6 Hầu như các công trình, đề tài nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu nhóm giải pháp để phát triển một loại hình du lịch cụ thể trên địa bàn tỉnh và chỉ tập trung xây dựng cơ sở lý lu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN CÔNG HUÂN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN CÔNG HUÂN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Trang 33
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, điểm trung chuyển giữa Đông và Tây Bắc, một trong những địa phương có tiềm năng du lịch khá toàn diện và nhiều lợi thế để phát triển du lịch Nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng núi Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và
vùng núi Tây Bắc, vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây Đông
-Bắc đem lại lợi thế trong mối liên kết vùng phát triển du lịch
Các điều kiện tự nhiên của Phú Thọ, đặc biệt là địa hình trung du đa dạng đã tạo cho Phú Thọ có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn Vườn quốc gia Xuân Sơn là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao; nước khoáng nóng Thanh Thủy được xác định có trữ lượng và hạm lượng nguyên tố
vi lượng thích hợp cho việc nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe; Đầm Ao Châu, Ao Giời - Giếng Tiên, Đầm Vân Hội… là những danh thắng đẹp có sức hấp dẫn du khách
Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc có nền văn hóa rực rỡ từ lâu đời, còn lưu giữ một hệ thống di sản văn hóa có giá trị phục vụ du lịch cao, trong đó nổi bật là quần thể di tích lịch sử Đền Hùng được công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt gắn với Giỗ tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng, hàng năm thu hút hàng triệu khách
du lịch người Việt Nam từ khắp mọi miền trên đất nước Đặc biệt Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và nhiều tài nguyên du lịch có giá trị khác là cơ hội cho du lịch tạo được những bước đột phá trong những năm tiếp theo Phú Thọ là nơi
có nhiều di tích lịch sử văn hóa, trong đó có nhiều di tích được xếp hạng cấp quốc gia; là nơi có rừng quốc gia Xuân Sơn, có nguồn nước khoáng nóng Thanh Thủy; là vùng đất nằm ở trung du Bắc Bộ, có đường sắt Hà Nội - Vân Nam, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Vân Nam - Hà Nội - Hải Phòng, đường quốc lộ 2 và các đường liên tỉnh chạy qua Chính vì thế mà Phú Thọ có vị trí thuận lợi, có tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa phong phú để phát triển các loại hình du lịch Kinh
Trang 4Tài nguyên du lịch Phú Thọ đa dạng, phong phú cả về tự nhiên và nhân văn cho phép phát triển nhiều sản phẩm đặc thù có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Tất cả những điều này là lợi thế của Phú Thọ khi so sánh với các địa phương khác trên cả nước
Trên cơ sở phát huy tiềm năng và lợi thế của mình, năm 2006 Ủy ban Nhân
dân tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt "Quy hoạch điều chỉnh phát triển du lịch tỉnh Phú
Thọ giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020" làm cơ sở cho việc thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và ngành du lịch nói riêng Nội dung quy hoạch đã có những định hướng quan trọng để quản lý phát triển
du lịch tỉnh thời gian qua Cùng với tiến trình phát triển của du lịch cả nước , du lịch tỉnh Phú Thọ đã đạt được những thành tựu đáng kể Ngành du lịch Phú Thọ đã có đóng góp nhất định vào tăng trưởng kinh tế , xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sin h
xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá , bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng, an ninh
Tuy nhiên, bên ca ̣nh những thành tựu đa ̣t được , thực tế những năm qua cho thấy du li ̣ch Phú Thọ phát triển còn nhiều hạn chế , bất cập; nhiều khó khăn , trở ngại; chưa có bước phát triển đột phá để khẳng đi ̣nh thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; kết quả chưa tương xứng với tiềm năng , lợi thế của tỉnh; phát triển nhưng vẫn
ẩn chứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững
Những năm gần đây , xu hướng hô ̣i nhâ ̣p , hợp tác, cạnh tranh toàn cầu , giao lưu mở rô ̣ng và tăng cường ứng du ̣ng khoa ho ̣c công nghê ̣ trong nền kinh tế tri thức
Trang 55
trên thế giới đang ta ̣o những cơ hô ̣i to lớn đồng thời cũng là thách thứ c đối với phát triển du li ̣ch cả nước trong đó có du lịch Phú Thọ
Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Việt Nam với việc gia nhập các
tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đã, đang và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế
đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển
Để nắm bắt vận hội mới, hòa nhập với xu thế phát triển chung, năm 2011 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2030 và tiếp tục chỉ đạo Ngành lập Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Đây là cơ sở quan trọng cho các địa phương trên cả nước lập quy hoạch phát triển ngành phù hợp với tiến trình phát
triển chung
Xác định được vị thế quan trọng và tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã xác định du lịch là một trong ba khâu
đột phá, tiến tới xây dựng thành ngành kinh tế mũi nhọn
Trước bối cảnh và xu hướng đó , du lịch Phú Thọ cần thiết phải được định hướng phát triển với tầm nhìn dài hạn và mang tính đột phá để làm cơ sở xây dựng các chương trình, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch tỉnh phù hợp với giai
đoạn phát triển chung của du lịch Việt Nam
Để thực hiện được mục tiêu trên, việc đánh giá lại thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ trong thời gian vừa qua và đưa ra một số giải pháp phát triển du
lịch tỉnh Phú Thọ là hết sức cần thiết; Do vậy em đã chọn Đề tài "Phát triển du lịch
tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình Đề tài này nhằm trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ trong những năm vừa qua
là gì? và tác động của nó đến việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như thế nào?
- Cần có những giải pháp gì để phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ và du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong thời gian sắp tới?
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 66
Hầu như các công trình, đề tài nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu nhóm giải pháp để phát triển một loại hình du lịch cụ thể trên địa bàn tỉnh và chỉ tập trung xây dựng cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa các loại hình du lich,
di sản văn hoá và phát triển kinh tế du lịch; chưa xác định rõ được vai trò của việc phát triển kinh tế du lịch là một trong ba khâu đột phá, tiến tới xây dựng thành ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Một số chương trình, công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ như:
- Quy hoạch các di tích khảo cổ tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1997-2015 và định hướng đến năm 2020 Quy hoạch đã đánh giá được thực trạng các di tích khảo cổ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp để bảo tồn và phát triển các di tích trên địa bàn đến năm 2020, là cơ sở để xây dựng hồ sơ và đề nghị công nhận xếp hạng các di tích khảo cổ cấp quốc gia và cấp tỉnh, đồng thời đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ di tích tránh tình trạng bị mai một và xâm lấn Tuy nhiên, quy hoạch mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá và định hướng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các di tích khảo cổ, chưa có những giải pháp đồng
bộ để các di tích khảo cổ thực sự trở thành điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm quan, nghiên cứu
- Chu Thị Thanh Hiền: Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (Đề tài khoa học 2012) Đề tài đã tập trung nghiên cứu các điều kiện hình thành và phát triển, đồng thời đã đánh giá sơ bộ được hiện trạng cũng như tiềm năng phát triển hình thức du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức thực hiện và những hiệu quả phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh do du lịch cộng đồng mang lại, từ đó đưa ra các giải pháp khai thác tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, đề tài chưa nêu bật được vị trí, vai trò cũng như tầm ảnh hưởng của hình thức du lịch cộng đồng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, chiến lược trong giai đoạn tới như: việc thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, những nhân tố ảnh hưởng
Trang 77
tới nguồn tài nguyên du lịch, ảnh hưởng đến môi trường, việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ; đồng thời đề tài chưa chỉ rõ được những mặt thuận lợi, khó khăn, những tồn tại, hạn chế khi mở rộng và phát triển loại hình du lịch này trên địa bàn tỉnh, để nó trở thành loại hình du lịch hấp dẫn du khách đến với Phú Thọ
