Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước của Việt Nam cũng đã có những t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu 6
5.2 Phương pháp xử lý số liệu 7
5.3 Phương pháp phân tích 7
6 Những kết quả đạt được của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 9
1.1 Khái niệm, vai trò, nội dung của NSNN và quản lý NSNN 9
1.1.1 Ngân sách nhà nước 9
1.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước 13
1.2 Phân cấp chức năng và quy trình của quản lý NSNN 24
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách ở một số địa phương 26
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu - chi NSNN huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 26
1.3.2 Kinh nghiệm tăng cường, nuôi dưỡng nguồn thu thông qua thu hút đầu tư nước ngoài tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ GIAI ĐOẠN 2006 - 2013 30
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Việt Trì 30
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên và địa lý hành chính 30
2.1.2 Về kinh tế - xã hội: 31
2.2 Thực trạng công tác quản lý NSNN TP Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013 34
Trang 42.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì
34
2.2.2 Thực trạng thu, chi NSNN 38
2.2.3 Thực trạng quy trình quản lý thu, chi NSNN 48
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý ngân sách nhà nước ở thành phố Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013 51
2.3.1 Kết quả đạt được về quản lý thu, chi NSNN 51
2.3.2 Những hạn chế, yếu kém trong quản lý thu, chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2006 - 2013 56
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 63
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 69
3.1 Quan điểm 69
3.2 Phương hướng và mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì 70
3.2.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì 70
3.2.2 Mục tiêu quản lý NSNN trên địa bàn TP Việt Trì trong thời gian tới 71
3.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý NSNN của TP Việt Trì 72
3.3.1 Nhóm giải pháp quản lý thu ngân sách nhà nước 72
3.3.2 Nhóm giải pháp quản lý chi ngân sách nhà nước 79
3.3.3 Nhóm các giải pháp khác 86
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Dân số và lao động tp Việt Trì trong giai đoạn 2006-2013 31
2 Bảng 2.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu phân tích theo ngành giai đoạn 2006 -
2013 của thành phố Việt Trì (theo giá cố định 1994) 32
3 Bảng 2.3 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây
4 Bảng 2.4 Thu NSNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và thành phố Việt Trì
5 Bảng 2.5 Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn thành phố theo từng lĩnh vực
6 Bảng 2.6 Giá trị các khoản thu NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì 41
8 Bảng 2.8 Tổng hợp chi ngân sách thành phố Việt Trì (2006 - 2013) 45
9 Bảng 2.9 Quyết toán chi ngân sách thành phố Việt Trì (2006 - 2012) 46
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
1 Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa NSNN với các quan hệ kinh tế 10
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách là tấm gương tài chính cho những lựa chọn về kinh tế và xã hội của một quốc gia Để thực hiện được vai trò quản lý mà người dân đã ủy nhiệm, nhà nước trước hết cần phải đảm bảo thu đủ các nguồn tài chính bằng những công cụ, biện pháp hợp pháp; trên cơ sở đó, sử dụng các nguồn thu này một cách có trách triển ổn định và bền vững Đây chính là mục tiêu, nhiệm cụ của quản lý ngân sách nhà nước đối với mỗi quốc gia
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước của Việt Nam cũng đã có những thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng để Việt Nam thực thi thành công quá trình đổi mới, đặc biệt là từ khi Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 với mục tiêu và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH); Tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia; xây dựng ngân sách nhà nước lành mạnh, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm, hiệu quả; Tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đối ngoại
Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi ngân sách nhà nước Điều này góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế Mặt khác thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT - XH, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước
Phú Thọ là một tỉnh miền núi, kinh tế còn chậm phát triển, số thu ngân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm còn hạn hẹp, để bảo đảm cân đối nhu cầu chi ngân
Trang 9sách địa phương, ngân sách Trung ương phải bổ sung khoảng 66% (Tính bình quân cho giai đoạn 2006-2010) Từ khi Luật ngân sách nhà nước ra đời và có hiệu lực, cơ chế quản lý nguồn ngân sách nhà nước ở Phú Thọ đã dần từng bước được hoàn thiện tạo được những bước ngoặt trong lĩnh vực quản lý thu chi ngân sách của các đơn vị thụ hưởng ngân sách các cấp
Trong bối cảnh chung của tỉnh Phú Thọ, thành phố Việt Trì những năm qua
đã đạt được những thành tựu nhất định về KT - XH, bộ mặt đô thị ngày càng đổi mới Qua gần 10 năm thực hiện Luật ngân sách nhà nước, cân đối ngân sách thành phố đang ngày càng vững chắc, nguồn thu ngân sách ngày càng tăng, không những đảm bảo được những yêu cầu chi thiết yếu của bộ máy quản lý nhà nước
mà còn dành phần đáng kể cho đầu tư phát triển Tuy nhiên việc quản lý nguồn ngân sách nhà nước trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập như thu ngân sách chưa bao quát hết các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu, nguồn thu ngân sách còn hạn chế… Phân bổ dự toán, chi đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước hiệu quả không cao, việc phân bổ kế hoạch vốn đầu tư còn dàn trải, manh mún, gây lãng phí vốn; chi thường xuyên còn vượt dự toán
Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhằm động viên đầy đủ và hợp lý các nguồn thu vào ngân sách nhà nước, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ, quản lý chi ngân sách có hiệu quả, chính là yếu tố có tính quyết định để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT - XH của thành phố trong giai đoạn 2011 – 2015 mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đề ra Để nghiên cứu vấn đề này, câu hỏi nghiên cứu đặt ra ở đây là:
- Quản lý ngân sách nhà nước là gì? Hoạt động quản lý ngân sách có vai trò như thế nào đến tình hình phát triển KT - XH của địa phương?
- Công tác quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì giai đoạn 2006 – 2013 đã đạt được kết quả như thế nào cũng như những hạn chế và yếu kém là gì?
- Để hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Việt Trì trong thời gian tới cần có những giải pháp cụ thể nào?
