũng được sử dụng
Trong giai đoạn sau khi ký kết hợp đồng xây dựng, Nhà thầu thường thực hiện các thay đổi trong công trình mà không có sự đồng ý trước về giá cả cho các thay đổi đó Mẫu
Trang 35chuẩn hợp đồng thường quy định cho vấn đề này và phần lớn các thay đổi được định giá một cách công bằng thông qua việc sử dụng Biểu khối lượng Quy trình này rất thuận lợi cho tiến độ và hoàn thành dự án
Một quốc gia khác mà Việt Nam cũng có thể học hỏi trong vấn đề quản
lý chi phí đầu tư xây dựng và chất lượng công trình đó là Nhật Bản Ban đầu Nhật Bản áp dụng “Phương pháp cạnh tranh giá cả”, theo đó hợp đồng xây dựng được ký với công ty thi công công trình đáp ứng được các yêu cầu của bên đặt hàng với giá cả thấp nhất Tuy nhiên việc cạnh tranh giá khốc liệt làm cho các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu có cơ hội phát sinh, nổi bật như việc thông đồng, dàn xếp giữa các nhà thầu, có thể làm cho các nhà thầu có năng lực cao nhưng “cạnh tranh lành mạnh” mất cơ hội trúng thầu Việc đảm bảo chất lượng và ứng dụng các đổi mới, tiến bộ kỹ thuật vào công trình càng trở nên khó khăn hơn Nhật Bản đã thay đổi phương phá cũ bằng “Phương pháp đánh giá tổng hợp” – Nhà thầu được chọn là nhà thầu có khả năng thực hiện công trình tốt nhất với sự đánh giá tổng hợp của yếu tố giá cả và chất lượng phương pháp này được Quốc Hội Nhật Bản thông qua bằng Luật
“Thúc đẩy đảm bảo chất lượng công trình”
Theo phương pháp đánh giá tổng hợp, giá cả và các tiêu chí kỹ thuật quan trọng trong đó có: độ bền công trình, độ an toàn thi công, mức giảm thiểu tác động môi trường, hiệu suất công việc, chi phí vòng đời của dự án, mức độ tiết kiệm nguyên vật liệu được xem xét đồng thời với giá bỏ thầu Trong đó, điểm đánh giá kỹ thuật là điểm xác định theo các tiêu chí quy định tại hồ sơ thầu có xét đến điểm được công thêm tùy theo nội dung phương án
kỹ thuật đề xuất và không cho điểm đối với trường hợp phương án kỹ thuật đề xuất không phù hợp
Sau khi chấm thầu bằng phương pháp đánh giá tổng hợp, Chủ đầu tư sẽ chọn được Nhà thầu trúng thầu là nhà thầu có “số điểm đánh giá” cao nhất Đồng thời với việc lựa chọn nhà thầu tốt nhất như đã nêu, các cơ quan xét
Trang 36thầu vẫn chú trọng xem xét nghiêm khắc các nhà thầu vi phạm qui định chống phá giá nhằm ngăn chặn nhà thầu bỏ giá thấp bất hợp lý chỉ nhằm mục đích thắng thầu Một trong những giải pháp đang được áp dụng ở Nhật Bản là thực thi và công khai hệ thống khảo sát giá cả đấu thầu thấp và ban bố hệ thống giới hạn giá cả thấp nhất
Những gì diễn ra thời gian qua trong lĩnh vực đấu thầu và đảm bảo chất lượng công trình xây dựng công cộng ở Nhật Bản, một quốc gia tiên tiến, đi trước chúng ta một khoảng cách khá xa có vẻ như cũng tương tự những vấn
đề chúng ta đang gặp phải Vì vậy việc nghiên cứu phương pháp quản lý chi phí và quản lý chất lượng công trình trình xây dựng của Nhật để áp dụng tại Việt Nam chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả như mong muốn Quan trọng là chúng ta có quyết tâm làm và vận dụng hay không mà thôi Để có những công trình có chất lượng vĩnh cửu, thực sự “sạch” không có việc bôi trơn… không
có tham nhũng, tiêu cực, trước hết phải thanh lọc những “quan” tham ra khỏi
bộ máy và xử nghiêm những kẻ “rút ruột” công trình
Việt Nam có thể học hỏi việc quản lý chi phí ở Hoa Kỳ, chi phí về vật liệu và các công việc đều được mã hóa giúp cho việc sử dụng máy tính và quản lý đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, các Nhà thầu nghiên cứu rất kỹ điều kiện thi công xây dựng công trình, kế hoạch ngân quỹ để cấp vốn cho công trình Quản lý tiến độ thi công theo phương pháp CPM được áp dụng đầu tiên
ở Mỹ, được sử dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới – Đây là một công
cụ quản lý hữu hiệu, xử lý số liệu nhanh, thuận tiện, dễ quản lý
Từ việc quản lý chi phí ở Trung Quốc, lấy giá trị kế hoạch làm mục tiêu khống chế chi phí xây dựng, có thể áp dụng với Việt Nam lập và quản lý
