Bảng thống kê tỷ lệ rủi ro Lao động xuất khẩu Đơn vị: % Rủi ro về biến động kinh tế xã hội 1,8 2,4 3,2 3,5 Nguồn: bộ lao động-thương binh và xã hội - thống kê rủi ro LĐXK 2010-2013 T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
TRẦN THỊ KIM ANH
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG, DỊCH VỤ VÀ HỢP TÁC LAO ĐỘNG (OLECO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
TRẦN THỊ KIM ANH
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG, DỊCH VỤ VÀ HỢP TÁC LAO ĐỘNG (OLECO)
Chuyên ngành: Quản trị Công nghệ và Phát triển doanh nghiệp
Mã số: Chuyên ngành thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN CHÍ ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Với các số liệu
và tài liệu trung thực Kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong các công trình nào trước đó
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng
và lời biết ơn sâu sắc tới TS Phan Chí Anh, người thầy, người hướng dẫn khoa học
đã thường xuyên chỉ bảo, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Trân trọng cảm ơn trường Đại học Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi cho tôi cơ hội được nghiên cứu, tham gia chương trình
Trân trọng cảm ơn PGS.TS Hoàng Đình Phi, người sáng lập chương trình Trân trọng cảm ơn PGS.TS Hoàng Văn Hải- Giám đốc chương trình, người đóng góp công sức to lớn cho sự thành công của Khóa 1- chương trình đào tạo thạc
sỹ Quản trị công nghệ & Phát triển doanh nghiệp
Trân trọng gửi lời cảm ơn tới tất cả thầy cô đã giảng dạy trực tiếp trong chương trình, mỗi bài giảng của thầy cô đã và sẽ luôn là hành trang quý giá trên mỗi bước đường cuộc sống của tôi
Con xin cảm ơn cha mẹ, dù ở gần hay xa xôi cách trở thì cha mẹ cũng luôn bên cạnh con trong giờ khắc khó khăn cũng như hạnh phúc của cuộc đời con Con cảm ơn cha mẹ rất nhiều
Cảm ơn chồng tôi và hai con trai yêu quý luôn cổ vũ, ủng hộ và là động lực để tôi tham gia chương trình
Cảm ơn nhóm Hoa Quả thân yêu đã chia sẻ buồn vui trong suốt khóa học cùng tôi, đặc biệt cảm ơn anh Vũ Mạnh Hùng, lớp trưởng đồng thời là trưởng nhóm Hoa Quả đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như viết luận văn Cảm ơn anh rất nhiều
Xin trân trọng cảm ơn thày cô; đồng nghiệp; đồng môn; những người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tham gia chương trình!
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2014
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng biểu ii
Danh mục các hình vẽ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro trong doanh nghiệp 7
1.1.1 Khái niệm rủi ro 7
1.1.2 Rủi ro tại doanh nghiệp 9
1.2 Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 13
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 13
1.2.2 Chức năng của quản trị rủi ro 15
1.2.3 Mục tiêu quản trị rủi ro 15
1.2.4 Nguyên tắc quản trị rủi ro 16
1.2.5 Lợi ích của quản trị rủi ro 16
1.2.6 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản trị rủi ro 16
1.2.7 Phương pháp quản trị rủi ro 19
1.3 Tiêu chuẩn ISO 31000: 2009 24
1.3.1 Giới thiệu tiêu chuẩn ISO 31000: 2009 24
1.3.2 Phạm vi áp dụng 26
1.3.3 Quá trình quản trị rủi ro 27
1.4 Quy trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Các bước nghiên cứu 39
2.2 Thu thập dữ liệu 41
2.3.Thang đo và bảng hỏi 44
2.3.1.Xây dựng thang đo 44
Trang 62.3.2 Thiết kế bảng câu hỏi 44
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG HIỆN TẠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG, DỊCH VỤ VÀ HỢP TÁC LAO ĐỘNG (OLECO) 46
3.1.Giới thiệu chung về công ty cổ phẩn xây dựng và dịch vụ hợp tác lao động (OLECO) 46
3.1.1.Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần Xây dựng, Dịch vụ và hợp tác lao động (OLECO): 46
3.1.2.Cơ cấu tổ chức 47
3.1.3 Tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu, chiến lược của OLECO 48
3.1.4.Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của OLECO những năm gần đây: 52
3.2 Xuất khẩu lao động: 57
3.2.1 Khái niệm về xuất khẩu lao động: 57
3.2.2.Tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam 59
3.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động 61
3.2.4 Quy trình xuất khẩu lao động tại Công ty OLECO 62
3.2.5 Rủi ro trong xuất khẩu lao động: 65
3.3 Thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO 66
3.3.1 Phân tích, đánh giá rủi ro hiện tại của Công ty OLECO 66
3.3.2 Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO 79
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO GIAI ĐOẠN 2014-2019 CỦA CÔNG TY OLECO 84
4.1 Quan điểm đề xuất hệ thống quản trị rủi ro: 84
4.2 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QTRR trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO giai đoạn 2014- 2019: 85
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng thống kê tỷ lệ rủi ro Lao động xuất khẩu 2
2 Bảng 2.1 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong
4 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu cơ bản dự kiến 3 năm(2014-2016) 49
5 Bảng 3.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
8 Bảng 3.5 Nhận diện rủi ro của Công ty OLECO 67
9 Bảng 3.6 Đánh giá rủi ro của Công ty OLECO 78
10 Bảng 3.7 Kết quả điều tra về tác dụng QTRR hoạt động
11 Bảng 3.8
Kết quả điều tra ý kiến về thực trạng áp dụng các biện pháp QTRR trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO
80
12 Bảng 3.9
Kết quả điều tra thăm dò về mức độ am hiểu các biện pháp QTRR trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO
81
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Quan hệ giữa nguyên tắc, khuôn khổ và quá trình
3 Hình 1.3 Ví dụ đơn giản dùng sơ đồ xương cá định vị rủi ro 35
4 Hình 1.4 Một số chiến lược và minh họa các phương pháp
5 Hình 2.1 Các bước nghiên cứu thực hiện luận văn 39
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh trong lĩnh vực XKLĐ ngày càng trở nên gay gắt, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay được nhận định là tồi tệ nhất kể từ cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới 1929-1933 bởi sự tác động tiêu cực của nó diễn ra rất phức tạp và sâu sắc, ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia và mọi lĩnh vực - đặc biệt lĩnh vực XKLĐ
Hoạt động xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng và đem lại nguồn ngoại
tệ lớn cho đất nước cũng như chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu lao động như Công ty Cổ phần xây dựng, dịch
vụ và hợp tác lao động ( Công ty OLECO)
Tuy nhiên, rủi ro luôn đồng hành với hoạt động kinh doanh Bởi dịch vụ cung ứng lao động xuất khẩu của Công ty OLECO là sức lao động, nhưng đối tượng quản lý lại là người lao động, do vậy rủi ro xuất hiện ở rất nhiều khâu trong quá trình cung ứng, nguyên nhân xuất hiện từ sự khác biệt văn hóa, địa lý, khí hậu, ngôn ngữ tới thể trạng, nhu cầu, sức lao động của con người cùng với việc tăng số lượng lao động xuất khẩu hàng năm thì doanh nghiệp cũng phải đối phó với rất nhiều rủi ro đa dạng
Từ cuối năm 2010 đến nay, người LĐ luôn “thót tim” với những vụ việc, như: 12
LĐ VN trên tàu đánh cá Shiuh Fu-1 của Đài Loan bị cướp biển Somalia bắt 25.12 tại vùng biển ngoài khơi Madagascar (Ấn Độ Dương); vụ cháy xưởng sản xuất đồ gỗ ở khu công nghiệp Kinrara (Malaysia) rạng sáng 9.2, khiến 3 LĐ thiệt mạng Song, sự kiện mang tính thời sự nhất là số phận của 10.000 lao động tại Lybia
“Rất nhiều khó khăn mà người lao động VN phải thường xuyên đối mặt, như thiếu bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động dẫn đến tình trạng bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao; không được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc trả lương không đúng thỏa thuận; bị hành hạ và lạm dụng, kể cả lạm dụng tình dục; bị thu giữ
hộ chiếu, giấy tờ tùy thân…”, báo cáo sơ bộ về tình hình lao động VN ở nước ngoài
của Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội chỉ rõ
Trang 11Bảng thống kê tỷ lệ rủi ro Lao động xuất khẩu
Đơn vị: %
Rủi ro về biến động kinh tế xã hội 1,8 2,4 3,2 3,5
Nguồn: bộ lao động-thương binh và xã hội - thống kê rủi ro LĐXK 2010-2013
Ta có thể thấy, rủi ro trong lĩnh vực xuất khẩu lao động của nước ta tăng lên
hàng năm, tuy nhiên, cho tới nay trong các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta, các vấn đề về rủi ro và quản trị rủi ro lao động xuất khẩu chưa được nghiên cứu một cách hệ thống về cơ sở lý thuyết cũng như vận dụng cơ sở lý thuyết
đó để quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vì thế, cần thiết phải có
một nghiên cứu mang tính tổng quát và hệ thống về quản trị rủi ro tại doanh nghiệp với mục đích giảm thiểu các thiệt hại phát sinh khi rủi ro đó xảy ra trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Nhận diện, đo lường, kiểm soát và có biện pháp ứng phó hữu hiệu với những rủi ro trong xuất khẩu lao động là yếu tố làm nên sự thành công của hoạt động XKLĐ Đây cũng là nội dung đề tài mà tác giả nghiên cứu nhằm giúp cho Công ty OLECO có được những thành quả nhất định trong hoạt động kinh doanh của mình
1.2.Câu hỏi nghiên cứu
Từ yêu cầu cấp thiết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu chính của học viên đối với vấn đề cần nghiên cứu là:
Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty OLECO như thế nào? Làm thế nào để nâng cao và cải thiện hoạt động quản trị rủi
ro tại Công ty OLECO ?