Trang 10Do đó, tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, đổi mới quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn thành phố Việt Trì nhằm tăng thu ngân sách và sử dụng ngân sách quốc gia hiệu quả là là một yêu cầu cần thiết và quan trọng để thành phố Việt Trì thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đưa thành phố Việt Trì xứng tầm là đô thị trung tâm vùng, góp phần đưa tỉnh Phú Thọ trở thành trung tâm kinh tế của khu vực các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam
Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chon đề tài “Tăng cường quản lý ngân
sách Nhà nước của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài của luận văn
thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước từ quy mô quốc gia cho đến quy mô cấp huyện, cấp xã ở Việt Nam, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Bài báo “Một số vấn đề pháp lý về phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Thị Thu Thủy đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, chuyên san Luật học số 26 (2010) Trong công trình nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu sâu thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này như cần có các quy định thể hiện sự phân cấp quản lý
về ngân sách nhiều hơn, rộng hơn cho các cấp chính quyền địa phương hay quy định về thời hạn của ngân sách nhà nước là trung hạn (5 năm) thay vì một năm như hiện nay
Bài báo của tác giả đã đánh giá được thực trạng thu chi ngân sách do tác động của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam, đặc biệt đối với các tỉnh có bình quân thu nhập đầu người thấp như tỉnh Phú Thọ hiện nay Nhưng trong phạm vi hẹp của bài báo, tác giả chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để cải thiện tình trạng bội chi ngân sách như hiện nay, tác giả chưa đưa ra được các biện pháp cụ thể nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách để hạn chế tình trạng “trông chờ, ỷ lại” vào trợ cấp từ ngân sách cấp trên; cũng như chưa đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu
Trang 11lực quản lý để công tác chi ngân sách nhà nước thực sự đem lại hiệu quả
- Đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế tại Đại học Thái Nguyên “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Hà Việt Hoàng Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng thu ngân sách cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái nguyên qua đó đi đến kết luận thu ngân sách cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho đến năm 2007 vẫn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn trợ cấp cân đối của Ngân sách tỉnh; trên cơ sở đó tác giả đề ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cho các huyện
tự cân đối ngân sách
Đóng góp của luận văn là đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách huyện và quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện Phân tích rõ thực trạng của công tác quản lý ngân sách cấp huyện, điển hình là thành phố Thái Nguyên, huyện Định Hoá Từ đó tác giả cũng đã đưa ra một số kiến nghị với các cấp các ngành bổ sung sửa đổi chính sách chế độ, chế tài, nhằm quản lý tốt hơn đối với ngân sách nhà nước cấp huyện Nhưng do phạm vi nghiên cứu của tác giả rộng, bao gồm hai đơn
vị cấp huyện và thời gian nghiên cứu đến năm 2007 nên những giải pháp mà tác giả đưa ra chưa thực sự đem lại hiệu quả trong tình hình mới hiện nay
- UBND tỉnh Phú Thọ, Báo cáo Kinh tế - xã hội giai đoạn 2005-2010
Bối cảnh kinh tế tỉnh Phú Thọ đã có những thay đổi quan trọng và đã có những thành tựu nhất định sau hơn 20 năm trong điều kiện đổi mới KT - XH của đất nước Định hướng phát triển kinh tế, Chiến lược phát triển KT - XH của Tỉnh giai đoạn 2011-2015 vừa mới được chính thức công bố Do vậy, nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước ở tỉnh Phú Thọ hiện nay phải có những tiếp cận mới trong bối cảnh hiện nay của cả nước
- UBND tỉnh Phú Thọ (2007) có Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 tầm nhìn đến 2020 Trong quy hoạch đề cập đến tổng thể phát triển KT - XH của tỉnh Phú Thọ, trong đó có thành phố Việt Trì
- Một số văn bản của UBND thành phố Việt Trì đã ban hành:
Trang 12+ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Việt Trì đến năm
2015 tầm nhìn đến 2020:
+ Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-201 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015
+ Báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách năm 2006 - 2012
+ Niên giám thống kê năm 2006-2012
Các báo cáo, văn bản của UBND tỉnh và UBND thành phố Việt Trì đã đưa ra được cái nhìn tổng quát về tình hình KT - XH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung
và địa bàn thành phố Việt Trì nói riêng, nhưng các bài viết mới chỉ dừng lại ở các số liệu và đánh giá sơ bộ về thu chi ngân sách địa phương, chưa thực sự có các phân tích rõ nét về thực trạng và giải pháp cải thiện công tác quản lý thu chi ngân sách trên địa bàn
Có thể nói các đề tài, tài liệu và văn bản trên đã có đóng góp rất nhiều cho việc nghiên cứu về hoạt động quản lý ngân sách Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu khác nhau nên các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập cụ thể đến hoạt động
quản lý ngân sách của thành phố Việt Trì Với đặc thù là thành phố tỉnh lỵ của một
tỉnh miền núi trung du, quy hoạch là đô thị trung tâm vùng, hoạt động quản lý ngân sách cũng như việc thực thi Luật ngân sách nhà nước có rất nhiều đặc điểm riêng
Do đó, đề tài tôi lựa chọn mặc dù có tính kế thừa, nhưng nó cũng thể hiện các quan điểm nghiên cứu độc lập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Trên cơ sở hệ thống hóa một cách cơ bản hoạt động quản lý ngân sách nhà nước luận văn tập trung làm rõ thực trạng quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013 để thấy được những thành công cũng như những tồn tại, hạn chế Từ đó đề xuất ra một số giải pháp giúp công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thực sự có hiệu quả
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 13+ Hệ thống hoá những cơ sở lý luận về quản lý ngân sách
+ Phân tích thực trạng quản lý ngân sách nhà nước ở thành phố Việt Trì + Đề xuất một số gợi ý về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý ngân sách của thành phố Việt Trì
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quản lý ngân sách của thành phố Việt Trì
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì từ năm 2006 đến năm 2013 Hoạt động quản lý NSNN
của thành phố bao gồm rất nhiều hoạt động, nhiều mảng trong công tác quản lý bao gồm: quản lý hoạt động thu – chi; quản lý cơ cấu thu – chi và quản lý cán cân thu - chi
Để nghiên cứu hoạt động quản lý NSNN của thành phố Việt Trì có nhiều cách tiếp cận khác nhau như: tiếp cận theo quy trình quản lý thu – chi NSNN, tiếp cận theo đối tượng của quản lý thu – chi NSNN Với giới hạn của một luận văn định hướng thực hành, tác giả chỉ dừng lại nghiên cứu hoạt động thu chi trong quản lý NSNN của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vân dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn sử dụng phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu; phương pháp xử