- Nguyễn Thị Thịnh, Ngô Văn Nhuận: Khảo sát thực trạng lao động làm việc trong các Doanh nghiệp dịch vụ du lịch và đề xuất các giải pháp đào tạo lao động phục vụ việc phát triển ngành du lịch trên địa bàn huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ (Đề tài nghiên cứu khoa học 2012) Đề tài tập trung rà soát, đánh giá thực trạng lao động làm việc trong các Doanh nghiệp du lịch trên địa bàn huyện Thanh Thủy, một trong những huyện có điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng với nguồn nước khoáng nóng giàu hàm lượng khoáng chất tốt cho sức khỏe con người, từ đó đưa ra những giải pháp để các Doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực này Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở việc rà soát, thống kê số lượng lao động du lịch trong các doanh nghiệp trên địa bàn huyện đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc quản lý, sử dụng lao động, chưa đề xuất được các giải pháp cụ thể để các doanh nghiệp có định hướng về cơ chế, chính sách trong việc sử dụng nguồn lao động này cũng như lộ trình đào tạo nhân lực trong thời gian tới; chưa đưa ra được bài học, kinh nghiệm trong vấn đề sử dụng và quản
lý nguồn nhân lực này một cách hiệu quả để tạo thành sức mạnh thực sự trong việc phát triển kinh doanh của doanh nghiệp
- Phùng Quốc Việt: Nghiên cứu, kết nối du lịch Phú Thọ với các tuyến du lịch vùng Tây Bắc mở rộng (Đề tài khoa học 2012) Đề tài đã nêu bật được cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về du lịch và hoạt động du lịch liên vùng, hiện trạng du lịch tỉnh Phú Thọ và vùng Tây Bắc mở rộng (Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và Hà Giang), đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp kết nối du lịch Phú Thọ với du lịch vùng Tây Bắc mở rộng; Xây dựng bản đồ các tuyến kết nối (theo tuyến đường giao thông: đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không) Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những giải pháp, định hướng cho việc kết nối liên vùng giữa du lịch Phú Thọ với các tỉnh Tây Bắc, chưa
Trang 88
nêu bật được tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ với vị trí là trung tâm của vùng Tây Bắc, chưa đánh giá cụ thể được những tồn tại, hạn chế trong việc phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh và địa bàn các tỉnh Tây Bắc để từ đó đưa ra được những giải pháp khắc phục để du lịch Phú Thọ và các tỉnh Tây Bắc thực sự là điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nước
- Bùi Thị Nhiệm: Xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch sinh thái
ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ (luận văn tốt nghiệp 2011) Trên cơ sở vận dụng lý luận và thực tiễn phát triển du lịch sinh thái trên thế giới và Việt Nam, đề tài đã làm rõ tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái nhằm làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Xuân Sơn trong tương lai Đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu về tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Xuân Sơn nhằm định hướng khai thác các giá trị tài nguyên một cách hiệu quả và bền vững, và đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu của du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Xuân Sơn Đề tài cần đưa ra những giải pháp cụ thể đối với việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, gắn với yêu cầu bảo tồn nhằm đưa du lịch sinh thái trở thành loại hình du lịch phát triển trên địa bàn tỉnh,
Tóm lại, những công trình, đề tài nghiên cứu trên mới chỉ tập trung nghiên cứu về lĩnh vực du lịch chuyên ngành như: du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh vv để cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác quản
lý, chỉ đạo của các cấp, các ngành tỉnh Phú Thọ đối với việc phát triển kinh tế- xã hội nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng Đồng thời những nghiên cứu
đó mới đánh giá sơ bộ thực trạng về tình hình quản lý, bảo vệ và khai thác các khu
di tích, các điểm thăm quan, tuyến du lịch có gắn với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển kinh tế
du lịch trên địa bàn tỉnh trong thời gian sắp tới
Trong giai đoạn hiện nay chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Việt Nam với việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đã, đang và sẽ tạo
Trang 99
điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển của Việt Nam nói chung và của tỉnh Phú Thọ nói riêng Vì vậy, tôi chọn đề tài này để đánh giá lại một cách tổng thể thực trạng phát triển du lịch trong những năm trước đây, từ
đó đưa ra những giải pháp để phát triển du lịch của tỉnh trong những giai đoạn tiếp theo, nhằm đạt được mục tiêu để du lịch thực sự là khâu đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
- Mục đích của luận văn là đánh giá tổng thể thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh trong những năm vừa qua từ đó làm cơ sở để đưa ra những giải pháp phát triển du lịch nhằm mục đích để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Xây dựng được hệ thống quan điểm và mục tiêu phát triển ngành du lịch tỉnh Phú Thọ theo hướng bền vững một cách toàn diện về kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh và môi trường
- Đề xuất được các chỉ tiêu cụ thể, các định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 làm cơ sở lập các đề án, dự án đầu tư, quản lý phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và địa bàn trọng điểm phát triển du lịch vùng Trung du miền núi Bắc Bộ; góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy các giá trị cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế, kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp tỉnh
- Nghiên cứu kinh nghiệm của những tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội tương
tự như tỉnh Phú Thọ trong việc phát triển du lịch nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ theo quy hoạch giai đoạn 2006
- 2013 và tác động của phát triển du lịch đến tình hình kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 1010
- Xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong thời gian sắp tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là nghiên cứu thực trạng du lịch trên địa bàn tỉnh từ
2006 đến nay để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
+ Về thời gian: từ năm 2006 đến nay, tầm nhìn đến giai đoạn 2020 - 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề trên, luận văn sử dụng các phương pháp như sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật Biện chứng và chủ nghĩa duy vật Lịch sử trong quá trình thực hiện đề tài
- Đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, Tổng hợp; thống kê, đối chiếu, so sánh và lý luận của các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa, kinh tế, du lịch Ngoài ra, còn tham khảo số liệu, luận điểm của một số tác giả uy tín
6 Những đóng góp của đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế
du lịch và phát triển kinh tế - xã hội, xác định rõ vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và môi trường, các điều kiện để du lịch
Trang 11để phát triển du lịch của tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên địa
bàn cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2013 Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 1212
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Định nghĩa và một số loại hình du lịch
a Định nghĩa
Hoạt động du lịch xuất hiện rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội của con người và hoạt động du lịch đang phát triển mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới Trên thế giới một số quốc gia đã xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có Việt Nam Hội đồng Lữ hành Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council-WTTC) đã công
bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt lên cả ngành sản xuất ô tô, điện tử Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “khái niệm” du lịch tại các quốc gia Giáo sư, tiến sỹ Berneker - một chuyên gia hàng đầu
về du lịch thế giới đã nhận định “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Khái niệm du lịch được hiểu khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng
Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du lịch là
sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở đây sự giải trí là động cơ chính” [14, tr.13]
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Hunziker và Giáo sư, Tiến sỹ Krapf là hai nhà khoa học đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch, cho rằng: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời” [14, tr.13]