Trang 12Vấn đề quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả Việt Nam từ khá lâu Từ năm 1991, nhà xuất bản thông tin đã phát hành cuốn “ Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh” của tác giả Nguyễn Hữu Thân Những năm gần đây, với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, số lượng giáo trình, sách tham khảo luận án và bài viết về chủ đề này xuất hiện nhiều Có thể nêu một số
“ Rủi ro do thanh toán dựa trên chứng từ giả, chứng từ không trung thực, mâu thuẫn giữa hàng hóa và chứng từ “ của PGS.TS Võ Thanh Thu đăng trên Tạp chí Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu
Gần đây có “ Quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” của tác giả Vũ Minh, khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên Tạp chí Đại Học Quốc gia Hà Nội, kinh tế và kinh doanh, tập 29, số 3( 2013) trang 53-60
Rồi rất nhiều bài viết khác như “ Quản trị rủi ro trong các hoạt động của ngành công nghiệp dầu khí” của TS Nguyễn Xuân Thắng, Ths Trần Thanh Tùng đăng trên WWW.PVN.VN ngày 20/1/ 2014…
Nhìn chung, phần lớn các đề tài, ấn phẩm này đề cập đến những vấn đề lý thuyết của quản trị rủi ro trong kinh doanh hoặc chỉ đề cập đến từng khía cạnh riêng lẻ của chủ đề này Trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thay đổi, trước hết là những thay đổi trong chủ trương và chính sách của nhà nước ( Điển hình là những nỗ lực của chính phủ Việt Nam để tham gia vào các Hiệp định thương mại) , tiếp đến là những xu hướng tham gia một cách chủ động , tích cực hơn của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường quốc tế, thị trường kinh doanh cũng mở rộng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ… Tất cả những yếu tố đó đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước nhiều rủi ro mới xong cũng đem lại nhiều cơ
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 13hội để quản lý rủi ro hiệu quả hơn Trong bối cảnh đó việc xác định và hệ thống các rủi ro hoạt động mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải trong điều kiên hoàn cảnh mới cũng như đưa ra các biện pháp phòng ngừa là hết sức cần thiết Chính vì vậy, bản thân tôi đã hình thành ý tưởng và các nội dung cần nghiên cứu từ thực tiễn để hoàn thành đề tài “ Quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty Cổ phần xây dựng, dịch vụ và hợp tác lao động ( Công ty OLECO)”
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nhận dạng thực trạng và đề xuất một số kiến nghị quản trị rủi ro có hiệu quả trên cơ sở tiêu chuẩn ISO 31000 nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do rủi ro mang đến, góp phần duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong hoạt động XKLÐ
của Công ty OLECO
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa các lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro, phương pháp quản trị rủi ro theo cách tiếp cận của ISO 31000
Áp dụng khung phân tích rủi ro theo tiêu chuẩn ISO 31000 đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại OLECO
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro có hiệu quả tại OLECO
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu như trên, tác giả đề ra các nhiệm vụ như sau
- Nghiên cứu các lý thuyết và các mô hình Quản trị rủi ro; Tiêu chuẩn quản trị rủi
ro ISO 31000; vai trò của quản trị rủi ro đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp;
sự gắn kết giữa chiến lược kinh doanh và quá trình quản trị rủi ro của doanh nghiệp
- Xác định phương pháp nghiên cứu theo chuẩn mực ISO 31000; xác định hướng tiếp cận, cách thức tiến hành nghiên cứu; phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu
- Phân tích hệ thống quản trị rủi ro hiện tại trong hoạt động XKLĐ của Công ty
OLECO thông qua công cụ nhận dạng, đo lường rủi ro theo tiêu chuẩn ISO 31000
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản
trị rủi ro trong XKLĐ của Công ty OLECO giai đoạn 2014-2019
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản trị rủi ro trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu tài liệu
Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên quan đến rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
Tham khảo các tài liệu sách báo, kỷ yếu hội thảo khoa học về rủi ro và các biện pháp nâng cao quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh
5.2 Phỏng vấn sâu
Cán bộ quản lý chủ chốt của Công ty OLECO, trưởng phó phòng các phòng xuất khẩu lao động, trưởng phó phòng các phòng Hợp tác quốc tế, kế toán trưởng (dự kiến số lượng là 25 người)
5.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra bằng phiếu hỏi, khảo sát thực tế tại Công ty OLECO (dự kiến số lượng
100 người)
5.4 Phương pháp xử lý thông tin
Việc xử lý và phân tích số liệu phiếu điều tra được thực hiện bằng phần mềm Excel
Xử lý thông tin định tính kết hợp với định lượng giữa các cán bộ được phỏng vấn sâu và thông tin các cán bộ được điều tra bằng bảng hỏi, với mục đích tìm kiếm những giải pháp thích hợp trong hình thành và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quản trị rủi ro trong hoạt động XKLĐ của Công ty OLECO
Trang 156 Cấu trúc luận văn
Ngoài mục lục, lời cảm ơn, phần mở đầu và kết luận ,các phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 04 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty OLECO
Chương 4: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty OLECO giai đoạn 2014-2019
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Có nhiều cách tiếp cận về rủi ro Theo cách tiếp cận khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn là Trường phái truyền thống và Trường phái hiện đại
Theo trường phái truyền thống: Rủi ro theo nhiều quan điểm có thể được coi là bắt
nguồn từ những sự không chắc chắn của những sự kiện tương lai và được phản ánh lại ở dạng những sai lệch tiêu cực so với những mục tiêu đã đề ra ban đầu Thuật ngữ rủi ro xuất hiện trong các tài liệu quản trị kinh doanh vào khoảng những năm
80, 90 của thế kỉ 20, được biết dưới các tên gọi risque (tiếng Pháp), risk (tiếng Anh), uncertain (không chắc chắn - tiếng Anh), threat (đe doạ, nguy cơ - tiếng Anh) hay riskio (tiếng Đức)
Rủi ro có thể được coi là những sự không may (Nguyễn Lân, từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, 1998, trang 1540), không tốt, bất ngờ xảy đến (từ điển Tiếng Việt, trung tâm từ điển học Hà Nội, 1995) Theo những định nghĩa này, rủi ro mang nhiều
ý nghĩa tiêu cực Ngoài ra, trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu định nghĩa
“rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận
dự kiến” Người ta cũng cho rằng, rủi ro là những điều ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Như vậy, theo các quan niệm truyền thống về rủi ro, người ta cho rằng, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người và cho quá trình kinh doanh Chính vì những quan niệm mang tính tiêu cực của con người về rủi ro và rủi ro trong kinh doanh nên con người đôi khi không phòng tránh rủi ro trên những căn cứ
Trang 17xác đáng, và nếu rủi ro phát sinh, người ta hoặc là bất lực, hoặc là khắc phục hậu quả của nó cũng với những suy nghĩ thụ động
Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
Theo trường phái hiện đại: Sự phát triển của loài người cùng với rất nhiều tiến bộ