dự toán theo phương pháp lập dự toán và mô hình hợp tác nhận thầu, mô hình nhận thầu CM (Construction Management – Quản lý xây dựng)
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG LỚN SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở HÀ NỘI
2.1 Môi trường pháp lý của công tác quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
2.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý chi phí của dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng khá phức tạp, được điều chỉnh bởi nhiều văn bản luật khác nhau, việc nắm được các văn bản để thực hiện quản lý chi phí chính xác, hiệu quả, đúng pháp luật Đặc biệt là quản lý chi phí của dự án xây dựng sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, rõ ràng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng là hết sức cần thiết và cấp bách Sự ra đời của văn bản sau là khắc phục những khiếm khuyết, những bất cập của các văn bản trước đó, tạo ra sự hoàn thiện môi trường pháp lý ngày càng phù hợp với quá trình thực hiện trong thực tiễn, thuận lợi cho người thực hiện và người quản lý, mang lại hiệu quả cao hơn, phù hợp với quá trình phát triển Tác giả hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý
dự án đầu tư xây dựng trong thời gian 10 năm trở lại đây (Xem phụ lục)
* Các Luật liên quan đến quản lý chi phí xây dựng: Gồm có Luật Ngân sách Nhà nước
[40], Luật Xây dựng [41], Luật sửa đổi, bổ sung [42]
Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ
họp thứ 2 thông qua vào ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004
Trang 38Hệ thống Ngân sách Nhà nước (NSNN) hiện nay bao gồm ngân sách Trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP), trong đó NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có hội đồng nhân dân (HĐND) và ủy ban nhân dân (UBND), cụ thể là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã; ngân sách cấp dưới là một
bộ phận hợp thành của ngân sách cấp trên Quy định lồng ghép của hệ thống NSNN cơ bản đảm bảo tính thống nhất và tính tuân thủ của các cấp ngân sách Tuy nhiên, cũng do tính lồng ghép này mà quy trình ngân sách khá phức tạp, thời gian xây dựng dự toán và quyết toán ngân sách dài trong khi thời gian cho mỗi cấp lại rất hạn chế, trách nhiệm của từng cấp không rõ ràng, không thực sự đảm bảo quyền tự chủ của cấp dưới Nhiều khi địa phương quyết định dự toán không đúng với chỉ tiêu giao dự toán của Thủ tướng Chính phủ
về chi đầu tư phát triển, chi cho giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ…
Luật NSNN quy định: “Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí…” Song thực tế, các cơ quan hành chính Nhà nước vẫn được để lại một phần từ nguồn thu phí, lệ phí để bù đắp chi phí thu, phần còn lại mới nộp vào NSNN Việc để lại chi phí thu như vậy chưa đáp ứng được nguyên tắc đầy đủ của NSNN và gây phức tạp trong công tác quản lý Mặt khác, việc xác định tỷ lệ để lại chưa thống nhất, dẫn đến một số cơ quan hành chính không chỉ bù đắp cho chi phí thu mà còn để sử dụng cho các nhiệm vụ khác, gây bất bình đẳng giữa các cơ quan với nhau
Chi đầu tư có tính đặc thù, song Luật NSNN không tách vấn đề này ra, không làm
rõ đặc thù của đầu tư xây dựng cơ bản Luật Đầu tư hiện nay chủ yếu điều chỉnh khu vực đầu tư tư nhân, đầu tư ngoài, còn khoản đầu tư Ngân sách Nhà nước thì vẫn chưa bao quát
Luật Xây dựng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ
họp thứ 4 thông qua vào ngày 26/11/2003 và chính thức có hiệu thi hành kể từ tháng 01/7/2004 Luật Xây dựng có phạm vi bao quát rộng, có vai trò rất quan trọng và đã đóng góp có hiệu quả vào việc tạo lập môi trường pháp lý và tăng cường năng lực quản lý của Nhà nước trong một giai đoạn tương đối dài Tuy nhiên xét một cách tổng thể, hiện nay Luật xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước vì các lý do chủ yếu như: Nhiều phần nội dung của luật được xây dựng dựa trên tư duy quản lý có từ thời kinh tế tập trung, bao cấp và không còn thích hợp cho một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng
Trang 39theo định hướng thị trường Tình trạng trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa các quy định của Luật xây dựng với các văn bản pháp luật được ban hành về sau là rất nhiều Có nhiều quy định không hợp lý hoặc ít tính khả thi; Nội dung của luật chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước đối với một nền kinh tế đang trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực với tốc độ nhanh chóng
Thực tế trong quá trình quản lý vốn và đầu tư xây dựng bộc lộ khá nhiều bất cập mà bản thân Luật Xây dựng chưa bao quát hết được dẫn đến tình trạng đầu tư một cách tràn lan, thiếu định hướng gây thất thoát và khó kiểm soát
* Các Nghị định của chính phủ ban hành liên quan đến quản lý chi phí xây dựng:
Xác định vai trò quan trọng của việc quản lý vốn và chi phí đầu tư xây dựng, Chính phủ đã cho ra đời Nghị định 48/2010/NĐ-CP [23] Nghị định này đánh dấu bước tiến mới về thiết lập nền tảng pháp lý cho lĩnh vực hợp đồng trong hoạt động xây dựng ở Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế Những quy định của Nghị định đã giải quyết được phần nào những vướng mắc, chồng chéo về hợp đồng giữa các văn bản quy phạm pháp luật trước đây Tuy nhiên, Nghị định này cũng bộc lộ không ít hạn chế trong công tác quản lý chi phí
Công tác quản lý chi phí xây dựng còn lỏng lẻo khi Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã thực hiện phân cấp mạnh hơn về thẩm quyền quyết định đầu tư cho cấp huyện, xã thì việc quản lý và giám sát lại thiếu chặt chẽ [19] Nghị định 113/2009/NĐ-CP về giám sát và đánh giá đầu tư chủ yếu giám sát
về quy trình thủ tục nhiều hơn là quản lý chất lượng đầu tư, do vậy vốn sau khi được phân bổ cho Chủ đầu tư đang được các đơn vị này coi như vốn của
Trang 40mình, Chủ đầu tư sẽ thực hiện các giai đoạn chuẩn bị đầu tư, phê duyệt dự án, phê duyệt hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công… Việc phê duyệt đấu thầu, mời thầu cũng do Chủ đầu tư thực hiện Do đó, một số dự án xây dựng xảy ra tình trạng thông đồng trong đấu thầu gây nên nhiều thất thoát, lãng phí
* Các Thông tư hướng dẫn thi hành các Nghị định tương ứng của Chính phủ (Xem phụ
* Tính khả thi của một số quy định: Luật Xây dựng có phạm vi bao quát rộng, có vai trò
rất quan trọng và đã đóng góp có hiệu quả vào việc tạo lập môi trường pháp lý và tăng cường năng lực quản lý Nhà nước trong một giai đoạn tương đối dài Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, hiện nay Luật chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước vì những lý
do sau: Nhiều phần nội dung của Luật được xây dựng trên tư duy quản lý có từ thời kinh tế tập trung, bao cấp.Từ khi có Luật Xây dựng đã có rất nhiều văn bản ban hành điều chỉnh, hướng dẫn thực hiện, thi hành của các chủ thể tham gia vào công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng, thực tế tính phù hợp chưa cao, các cơ quan quản lý vận dụng các văn bản còn lúng túng, thiếu tính sát thực nên hiệu quả quản lý chưa được như mong muốn
* Tính đồng bộ của các văn bản: Việc thiếu đồng bộ của các văn bản thể hiện trong nghị
định số 209/2004/NĐ-CP lại có phụ lục các biên bản nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu công trình, hạng mục công trình; trong khi đó các mẫu nghiệm thu này lại quy định trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 371-2006; do bất cập nên Chính phủ phải ra nghị định số 49/2008/NĐ-CP để hủy bỏ các mẫu biểu trong nghị định số 209/2004/NĐ-CP Việc này thể hiện các văn bản chưa nhất quán về nội dung, gây rất nhiều khó khăn cho người thực hiện Để việc quản lý đạt hiệu quả cao, thuận tiện cho người thực hiện, thống nhất quản lý một cách đồng bộ về mặt định hướng của các văn bản là hết sức cần thiết
* Tính cụ thể và chi tiết của các văn bản: Các văn bản ban hành thiếu tính cụ thể và chi
tiết, có biên độ vận dụng lớn gây khó khăn cho các Chủ đầu tư và các đơn vị Tư vấn quản
lý dự án khi thực hiện chức năng quản lý của mình Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính cụ thể và chi tiết sẽ tạo ra nhiều kẽ hở dẫn đến tính hiệu lực và hiệu