lý số liệu; phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê có chọn lọc kết hợp với phương pháp so sánh
5.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu
Để đánh giá được thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Việt Trì, đề tài sử dụng kết hợp cả hai loại phân tích: phân tích định tính và định lượng Hai phương pháp phân tích này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trong việc làm sáng tỏ các nhận định hoặc rút ra các kết luận của vấn đề nghiên cứu
Nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu đánh giá được thu thập từ hai nguồn:
Trang 14- Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, các kết quả nghiên cứu, các số liệu đã được công bố chính thức của các cơ quan, tổ chức
- Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra trực tiếp bằng việc
sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp
5.3.1 Phương pháp phân tổ thống kê
Sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích các số liệu thu thập được từ điều tra, qua đó nhận biết thực trạng của vấn đề nghiên cứu Từ phương pháp này có thể tìm hiểu mối liên hệ lẫn nhau của các nhân tố riêng biệt như: môi trường pháp lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, tiềm năng kinh tế, nguồn nhân lực
5.3.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích
Tiến hành phân tích thực trạng về tình hình thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì trong những năm qua, về số lượng thu – chi, cũng như chất lượng, hiệu quả của việc thu – chi cho phát triển kinh tế xã hội nói chung; những thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước Phân tích, so sánh các nguồn thu, cơ cấu nguồn thu ngân sách; phân tích, so sách các khoản chi,
cơ cấu chi ngân sách, trên cơ sở đó có thể đề ra các giải pháp phù hợp trong việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trong thời gian tới
Trong quá trình phân tích các vấn đề về quản lý ngân sách, luận văn còn sử dụng các bảng biểu so sánh để làm tăng tính trực quan và sức thuyết phục của đề tài
Số liệu sử dụng: luận văn sử dụng các số liệu thống kê của các sở, ngành trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và Quy hoạch tổng
Trang 15thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ và của thành phố Việt Trì đến năm
2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Các báo cáo của thành phố Việt Trì trong các năm
2006 - 2013
6 Những kết quả đạt đƣợc của luận văn
Dự kiến luận văn có những đóng góp chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động quản lý ngân sách nhà nước
- Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà nước đã được xây dựng, áp dụng để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả của công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Việt Trì từ năm 2006 -
2013 Chỉ ra nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của công tác quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì
- Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 - 2015 trong điều kiện hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước Chương 2 Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Việt Trì
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm, vai trò, nội dung của NSNN và quản lý NSNN
1.1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước (NSNN)
* Khái niệm chung về NSNN
NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan và là phạm trù lịch sử, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và sự phát triển của các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ Nhà nước ra đời đã ban hành các luật thuế để lấy tiền chi tiêu, nhưng cho tới chế độ phong kiến, việc thu - chi của nhà nước rất tuỳ tiện, chủ yếu là theo quyết định của nhà vua; mọi khoản thu - chi không có kế hoạch trước, không có sự phân loại và không có luật điều chỉnh Đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, giai cấp tư sản đấu tranh đòi nhà nước phải hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực kinh tế, đòi thiết lập trình tự lập kế hoạch chi tiêu và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với việc chi tiêu của nhà nước thì các nhân tố của NSNN mới được quy tụ đầy đủ Từ đó NSNN mới được hình thành với các đặc trưng của nó là tính
kế hoạch dự toán, tính cân đối thu - chi và tính niên độ Ngày nay thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này
Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [2, Tr1]
Thu chi NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực
Trang 17hiện mục tiêu KT - XH NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân
NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng
Hệ thống các quan hệ kinh tế này được thể hiện:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa NSNN với các quan hệ kinh tế
Hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó nhưng bên trong thì lại phản ảnh các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình phân phối gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT - XH [11]
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước Ở nước ta bộ máy quản
Trang 18lý hành chính Nhà nước được tổ chức 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó
* Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước Thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay Nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chi tiêu xác định của Nhà nước
Trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề vật chất không thể thiếu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Thu ngân sách nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh
tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền
đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN
Thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng lớn đến tốc độ, chất lượng và tính bền vững trong phát triển của một quốc gia Thu NSNN bao gồm thuế, các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.[2,Tr1]
* Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối
và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho chi phí của bộ máy QLNN và thực hiện các chức năng KT - XH mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các
Trang 19loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng
Luật NSNN đã xác định cụ thể chi NSNN bao gồm: các khoản chi phát triển
KT - XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh; đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định pháp luật [2,tr1]
1.1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước
Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng, và trên cơ sở các nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn như sau:
* NSNN giúp huy động nguồn tài chính quốc gia
NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của NSNN, cung cấp nguồn tài chính để duy trì bộ máy quản lý nhà nước đồng thời NSNN thực hiện cân đối các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước, đây là vai trò lịch sử của NSNN mà Nhà nước nào cũng phải thực hiện
* NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía Nhà nước, song Nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo, tức là khi Nhà nước sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ ngân sách để tác động vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội - thị trường
* NSNN góp phần kích thích phát triển nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
NSNN góp phần định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh và chống độc quyền
NSNN đảm bảo cung cấp kinh phí để đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, tạo điều kiện cho sự hình thành
và phát triển của doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác; giúp định hướng cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh và chống độc quyền;
Trang 20củng cố vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh đối với từng lĩnh vực trong nền kinh tế
* NSNN có vai trò tác động đến nền kinh tế vĩ mô
Bằng công cụ thuế và chính sách chi tiêu, NSNN có khả năng tác động đến quan hệ cung - cầu, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Bên cạnh đó việc lựa chọn giải pháp bù đắp thâm hụt NSNN là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lạm phát Nếu dùng biện pháp phát hành thêm tiền thì trực tiếp làm cho tình hình lạm phát gia tăng, ngược lại biện pháp vay dân sẽ góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tạo ra sự cân đối tiền - hàng và làm giảm tốc độ lạm phát
* NSNN có vai trò trong phân phối và phân phối lại thu nhập
NSNN có khả năng điều tiết thu nhập, điều chỉnh tiêu dùng đảm bảo thu nhập chính đáng, và nhất là đảm bảo sự công bằng xã hội thông qua các chính sách thu - chi NSNN
Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội, trợ cấp xã hội, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề, phòng, chống các
tệ nạn xã hội.[11]
1.1.2 Quản lý ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm, vai trò và chức năng của quản lý NSNN
a, Khái niệm quản lý ngân sách nhà nước
* Khái niệm quản lý thu NSNN
Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sản xuất kinh doanh (SXKD) phát triển Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện
* Khái niệm quản lý chi NSNN
Trang 21Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm phục vụ chi tiêu của bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật
Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý
Quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao
b, Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước
* Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước
Quản lý thu NSNN đóng vai trò rất quan trọng, thể hiện:
Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm soát,
điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư nhằm động viên sự đóng góp đảm bảo công bằng, hợp lý
Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực
tài chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải có nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận do quản lý tốt nguồn thu ngân sách mang lại
Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác
các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên và không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế
Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằng
giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá trình sản xuất kinh doanh Đồng thời nó là công cụ quan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội
Trang 22Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và sản
lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế dẫn tới giảm sản lượng của nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng
* Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi NSNN có vai trò rất to lớn, thể hiện:
Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN Thông
qua quản lý các khoản chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống KT - XH, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các hoạt động mang tính cộng đồng
Thứ hai, Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư, thực hiện
công bằng xã hội và góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường
Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và
chống lạm phát Sự mất cân đối giữa cung - cầu sẽ tác động đến giá cả tăng hoặc giảm Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, Nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy QLNN, cũng như trợ vốn, trợ giá
và sử dụng quỹ dự trữ của Nhà nước
Thứ tư, duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế Thông qua quản lý các
khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp tạo
ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vào
các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
c Chức năng của công tác quản lý NSNN
* Hình thành cơ chế, chính sách quản lý ngân sách
Cơ chế quản lý NSNN là tổng thể các hình thức và phương pháp hình thành, tập trung, phân phối và sử dụng quỹ NSNN, theo cách hiểu này, cơ chế quản lý ngân sách bao gồm cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của hệ thống ngân sách
Trang 23Trong quản lý NSNN việc nhận thức rõ vai trò của cơ chế quản lý ngân sách
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nhìn nhận tính biến động của chính sách NSNN, từ đó không ngừng hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý ngân sách làm cho
nó phù hợp với sự biến động của chính sách ngân sách
Chính sách ngân sách là phương hướng cơ bản về huy động vốn và sử dụng ngân sách của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, phù hợp với đặc điểm KT -
XH và những nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước ở thời kỳ đó Chính sách ngân sách do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, chính sách đúng phù hợp sẽ có tác động thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và ngược lại Đồng thời, nó cũng chịu ảnh hưởng của tình hình KT - XH, của cơ chế quản lý
và các bộ phận khác trong hệ thống tài chính Quốc gia
Trên cơ sở chính sách NSNN hình thành nên mức độ huy động đối với từng khoản mục vào ngân sách và các tiêu chuẩn, định mức chi, đây là cơ sở để lập kế hoạch NSNN và là cơ sở kiểm soát việc thực hiện thu - chi NSNN
* Hoạch định kế hoạch thu - chi NSNN
Trên cơ sở chế độ chính sách thu - chi đã được ban hành, các cấp chính quyền hoạch định kế hoạch thu - chi phù hợp với tình hình thực tế
Nội dung cơ bản của kế hoạch thu - chi NSNN được cụ thể hoá trong quá trình lập dự toán ngân sách ở các cấp ngân sách với việc xác định các khoản thu - chi cụ thể, tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn bù đắp Việc lập kế hoạch trong dự toán NSNN phải dựa trên cơ sở, tình hình diễn biến về KT - XH ở mỗi cấp, ngành, địa phương Kế hoạch ngân sách vừa phải bảo đảm nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi cho bộ máy quản lý nhà nước, nhưng phải bảo đảm nuôi dưỡng nguồn thu; kế hoạch chi tiêu phải sát, đúng và bảo đảm hiệu quả, tránh thất thoát lãng phí