Trang 1313
Định nghĩa này đã mở rộng và bao quát hơn hiện tượng du lịch, có bước tiến
về lý thuyết trong viên nghiên cứu nội dung của du lịch Hiện nay định nghĩa này vẫn được nhiều nhà kinh tế sử dụng để giải thích từng mặt là các hiện tượng du lịch Tuy nhiên, định nghĩa này còn bộc lộ nhiều hạn chế, đó là chưa giới hạn được đặc trưng về lĩnh vực của hiện tượng và của mối quan hệ du lịch
Trước kia du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn để đến các vùng xung quanh nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh
Càng ngày số lượng người đi du lịch nhiều hơn, khoảng cách xa hơn, thời gian kéo dài hơn Lúc này du lịch mang tính nhận thức và trở thành hiện tượng thường xuyên, phổ biến Để thỏa mãn các nhu cầu của con người trong chuyến du lịch như giao thông, lưu trú, ăn uống, đồ lưu niệm và nhiều mặt hàng, dịch vụ khác đòi hỏi nhiều hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với nó Vì thế khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo cách tiếp cận, có nhà nghiên cứu cho rằng hầu như mỗi tác giả nghiên cứu du lịch đều đưa ra một định nghĩa cho riêng mình và theo thời gian nội dung khái niệm càng rộng hơn
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường sử dụng định nghĩa du lịch của nhà
khoa học người Belarus – I.I.Pirojnik (năm 1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Luật du lịch Việt Nam năm 2005 tại Khoản 1, Điều 4, Chương I định nghĩa:
“Du lịch là những hoạt động liên quan đến hoạt động di chuyển của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng một khoảng thời gian nhất định”
Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy khái niệm du lịch có nội hàm kép:
Trang 1414
- Du lịch mang ý nghĩa truyền thống: là sự di chuyển của con người ra ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi xa lạ, nhằm nghỉ ngơi, giải trí, thỏa mãn những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần Nội hàm này chỉ mới giải thích được hiện tượng đi du lịch, tuy nhiên đây cũng là khái niệm cơ sở để xác định khách du lịch, một yếu tố quan trọng để hình thành cầu du lịch
Một mặt do mức sống người dân nâng cao, giá cả dịch vụ rẻ hơn, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như lưu trú, vận chuyển ngày càng thuận tiện và thoải mái hơn, thời gian nhàn rỗi nhiều hơn, giáo dục phát triển Mặt khác do sự gia tăng ô nhiễm các thành phố, khu công nghiệp, đã kích thích du lịch phát triển, số lượng du khách ngày càng tăng nhanh, thành phần du khách được xã hội hóa, địa bàn du lịch được
mở rộng và thời vụ du lịch được kéo dài Để phục vụ các nhu cầu của khách du lịch xuất hiện nhiều hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với nó
- Du lịch mang ý nghĩa của những hoạt động kinh tế: ngành kinh tế được
hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch trong thời gian rời khỏi nơi
cư trú thường xuyên của họ, đó là ngành kinh tế du lịch, bao gồm các lĩnh vực phục
vụ nhu cầu của khách: vận chuyển, lữ hành, lưu trú, ăn uống, giải trí, mua sắm
Như vậy có thể hiểu, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người
du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Trang 1515
phương Đồng thời, phân loại du lịch sẽ làm cơ sở cho các hoạt động marketing của các nơi đến các tổ chức kinh doanh du lịch và các khách hàng mục tiêu phù hợp
* Phân loại theo mục đích chuyến đi
Trên cơ sở nghiên cứu các lý do đi du lịch, Tháp nhu cầu của Maslow và Thuyết về động cơ du lịch của McIntosh, Goeldner, Ritchier các nhà nghiên cứu đã phân loại du lịch theo mục đích chuyến đi Cụ thể một số loại du lịch theo mục đích này như sau:
- Du lịch tham quan: Mục đích của nhóm du lịch này là nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh như hiểu biết về văn hóa, lịch sử, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, đời sống xã hội Đối tượng tham quan thường là một tài nguyên thiên nhiên như một phong cảnh kỳ thú, một tài nguyên du lịch nhân văn như một di tích, một công trình đương đại hay một cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất
- Du lịch giải trí: Nhằm tìm kiếm sự thư giãn thoải mái, giải tỏa tâm lý và áp lực căng thẳng từ công việc hàng ngày thông qua các hoạt động giải trí ở điểm đến
du lịch, khách du lịch đi theo hình thức này thường chọn những nơi yên bình, thanh tĩnh, không có nhiều người đi lại Họ có thể có nhu cầu tham quan, tuy nhiên đấy không phải là yếu tố cơ bản
- Du lịch kinh doanh: Hiện tại chúng ta không thể phủ nhận mục đích kinh tế trong chuyến đi của nhiều người, đặc biệt là các thương gia Mục đích chính này thường là tìm kiếm cơ hội đầu tư, cơ hội kinh doanh, tìm các đối tác làm ăn, Đây được xem là đối tượng phục vụ đặc biệt của các cơ sở kinh doanh du lịch, đặc biệt
là các cơ sở lưu trú
- Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội của du lịch là phục hồi sức khỏe cộng đồng Điểm đến của loại hình du lịch này thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, nhiều cảnh đẹp như các bãi biển, vùng sông, suối, hồ, vùng núi hay vùng nông thôn lý tưởng Cho đến nay, đây vẫn là loại hình
du lịch kinh doanh chủ yếu của Ngành du lịch Việt Nam
Trang 1616
- Du lịch lễ hội: Lễ hội ở đây có thể là lễ hội truyền thống, liên hoan phim,
âm nhạc hay festival chuyên đề, Mục đích của du lịch lễ hội là tạo cơ hội cho du khách tham gia vào một lễ hội được tổ chức tại một địa danh nào đó, qua đó nâng cao hiểu biết về văn hóa, bản sắc và tăng cường mở rộng quan hệ giao tiếp Ngày nay, loại hình du lịch này đang có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch, đặc biệt
là du khách quốc tế Vì vậy, việc khôi phục lại nét đặc sắc của các lễ hội truyền thống được xem là một hướng đi quan trọng của ngành du lịch
- Du lịch tôn giáo: Từ xa xưa, loại hình du lịch này đã hình thành từ rất sớm
và trở nên khá phổ biến Đó là các chuyến đi mang mục đích tôn giáo như việc đi truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện nghi lễ tôn giáo của các tín đồ tại các giáo đường Ngày nay, hình thức này được hiểu là các chuyến đi của khách du lịch chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu thực hiện nghi lễ tôn giáo của tín đồ hoặc tìm hiểu tôn giáo của người di giáo Điểm đến của các luồng khách du lịch này là các chùa chiền, nhà thờ, thánh địa
- Du lịch chữa bệnh: Mục đích chính của chuyến đi là để điều trị hoặc phòng ngừa một căn bệnh tiềm tàng nào đó dựa vào từng loại tài nguyên cụ thể và hoạt động du lịch phù hợp Điểm đến thường là các khu an dưỡng, khu chữa bệnh như nhà nghỉ, điểm nước khoáng, nơi có không khí trong lành Du khách thường là những bệnh nhân mắc các bệnh khớp, ngoài da, đường tiêu hóa, viêm khí quản
- Du lịch công vụ: Mục đích chính của khách là tham dự hội nghị, hội thảo, hội chợ hoặc tăng cường ngoại giao, trao đổi văn hóa Tuy nhiên họ cũng có nhu cầu về đi lại, ăn ở, giải trí, thông tin liên lạc, dịch thuật, tổ chức hội họp, MICE Đối tượng khách du lich công vụ thường có khả năng tri trả lớn
* Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
Trong cuốn Những triết lý, nguyên tắc và thực tiễn của du lịch các học giả
người Mỹ Mc Intosh, Goeldner và Richie đã sử dụng tiêu chí này để chia thành các loại hình du lịch khá chi tiết
Trang 17- Du lịch nội địa: Du lịch nội địa được hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ
- Du lịch quốc gia: Theo cách hiểu hiện nay du lịch quốc gia bao gồm toàn
bộ hoạt động du lịch của một quốc gia từ việc gửi khách ra nước ngoài đến việc phục vụ khách trong và ngoài nước tham quan, du lịch trong phạm vi nước mình Thu nhập từ du lịch quốc gia (thường gọi tắt là thu nhập từ du lịch) bao gồm thu nhập từ hoạt động du lịch nội địa và từ du lịch quốc tế, kể cả đón và gửi khách
* Phân loại theo loại hình du lịch đặc thù khác
Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật đã xuất hiện một số hình thức du lịch đặc thù theo tính chất của từng hoạt động du lịch Các loại hình du lịch này ngày càng trở nên phổ biến, bao gồm:
- Du lịch sinh thái (du lịch thiên nhiên): là một loại hình du lịch mới và đang
có xu hướng phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới Nó ngày càng thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học Mục đích của du lịch sinh thái là thỏa mãn sự khát khoa đến với thiên nhiên, thưởng thức thiên nhiên của khách du lịch, đồng thời có tác dụng bảo tồn và phát triển thiên nhiên, ngăn ngừa các tác động tiêu cực với sinh thái văn hóa
- Du lịch hoài niệm: là loại hình du lịch mà du khách thực hiện các chuyến đi hướng về tổ tiên, cội nguồn gia đình, dân tộc