trong khoa học kĩ thuật đã làm cho hoạt động của con người nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng ngày càng sinh động, phong phú và phức tạp Các rủi
ro vì thế xảy đến cho con người ngày càng nhiều dưới các hình thức đa dạng Vì vậy con người cũng phải tích cực nghiên cứu về rủi ro và các biện pháp phòng tránh rủi ro Qua đó, quan điểm của con người về rủi ro tiến lên một bước, cho rằng rủi ro tuy có thể gây ra thiệt hại nhưng không có nghĩa là không thể phòng tránh được Các tác giả C Arthur William, Jr Michael, L Smith trong cuốn “Risk management and insurance” 2003 - Quản trị rủi ro và bảo hiểm - có viết: “Rủi ro là
sự biến động tiềm ẩn của các kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro là sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất mà không thể đoán định trước” Tuy nhiên trong những định nghĩa trên chưa cho thấy nguyên nhân thực sự của
sự phát sinh rủi ro Mà nếu như chưa nói đến nguyên nhân, thì việc khắc phục sự phát sinh rủi ro sẽ gặp nhiều khó khăn
Ngày nay, Rủi ro (risk) được xem là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Rủi ro phụ thuộc vào ngữ cảnh, nếu con người không có khái niệm hoặc không liên quan đến thì họ không có rủi ro Ví dụ trời mưa sẽ là rủi ro với người đi đường nhưng người ở trong phòng đóng kín cửa, không bị ảnh hưởng thì không có
Trang 18rủi ro Rủi ro bao gồm 3 yếu tố: xác suất xảy ra (Probability), khả năng ảnh hưởng đến đối tượng (Impacts on objectives) và thời lượng ảnh hưởng (Duration) Bản chất rủi ro là sự không chắc chắn (uncertainty), nếu chắc chắc (xác suất bằng 0% hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro
Rủi ro (risk) được hiểu là việc lượng hóa khả năng xảy ra những thiệt hại hoặc lợi nhuận thu về thấp hơn so với dự kiến
Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa về rủi ro, dù định nghĩa rủi ro theo cách nào đi chăng nữa thì bản chất của rủi ro cũng là những thiệt hại gắn liền với khả năng nắm bắt thông tin không đầy đủ, chính xác, kịp thời của con người
Tiêu chuẩn ISO 31000 đưa ra một định nghĩa có tính chất bao quát như sau: “Rủi ro là tác động của sự không chắc chắn lên mục tiêu” Trong đó:
- Tác động là một sự sai lệch so với dự kiến
- Mục tiêu có thể có những khía cạnh khác nhau ( như mục tiêu tài chính, sức khỏe, an toàn và môi trường) và có thể áp dụng ở các cấp độ khác nhau ( như chiến lược, toàn bộ tổ chức, dự án, sản phẩm và quá trình)
- Sự không chắc chắn là tình trạng, thậm chí là một phần, sự thiếu hụt thông tin liên quan tới việc hiểu biết hoặc nhận thức về một sự kiện, hệ quả, hoặc khả năng xảy ra của nó
1.1.2 Rủi ro tại doanh nghiệp
Trong phạm vi luận văn này ta sẽ đi sâu tìm hiểu về rủi ro trong doanh nghiệp Ở
đây, rủi ro của doanh nghiệp là các sự kiện có khả năng làm cho doanh nghiệp bị thiệt hại hoặc thực tế đã gây cho doanh nghiệp bị thiệt hại về mặt lợi ích
1.1.2.1 Phân loại rủi ro trong doanh nghiệp
Phân loại rủi ro là việc phân chia tổng thể các rủi ro thành những loại, căn cứ theo những tiêu thức nhất định, giúp ích cho việc đưa ra các quyết định quản trị rủi ro
Một cách tổng quát, có thể phân loại rủi ro như sau:
- Phân loại theo phương pháp quản trị rủi ro truyền thống
+ Rủi ro thảm họa: Các thảm họa thiên nhiên, thảm họa do con người hoặc có
sự tác động gián tiếp của con người (hỏa hoạn, chiến tranh, khủng bố)…
Trang 19+ Rủi ro tài chính: các khoản nợ xấu, tỷ giá hối đoái, cổ phiếu hay lãi suất biến động…
+ Rủi ro tác nghiệp: trang thiết bị, hệ thống máy tính hư hỏng, chuỗi cung ứng hoặc quy trình hoạt động lỗi, bị gián đoạn, nhân viên bị tai nạn…
+ Rủi ro chiến lược: Chiến lược và quản trị chiến lược quyết định sự sống còn, hưng thịnh hay suy vong của 1 tổ chức mà quản trị chiến lược cũng đồng nghĩa với quản trị rủi ro chiến lược (tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu, các chính sách và biện pháp hành động)
Có 7 rủi ro chiến lược:
* Rủi ro dự án (dự án thất bại)
* Rủi ro từ khách hàng (khách hàng bỏ đi)
* Rủi ro từ chuyển đổi (sự thay đổi lớn về công nghệ hoặc hướng đi)
* Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh duy nhất (xuất hiện đối thủ không thể đánh bại)
* Rủi ro thương hiệu (thương hiệu bị mất sức mạnh)
* Rủi ro ngành (ngành kinh doanh trở thành vùng phi lợi nhuận)
* Rủi ro đình trệ (công ty không tăng trưởng, thậm chí bị suy giảm)
- Phân loại rủi ro theo nguồn gốc rủi ro
+ Rủi ro do môi trường thiên nhiên: thường gây ra các thiệt hại to lớn về người
và của, làm cho doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu, bị tổn thất nặng nề
+ Rủi ro do môi trường văn hóa: do sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức… của dân tộc khác từ đó có các hành xử không phù hợp, gây thiệt hại, mất mát, mất cơ hội kinh doanh
+ Rủi ro do môi trường xã hội: sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, các định chế… là nguồn rủi ro quan trọng Nếu không nắm được các điều này sẽ có thể gánh chịu các thiết hại nặng nề
+ Rủi ro do môi trường chính trị: Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến bầu không khí kinh doanh
Trang 20Môi trường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp Doanh nghiệp nắm bắt kỹ, có các sách lược thích hợp với môi trường chính trị không chỉ nước mình mà còn ở nước đến kinh doanh mới có thể thành công
+ Rủi ro do môi trường luật pháp: Xã hội tiến bộ phát triển, các chuẩn mực luật pháp không phù hợp, không thay đổi kịp sẽ gây ra nhiều rủi ro Ngược lại, nếu luật pháp thay đổi quá nhiều, thường xuyên, không ổn định, cũng gây ra khó khăn Các tổ chức không nắm vững pháp luật sẽ gặp nhiều rủi ro
Trong kinh doanh quốc tế, môi trường luật pháp phức tạp hơn, chuẩn mực của các nước khác nhau Nếu chỉ nắm rõ và tuân thủ chuẩn mực luật pháp của mình mà không hiểu luật pháp của đối tác, thì sẽ gặp rủi ro
+ Rủi ro do môi trường kinh tế: môi trường kinh tế thường vận động theo môi trường chính trị, những ảnh hưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến các nước là rất lớn
Các động thái của chính phủ (siêu cường) có thể ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường thế giới, nhưng họ không thể kiểm soát nổi toàn bộ thị trường thế giới dẫn đến rủi ro bất ổn môi trường kinh tế
+ Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức: rủi ro có thể phát sinh ở mỗi lĩnh vực: nhân sự, công nghệ, văn hóa tổ chức,…
Rủi ro trong môi trường hoạt động của tổ chức có thể xuất hiện dưới nhiều dạng: thiếu thông tin, sự cố của máy móc, thiết bị, tai nạn lao động, hoạt động quảng cáo sai sót,…
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, rủi ro có thể xuất hiện trong mọi khâu của quá trình đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
+ Rủi ro do nhận thức của con người: Khi nhận diện và phân tích không đúng dẫn đến kết luận sai lầm Nếu nhận thức và thực tế hoàn toàn khác nhau thì rủi ro càng lớn
- Phân loại rủi ro theo môi trường hoạt động
+ Môi trường bên trong: nội tại bên trong doanh nghiệp
Khi nghiên cứu rủi ro có thể chọn theo các hướng tiếp cận:
Trang 21* Lĩnh vực: quản trị, marketing, tài chính/kế toán, sản xuất/tác nghiệp, nghiên cứu phát triển, hệ thống thông tin,
Cần xem xét phân tích thêm môi trường thế giới
- Phân loại theo đối tượng rủi ro