* Tổ chức quá trình thu - chi NSNN
Tổ chức quá trình thu - chi NSNN là một trong những nội dung quan trọng của quản lý NSNN, bao gồm hai nội dung cơ bản: Xây dựng quy trình thu - chi
Trang 24NSNN một cách hợp lý, và tổ chức bộ máy thu - chi NSNN ở tất cả các khâu, các cấp ngân sách
Quy trình thu - chi cần được xây dựng cụ thể cho từng loại thu và các khoản mục chi cụ thể Việc xác lập quy trình thu - chi ngân sách cụ thể, hợp lý bảo đảm thực hiện tốt kế hoạch thu - chi NSNN, công khai hoá các nguồn thu và khoản mục chi, tạo cơ sở cho việc kiểm soát NSNN được tốt hơn
Bộ máy quản lý NSNN là bộ phận quan trọng, quyết định trong việc thực hiện chính sách, cơ chế quản lý NSNN Vấn đề hiện nay là tổ chức bộ máy quản lý NSNN phải đảm bảo hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cao
* Kiểm soát thu - chi NSNN
Kiểm soát thu - chi NSNN nhằm mục đích bảo đảm cho việc thu - chi ngân sách được hiệu quả, đúng mục đích và an toàn Tình hình chung của NSNN là nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm trong khi nhu cầu chi lại tăng, dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách Một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất trong quá trình quản lý ngân sách là đảm bảo cân đối giữa thu và chi Trong nền kinh tế thị trường đó là sự cân bằng động Việc lựa chọn biện pháp nào phụ thuộc vào điều kiện thực tế tại từng thời điểm cụ thể
1.1.2.2 Nguyên tắc và nội dung của quản lý NSNN
a, Nguyên tắc của quản lý NSNN
* Nguyên tắc thống nhất
Đó là việc tuân thủ theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, đến thanh quyết toán, xử lý những phát sinh trong quá trình thực hiện NSNN đều mang tính thống nhất và xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm tăng cường sức mạnh vật chất trong tay Nhà nước, đảm bảo tính công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng có nghĩa vụ hoặc được thụ hưởng ngân sách
* Nguyên tắc dân chủ
Đây là nguyên tắc thể hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc đóng góp, kiểm tra, giám sát và hưởng thụ Sự tham gia theo quy chế dân chủ làm cho
Trang 25ngân sách minh bạch hơn, các thông tin về các khoản thu, chi của NSNN được chính xác, trung thực hơn Một ngân sách tốt là một ngân sách phản ánh lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, trong các chính sách hoạt động thu chi NSNN
* Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn, chính xác
Đây là nguyên tắc đòi hỏi mọi khoản thu, chi ngân sách phải được phản ánh đầy đủ, chính xác vào NSNN Thực hiện nguyên tắc này là đảm bảo tính minh bạch của các khoản thu, chi, tạo điều kiện cho các nhà quản lý có số liệu trung thực để đưa ra những quyết định quản lý chính xác, hiệu quả
* Nguyên tắc công khai, minh bạch
NSNN được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật, nên người dân có quyền được biết Nhà nước thu của họ như thế nào, chi vào những việc gì, các nhà tài trợ cũng muốn biết tiền của họ có được chi đúng mục đích hay không chính vì thế mà NSNN phải được trình bày dễ hiểu, công bố công khai để dân chúng được biết Thực hiện nguyên tắc này góp phần làm lành mạnh hóa công tác quản lý NSNN
* Nguyên tắc cân đối
Cân đối NSNN là cân đối giữa thu và chi NSNN Nguyên tắc này đòi hỏi chỉ được phép chi khi có nguồn thu bù đắp NSNN của Việt Nam được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển Trong trường hợp bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách Bội chi NSNN được bù đắp bằng nguồn vay trong và ngoài nước, khoản vay
bù đắp cho bội chi ngân sách không được sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển
* Nguyên tắc quy trách nhiệm
Nguyên tắc này đòi hỏi trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách của các tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện ngân sách
Trang 26b, Nội dung của quản lý NSNN
* Nội dung cơ bản về quản lý thu ngân sách nhà nước
Việc nghiên cứu toàn diện việc quản lý thu NSNN bao gồm rất nhiều vấn đề
và rất rộng, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ tập trung trình bày một số vấn
đề về quản lý thu thuế và các khoản phí, lệ phí Đây là các khoản thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu NSNN nhất là NSNN của cấp thành phố thuộc Tỉnh
(+) Nội dung quản lý thu thuế
Thuế là nguồn thu chính chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng ngày càng tăng trong tổng thu NSNN Đồng thời thuế cũng là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Do vậy quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế ở địa phương có
ý nghĩa đặt biệt quan trọng trong quản lý NSNN Quản lý thu thuế là hệ thống các biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách thực hiện
- Nguyên tắc của quản lý thu thuế:
Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Thứ hai, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ
Thứ ba, nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế
Thứ tư, nguyên tắc minh bạch
Thứ năm, nguyên tắc thuận tiện, tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý thuế
- Nội dung của công tác quản lý thu thuế:
Thứ nhất, xây dựng dự toán thu về thuế Đây là khâu cơ sở của quá trình
quản lý thu thuế
Thứ hai, tổ chức các biện pháp thu
(+) Nội dung quản lý thu phí, lệ phí
Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, tuy nhiên nếu chỉ thu thuế thì Chính phủ không đủ nguồn tài trợ cho nhiều hoạt động vốn rất đa dạng của mình và cũng không thể buộc người dân sử dụng hàng hóa và dịch vụ công theo cách thức có hiệu quả Do đó phí, lệ phí đặt ra đối với những tổ chức và
cá nhân sử dụng hàng hóa hay dịch vụ công
Trang 27Phí thuộc NSNN là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải trả cho một cơ quan nhà nước khi nhận được dịch vụ do cơ quan này cung cấp Trong hoạt động xã hội, nhiều tổ chức thuộc bộ máy công quyền cung cấp ra bên ngoài nhiều dịch vụ Chúng cần thiết phải thu tiền của đối tượng thụ hưởng để bù đắp chi phí hoạt động Phí chính là số tiền đó
Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức và cá nhân phải nộp cho cơ quan nhà nước khi thụ hưởng dịch vụ liên quan đến quản lý hành chính do cơ quan này cung cấp
Phí, lệ phí không phải là giá cả của dịch vụ công mà chỉ là động viên một phần thu nhập của người thụ hưởng nhằm thực hiện công bằng trong tiêu thụ dịch
vụ công
Mọi khoản phí, lệ phí đều phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Pháp lệnh phí, lệ phí và Nghị định 57/2002/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định chi tiết danh mục phí, lệ phí đồng thời với việc quy định nguyên tắc xác định mức thu phí và lệ phí Đối với một số khoản thu phí, lệ phí quan trọng, Chính phủ trực tiếp quy định mức thu, chế độ thu, nộp và chế độ quản lý Đối với những khoản còn lại, Chính phủ giao hoặc phân quyền quy định mức thu, chế độ thu, nộp và chế độ quản