- Du lịch di sản: Tham quan các di tích lịch sử, các chiến trường và các công trình cổ xưa như các công trình xây dựng, kênh đào
Trang 18- Ngoài ra còn có các cách phân loại khác như:
+ Dựa theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch bao gồm du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê
+ Dựa theo phương tiện giao thông bao gồm du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch máy bay
+ Dựa theo lứa tuổi du khách bao gồm du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên,
du lịch trung niên, du lịch người cao tuổi
+ Dựa theo độ dài chuyến đi bao gồm du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày
1.1.2 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội
a Vai trò về mặt kinh tế
Du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của địa phương thông qua việc tiêu dùng của du khách Ngành du lịch không khói, là “con gà đẻ trứng vàng”, tức là ngành thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều công ăn việc làm, bán hàng tiếp thị xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, ngoại giao và các quan hệ khác Ngành công nghiệp du lịch được các nước trên thế giới thừa nhận là một ngành kinh doanh có lợi nhuận và phát triển với nhịp tăng trưởng cao, là nguồn đóng góp chủ yếu cho kinh tế - xã hội Theo công bố mới đây tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 vừa diễn ra ngày 16 tháng 5 năm 2012 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% thu nhập GDP thế giới Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất Năm 2011, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không lấy gì làm tốt đẹp và
ổn định, ngành du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách
và thu nhập du lịch tăng 3,8% Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2012 và 1,8 tỷ lượt năm 2030 Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc
Trang 19Hiệu quả kinh tế cao của du lịch còn thể hiện ở thu nhập Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, mỗi USD doanh thu từ du lịch sẽ tạo ra từ 2-3 USD thu nhập gia tăng tùy thuộc vào khối lượng hàng hóa và dịch vụ được các nhà kinh doanh trong nước cung cấp Với sự gia tăng thu nhập ngoại tệ, du lịch đã góp phần đáng
kể làm cân bằng cán cân thanh toán của mỗi quốc gia
Hoạt động du lịch tác động mạnh đến cơ cấu cán cân thu, chi của vùng du lịch, của mỗi đất nước Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước Có thể thấy, nguồn thu nhập ngoại tệ từ khách du lịch quốc tế của nhiều nước ngày càng tăng Chẳng hạn, Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về thu nhập từ
du lịch quốc tế Năm 1990, ngành du lịch nước này mang lại nguồn thu là 43 tỷ USD, thì đến năm 1996 đã lên tới 64,4 tỷ USD, đến năm 2002 là 80,7 tỷ USD Tiếp
Trang 20du lịch nội địa lại sử dụng được triệt để công suất của các cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo cho đời sống của nhân dân địa phương được sử dụng các dịch vụ của cơ sở kinh doanh du lịch, huy động được tiền nhàn rỗi của nhân dân, đồng thời cũng là một trong những hình thức tái sản xuất sức lao động của con người, lại vừa là biện pháp để nâng cao kiến thức, giáo dục chính trị, tư tưởng cho nhân dân lao động, càng làm tăng thêm tình yêu quê hương, đất nước
b Về mặt xã hội
Trong thời đại hiện nay, việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc nhất của các quốc gia Du lịch phát triển tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần đáng kể giảm tỷ lệ thất nghiệp, thu hút một số lượng lao động rất lớn, nâng cao mức sống của người dân Đối với nhiều người, du lịch được nhìn nhận như một nghề kinh doanh béo bở, dễ làm Vì vậy, xu hướng chuyển đổi hay chuyển hướng sang kinh doanh du lịch là một động cơ tốt để mọi người trau dồi, bổ sung các kiến thức cần thiết như ngoại ngữ, giao tiếp, văn hóa, lịch sử
Theo tính toán của các chuyên gia du lịch, cứ một việc làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra hai việc làm cho các ngành khác Theo cách tính toán này, lao động trực tiếp, lao động gián tiếp phục vụ cho ngành du lịch chiếm 8% lao động toàn cầu Ngành du lịch cũng sử dụng lao động nhiều vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp 6 lần ngành sản xuất ô tô, gấp 4 lần ngành khai khoáng và gấp 3 lần ngành tài chính Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 2009 ngành du lịch Việt Nam có khoảng 1 triệu lao động, trong đó có 262.200 lao động trực tiếp (chiếm
Trang 2121
33,75% tổng số lao động) và trên 700 nghìn lao động gián tiếp (chiếm 66,25%) Việc phát triển du lịch góp phần ngăn cản luồng di dân tự do từ nông thôn lên thành phố, vì du lịch đã tạo điều kiện để người nông dân kiếm được việc làm ngay trên quê hương mình bằng các nghề chăn nuôi, trồng trọt, làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống phục vụ khách du lịch
Phát triển du lịch góp phần nâng cao trình độ dân trí, làm phong phú thêm nhận thức, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời góp phần mở rộng
và củng cố mối quan hệ hợp tác, ngoại giao, giao lưu kinh tế, văn hóa khoa học, kỹ thuật, tạo mối quan hệ thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia Phát triển du lịch sẽ góp phần xóa đói, giảm nghèo, sẽ làm thay đổi diện mạo của một vùng, của một quốc gia ngày càng văn minh, tốt đẹp hơn
Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả tích cực của ngành du lịch cũng còn một số các tiêu cực về mặt xã hội đó là khi phát triển du lịch có thể làm phát sinh và gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc, ma túy
c Về văn hóa
Du lịch là một trong những điều kiện quan trọng để các dân tộc giao lưu văn hóa với nhau Những yếu tố văn minh trong nền văn hóa nhân loại càng phát triển càng kích thích phát triển những nét độc đáo của văn hóa dân tộc Văn hóa dân tộc phát triển góp phần làm phong phú, đa dạng thêm nền văn hóa nhân loại, nâng cao trí thức con người Khi đi du lịch, khách du lịch luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phương và con người địa phương
Đối với một quốc gia, du lịch là điều kiện để mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng, điều này rất dễ nhận thấy ở lứa tuổi thanh niên, ở những cơ quan, đơn vị có chế độ làm việc ít tập trung hay làm việc theo dây truyền Những chuyến tham quan, du lịch tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc Khi tiếp xúc trực tiếp với các di tích lịch sử, các công trình văn hóa của dân tộc, được sự giải
Trang 22Nhưng sự phát triển du lịch đã kéo theo cả những nền văn hóa của các nước khác thông qua khách du lịch trong đó có cả những văn hóa, lối sống trái với thuần phong, mỹ tục làm xói mòn hoặc mất đi bản sắc văn hóa địa phương, dân tộc
d Về môi trường
Phát triển du lịch có tác dụng thúc đẩy cải tạo môi trường, làm cho cảnh quan, môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp hơn Mặt khác, phát triển du lịch là động lực thúc đẩy xây dựng các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, các khu bảo tồn thiên nhiên là điều kiện tốt để bảo vệ các loài động, thực vật quý hiếm, bảo vệ môi trường
Bên cạnh những mặt tích cực, phát triển du lịch có nguy cơ làm hư hại, phá
vỡ hệ sinh thái môi trường, làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá các danh lam thắng cảnh, làm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên, thiên nhiên
Du lịch là ngành hoạt động đòi hỏi môi trường và khoảng không rộng lớn, là yếu tố nội tại của ngành du lịch Văn hóa và môi trường là nguyên liệu thô của ngành công nghiệp du lịch Vấn đề đặt ra cho người lãnh đạo, người quản lý, người kinh doanh là phải có chiến lược phát triển du lịch đúng đắn, phát huy mạnh mẽ những thế mạnh và hạn chế đến mức tối đa những mặt tiêu cực do phát triển du lịch đem lại, đồng thời, đây cũng là trách nhiệm của mọi người dân, trách nhiệm của toàn xã hội
Trang 2323
1.1.3 Phát triển du lịch gắn với xây dựng cơ chế chính sách, quy hoạch,
kế hoạch và nguồn nhân lực
a Xây dựng những cơ chế, chính sách thu hút; xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch
Để khai thác tốt các nguồn lực, lợi thế, tiềm năng phát triển du lịch của địa phương, cần xây dựng cơ chế, chính sách có tính chất đặc thù trên cơ sở khung pháp
lý chung Chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch phải được cụ thể hóa bằng những văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, xem xét việc quyết định đầu tư Đầu tư vào lĩnh vực du lịch đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, cho nên tùy điều kiện cụ thể của địa phương mà xác định cơ chế ưu đãi cho phù hợp Cơ chế, chính sách banh hành phải vừa đảm bảo nguyên tắc không trái với khung pháp lý chung trong lĩnh vực du lịch, vừa tạo