+ Rủi ro về tài sản
+ Rủi ro về nhân lực
+ Rủi ro về trách nhiệm
1.1.2.2 Nhận biết rủi ro doanh nghiệp
Để nhận biết khả năng xảy ra rủi ro, người ta thường dùng phương pháp
phân tích và đánh giá ảnh hưởng của nguồn rủi ro (nguồn rủi ro bao gồm nguồn chủ
quan và khách quan) và chia các mức độ như sau:
- Thường xuyên: Luôn xuất hiện rủi ro cùng với sự xuất hiện của sự kiện có ảnh hưởng tiêu cực, nghĩa là không thể tránh khỏi được rủi ro khi có sự kiện đó
- Thỉnh thoảng: Rủi ro xuất hiện nhiều lần cùngvới sự xuất hiện của sự kiện có ảnh hưởng tiêu cực
- Hiếm khi: Rủi ro ít xuất hiện mặc dù có thể xảy ra
Để nhận biết mức độ nghiêm trọng của rủi ro, người ta dùng phương pháp phân
tích và đánh giá các đối tượng chịu ảnh hưởng của rủi ro (đối tượng chịu ảnh hưởng của rủi ro gồm tài chính, nhân lực, năng suất, thương hiệu) và chia các mức độ:
- Thảm khốc:Có khả năng gây thiệt hại lớn làm đảo lộn chiến lượckinh doanh
và thay đổi hệ thống tổ chức quản lý
- Nghiêm trọng: Có khả năng gây thiệt hại lớn làm thay đổi hoặc là chiến lược kinh doanh hoặc hệ thống tổ chức quản lý
Trang 22- Nhiều: Có khả năng gây thiệt hại làm thay đổi mục tiêu lợi nhuận hoặc vị trí người quản lý
- Ít: Có khả năng làm giảm lợi nhuận
- Không đáng kể: Rất ít khả năng ảnh hưởng đến DN
1.2 Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Thuật ngữ quản trị rủi ro ra đời cùng thời gian với thuật ngữ rủi ro liên quan đến sản xuất kinh doanh, vào khoảng những năm 80, 90 của thế kỉ 20 Lần đầu tiên thuật ngữ này xuất hiện trong công trình nghiên cứu Les Risque Management (Quản trị rủi ro) của các tác giả Alain Chevalier và Georges Hirsch xuất bản tại Paris năm 1982 Trong các năm tiếp theo, có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ, Hà Lan, Đức, Pháp v.v - chủ yếu là ở Mỹ và các nước châu Âu - đề cập đến rủi ro và quản trị rủi ro Có các tác giả chuyên về nghiên cứu quản trị rủi ro kỹ thuật (Technical risk management) như Yves Simon, công trình công bố năm 1993 tại Pháp, hoặc Jack V Michalels, công trình công bố năm 1996 tại Mỹ; hoặc quản trị rủi ro tài chính (Financial risk management) như John Holliwell, công trình công bố năm 1997 cũng tại Mỹ Thuật ngữ quản trị rủi ro trong các công trình đã công bố (tiếng Anh: risk management, tiếng Đức: riskiomanagement) thường được đi cùng với thuật ngữ “quản trị khủng hoảng” (crisis management) Khủng hoảng có thể được coi là những rủi ro kéo dài, mang tính hệ thống, xâu chuỗi và do đó ảnh hưởng của nó tới doanh nghiệp và nền kinh tế là rất lớn, có thể làm doanh nghiệp mất đi phần lớn thị phần và lợi nhuận, thậm chí đến mức phá sản .Trong quá khứ, nói đến quản lý rủi ro phần lớn người ta nghĩ đến những hoạt động bảo hiểm Đây là các dịch vụ trọn gói, trong đó người mua bảo hiểm sẽ không phải chịu những rủi ro trong trường hợp nó xảy ra Ngày nay, với những yêu cầu của pháp luật, yêu cầu của người lao động, quản trị rủi ro đã trở thành một yếu tố quản trị ngày càng quan trọng như quản trị tài chính hay quản trị các nguồn lực khác trong doanh nghiệp
Ngày nay, quản trị rủi ro gắn liền với quản trị doanh nghiệp Theo Stephen Wagner, chuyên gia hàng đầu về quản trị rủi ro: “Hoạt động kinh doanh chứa đựng
Trang 23nhiều rủi ro, nhưng cũng nhiều cơ hội để trụ vững và phát triển cho người biết nắm bắt” Hay nói cách khác rủi ro là một sản phẩm phụ tất yếu của mọi hoạt động Các
tổ chức không thể loại trừ hoàn toàn các rủi ro Rủi ro của DN là thiệt hại do những nhân tố khó kiểm soát, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của DN (mục tiêu lợi nhuận, thị phần, thương hiệu, văn hóa DN, an sinh xã hội…) Quản trị rủi ro
là tổng thể những giải pháp mà bộ máy quản trị DN cần phải tiến hành nhằm phát hiện, phòng ngừa hoặc làm giảm các thiệt hại khi có rủi ro.Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và cấu trúc quản trị DN thì quản trị rủi ro là một phần không thể tách rời quản trị DN Nó thể hiện ở ngay 3 tầng kiểm soát nội bộ các rủi ro: 1) Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày (executive), có trách nhiệm kinh doanh an toàn hiệu quả tránh các rủi ro đổ vỡ theo các quy định của Hội đồng Quản trị và pháp luật; 2) Hội đồng Quản trị có trách nhiệm giám sát hoạt động của Tổng giám đốc để DN đạt được các mục tiêu đề ra; 3) Kiểm soát do Chủ sở hữu cử,
bổ nhiệm hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm trước Chủ sở hữu giám sát toàn bộ các hoạt động của DN, Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc Đó là 3 tầng lớp kiểm soát nội bộ trong DN, ngoài ra còn có kiểm toán độc lập, thanh tra, kiểm toán Nhà nước nếu là DN có vốn đầu tư của Nhà nước
Quản trị rủi ro doanh nghiệp gắn liền với chiến lược phát triển của doanh nghiệp Một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chẳng hạn bất ngờ phải đối mặt với một vụ kiện chống bán phá giá dẫn tới những thua thiệt trong việc nhận đơn hàng Nhân công của một công ty nào đó bất ngờ đình công làm ngừng sản xuất Hàng loạt nhân viên giỏi của một công ty nào đó ra đi hoặc thành lập công ty khác……Những rủi ro đó sẽ làm cho doanh nghiệp bất ngờ và chịu nhiều thiệt hại ảnh hưởng tới mục tiêu của doanh nghiệp nếu như chúng không được lường trước
Theo COSO – Hội đồng các tổ chức tài trợ Ủy ban Treadway thì “quản trị rủi
ro trong doanh nghiệp là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp thực hiện những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng tới doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ
Trang 24đảm bảo trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp” ( Trích dẫn COSO –
Hội đồng các tổ chức tài trợ Ủy ban Treadway)
Tóm lại, thuật ngữ quản trị rủi ro trong doanh nghiệp theo tác giả “ Quản
trị rủi ro là một quá trình gắn liền với chiến lược phát triển của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế , loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả
mà rủi ro gây ra đối với hoạt động kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp, giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại
về người và của cải của doanh nghiệp”
1.2.2 Chức năng của quản trị rủi ro
Chức năng chủ yếu của QTRR trong doanh nghiệp là nhận diện, đo lường và
quan trọng hơn cả là giám sát rui ro QTRR là một hành động chủ động trong hiện tại để bảo vệ trong tương lai
1.2.3 Mục tiêu quản trị rủi ro
1.2.3.1 Kiểm soát rủi ro: Mục đầu tiên và quan trọng nhất của QTRR là phải kiểm
soát được rủi ro Đối với một quyết định đầu tư hay giao dịch kinh doanh cụ thể, có nhiều rủi ro tiềm tàng cùng đe dọa xảy ra Các rủi ro này có thể xảy ra nhưng cũng
có thể không xảy ra, tác động của chúng có thể dao động từ rất lớn đến rất nhỏ, có thể chỉ đe dọa, nhưng có thể gây tổn thất cho doanh nghiệp rất nặng nề Do vậy vấn
đề ở đây là làm thế nào kiểm soát được rủi ro, giới hạn tác động của nó trong phạm
vi cho phép
1.2.3.2.Biến rủi ro thành lợi thế, cơ hội thành công : Rủi ro không hoàn toàn chỉ có
nghĩa là thua lỗ hoặc thất bại, mà rủi ro cũng có thể tạo ra cơ hội để kiếm được lợi nhuận Do vậy một mục tiêu quan trọng khác của QTRR là cần phải giúp doanh nghiệp nhận thức đúng thực trạng rủi ro và khả năng chuyển đổi rủi ro thành lợi thế Trên cơ sở nhận thức này, doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng các nguồn lực để biến các rủi ro thành lợi thế, cơ hội thành công
Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao năng lực, chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa rủi ro ngay từ khi triển khai kế hoạch kinh doanh, luôn giữ được khả năng chủ động ứng phó trong mọi trường hợp
Trang 251.2.4 Nguyên tắc quản trị rủi ro
- Không chấp nhận các rủi ro không cần thiết
- Ra các quyết định xử lý rủi ro ở cấp thích hợp
- Chấp nhận rủi ro khi lợi ích nhiều hơn chi phí
- Kết hợp quản trị rủi ro vào vận hành và hoạch định ở mọi cấp
1.2.5 Lợi ích của quản trị rủi ro
Không có quá trình quản trị rủi ro nào có thể tạo ra một môi trường hoàn toàn
không còn rủi ro Điều quan trọng là quản trị rủi ro giúp quá trình điều hành quản lý
hiệu quả hơn trong môi trường rủi ro
Quản trị rủi ro giúp tăng khả năng:
- Đặt mục tiêu mức độ chịu rủi ro và chiến lược kinh doanh;
- Tối thiểu hoá những bất ngờ trong hoạt động và do đó là thua lỗ;
- Tăng cường các quyết định phản ứng với rủi ro;
- Quản lý nguồn lực cho phòng chống rủi ro;
- Xác định và quản lý những rủi ro bao trùm toàn công ty;
- Liên kết mức tăng trưởng, rủi ro và lợi nhuận;
- Xác định mức vốn cần huy động;
- Nắm bắt thời cơ
Do đó, lợi ích là: tăng hiệu quả kinh doanh, hiệu lực tổ chức, và báo cáo về rủi
ro tốt hơn
1.2.6 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản trị rủi ro
1.2.6.1 Quy mô và hình thức tổ chức của doanh nghiệp: Rủi ro hiện diện trong mọi
quyết định đầu tư hay giao dịch kinh doanh của mọi doanh nghiệp, không phân biệt quy mô và loại hình Nhưng mức độ ảnh hưởng của rủi ro thì hết sức khác nhau giữa các doanh nghiệp, tùy thuộc vào quy mô, hình thức tổ chức của doanh nghiệp Với doanh nghiệp có quy mô lớn, bộ máy tổ chức đồng bộ, bộ máy tổ chức đồng
bộ, cơ chế kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, các doanh nghiệp lại có đủ điều kiện sử dụng các công cụ tài chính hiện đại để QTRR thì tác động tiêu cực của rủi ro thường được ngăn chặn và giảm thiếu trong mức giới hạn cho phép Còn các doanh
Trang 26nghiệp nhỏ, do những hạn chế về quy mô, không có khả năng thiết lập chương trình quản trị rủi ro đầy đủ nên tác động tiêu cực của rủi ro thường rất nặng nề
Mức độ tác động của rủi ro còn tùy thuộc vào hình thức tổ chức của doanh nghiệp Với các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty cổ phần với cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, giám đốc công ty trong quá trình hoạt động có sự quản lý, giám sát lẫn nhau Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát có thể tiến hành kiểm toán nội bộ, yêu cầu Ban giám đốc công ty áp dụng xay dựng chương trình QTRR và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản và các nguồn lực của Công ty Trong các doanh nghiệp nhỏ, thông thường chủ
sở hữu doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp, thiếu các cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ, việc ra quyết định đầu tư thường do ý chí chủ quan của một vài người, chương trình QTRR thường bị bỏ qua, nen khả năng xảy ra rủi ro cũng như mức độ tác động tiêu cực thường rất lớn
1.2.6.2 Nhận thức của nhà quản trị: Việc nhận diện, đánh giá nguy cơ tiềm tàng,
mức độ, tính chất nguy hiểm của rủi ro Việc xây dựng chương trình và chính sách chủ động phòng ngừa rủi ro là công việc của nhà quản trị doanh nghiệp Do vậy, nhận thức của nhà quản trị là một trong các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến QTRR của doanh nghiệp
1.2.6.3 Sự phát triển thị trường các sản phẩm phái sinh:
Sản phẩm phái sinh là một sản phẩm tài chính mà kết quả của nó được tạo
ra từ kết quả của một sản phẩm khác hay còn gọi là tài sản cơ sở (tài sản cơ sở có thể là cổ phiếu, trái phiếu, tiền hay là hàng hoá…)
Các nhà đầu tư hoặc tổ chức sử dụng các sản phẩm phái sinh như là một công cụ tài chính để quản trị rủi ro Họ có thể sử dụng công cụ tài chính phái sinh
để chuyển rủi ro họ không muốn cho các đối tác là những người có rủi ro được bù đắp hoặc muốn thừa nhận rủi ro đó
Các sản phẩm phái sinh hiện nay được rất nhiều công ty, định chế tài chính, nhà đầu tư chuyên nghiệp và cá nhân sử dụng rộng rãi
Trang 27Một số sản phẩm phái sinh phổ biến:
Hợp đồng kỳ hạn: là thỏa thuận giữa hai bên – người mua và người bán – để mua
hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay Giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày đáo hạn hơp đồng; không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký kết hoặc trong thời hạn của hợp đồng
Hợp đồng tương lai: là hợp đồng kỳ hạn nhưng đã được tiêu chuẩn hóa và
được giao dịch trên sàn giao dịch Giá trị hợp đồng được điều chỉnh theo thị trường hằng ngày trong đó khoản lỗ của một bên được chi trả cho bên còn lại Dạng hợp đồng này có tính thanh khoản cao vì nó có thể được mua hoặc bán lại cho một bên thứ ba Dạng hợp đồng này được hạn chế rủi ro tín dụng bằng cách (1) thực hiện điều chỉnh giá trị hằng ngày theo thị trường (2) và thực hiện việc ký quỹ như nhau cho cả người mua và người bán
Hợp đồng quyền chọn: là hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán –
trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày thỏa thuận Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn hay còn gọi là giá của quyền chọn
Hợp đồng quyến chọn để mua một tài sản gọi là quyền chọn mua Ngược lại hợp đồng quyền chọn để bán một tài sản gọi là quyền chọn bán
Mức giá cố định mà người mua hợp đồng quyền chọn có thể mua hoặc bán tài sản gọi là giá chốt hay lá giá thực hiện Quyền mua hoặc bán tài sản ở mức giá cố định chỉ tồn tại cho đến một ngày đáo hạn cụ thể
Như vậy, thị trường các sản phẩm phái sinh ra đời và phát triển đã cung cấp cho các doanh nghiệp những công cụ có khả năng phòng ngừa rủi ro một cách chủ động và hiệu quả Sự phát triển của thị trường này đã tác động đến việc xây dựng tâm lý phòng ngừa rủi ro trong toàn thể xã hội và cộng đồng các doanh nghiệp Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy có nhiều hạn chế trong việc sử dụng các sản phẩm phái sinh
để phòng ngừa rủi ro, nhưng sự phát triển của thị trường này có tác động lớn đến việc nâng cao ý thức về phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp
Trang 281.2.7 Phương pháp quản trị rủi ro
Với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động như Công ty
OLECO, phương pháp quản trị rủi ro cần được phân loại theo những tiêu thức chủ yếu như: Quan điểm tiếp cận rủi ro, động lực của con người trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, căn cứ tiên lượng rủi ro và cách ứng phó với rủi ro
1.2.7.1 Theo quan điểm tiếp cận rủi ro : Có 2 phương pháp là quản trị rủi ro chủ
động và phương pháp quản trị rủi ro thụ động
Phương pháp chủ động: Là phương pháp quản trị rủi ro thông qua các
chương trình, chính sách của doanh nghiệp nhằm phòng ngừa những rủi ro ngay từ khi chúng còn tiềm ẩn Các chính sách QTRR thực hiện vừa giúp doanh nghiệp né tránh rủi ro, giới hạn tác động rủi ro trong phạm vi có thể chấp nhận được, từ đó giúp doanh nghiệp tránh được các rắc rối và khó khăn, đồng thời có thể biến các rủi
ro thành cơ hội và làm tăng giá trị doanh nghiệp
Phương pháp thụ động: Là phương pháp QTRR thông qua các biện pháp