lý cho cấp Bộ và tương đương Căn cứ vào quy định chi tiết của Chính phủ, Bộ Tài chính quy định mức thu cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí, hướng dẫn mức thu cho các cơ quan được phân cấp quy định mức thu Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh quyết định thu phí, lệ phí được phân cấp Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân tự đặt
ra các loại phí, sửa đổi mức thu phí hay thu phí trái với quy định của cơ quan có thẩm quyền
Đơn vị thu phí, lệ phí là cơ quan thuế và các cơ quan được pháp luật quy định Khi thu phải cấp chứng từ thu theo quy định của Bộ Tài chính
* Nội dung cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước
(+) Quản lý chi đầu tư phát triển
Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung vào NSNN để xây dựng cơ sở hạ tầng KT - XH, phát triển sản xuất và
Trang 28thực hiện dự trữ vật tư hàng hóa nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế
- Nguyên tắc của quản lý chi đầu tư phát triển:
+ Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích và đúng kế hoạch
+ Vốn đầu tư XDCB được cấp phát trực tiếp
+ Vốn đầu tư XDCB được cấp phát theo mức độ hoàn thành thực tế của công trình, theo đúng dự toán được duyệt
+ Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) phải được thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền Việc kiểm tra này được thực hiện trong toàn bộ quá trình đầu tư
Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm đảm bảo vốn đầu tư của Nhà nước được cấp phát kịp thời, đúng kế hoạch, đúng mục đích và đạt hiệu quả kinh tế cao
- Nội dung của công tác quản lý cấp phát, thanh toán vốn đầu tư thuộc NSNN
Một là, Lập, thông báo kế hoạch vốn đầu tư XDCB hàng năm
Hai là, Cấp phát vốn đầu tư XDCB thuộc NSNN
Phương pháp cấp phát vốn đầu tư XDCB gồm hai khâu: Cấp phát tạm ứng và cấp phát khối lượng hoàn thành
Ba là, Quyết toán vốn đầu tư XDCB
(+) Nội dung quản lý chi thường xuyên
Chi thường xuyên là một bộ phận của chi NSNN, nó phản ảnh quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về quản lý KT
- XH của Nhà nước Chi thường xuyên của NSNN bao gồm các khoản chi cho các lĩnh vực: sự nghiệp kinh tế; sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; chi bộ máy quản lý nhà nước; chi an ninh quốc phòng, Cùng với quá trình phát triển KT - XH các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước ngày càng tăng lên làm phong phú thêm nội dung chi thường xuyên của ngân sách
Chi thường xuyên có các đặc điểm cơ bản sau: Đây là những khoản chi có tính chất liên tục; là những khoản chi mang tính chất tiêu dùng; phạm vi, mức độ
Trang 29chi thường xuyên phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và quy mô cung ứng các hàng hóa công của Nhà nước
- Nguyên tắc của quản lý chi thường xuyên của NSNN
+ Nguyên tắc quản lý theo dự toán
+ Nguyên tắc hiệu quả
+ Nguyên tắc đảm bảo sự tự chủ về tài chính của đơn vị sử dụng ngân sách + Nguyên tắc chi trả trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước (KBNN)
- Nội dung của quản lý chi thường xuyên
Thứ nhất, xây dựng hệ thống định mức chi ngân sách Đây là công cụ rất
quan trọng để cơ quan tài chính các cấp có căn cứ để lập phương án phân bổ ngân sách, kiểm tra quá trình chấp hành ngân sách và thẩm tra xét duyệt quyết toán của các đơn vị sử dụng ngân sách Định mức chi bao gồm hai loại: định mức phân bổ và định mức sử dụng ngân sách
Thứ hai, lập dự toán chi thường xuyên
Thứ ba, chấp hành dự toán chi thường xuyên Đây là nội dung rất quan trọng
trong chi ngân sách, là khâu thứ hai trong chu trình quản lý ngân sách
Thứ tư, quyết toán chi thường xuyên Đây là khâu kết thúc của chu trình
quản lý các khoản chi thường xuyên của ngân sách
Qua công tác quyết toán chi thường xuyên ngân sách sẽ giúp các cơ quan quản lý phân tích đánh giá quá trình chấp hành ngân sách, chấp hành các định mức nhà nước đã quy định của các đơn vị thụ hưởng ngân sách cũng như của các cấp ngân sách, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách; làm cơ sở cho việc xây dựng cũng như điều chỉnh các định mức phân bổ ngân sách, xây dựng dự toán ngân sách cho năm sau
Tóm lại, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nó thể
hiện lượng tiền huy động từ thu nhập Quốc dân nhằm đáp ứng các khoản chi của Nhà nước Trong hệ thống mối quan hệ kinh tế liên quan đến NSNN, Nhà nước là chủ thể đặc biệt tạo lập và sử dụng nguồn tài chính Quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về kinh tế - xã hội (KT – XH) Công tác quản lý thu chi NSNN cần được
Trang 30củng cố và tăng cường nhằm động viên đầy đủ, hợp lý các nguồn thu vào NSNN, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế của xã hội một cách vững chắc và hiệu quả
1.1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý ngân sách nhà nước
Quá trình quản lý thu, chi ngân sách bị chi phối bởi các nhân tố sau:
* Nhân tố về thể chế tài chính
Thể chế tài chính quy định phạm vi, đối tượng thu, chi của các cấp chính quyền; quy định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý thu - chi ngân sách Thực tế cho thấy nhân tố về thể chế tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý thu - chi ngân sách trên một địa bàn nhất định, đòi hỏi phải ban hành thể chế tài chính đúng đắn phù hợp để công tác trên đạt được hiệu quả
* Nhân tố về bộ máy và cán bộ
Khi nói đến cơ cấu tổ chức một bộ máy quản lý thu, chi ngân sách thường đề cập đến quy mô nhân sự của nó và trong sự thiết lập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy và các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện chức năng này Sự thiết lập ấy được biểu hiện thông qua quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán
bộ quản lý thu chi ngân sách Nếu việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu, chi ngân sách Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý
* Nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập
Việc quản lý thu, chi ngân sách luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn Khi trình độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó
Trang 31còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập, mức sống của người dân Do đó, ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, người ta luôn quan tâm chú trọng đến nhân tố này, trong quá trình quản lý hoạch định của chính sách
thu chi NSNN
1.2 Phân cấp chức năng và quy trình của quản lý NSNN
1.2.1 Phân cấp chức năng của quản lý NSNN
Phân cấp NSNN trước hết là xác định quyền lực của các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức lien quan đến ngân sách Phân cấp ngân sách còn là việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các cấp chính quyền trong việc thực hiện chu trình ngân sách
Phân cấp quản lý NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc được qui định ở Khoản 2, Điều 4 của Luật NSNN như sau:
a) Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ cụ thể;
b) Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những đại phương chưa cân đối được thu, chi ngân lực;
c) Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách cấp xã Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vị chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;
d) Nhiệm vụ chi thưộc ngân sách cấp nào do cấp đó đảm bảo; việc ban hành
và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;
Trang 32đ) Trường hợp cơ quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
e) Thực hiện phân chia theo tỉ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương
Tỉ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
g) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hằng năm mà NSDP được hưởng để phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỉ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên;
h) Ngoài việc ủy thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định tại điểm đ và điểm e khoản 2 nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiêm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.[2]
1.2.2 Quy trình quản lý NSNN
Quy trình quản lý NSNN bao gồm nội dung cụ thể sau
1.2.2.1 Quy trình quản lý thu NSNN
Quy trình quản lý thu NSNN là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách; Kiểm tra, giám sát quá trình này Quy trình quản lý thu NSNN tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau:
+ Xác lập hệ thống chính sách thu
+ Lập kế hoạch và biện pháp thu
+ Thực hiện qui trình thu
+ Tổ chức bộ máy thu
Trang 331.2.2.2 Quy trình quản lý chi ngân sách nhà nước
Quy trình quản lý chi ngân sách nhà nước là việc đề xuất các chính sách trong việc chi ngân sách, lập kế hoạch, tổ chức, điều hành chi ngân sách và kiểm tra mọi khoản chi tiêu từ ngân sách Các nội dung của quy trình quản lý chi ngân sách bao gồm:
+ Ban hành các chính sách, chế độ và định mức về chi ngân sách
+ Tổ chức điều hành chi ngân sách nhà nước
+ Kiểm tra, giám sát chi ngân sách nhà nước
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách ở một số địa phương
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thu - chi NSNN huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Luật NSNN được sửa đổi về đẩy mạnh phân cấp, tăng nguồn lực cho địa phương và đơn vị cơ sở khai thác nội lực nâng cao hiệu quả tiết kiệm, giảm bớt thủ tục hành chính, huyện Hưng Hà tổ chức thực hiện tương đối tốt các hoạt động phát triển KT – XH Theo số liệu 6 tháng đầu năm 2007, thu NSNN thực hiện được 101,7 tỷ đồng, một số chỉ tiêu vượt dự toán đầu năm như: Thuế ngoài quốc doanh đạt 69%, lệ phí trước bạ đạt 66%, xổ số đạt 58%, thuế nhà đất đạt 77%, thu biện pháp tài chính đạt 168% dự toán Tổng chi ngân sách thực hiện 59,164 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển là 9,617 tỷ đồng, chi thường xuyên là 49,476 tỷ đồng
Trong điều hành chi ngân sách, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát ngay từ đầu năm nên các chỉ tiêu chi bám sát dự toán, đảm bảo cân đối Cụ thể, chi đầu tư phát triển KT – XH được đảm bảo tiến độ thực hiện dự án, chi thường xuyên
đã tiết kiệm, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của huyện và cấp xã
Công tác quản lý tài chính ngân sách xã luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm vì vậy KBNN huyện Hưng Hà đã tích cực kết hợp với các ngành thuộc khối tài chính quản lý chặt chẽ thu – chi, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý, điều hành ngân sách và quỹ quốc gia trên địa bàn huyện Tính đến hết năm 2007, tổng thu NSNN là 188,456 tỷ đồng, tăng 13% so với dự toán Công tác chi ngân sách đã giữ ổn định theo dự toán HĐND huyện phê duyệt Trên cơ sở nguồn thu
Trang 34tăng, UBND huyện đã bổ xung thêm nhiệm vụ chi là 24,422 tỷ đồng, cụ thể: tăng vốn đầu tư XDCB 9,385 tỷ đồng; chi sự nghiệp kinh tế 1,649 tỷ đồng; chi thường xuyên 7,462 tỷ đồng Có được kết quả như vậy là do UBND huyện đã chủ động quản lý điều hành ngân sách những tháng cuối năm như tập trung khắc phục yếu kém, đề ra các biện pháp thực hiện, phấn đấu hoàn thành và vượt dự toán thu, đảm bảo nhiệm vụ chi Các cấp chính quyền, ngành thuế và một số ngành chức năng làm
rõ nguyên nhân thất thu đối với từng chỉ tiêu thu ở từng lĩnh vực, từng địa bàn Tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, tạo vốn từ quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng Huyện Hưng Hà thực hiện nghiêm các quy định để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tiếp tục củng cố công tác quản lý tài chính, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền cấp xã [9, Tr 32 – 33]
1.3.2 Kinh nghiệm tăng cường, nuôi dưỡng nguồn thu thông qua thu hút đầu tư nước ngoài tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng thủ đô Vĩnh Phúc có nhiều tuyến giao thông quốc gia: đường sắt, đường bộ, đường song quan trọng chạy qua và gần sân bay quốc tế Nội Bài Với lợi thế về địa kinh tế và văn hóa, từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) tỉnh Vĩnh Phúc đã có bước tiến nhanh và đạt được những thành tựu to lớn Kể từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 18/5/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2007 – 2010, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện triệt để Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã xây dựng chương trình hành động đẩy mạnh cải cách hành chính; các cơ quan, đơn vị đã ban hành kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính theo năm Đồng thời thực hiện cơ chế một cửa liên thông đang được thực hiện tại một số huyện, thành, thị trong lĩnh vực đất đai (liên thông UBND cấp xã với UBND cấp huyện) và 2 sở: Sở Kế hoạch và Đầu tư trong lĩnh vực cấp đăng ký kinh doanh (liên thông với Công an tỉnh và Cục Thuế tỉnh); Sở Tư pháp thực hiện trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp (liên thông với Công an tỉnh, Sở Lao động thương binh và xã hội, và Văn phòng UBND tỉnh) UBND tỉnh còn chỉ đạo UBND thành
Trang 35phố Vĩnh Yên triển khai thực hiện đề án xây dựng Bộ phận một cửa hiện đại Với những hoạt động kịp thời trên đã giúp cho môi trường đầu tư trong tỉnh được thông thoáng hơn, thu hút được lượng vốn đầu tư lớn
Là một địa phương gần đường Quốc lộ thuận lợi cho vận chuyển và giao lưu thương mại ngoài ra tỉnh còn có các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư hợp lý, thành phố Vĩnh Yên đã và đang trở thành tâm điểm thu hút cá nhà đầu tư trong và ngoài nước Từ một thị xã nhỏ, Vĩnh Yên đã phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình, trở thành thành phố công nghiệp – dịch vụ với các chính sách thu hút đầu tư cởi mở, theo phương châm đi tắt đón đầu, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ, khai thác mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư, quy hoạch phát triển KT - XH Điểm nhấn trong thu hút đầu tư của Vĩnh Yên là lấy giải phóng mặt bằng – cái cách hành chính làm khâu đột phá Hiện nay, thành phố Vĩnh Yên có khu công nghiệp Khai Quang với diện tích 262 ha và quy hoạch bổ sung đến năm 2015 có khu công nghiệp Hội Hợp với diện tích 150 ha Nhờ vậy, đã có 90 – 100% các dự án đi vào sản xuất, không ngừng mở rộng đầu tư, hiệu quả Thành phố đã quy hoạch các khu trung tâm thương mại lớn, siêu thị BigC, Sài Gòn Max…, khu vui chơi giải trí Sông Hồng Thủ Đô, các khu đô thị chùa Hà Tiên, Quảng Lợi