sự thông thoáng hấp dẫn các nhà đầu tư Địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế và nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, nhưng nếu không có cơ chế, chính sách phù hợp thì không thể thu hút và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch Các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch
có tính chất quyết định đến sự phát triển nhanh hay chậm của ngành du lịch địa phương Do vậy, cần chú trọng đến việc thu hút đầu tư, mời gọi các doanh nghiệp
có năng lực quản lý điều hành và năng lực tài chính mạnh đầu tư vào lĩnh vực du lịch
Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả nước, các địa phương cần lập quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển du lịch của địa phương cho từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện nguồn lực và tiềm năng, lợi thế về du lịch Quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của địa phương sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được công bố công khai để nhân dân và các cơ quan liên quan được biết Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch là cơ sở quan trọng
để thúc đẩy du lịch phát triển theo hướng bền vững, nó tác động tích cực đối với việc định hướng đầu tư Phát triển theo quy hoạch góp phần phát huy tối đa nguồn lực đầu tư, hệ thống khách sạn, nhà hàng và các công trình phục vụ cho du lịch sẽ
Trang 24b Phát triển nguồn nhân lực du lịch
Phát triển du lịch là chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế ở Việt Nam Theo đó, phát triển nhân lực du lịch theo kịp xu hướng phát triển du lịch là một nhu cầu khách quan Đã có rất nhiều chương trình, dự án, đề án xây dựng và thực hiện các nội dung liên quan đến phát triển nhân lực du lịch ở Việt Nam Cả nước hiện có 284 cơ sở tham gia đào tạo du lịch, các trung tâm đào tạo của bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp cũng được hình thành, nâng cấp và tăng cường năng lực đào tạo, bồi dưỡng Bên cạnh đó, các chương trình hợp tác liên kết đào tạo quốc tế và trong nước cũng luôn là nội dung được ưu tiên nhằm huy động nguồn lực cho phát triển nguồn lực ngành du lịch Nhờ mạng lưới đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch mở rộng cũng như trình độ đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo ngày càng được nâng cao, quy mô đào tạo mới tăng mạnh, chất lượng đào tạo cơ bản được đảm bảo, gắn với nhu cầu xã hội nên khoảng 70% sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng du lịch và 80% học sinh tốt nghiệp trung cấp du lịch tìm được việc làm Tuy nhiên, số lượng nhân lực du lịch với 1,5 triệu lao động như hiện nay là chưa đảm bảo, kiến thức hội nhập, tin học, năng lực quản lý và kinh nghiệp thực tiễn của đội ngũ này chưa tương ứng với yêu cầu phát triển của ngành Trong thời gian tới, mỗi năm cần đào tạo thêm khoảng 25 nghìn lao động mới đáp ứng đủ nhu cầu bởi số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch tăng mạnh cũng như các cơ sở lưu trú, sân golf, khu giải trí cao cấp đang được xây dựng và hoàn thiện cần thêm nhiều lao động có trình độ tay nghề cao Điều này đòi hỏi lớn sự nỗ lực của công tác đào tạo chuyên ngành du lịch
Trang 2525
Ngày 18 tháng 2 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2013 - 2020 tại Quyết định số 321/QĐ-TTg, đã đưa ra các mục tiêu và chương trình hành động cụ thể về du lịch, trong đó
có các vấn đề liên quan đến phát triển nhân lực du lịch Về mục tiêu cụ thể: đến năm 2015, 90% đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch cập nhật kiến thức mới, ngoại ngữ, tin học phù hợp với yêu cầu công tác; 50% cán bộ công tác tại các lĩnh vực liên quan đến du lịch được bồi dưỡng, cập nhật thông tin, văn hóa ứng xử trong lĩnh vực du lịch, đến năm 2020, 100% đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương được bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ du lịch
Trong các hoạt động của chương trình có hoạt động hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch; đồng thời tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng tổ chức, khai thác, phục vụ khách du lịch cho các doanh nghiệp du lịch, công đồng địa phương trong khai thác các sản phẩm du lịch theo hướng bền vững Những điều kiện nêu trên vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là kinh nghiệm để phát triển nhân lực
du lịch tỉnh Phú Thọ theo đúng mục tiêu và xu hướng phát triển chung của du lịch trong bối cảnh hiện nay
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
a Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và lịch sử văn hóa cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển trí lực và thể lực của con người Tài nguyên du lịch được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp đáp ứng yêu cầu cho việc sản xuất dịch vụ du lịch Căn cứ vào đặc điểm và lịch sử hình thành, tài nguyên du lịch được phân thành hai nhóm cơ bản, đó là:
Tài nguyên du lịch tự nhiên: gồm các yếu tố, thành phần, các hiện tượng tự
nhiên, các quá trình biến đổi chung hoặc có thể khai thác và sử dụng vào đời sống
và sản xuất của con người Do vậy, mỗi một quốc gia, vùng có điều kiện tự nhiên cụ thể sẽ tạo nên nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên khác nhau mang tính đặc thù Một số yếu tố cơ bản tạo thành nguồn TNDL tự nhiên, đó là:
Trang 2626
- Khí hậu: là yếu tố có tác động liên quan trực tiếp tới trạng thái tâm lý, thể lực của con người, khí hậu càng ôn hòa thì chất lượng của khu vực dành cho hoạt động du lịch càng tốt hơn Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tổ chức
và chất lượng các hoạt động, dịch vụ du lịch Những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưu thích hơn Khí hậu là một trong những nhân tố tác động làm cho hoạt động du lịch mang tính chất màu vụ
- Địa hình: Đối với hoạt động du lịch đặc điểm hình thái địa hình có ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với loại hình du lịch sinh thái, du lịch leo núi, du lịch nghỉ dưỡng Biểu hiện hình thái bên ngoài của tự nhiên được gọi là phong cảnh Khách
du lịch thường thích thú thưởng ngoạn những điểm đến có phong cảnh đẹp hữu tình
và đa dạng, phong phú Các loại hình du lịch ngày càng được khai thác, phát triển
đa dạng, do vậy địa hình núi, đồi và địa hình ven bờ thường có giá trị cao đối với hoạt động du lịch, phù hợp với du lịch leo núi, thám hiểm, du lịch biển vv
- Tài nguyên nước: bao gồm nước mặt như ao, hồ, sông, suối và nguồn nước ngầm Đây là nhân tố quan trọng có ý nghĩa nhiều mặt đối với hoạt động du lịch Nguồn nước khoáng có giá trị chữa bệnh và dưỡng sinh; nước sạch đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của khách du lịch; nước biển tạo nên sức hấp dẫn đối với loại hình du lịch biển Ngoài ra tài nguyên nước còn là môi trường để tổ chức các hoạt động du lịch nước
Tài nguyên du lịch nhân văn: Tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên
được hình thành do con người sáng tạo ra, có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn tích tụ và thể hiện những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi vùng, mỗi quốc gia
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm tài nguyên vật thể và phi vật thể:
Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể gồm: Di sản văn hóa vật thể, các di tích
lịch sử văn hóa, cách mạng, các cổ vật và bảo vật quốc gia, các công trình nghệ thuật kiến trúc
Trang 2727
Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể: bao gồm các lễ hội truyền thống,
làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, văn hóa ứng
xử, phong tục tập quán, thơ can và văn học, văn hóa các tộc người vv
Ngành du lịch có tính định hướng quản lý và khai thác tài nguyên rõ rệt Tính chất và mức độ giá trị của tài nguyên du lịch của mỗi vùng, mỗi quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định quy mô, tính chất, sức hấp dẫn của hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch là căn cứ quan trọng để ngành du lịch xác định quy hoạch, định hướng phát triển vùng du lịch, sản phẩm du lịch
b Các nhân tố về kinh tế, chính trị, pháp luật
Tiềm lực kinh tế: Đó là sự phát triển kinh tế của một nước, từ công nghiệp,
nông nghiệp, xuất - nhập khẩu, giao thông vận tải, tài chính - ngân hàng Kéo theo
nó là sự gia tăng các doanh nhân, những nhà đầu tư, những nhà tiếp thị đến với nước mình Chính nguồn khách này sẽ tiêu dùng các sản phẩm du lịch của ngành du lịch như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ tham quan Một đất nước trong một năm tổ chức được nhiều Hội chợ quốc tế về thương mại, công nghiệp, thì đồng thời cũng là nguồn cung ứng khách du lịch Một bến cảng mà mật độ, khối lượng giao nhận hàng hóa với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lượng khách lên bờ sẽ nhiều và như vậy sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh nhà hàng, khách sạn