đối phó, khắc phục những hậu quả sau khi rủi ro đã xảy ra Tât nhiên khi rủi ro đã xảy ra, tổn thất đã rõ ràng, các giải pháp khắc phục sẽ khó có được kết quả như mong muốn
1.2.7.2 Theo động lực của con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Có các
phương pháp quản trị là phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế và phương pháp giáo dục
Phương pháp hành chính: Là phương pháp quản trị rủi ro nhờ sử dụng quyền
lực của người quản trị đối với người thực hiện Trong phương pháp này nhà quản trị đưa ra những quyết định, mệnh lệnh buộc những người cấp dưới phải thực hiện để đề phòng hoặc hạn chế rủi ro bất luận người đó có nhận thức được rủi ro hay có đồng ý với giải pháp của nhà quản trị đưa ra hay không Ví dụ như các quy định về an toàn, các nội quy trong doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ hay các quy định trong thanh toán đối với các doanh nghiệp mỏ - một số doanh nghiệp trực thuộc và quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ khi xuất bán hàng hoá bắt buộc phải thanh toán tiền ngay để tránh các rủi ro mất khả năng thanh toán từ phía khách hàng
Trang 29Phương pháp hành chính có ưu điểm là quyết định ứng xử với rủi ro nhanh chóng được thực hiện và thực hiện chính xác Nếu không thực hiện đúng thì người thực hiện phải chịu kỉ luật và nếu xảy ra rủi ro thì mức độ kỷ luật sẽ còn nặng hơn
Tuy nhiên, phương pháp hành chính chỉ thực sự có tác dụng nếu quyết định mệnh lệnh của nhà quản trị là có cơ sở khoa học Trái lại nó được gọi là phương pháp hành chính quan liêu
Phương pháp kinh tế: Là phương pháp quản trị rủi ro trên cơ sở sử dụng
động lực kinh tế của người lao động Trong phương pháp này người quản trị thay vì
sử dụng quyền lực đưa ra những quyết định mệnh lệnh trực tiếp để người lao động phải ứng xử ra sao trớc các nguy cơ phát sinh rủi ro thì đưa ra các mục tiêu về an toàn Ví dụ như an toàn về lao động, an toàn về máy móc thiết bị và có chế độ khuyến khích vật chất khi bảo đảm các mục tiêu đó Người lao động vì lợi ích kinh
tế sẽ phải tự vạch ra cách hành động ứng xử sao cho bảo đảm mục tiêu an toàn
Phương pháp kinh tế có tính chất gián tiếp nhng các mục tiêu an toàn và mức thưởng phải được thiết lập có cơ sở
Phương pháp giáo dục: Là phương pháp quản trị rủi ro trên cơ sở sử dụng
động lực nhận thức của người lao động Trong phương pháp này, thay vì người quản trị sử dụng quyền lực đưa ra những mệnh lệnh, chỉ thị trực tiếp nêu yêu cầu cụ thể nào đó cho người lao động ứng xử trước các nguy cơ rủi ro thì người quản trị tạo điều kiện, tổ chức đào tạo, hỗ trợ để người lao động nhận thức được các dạng rủi
ro, nguyên nhân và giải pháp để họ tự biết phải ứng xử cụ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày tuỳ thuộc vào vị trí của mình
Cũng như phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục có mang tính gián tiếp nhng được sử dụng tích cực thì có tác dụng rất to lớn
Thực tiễn chứng tỏ rằng nhiều rủi ro rất nặng nề chỉ vì người lao động thiếu
ý thức giáo dục về kỷ luật lao động, thiếu được đào tạo về kỹ thuật an toàn
Trong quản trị kinh doanh nói chung người ta không đề cao quá một phương pháp nào mà phải sử dụng phối hợp cả 3 phương pháp mới hy vọng tận dụng được tất cả các ưu điểm của cả 3 phương pháp Sự phối hợp có thể thực hiện trong nhiều
Trang 30quyết định hoặc chỉ ở một quyết định Tuy nhiên, trong quản trị rủi ro phương pháp giáo dục theo tác giả cần phải được nhấn mạnh, trong giáo dục cần đào tạo cho ng-ười lao động cả 2 mặt: chuyên môn nghề nghiệp và đạo đức người lao động mới Trong đạo đức cần lấy việc chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước, kỷ luật lao động, ham muốn học hỏi để làm giàu cho doanh nghiệp
và bản thân v.v là những tiêu chí giáo dục Hàng năm, các doanh nghiệp vẫn có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cho các nhà quản trị và cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, cả đào tạo chuyên môn lẫn an toàn lao động và các vấn đề có liên quan Điều này giúp cho người lao động luôn có điều kiện nâng cao trình độ và đ-ược củng cố, nâng cao ý thức an toàn, phòng tránh và giảm thiểu được các rủi ro trong quá trình sản xuất
1.2.7.3 Theo cách đối phó với rủi ro: Có các phương pháp quản trị là phương pháp
né tránh rủi ro, san sẻ rủi ro, phương pháp đa dạng hoá, phương pháp mua bảo hiểm
Phương pháp né tránh rủi ro: Là phương pháp quản trị rủi ro bằng cách
hoàn toàn từ bỏ hoặc bỏ qua các hoạt động sẽ phát sinh rủi ro Bằng cách này, các rủi ro sẽ hoàn toàn không xuất hiện Dạng quản trị rủi ro này có thể được áp dụng
đối với các hoạt động sản xuất gây nguy hại tới môi trường, sức khoẻ, có thể bị
phản đối trên diện rộng Đối với một số dự án hay hoạt động sản xuất mà chi phí dành cho bảo vệ và phục hồi môi trường quá lớn khiến hiệu quả kinh tế không cao, doanh nghiệp cũng chọn cách từ bỏ dự án để tránh thiệt hại về kinh tế
Phương pháp san sẻ rủi ro: Là phương pháp quản trị rủi ro dựa trên sự liên
kết góp vốn giữa các chủ thể kinh doanh khác nhau khi sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó để nếu như có rủi ro thì thiệt hại rủi ro sẽ được san sẻ cho các đối tác Đây là cách đối phó với rủi ro khá phổ biến khi rủi ro không được tiên lượng đầy đủ
Phương pháp đa dạng hoá: Là phương pháp ứng phó với rủi ro dựa trên sự
đa dạng hoá mặt hàng, đa dạng hoá thị trường để lấy lợi nhuận của mặt hàng này, thị trường này bù đắp cho thua lỗ thiệt hại ở mặt hàng kia, thị trường kia Đây cũng
là cách đối phó với rủi ro khá hữu hiệu Muốn giảm thiểu rủi ro do đa dạng hoá sản
Trang 31phẩm và đa dạng hoá thị trường không hợp lý, doanh nghiệp cần phải phân tích rõ các điểm mạnh, điểm yếu của mình cũng như các cơ hội và nguy cơ từ bên ngoài Điều này cũng giống như những bước đi đầu tiên để xây dựng chiến lược kinh doanh hoặc chiến lược marketing của doanh nghiệp Khi có được các chiến lược đúng đắn, đáng tin cậy, độ rủi ro sẽ thấp đi và doanh nghiệp có cơ hội tận dụng các nguồn lực để tăng cường khả năng cạnh tranh, bảo toàn vốn và kinh doanh có lãi
Phương pháp mua dịch vụ bảo hiểm: Là phương pháp ứng phó với rủi ro
bằng cách mua dịch vụ bảo hiểm của các công ty bảo hiểm Trên thị trường bảo hiểm hiện nay đã có nhiều loại dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể v.v Trong từng loại hình còn có thể có những hình thức bảo hiểm chi tiết hơn như bảo hiểm máy móc thiết bị toàn bộ hay từng phần v.v
Thực chất của phương pháp mua bảo hiểm là giảm bớt thiệt hại rủi ro bằng cách trả trước cho công ty bảo hiểm một số tiền nhỏ hơn nhiều so với số tiền mà công ty bảo hiểm sẽ chi ra để bù đắp cho những thiệt hại rủi ro của đối tượng được bảo hiểm Rủi ro không phải đến với mọi đối tượng và đồng thời nên công ty bảo hiểm luôn luôn giữ một nguồn quỹ bảo hiểm lớn hơn nhiều lần so với nhu cầu một dịch vụ bảo hiểm phải thực hiện Công ty bảo hiểm luôn luôn có một lượng tiền nhàn rỗi đủ sức trang trải các rủi ro xảy ra và kiếm lợi từ đồng tiền nhàn rỗi đó như cho ngân hàng vay, tái bảo hiểm v.v