Bên cạnh đó, thành phố tạo được sự đồng thuận, đảm bảo tính thống nhất cao trong BCH Đảng bộ và cả hệ thống chính trị Đến nay, thành phố Vĩnh Yên đã thu hút nhiều dự án vào đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, hạ tầng đô thị với tổng số vốn hàng trăm tỷ đồng; trong đó có nhiều dự án cho ra sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao Cụ thể, đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006 – 2008, thành phố Vĩnh Yên có 55 dự án chiếm 32,16% số dự án trên toàn tỉnh; số vốn đầu tư đạt 771,721 tỷ USD, chiếm tới 29,68% số vốn đăng ký trên toàn tỉnh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn đạt trên 20%/năm; thu nhập tổng sản phẩm quốc nội (GDP)/người/năm đạt 66,08 triệu đồng, tăng gấp hơn 10 lần những năm 1997 – 2000 Thu ngân sách đạt hơn một nghìn tỷ đồng, đạt 130%
dự toán giao Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng ngành
Trang 36dịch vụ chiếm 48,16%; công nghiệp – xây dựng chiếm 49,74%; nông – lâm nghiệp, thủy sản 2,1% Mạng lưới giao thông đô thị luôn được quan tâm đầu tư Các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh được duy trì và phát triển lên tầm cao mới Lĩnh vực giáo dục được đẩy mạnh và xã hội hóa, phát triển cả 3 mặt: quy
mô, chất lượng và cơ sở vật chất Mạng lưới y tế được củng cố, tăng cường; có 7/9
xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt tỷ lệ 10 BS/1 vạn dân [30]
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
GIAI ĐOẠN 2006 - 2013 2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Việt Trì
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên và địa lý hành chính
Việt Trì là thành phố trực thuộc tỉnh Phú Thọ Là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, là kinh đô Văn Lang - Kinh đô đầu tiên của người Việt, quê hương đất tổ vua Hùng; Là thành phố công nghiệp; Là cửa ngõ vùng Tây Bắc, đầu mối giao thông nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nằm trên hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc) Thành phố Việt Trì được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm
1962 Thành phố Việt Trì được biết đến là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc với các ngành dệt, giấy, hóa chất, sứ , và còn được gọi là thành phố ngã ba sông - nơi hợp lưu của ba dòng sông là (sông Hồng, sông Lô, sông Đà) Hiện nay Việt Trì là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc Tháng 5 năm 2012, Việt Trì được Chính phủ quyết định công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ và được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư để trở thành một trong 11 đô thị lớn nhất Việt Nam Tháng ba âm lịch hàng năm Giỗ tổ Hùng Vương hàng triệu con cháu Lạc Hồng từ khắp cả nước lại nô nức về núi Nghĩa Lĩnh thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - Việt Trì để thăm viếng tổ tông
Thành phố Việt Trì cách trung tâm Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc
+ Phía Đông giáp các huyện Lập Thạch, Sông Lô, Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc)
+ Phía Tây giáp thị trấn Lâm Thao và thị trấn Hùng Sơn, các xã Tiên Kiên, Thạch Sơn, huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ
+ Phía Nam giáp các xã Cao Xá, Sơn Vi, huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) và huyện Ba Vì, Hà Nội
+ Phía Bắc giáp xã Phù Ninh, xã Vĩnh Phú, huyện Phù Ninh - Phú Thọ
Trang 38Thành phố Việt Trì có 23 phường, xã trực thuộc (trong đó gồm 13 phường là: Bạch Hạc, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Nông Trang, Vân Cơ, Bến Gót, Gia Cẩm, Tân Dân, Dữu Lâu, Minh Nông, Minh Phương, Vân Phú và 10 xã là: Thụy Vân, Phượng Lâu, Sông Lô, Trưng Vương, Hy Cương, Chu Hóa, Thanh Đình,
Hùng Lô, Kim Đức, Tân Đức)
2.1.2 Về kinh tế - xã hội:
Trong những năm qua, nền kinh tế của thành phố (TP) Việt Trì tiếp tục tăng trưởng cao giai đoạn 2006 - 2013 GDP tăng bình quân 13,6% Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố thể hiện nền kinh tế đang từng bước đi vào khai thác các lợi thế so sánh của trung tâm đô thị vùng
Bảng 2.1: Dân số và lao động TP Việt Trì trong giai đoạn 2006 - 2013
STT CHỈ TIÊU Đơn vị tính Kết quả thực hiện giai đoạn 2006 - 2013
- Nông lâm - thuỷ sản 1.000 người 33 32,4 31,7 31,1 28,3 27,4 27,2 26,8
2 Cơ cấu lao động % 100 100 100 100 100 100 100 100
Trong đó: Công nghiệp
- Nông lâm - thuỷ sản % 36 35 34 33 28 27 26 25
Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội thành phố Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013
- Công nghiệp thành phố phát triển khá (Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 15,6%/năm) đứng đầu các đô thị trong vùng, đóng
Trang 39góp phần quyết định vào sự tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp của tỉnh (đóng góp khoảng 40%), đồng thời đứng đầu các thành phố, thị xã trong vùng
- Các ngành dịch vụ phát triển mạnh, đóng góp phần quyết định vào sự tăng trưởng giá trị gia tăng dịch vụ của tỉnh (đóng góp khoảng 50%); đa dạng, từng bước khai thác được lợi thế, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Chất lượng dịch vụ được nâng lên một bước
- Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá, đã triển khai xây dựng một số chương trình, dự án có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, tạo hệ sinh thái bền vững
Bảng 2.2: Giá trị sản xuất và cơ cấu phân tích theo ngành giai đoạn
2006 - 2013 của thành phố Việt Trì (theo giá cố định 1994)
Nguồn:Báo cáo tình hình phát triển kinh tế- xã hội 2006-2013 của TP Việt Trì
Trong thời gian qua, thành phố đã huy động các nguồn lực để phát triển KT -
XH, nhất là huy động các nguồn lực xây dựng hạ tầng đô thị và hạ tầng kinh tế - xã hội đạt kết quả khá Công tác xây dựng và quản lý đô thị, phong trào xây dựng đô thị xanh - sạch - đẹp dần đi vào nề nếp
Trang 40- Thành phố bước đầu đáp ứng yêu cầu là trung tâm một số ngành đào tạo văn hóa, thể thao của vùng; Chất lượng giáo dục - đào tạo được nâng lên; Hoạt động văn hoá - thông tin - thể thao, y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và thực hiện các chính sách xã hội được thực hiện kịp thời, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực, ổn định xã hội và xây dựng nếp sống văn minh đô thị
- Công tác quốc phòng - an ninh được thực hiện tốt, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây
dựng thành phố Việt Trì (giá cố định 1994)
STT CHỈ TIÊU
Đơn vị tính
Kết quả thực hiện giai đoạn 2006 - 2012
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
1 GTSX công nghiệp - xây
dựng
Tỷ đồng