Sự ổn định chính trị: Bất cứ một sự xáo động chính trị, xã hội nào, dù lớn
hay nhỏ cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch Ổn định và an toàn là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với du khách và cơ quan cung ứng du lịch Các nước
có nền kinh tế phát triển, chính trị trong nước ổn định, có đường lối hòa nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả mọi người thị nhu cầu đi du lịch của người dân đến các nước khác cũng như thu hút người dân của các nước khác đến du lịch ngày càng tăng Nền kinh tế có nhiều biến động, chính trị bất ổn, đồng tiền lạm phát thì số lượng người dân đi du lịch giảm, người dân của các nước khác đến du lịch cũng giảm
Trang 2828
Đường lối, chính sách phát triển du lịch đúng đắn: Đây là yếu tố rất quan
trọng để phát triển du lịch, bởi lẽ đường lối, chính sách phát triển du lịch xác định
rõ vị trí của ngành du lịch trong tổng thể các ngành kinh tế xã hội và có định hướng, biện pháp đúng đắn để phát triển ngành này
c Nguồn nhân lực du lịch
Con người là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xã hội Con người giữ vai trò quyết định đối với sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm, dịch vụ và năng suất lao động Đối với ngành du lịch, do đặc thù của sản phẩm dịch vụ du lịch không tồn tại dưới dạng vật thể và quá trình tạo ra sản phẩm cũng đồng thời là quá trình tiêu dùng sản phẩm Do vậy, chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc vào sự đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Chất lượng nguồn nhân lực có tính chất quyết định đến chất lượng dịch vụ du lịch và hiệu quả kinh doanh du lịch Các nước có ngành du lịch phát triển thường có nguồn nhân lực chất lượng cao
d Nhân tố quản lý nhà nước về du lịch
Quá trình phát triển của ngành du lịch chịu sự tác động của các quy luật mang tính khách quan, đồng thời vai trò quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng nhằm định hướng cho sự phát triển đó, đảm bảo yêu cầu phát triển du lịch bền vững, phù hợp với điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia Nhà nước xây dựng những định chế để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động du lịch phát triển thuận lợi, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng hình ảnh quốc gia để quảng bá với bên ngoài Phát triển du lịch đòi hỏi cần có
sự phối kết hợp chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều cấp Do đó, quản lý nhà nước có vai trò quan trọng nhằm tạo nên sự đồng bộ, nhất quán trong hành động, là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch bền vững Quan điểm, chính sách và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch phù hợp với thực tiễn có tác động tích cực tới sự phát triển du lịch Quốc gia nào có chính sách đúng đắn, cơ cấu tổ chức bộ máy khoa học, với đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ, am
Trang 2929
hiểu pháp luật du lịch quốc tế, sử dụng tốt các thiết bị khoa học công nghệ sẽ góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch
e Nhân tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch
Cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với du lịch Xây dựng hệ thống mạng lưới giao thông đồng bộ, thuận tiện sẽ tác động tích cực đến sự phát triển du lịch Hạ tầng viễn thông, điện nước có vai trò quan trọng đối với khách du lịch, vì
nó đáp ứng các nhu cầu trực tiếp của du khách
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được tạo ra là yếu tố quan trọng tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách bởi năng lực và tính tiện ích của
nó Bằng sức lao động của mình, con người sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật để khai thác giá trị của tài nguyên du lịch, tạo ra dịch vụ cung ứng cho khách du lịch Tình hiện đại, hấp dẫn của cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch tạo nên sự phong phú, đa dạng
và hấp dẫn của dịch vụ du lịch Một quốc gia muốn phát triển du lịch thì cần có cơ
sở vật chất, kỹ thuật du lịch tốt Vì vậy, có thể nói rằng trình độ phát triển của cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch là điều kiện, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển du lịch của mỗi đất nước
1.1.5 Hiệu quả kinh tế - xã hội của phát triển du lịch
Hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình độ của con người sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt được kết quả với mục đích của mình
Hiệu quả kinh tế: Là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng phản ánh yêu
cầu tiết kiệm thời gian, trình độ sử dụng lực lượng sản xuất và mức độ hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền sản xuất xã hội Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp được dùng để xem xét, lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của con người ở mỗi lĩnh vực và những thời điểm khác nhau Hiệu quả kinh tế là một khái niệm biểu thị mối tương quan giữa kết quả sản xuất kinh doanh và chi phí sản xuất Nếu gọi kết quả là D, chi phí là C và hiệu quả là H, thì H là sự so sánh giữa D và C H có thể bằng: D - C hoặc
H bằng: D/C
Trang 3030
Hiệu quả xã hội: Xét một cách tổng thể thì hiệu quả xã hội chính là hệ quả
của hiệu quả kinh tế, bởi kinh tế du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang tính đặc thù và tính xã hội cao
Ảnh hưởng tích cực: về mặt xã hội, du lịch tạo điều kiện cho con người có được nghỉ ngơi thoải mái, phục hồi sức khoẻ, nâng cao hiểu biết về văn hoá, xã hội, tạo ra công ăn việc làm…đồng thời làm cho các dân tộc trên thế giới đều hiểu biết
và xích lại gần nhau hơn, góp phần củng cố tình hữu nghị giữa nhân dân các nước trên thế giới
Ảnh hưởng tiêu cực: du lịch phát triển làm tăng khả năng phá huỷ các giá trị tài nguyên môi trường Về mặt xã hội có thể dẫn tới sự băng hoại thuần phong mỹ tục và văn hoá dân tộc, các tệ nạn xã hội cũng gia tăng,…
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động du lịch
Nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch sẽ làm tăng thu nhập quốc dân, tăng GDP
Phát triển du lịch di sản sẽ góp phần tạo nên thu nhập quốc dân, làm tăng nguồn thu cho nhà nước do các doanh nghiệp đóng góp từ các hoạt động như sản xuất đồ lưu niệm, chế biến lương thực thực phẩm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,…Khách du lịch cũng có nghĩa vụ phải nộp các loại thuế (trực tiếp và gián tiếp đối với hàng hoá
dịch vụ)
Đối với du lịch nội địa, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch sẽ góp phần tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, tạo cơ sở để phát triển các vùng đặc biệt (vùng sâu, vùng xa) thông qua việc khai thác các giá trị tài
nguyên du lịch tại địa phương
Đối với du lịch quốc tế, nâng cao hiệu quả du lịch sẽ có tác động tích cực tới việc tăng thu nhập kinh tế quốc dân thông qua thu ngoại tệ từ khách du lịch quốc tế, trong chừng mực nào đó có được coi là xuất khẩu của nước đến du lịch Do đó làm cải thiện cán cân thương mại quốc gia, làm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Vì thế, nếu việc phát triển du lịch được duy trì một cách thường xuyên và phù hợp thì
có thể coi đó là một tác nhân giữ ổn định nguồn thu từ xuất khẩu Cùng với các dịch
vụ thu ngoại tệ khác (hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện
Trang 3131
quốc tế,…) du lịch quốc tế hàng năm đem lại cho quốc gia những nguồn thu ngoại
tệ khổng lồ - là một trong những nguồn dự trữ ngoại tệ quan trọng của một quốc gia Đây là tác động trực tiếp nhất của du lịch di sản đối với nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch sẽ tạo ra nhiều hơn nữa cơ hội việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương
Du lịch là một trong những ngành đòi hỏi cao về nguồn nhân lực và tạo ra việc làm tương đối cao so với các ngành khác Số liệu thống kê cho thấy, ở châu Âu trong thập kỉ qua, tốc độ tăng trưởng bình quân việc làm trong ngành du lịch luôn luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành Hơn thế nữa, du lịch không những tạo ra của cải và việc làm cho nội bộ ngành du lịch mà còn cho cả những ngành khác nữa Vào thời điểm nhiều ngành kinh tế phải đối mặt với những khó khăn về tiêu dùng trong nước thì du lịch không những trực tiếp mang lại doanh thu từ xuất khẩu, mà còn gián tiếp tác động đáng kể thông qua chuỗi giá trị to lớn của ngành
Nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch là góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu
Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước hết ở chỗ du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” các loại hàng hoá công nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mĩ nghệ, đồ cổ phục chế, hàng nông-lâm-hải sản,…theo giá bán lẻ cao hơn
so với giá xuất khẩu qua con đường ngoại thương
Du lịch là ngành “xuất khẩu các sản phẩm vô hình”: là cảnh quan thiên nhiên, là khí hậu dễ chịu, là ánh nắng mặt trời vùng nhiệt đới, là giá trị độc đáo của văn hoá truyền thống, của phong tục tập quán,…hấp dẫn du khách khi đến, là lý do kéo du khách vào mỗi lần trở lại
Với hai hình thức xuất khẩu trên, nếu chúng ta biết khai thác và làm thoả mãn nhu cầu của du khách thì sẽ có tác động tích cực trong quảng bá hình ảnh và cho sản xuất của địa phương, đẩy mạnh được việc xuất khẩu dịch vụ, hàng hoá qua con đường du lịch di sản, đem lại lợi nhuận, hiệu quả kinh tế cao, thu hồi vốn nhanh Hiệu quả kinh tế cao của du lịch sẽ thúc đẩy các ngành kinh tế du lịch phục
vụ du lịch phát triển mạnh mẽ
Trang 32Nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch sẽ góp phần phục hồi nền kinh tế sau thời
kỳ khủng hoảng
Khả năng phục hồi là yếu tố quan trọng khi phải đối mặt với giai đoạn khó khăn, thể hiện ở tính linh hoạt, khả năng thích ứng trong khi hoàn cảnh thay đổi và khả năng phục hồi sau khủng hoảng Thực tế trong thập kỉ qua, chúng ta có thể thấy lượng khách du lịch quốc tế chỉ giảm ba lần: năm 2001 (giảm 0,4%) sau sự kiện 11/9, năm 2003 (giảm 1,6%) khi dịch SARS hoành hành và năm 2009 (giảm 3,8%) khi xảy ra suy thoái kinh tế thế giới Điều quan trọng hơn là sau những thời điểm
đó, nhu cầu du lịch tăng trưởng trở lại mạnh mẽ hơn Có thể nói, nếu trong những thời điểm bình thường du lịch có vai trò quan trọng, thì trong thời điểm khủng hoảng du lịch có vai trò sống còn
1.1.6 Đánh giá sự phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh
Cùng với sự phát triển của du lịch cả nước, được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, sự phối hợp của các cấp, các ngành, sự nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn của chính mình, ngành Du lịch của tỉnh đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng
cả về quy mô và chất lượng, từng bước khẳng định vai trò, vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể gắn với thời đại Hùng Vương, trong đó Khu di tích Đền Hùng đã được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt, hát Xoan Phú Thọ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại, Phú Thọ trở thành tỉnh một điểm đến hai
Trang 33Những năm qua, du lịch Phú Thọ đã tập trung đầu tư, khai thác và phát triển trên nhiều phương diện: Cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng, văn hóa - xã hội, nguồn nhân lực, môi trường,… đã đạt được những thành tựu đáng kể: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh du lịch có tốc độ tăng trưởng trên 10% /năm Thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, qua việc
tổ chức các sự kiện lớn như: Giỗ tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng, Chương trình du lịch về cội nguồn, Chương trình Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc, Chương trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây bắc mở rộng, đăng cai Hội khỏe Phù Đổng và các giải thể thao lớn, tham gia các sự kiện Văn hóa, thể dục, thể thao lớn trong nước hình ảnh du lịch Phú Thọ đã để lại ấn tượng tốt đẹp với đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế, bước đầu thu hút sự quan tâm của các nhà đầu
tư đầu tư vào các khu, điểm du lịch Nhờ xác định đúng hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy tốt mọi nguồn lực đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương
và liên kết phát triển các tỉnh bạn, nền kinh tế của Phú Thọ phát triển với tốc độ khá
nhanh và ổn định Trong sự nghiệp phát triển kinh tế có sự đóng góp của hoạt động dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng
1.2 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.2.1 Tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh được biết đến như là một miền đất của các di tích lịch sử, văn hoá Tiêu biểu nhất là chùa đền, đình miếu gắn liền với các lễ hội: đền thờ Kinh Dương
Trang 3434
Vương, đền Đô, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật Tích, đền Bà Chúa Kho, Văn Miếu, hội Lim…Ngoài ra thu hút khách du lịch cần phải kể đến các làng nghề truyền thống: tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, rèn Đa Hội, đồ gõ mỹ nghệ Đồng
Kỵ, gốm Phù Lãng… và đặc biệt một loại hình nghệ thuật làm nên bản sức văn hoá rất riêng của Bắc Ninh là các làn điện dân ca Quan họ đằm thắm, trữ tình đã luôn là nguồn tài nguyên phong phú cho phát triển du lịch của tỉnh Sự kiện văn hóa quan trọng đặc biệt, niềm tự hào của quê hương Bắc Ninh chính là việc UNESSCO công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Với truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, Bắc Ninh có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch với nhiều loại hình phong phú, đa dạng Để thúc đẩy ngành du lịch phát triển, tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng nhiều cơ chế, chính sách tạo sự thông thoáng cho thu hút đầu tư xác dự án vào lĩnh vực du lịch, nhằm tạo ra thế và lực mới cho ngành du lịch Xây dựng chương trình hành động quốc gia về du lịch, khảo sát và điều tra thực trạng tài nguyên du lịch của tỉnh để hoạch định chiến lược khai thác, bảo đảm phát triển du lịch theo hướng bền vững
Ngành du lịch đã chủ động tham mưu với chính quyền tỉnh về đẩy mạnh thu hút đầu tư, khai thác các nguồn vốn phục vụ cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch Nhiều dự án được hoàn thiện và phát huy hiệu quả như xây dựng đường vào khu du lịch Phật Tích, Cổ Mễ; dự án đầu tư xây dựng chùa Hồng Ân - Núi Lim , đây là những điểm có triển vọng thu hút nhiều khách đến tham quan, du lịch
Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được nâng cao với nhiều hình thức, quy
mô được mở rộng nhằm giới thiệu du lịch Bắc Ninh đến với đông đảo du khách trong và ngoài nước Nhiều ấn phẩm du lịch được phát hành, tỉnh đã tổ chức các sự kiện văn hóa, lễ hội mang đậm nét của vùng văn hóa kinh bắc, nhằm tạo sự thu hút khách du lịch thập phương đến với Bắc Ninh
Chính những tiềm năng du lịch, những đầu tư đúng đắn và công tác quảng bá
có hiệu quả đã thu hút một lượng khách rất lớn đến với Bắc Ninh Theo số liệu
thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, lượng khách nội địa và lượng khách quốc
tế đến địa phương tăng mạnh Nếu năm 2001 khách nội địa đến Bắc Ninh là 36.500
Trang 35Theo số liệu thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2007 Bắc Ninh có 119
cơ sở lưu trú với 1.096 buồng , năm 2008 có 139 cơ sở với 1.297 buồng thì đến năm
2011 Bắc Ninh có 221 cơ sở lưu trú với 2.084 buồng và năm 2012 có 268 cơ sở lưu trú với 2.606 buồng
Bên cạnh đó, công tác phát triển số lượng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch cũng được tỉnh quan tâm sâu sát, nội dung bồi dưỡng tập trung sâu vào việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, trình độ ngoại ngữ, do vậy hiện nay lượng du
khách đến với Bắc Ninh ngày một đông Theo số liệu thống kê của Tổng cục du lịch
Việt Nam, lao động trong ngành du lịch của tỉnh năm 2010 là 850 người, 2011 là 1.140 người Số lượng hướng dẫn viên tăng nhanh và số lượng hướng dẫn viên quốc
tế được cấp thẻ cũng mạnh, chủ yếu là sử dụng tiếng Anh
1.2.2 Tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, bao gồm cả tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Hà Giang - mảnh đất nơi địa đầu tổ quốc, nơi có cột cờ Lũng Cú sừng sững, hiên ngang, cao nguyên đá Đồng Văn với những dãy núi đá tai mèo trập trùng Tổng dân số ở Hà Giang trên 730.000 người với 23 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống Mỗi dân tộc ở Hà Giang đều có một nền văn hoá dân gian riêng biệt, độc đáo mang đậm nét văn hoá vùng Đông Bắc Hà Giang có một kho tàng Văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú và quý báu, đặc biệt là được thể hiện qua các loại vật liệu, dụng cụ, nhà ở, trang phục, trang sức, âm nhạc, hát, múa, trò chơi, trò diễn, lễ hội dân gian Xuất phát từ những phong tục tập quán, văn hoá truyền thống của dân tộc thiểu số là một nét đẹp trong
Trang 3636
đời sống văn hoá của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam Chính những nét văn hoá truyền thống ấy đã thôi thúc mỗi con người Việt Nam chúng ta tìm về cội nguồn một cách tận tâm, tận ý Mỗi dòng họ, mỗi tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều có một nét văn hoá độc đáo riêng Đưa các giá trị văn hoá vào phục vụ du lịch là hình thức bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số, góp phần phát triển mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo đối với bà con các dân tộc vùng sâu, vùng xa