Mua bảo hiểm rõ ràng là một hình thức ứng phó với rủi ro có thể áp dụng trong những trường hợp xác suất rủi ro tương đối lớn Theo quy định của nhà nước, các doanh nghiệp và công nhân viên nhà nước bắt buộc mua bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, một số mua bảo hiểm thân thể và bảo hiểm ô tô xe máy Trong các doanh nghiệp, để phòng tránh thiệt hại do rủi ro phát sinh, việc mua bảo hiểm ở mức nào, cho những hình thức nào cần phải được đánh giá theo các tiêu chí kinh tế với từng trường hợp cụ thể Người dân và cả các doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen mua bảo hiểm - cả bảo hiểm nhân thọ lẫn bảo hiểm phi nhân thọ - hoặc coi bảo hiểm là một công cụ giảm thiểu thiệt hại từ rủi ro Bảo hiểm không giúp doanh
Trang 32nghiệp hoặc thành viên của doanh nghiệp phòng tránh hoàn toàn được các rủi ro phát sinh, nhưng giúp họ có thể bù đắp được (dù một phần) thiệt hại khi rủi ro đó xảy ra
Các doanh nghiệp cần nhận thức rằng các rủi ro dù phát sinh ở giai đoạn nào trong quá trình quản trị, hay trong những điều kiện nào, ở phạm vi nào cũng đều rất đa dạng về loại hình, phức tạp về nguyên nhân và mức độ thiệt hại là khác nhau Vì thế, rất khó để đề ra một phương pháp chung áp dụng cho doanh nghiệp (nói chung) mà các nhà quản trị cần tuỳ theo các điều kiện cụ thể để áp dụng Khi tiến hành lựa chọn các phương pháp quản trị rủi ro, nhất thiết các doanh nghiệp và những nhà quản trị cần phải tiến hành cân đối các yếu tố của quá trình quản trị để chọn ra những phương pháp phù hợp với điều kiện riêng của doanh nghiệp, với tình hình của ngành và của nền kinh
tế, với các quy định của luật pháp, với thông lệ quốc tế v.v
Đối với bất kì doanh nghiệp nào, quản trị rủi ro phải là một phần không thể tách rời trong chiến lược của doanh nghiệp và định hướng theo những mục tiêu của doanh nghiệp Không chỉ có các nhà lãnh đạo hay các nhà quản trị, mọi nhân viên trong doanh nghiệp cần nhận thức được việc xử lý các cơ hội và rủi ro là nhiệm vụ
và thẩm quyền của mỗi người Quản trị rủi ro cũng không quy định cách thức ứng
xử, xử lý đối với rủi ro trong từng trường hợp cụ thể Điều này có nghĩa là với cùng một dạng rủi ro, doanh nghiệp có thể có nhiều biện pháp linh hoạt trong quản trị rủi
ro để có thể giảm thiểu tác hại của nó Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, tất cả thành viên của doanh nghiệp cần quan sát thường xuyên và xử
lý các điểm rủi ro, và do đó, tất cả các nhân viên cần đóng góp các kiến thức, các kinh nghiệm của mình để cải thiện quản trị rủi ro, mặc dù đây là một chức năng quản trị chuyên sâu
Để quá trình quản trị rủi ro được hiệu quả, doanh nghiệp cần đề ra một hệ thống giám sát rủi ro Điều này không phải là mới mà đã được thực hiện từ lâu ở các doanh nghiệp Bởi về thực chất, hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch, chiến lược cùng với hệ thống kiểm tra chính là cách để doanh nghiệp theo dõi các trục trặc, sự cố phát sinh, đối chiếu giữa khả năng thực hiện mục tiêu và kết quả thực hiện mục tiêu
Trang 33Ngoài ra, trong các doanh nghiệp còn có các bộ phận kiểm tra, thanh tra, các văn bản quy định, quy trình, quy chế v.v là những tài liệu để giám sát, theo dõi khả năng phát sinh rủi ro
1.3 Tiêu chuẩn ISO 31000: 2009
1.3.1 Giới thiệu tiêu chuẩn ISO 31000: 2009
- ISO 31000:2009 cung cấp các nguyên tắc, khuôn khổ và hình thức quản trị rủi ro một cách minh bạch, hệ thống và và đáng tin cậy trong bất kỳ phạm vi hoặc môi trường hoạt động của mọi tổ chức
- Tiêu chuẩn ISO 31000:2009 khuyến cáo các tổ chức phát triển, thực hiện và liên tục cải thiện khung quản trị rủi ro như là một phần không thể thiếu của hệ thống quản lý của mình
- ISO 31000: 2009 là một tài liệu thực tế nhằm hỗ trợ các tổ chức trong việc phát triển phương pháp riêng của mình để quản trị rủi ro
- ISO 31000:2009 có thể được áp dụng cho bất kỳ loại rủi ro nào cho dù bản chất của nó là tích cực hay tiêu cực
(Trung tâm Năng suất Việt Nam http://www.vpc.org.vn/)
Phương pháp tiếp cận chung mô tả trong tiêu chuẩn này đưa ra các nguyên tắc và hướng dẫn để quản trị mọi loại hình rủi ro một cách hệ thống, minh bạch và
đáng tin cậy cũng như trong mọi lĩnh vực và bối cảnh
Mỗi lĩnh vực hoặc ứng dụng quản trị rủi ro cụ thể đều có những nhu cầu, đối tượng, nhận thức và tiêu chí riêng của nó Vì vậy, một yếu tố quan trọng của tiêu chuẩn này là việc đưa "thiết lập bối cảnh" thành một hoạt động khởi đầu của quá trình quản trị rủi ro chung Thiết lập bối cảnh sẽ nắm bắt được các mục tiêu của tổ chức, môi trường mà tổ chức theo đuổi những mục tiêu này, các bên liên quan và sự
đa dạng của tiêu chí rủi ro - tất cả những điều này sẽ giúp phát hiện, đánh giá bản chất và tính phức tạp rủi ro của tổ chức
Mối quan hệ giữa các nguyên tắc quản trị rủi ro, khuôn khổ trong đó mối quan hệ này diễn ra và quá trình quản trị rủi ro được mô tả trong tiêu chuẩn này được thể hiện tại Hình 2.1
Trang 34Khi thực hiện và duy trì theo tiêu chuẩn này, quản trị rủi ro cho phép một tổ chức có thể, ví dụ:
- tăng khả năng đạt được các mục tiêu;
- khuyến khích quản trị chủ động;
- nhận thức được nhu cầu xác định và xử lý rủi ro trong toàn tổ chức;
- cải thiện việc xác định các cơ hội và mối đe dọa;
- tuân thủ các yêu cầu luật định, chế định và các chuẩn mực quốc tế liên quan;
- cải tiến việc lập báo cáo tự nguyện và bắt buộc;
- cải tiến việc quản trị;
- nâng cao lòng tin và sự tin tưởng của các bên liên quan;
- thiết lập cơ sở tin cậy cho việc ra quyết định và lập kế hoạch;
- cải tiến việc kiểm soát;
- phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để xử lý rủi ro;
- cải tiến hiệu lực và hiệu quả hoạt động;
- nâng cao hoạt động đảm bảo an toàn và sức khỏe, cũng như bảo vệ môi trường;
- cải tiến việc ngăn ngừa tổn thất và quản trị sự cố;
- giảm thiểu thiệt hại;
- nâng cao việc học hỏi trong tổ chức; và
- nâng cao tính kiên cường của tổ chức
Tiêu chuẩn này nhằm đáp ứng nhu cầu của một loạt các bên liên quan, bao gồm: a) những người chịu trách nhiệm xây dựng chính sách quản trị rủi ro trong tổ chức; b) những người có trách nhiệm đảm bảo rằng rủi ro được quản trị hiệu quả trong phạm vi toàn bộ tổ chức hoặc trong một lĩnh vực, dự án hay hoạt động cụ thể
c) những người cần đánh giá hiệu lực quản trị rủi ro của tổ chức; và
d) những người xây dựng tiêu chuẩn, hướng dẫn, thủ tục và quy phạm thực hành, trong đó toàn bộ hoặc một phần, lập ra cách thức quản trị rủi ro trong bối cảnh cụ thể của các tài liệu này
Các quá trình và thực tiễn quản trị hiện hành của nhiều tổ chức bao gồm các thành phần của quản trị rủi ro và nhiều tổ chức đã chấp nhận một quá trình quản trị rủi ro
Trang 35chính thức cho các loại rủi ro và tình huống cụ thể Trong những trường hợp này, tổ chức có thể quyết định tiến hành xem xét thực tiễn và các quá trình hiện có của mình theo tiêu chuẩn này
Hình 1.1 - Quan hệ giữa nguyên tắc, khuôn khổ và quá trình quản trị rủi ro
(Nguồn: Tiêu chuẩn ISO 31000)
1.3.2 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này đưa ra các nguyên tắc và hướng dẫn chung về quản trị rủi ro
Tiêu chuẩn này có thể được sử dụng cho doanh nghiệp công, tư hay doanh nghiệp cộng đồng, hiệp hội, nhóm hoặc cá nhân Vì vậy, tiêu chuẩn này không cụ thể cho bất kỳ ngành công nghiệp hoặc lĩnh vực nào
Tiêu chuẩn này có thể được áp dụng cho mọi loại hình rủi ro, bất kể bản chất, có hệ quả tích cực hay tiêu cực
Tiêu chuẩn này được sử dụng để hài hòa các quá trình quản trị rủi ro trong các tiêu chuẩn hiện tại và tương lai Tiêu chuẩn này đưa ra một cách tiếp cận chung để hỗ
Trang 36trợ các tiêu chuẩn đề cập đến những rủi ro và/hoặc các lĩnh vực cụ thể chứ không thay thế cho các tiêu chuẩn đó
Tiêu chuẩn này không sử dụng cho mục đích chứng nhận
1.3.3 Quá trình quản trị rủi ro
1.3.3.1 Khái quát
Quá trình quản trị rủi ro cần:
- là một phần không tách rời của quản trị,
- đƣợc gắn vào văn hóa, việc thực hành, và
- phù hợp với các quá trình hoạt động của tổ chức
Quá trình quản lý rủi ro đƣợc thể hiện trên Hình 2.2
Hình 1.2 - Quá trình quản trị rủi ro
(Nguồn: Tiêu chuẩn ISO 31000) 1.3.3.2 Trao đổi thông tin và tham vấn
Trao đổi thông tin và tham vấn với các bên liên quan bên ngoài và nội bộ cần diễn ra trong tất cả các giai đoạn của quá trình quản trị rủi ro
Trang 37Vì vậy, các kế hoạch trao đổi thông tin và tham vấn cần được xây dựng ở giai đoạn đầu Những kế hoạch này cần đề cập đến những vấn đề liên quan đến chính rủi ro, nguyên nhân rủi ro, hệ quả của nó (nếu biết), và các biện pháp thực hiện để xử lý rủi ro Cần thực hiện có hiệu lực việc trao đổi thông tin và tham vấn nội bộ, bên ngoài nhằm đảm bảo rằng những người chịu trách nhiệm về thực hiện quá trình quản trị rủi ro và các bên liên quan đều hiểu được cơ sở đưa ra các quyết định và lý do tại sao lại yêu cầu những hành động cụ thể
Phương pháp nhóm tham vấn có thể:
- giúp thiết lập bối cảnh thích hợp;
- đảm bảo rằng lợi ích của các bên liên quan được hiểu và xem xét;
- giúp đảm bảo rằng những rủi ro được xác định đầy đủ;
- tập hợp các lĩnh vực chuyên môn khác nhau lại để phân tích rủi ro;
- đảm bảo rằng các quan điểm khác nhau đều được xem xét một cách thích hợp khi xác định các tiêu chí rủi ro và trong xác định mức độ rủi ro;
- đảm bảo việc chấp thuận và hỗ trợ phương pháp xử lý;
- tăng cường quản lý thay đổi thích hợp trong quá trình quản trị rủi ro; và
- xây dựng một kế hoạch trao đổi thông tin và tham vấn bên ngoài và nội bộ thích hợp
Trao đổi thông tin và tham vấn với các bên liên quan là rất quan trọng vì họ đánh giá rủi ro dựa trên nhận thức của chính mình về rủi ro Những nhận thức này
có thể khác nhau do các khác biệt về giá trị, nhu cầu, giả định, khái niệm và mối quan tâm của các bên liên quan Vì quan điểm của họ có thể tác động đáng kể tới việc ra quyết định, nên nhận thức của bên liên quan cần được xác định, ghi lại và xem xét trong quá trình ra quyết định
Trao đổi thông tin và tham vấn cần thúc đẩy việc trao đổi thông tin một cách trung thực, dễ hiểu và chính xác, có tính đến khía cạnh bảo mật và quyền hợp pháp
cá nhân
1.3.3.3 Thiết lập bối cảnh
Bằng việc thiết lập bối cảnh, tổ chức làm rõ được các mục tiêu, xác định các tham số bên ngoài và nội bộ được đưa ra xem xét khi quản trị rủi ro, lập ra phạm vi
Trang 38và tiêu chí rủi ro cho quá trình còn lại Trong khi nhiều tham số cũng tương tự như các tham số được xem xét trong thiết kế khuôn khổ quản trị rủi ro , khi thiết lập bối cảnh cho quá trình quản trị rủi ro, cần phải xem xét các tham số ở mức chi tiết hơn
và đặc biệt là các tham số liên quan như thế nào đến phạm vi của quá trình quản trị rủi ro cụ thể
Việc xác định cần bao gồm cả những rủi ro mà nguồn gốc của chúng có hoặc không thuộc sự kiểm soát của tổ chức, cho dù nguồn hay nguyên nhân gây ra rủi ro có thể không rõ ràng Xác định rủi ro cần bao gồm kiểm tra tác động của hệ quả cụ thể, bao gồm ảnh hưởng theo đợt và tích lũy Cũng cần phải xem xét một loạt các hệ quả ngay cả khi các nguồn hay nguyên nhân gây ra rủi ro không rõ ràng Bên cạnh việc xác định những gì có thể xảy ra, cũng cần phải xem xét nguyên nhân
và kịch bản có khả năng chỉ ra những hệ quả có thể có Tất cả các nguyên nhân và
hệ quả nghiêm trọng đều cần được xem xét
Tổ chức cần áp dụng các công cụ kỹ thuật nhận dạng rủi ro, phù hợp với các mục tiêu và khả năng của mình cũng như với các rủi ro phải đối mặt Thông tin liên lạc và cập nhật rất quan trọng trong việc xác định rủi ro Khi có thể, điều này cần bao gồm thông tin cơ bản thích hợp Những người có kiến thức phù hợp cần tham gia vào việc xác định rủi ro
Trang 391.3.3.5 Xử lý rủi ro
Xử lý rủi ro liên quan đến việc chọn một hoặc nhiều phương án để thay đổi rủi
ro và thực hiện những phương án này Khi được thực hiện, các xử lý sẽ cung cấp hoặc thay đổi các kiểm soát Xử lý rủi ro liên quan đến một quá trình theo chu kỳ gồm:
- đánh giá việc xử lý rủi ro;
- quyết định mức độ rủi ro tồn đọng có chấp nhận được hay không;
- nếu không chấp nhận được, tạo ra một xử lý rủi ro mới; và
- đánh giá hiệu lực của việc xử lý đó
Các phương án xử lý rủi ro không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau hoặc thích hợp trong mọi tình huống Các phương án có thể bao gồm:
a) tránh rủi ro bằng cách quyết định không bắt đầu hoặc tiếp tục hoạt động làm phát sinh rủi ro;
b) tiếp nhận hoặc làm tăng rủi ro để theo đuổi một cơ hội;
c) loại bỏ nguồn rủi ro;
d) thay đổi khả năng xảy ra;
e) thay đổi hệ quả;
f) chia sẻ rủi ro với một hoặc nhiều bên khác (bao gồm cả hợp đồng và tài trợ rủi ro); và
g) kiềm chế rủi ro bằng quyết định sáng suốt
1.3.3.6 Theo dõi và xem xét
Cả theo dõi và xem xét phải là một phần được hoạch định của quá trình quản
lý rủi ro và bao gồm hoạt động kiểm tra hoặc giám sát thường xuyên Nó có thể mang tính định kỳ hoặc đột xuất
Trách nhiệm theo dõi và xem xét cần được xác định rõ ràng
Các quá trình theo dõi và xem xét của tổ chức cần bao gồm tất cả các khía cạnh của quá trình quản lý rủi ro với mục đích:
- đảm bảo rằng hoạt động kiểm soát có hiệu quả và hiệu lực trong cả thiết kế và vận hành;
- có thêm thông tin để cải tiến việc đánh giá rủi ro;
Trang 40- phân tích và rút ra bài học từ các sự kiện (bao gồm cả những lần thoát nạn), những thay đổi, các xu hướng, thành công và thất bại;
- phát hiện những thay đổi trong bối cảnh bên ngoài và nội bộ, bao gồm cả thay đổi
về tiêu chí rủi ro và bản thân rủi ro có thể yêu cầu xem xét lại việc xử lý rủi ro và thứ tự ưu tiên; và
- xác định những rủi ro đang hình thành
Tiến hành thực hiện các phương án xử lý rủi ro cung cấp thước đo việc thực hiện Các kết quả có thể được đưa vào quản lý, đo lường tổng thể việc thực hiện của
tổ chức và hoạt động báo cáo bên ngoài, nội bộ
Kết quả của theo dõi và xem xét cần được ghi lại và báo cáo bên ngoài, nội
bộ khi thích hợp, và cũng cần được sử dụng làm đầu vào cho việc xem xét khuôn khổ quản lý rủi ro
1.3.3.7 Lập hồ sơ quá trình quản trị rủi ro
Các hoạt động quản trị rủi ro cần có khả năng truy tìm nguồn gốc Trong quá trình quản lý rủi ro, hồ sơ cung cấp nền tảng cho việc cải tiến các phương pháp và công cụ, cũng như trong quá trình tổng thể
Các quyết định liên quan đến việc lập hồ sơ cần tính đến:
- nhu cầu học hỏi liên tục của tổ chức;
- lợi ích của việc tái sử dụng thông tin cho các mục đích quản lý;
- chi phí và nỗ lực liên quan tới việc lập và duy trì hồ sơ;
- nhu cầu đối với hồ sơ theo luật định, chế định và hoạt động;
- phương pháp truy cập, dễ dàng khôi phục và phương tiện bảo quản;
- thời gian lưu trữ; và
- tính nhạy cảm của thông tin
(Nguồn: tiêu chuẩn ISO 31000)
1.4 Quy trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Việc kiểm soát rủi ro phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ và phối
hợp với đặc thù của từng tổ chức, doanh nghiệp Từ lý luận cơ bản về quản trị rủi ro