Những năm qua, tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi để cho các doanh nghiệp đầu
tư vào lĩnh vực du lịch Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng; tỉnh rất coi trọng công tác quy hoạch phát triển du lịch để khắc phục tình trạng mạnh ai nấy làm, manh mún nhỏ lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp, đan xen giữa công nghiệp và du lịch làm phá vỡ cảnh quan và tác động tiêu cực đến môi trường sống của dân cư và môi trường thiên nhiên
Về xây dựng sản phẩm du lịch, tỉnh trú trọng đến thế mạnh và tính đặc thù của địa phương, coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhờ vậy mà sản phẩm du lịch Hà Giang đã tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước
Tận dụng có hiệu quả những tiềm năng du lịch và có những đầu tư đúng đắn
Hà Giang đã thu hút một lượng khách nội địa và quốc tế khá lớn đến với tỉnh Theo
số liệu thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, lượng khách nội địa và lượng khách quốc tế đến địa phương tăng mạnh Nếu năm 2001 khách nội địa đến Hà
Giang là 14.440 lượt người, 2002 là 21.000 lượt người thì đến năm 2011 là 289.560 lượt người và năm 2012 là 290.950 lượt người Về khách quốc tế đến Hà Giang, nếu năm 2001 là 16.560 lượt khách, 2002 là 21.582 lượt khách thì đến năm 2011 là 40.376 lượt khách và năm 2012 là 126.859 lượt khách Hà Giang đón lượng khách quốc tế tăng đột biến một phần do cao nguyên đá Đồng Văn được công nhận là thành viên của mạng lưới công viên địa chất toàn cầu vào năm 2010
Với lượng khách nội địa và quốc tế tăng mạnh theo các năm, theo số liệu
thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam thì tổng thu từ du lịch của Hà Giang năm
2001 là 39 tỷ đồng, 2002 là 44 tỷ đồng, đến năm 2011 là 337 tỷ đồng và 2012 là
Trang 3737
327 tỷ đồng Với tổng thu này đã góp phần rất lớn trong phát triển chung về kinh
tế-xã hội toàn tỉnh
Để đáp ứng được nhu cầu lưu trú của khách du lịch, số lượng cơ sở lưu trú và
buồng ở tỉnh không ngừng tăng theo từng năm Theo số liệu thống kê của Tổng cục
du lịch Việt Nam, năm 2007 Hà Giang chỉ có 22 cơ sở lưu trú với 749 buồng , năm
2008 có 64 cơ sở với 723 buồng thì đến năm 2011 Hà Giang có 102 cơ sở lưu trú với 1.392 buồng và năm 2012 có 111 cơ sở lưu trú với 1.669 buồng
Về nguồn nhân lực, tỉnh xác định mục tiêu tăng số lượng lao động trong
ngành du lịch Theo số liệu thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, lao động trong
ngành du lịch của tỉnh năm 2000 chỉ có 120 người, 2001 là 300 người, thì đến năm
2011 là 1.038 người, 2012 là 1.042 người Hơn nữa, tỉnh chú trọng bồi dưỡng để tạo
ra nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao, cán bộ quản lý và người lao động trong các doanh nghiệp du lịch phải có trình độ chuyên môn sâu, biết ngoại ngữ, có văn hóa trong giao tiếp, ứng xử, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3 Bài học rút ra cho phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ
Thứ nhất, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách giải pháp để thúc đẩy ngành du lịch phát triển
Khi xây dựng Quy hoạch, kế hoạch cần có những nghiên cứu kỹ và đánh giá
cũng như dự báo toàn diện những nhân tố khách quan, chủ quan và các yếu tố nguồn lực để đưa ra những mục tiêu, chỉ tiêu sát với thực tế và những giải pháp mang tính khả thi để thực hiện các mục tiêu đề ra Trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phải điều chỉnh kịp thời để phù hợp, tương xứng với phát triển kinh tế địa phương, phân đoạn cho từng thời kỳ Hệ thống cơ chế, chính sách cần thông thoáng, nhạy bén tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đầu tư phát triển du lịch cũng như sự hoạt động của khách du lịch
Thứ hai, quan tâm đến công tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch
Trang 3838
Công tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch cần trọng tâm trọng điểm, đúng hướng; xác định chương trình mục tiêu phải phù hợp; cần thiết phải bố trí đủ nguồn lực để phát triển theo chương trình đã được phê duyệt; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất, kỹ thuật như nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, đồng thời Nhà nước và doanh nghiệp cùng thực thi chính sách để tạo nên diện mạo mới cho kết cấu hạ tầng du lịch địa phương
Thứ ba, tạo ra những sản phẩm đa dạng, độc đáo, hấp dẫn và lôi cuốn sự chú
du lịch là một yếu tố khách quan, nhằm phát triển du lịch ở nhiều quốc gia hiện nay
Thứ tư, để phát triển du lịch có chất lượng cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội; đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phát triển du lịch
Cần quan tâm hơn đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên, người lao động trong các doanh nghiệp du lịch và cho người lao động tham gia cung cấp dịch vụ du lịch Các địa phương luôn quan tâm đến công tác này, vì chất lượng nguồn nhân lực du lịch có tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch và chất lượng dịch vụ du lịch, yếu tố có tính chất quyết định tới hiệu quả của kinh tế du lịch
Trong thời gian tới, tỉnh phải quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, từ cán bộ quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp
Trang 3939
đến nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp, cơ sở du lịch, cũng như bồi dưỡng nghiệp vụ văn hóa cho cộng đồng dân cư tại các khu, điểm du lịch tập trung của tỉnh
Thứ năm, cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch của tỉnh
Mục đích của tuyên truyền quảng bá trong kinh doanh du lịch là nhằm cung cấp thông tin cho khách du lịch, làm cho họ nhật thức đúng và đầy đủ hơn các sản phẩm du lịch, đồng thời thuyết phục họ mua sản phẩm Tuyên truyền, quảng bá phải nhằm vào thị trường khách cụ thể để đạt được mục đích ở thị trường đó Như vậy, dựa vào thị trường mục tiêu để xác lập mục tiêu cổ động Cần lựa chọn biện pháp xúc tiến là một trong năm hình thức sau: tuyên truyền, quảng cáo, khuyến mại, chào hàng và xúc tiến bán hàng trực tiếp Trên cơ sở đó xác định được thời gian tiến hành Tỉnh cần tăng cương quảng bá về hình ảnh du lịch của tỉnh, nhất là sau khi
"Hát Xoan Phú Thọ" và "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương" được tổ chức UNESCO vinh danh là di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Thứ sáu, phát triển du lịch cần đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường
Việc phát triển du lịch hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề không thể xem nhẹ: gây tổn hại môi trường, tài nguyên sinh thái ở nhiều vùng, các công trình văn hóa lịch sử, các tệ nạn xã hội Tình trạng rác thải, tắc nghẽn giao thông, cũng là một hiện tượng phổ biến Phân tích theo cặp phạm trù "nhân - quả" giữa du lịch và môi trường, thì du lịch là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và đến lượt du lịch phải chịu hậu quả của môi trường ô nhiễm tác động, hạn chế đến khả năng phát triển của ngành du lịch
Trang 4040
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2006 - 2013 2.1 TIỀM NĂNG, LỢI THẾ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ
a Điều kiện tự nhiên
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, được tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú
Ranh giới tỉnh phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía Đông Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Sơn La; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hòa Bình Diện tích tự nhiên toàn tỉnh khoảng 3.533,4 km2 (chiếm 1,2% diện tích cả nước)
Thành phố Việt Trì, đô thị loại I, là trung tâm hành chính, kinh tế chính trị văn hoá giáo dục của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km và sân bay quốc tế Nội Bài 50 km về phía Tây Bắc Thành phố Việt Trì nằm đối diện với huyện Ba Vì,
Hà Nội qua sông Hồng
Vị trí địa lý đã tạo điều kiện thuận lợi để Phú Thọ liên kết vùng phát triển du lịch Du lịch Phú Thọ giữ vai trò là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, cầu nối du lịch giữa vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, Đông và Tây Bắc; điểm kết nối quốc tế trong hành lang kinh tế Quảng Ninh - Hà Nội - Côn Minh; kết nối tuyến du lịch tâm linh với các tỉnh duyên hải
Điểm nổi bật của địa hình Phú Thọ là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi,
độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, diện tích đồi núi chiếm 64% tổng diện tích tự nhiên, sông suối nhiều (chiếm 4,1%)