Trong quá trình mở cửa hội nhập, xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng ta luôn xác định việc mở rộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
DƯƠNG THANH VĂN
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ ĐỒ GỖ ĐỒNG KỲ, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
DƯƠNG THANH VĂN
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ ĐỒ GỖ ĐỒNG KỲ, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành : Quản lý Kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU i
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề 6
1.1 Những vấn đề cơ bản về làng nghề 6
1.1.1 Khái niệm về làng nghề 6
1.1.2 Phân loại làng nghề 8
1.1.3 Đặc điểm chung của các làng nghề truyền thống Việt Nam 8
1.1.4 Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội 10
1.2 Phát triển bền vững các làng nghề 15
1.2.1 Quan niệm 15
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của làng nghề 16
1.3 Kinh nghiệm và bài học phát triển bền vững làng nghề ở một số tỉnh, thành phố và các huyện trong tỉnh Bắc Ninh 17
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội 17
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở tỉnh Thái Bình 18
1.3.3 Kinh nghiệm phát triển làng nghề các huyện trong tỉnh Bắc Ninh 19
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển làng nghề của một số tỉnh, thành phố và các huyện trong tỉnh 20
Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 22
2.1 Tổng quan về làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 22
2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm dân cư 22
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ 22
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 23
2.2.1 Cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất 23
2.2.2 Vốn đầu tư và công nghệ sản xuất 26
2.2.3 Lao động 27
2.2.4 Nguồn nguyên liệu 28
Trang 42.2.6 Thị trường tiêu thụ 31
2.2.7 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và tỉnh Bắc Ninh liên quan đến phát triển bền vững làng nghề 32
2.3 Thực trạng phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 38
2.3.1 Bền vững về mặt kinh tế 38
2.3.2 Bền vững về mặt xã hội 44
2.3.3 Bền vững trên khía cạnh môi trường 48
2.4 Đánh giá tính chất phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 53
2.4.1 Những mặt đạt được 53
2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 54
2.4.3 Phân tích SWOT đối với sự phát triển của làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ 56
Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 59
3.1 Quan điểm phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ 59
3.1.1 Phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ phải phù hợp với Kế hoạch tổng thể phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh 59
3.1.2 Phát triển bền vững làng nghề Đồng Kỵ phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế 60
3.1.3 Lấy việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân làng nghề làm mục tiêu và động lực để phát triển bền vững làng nghề 61
3.2 Một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững làng nghề Đồng Kỳ 62
3.2.1 Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch 62
3.2.2 Xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn 63
3.2.3 Phát triển thị trường sản phẩm làng nghề 64
3.2.4 Phát triển du lịch làng nghề 67
3.2.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 69
3.2.6 Giải pháp về vốn cho phát triển làng nghề 70
3.2.7 Đổi mới công nghệ, hiện đại hóa kỹ thuật sản xuất 72
3.2.8 Kiểm soát, bảo đảm nguồn nguyên liệu 75
3.2.9 Giải pháp bền vững môi trường 76
3.2.10 Đa dạng hóa các mô hình tổ chức sản xuất của làng nghề 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan:
(1) Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi;
(2) Số liệu trong luận văn được điều tra trung thực;
(3) Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
HỌC VIÊN
Dương Thanh Văn
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để có được Luận văn này, bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc của nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè Nhân dịp hoàn thành Luận văn, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm tạ và biết ơn đến tất cả mọi người
Đầu tiên là Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế, Lãnh đạo khoa Kinh
tế Chính trị; tập thể và cá nhân các thầy cô trong và ngoài khoa: PGS.TS Phạm Văn Dũng, PGS.TS Hoàng Văn Hải, TS Vũ Thị Dậu, TS Phạm Thị Hồng Điệp, PGS TS Phan Huy Đường, PGS.TS Mai Thị Thanh Xuân, TS
Đỗ Tiến Long, TS Đinh Việt Hòa, đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, hướng dẫn và hình thành nên ý tưởng nghiên cứu cho đề tài Luận văn Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn, PGS TS Nguyễn Ngọc Hồi - Tạp chí Quốc phòng toàn dân, người đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện Luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương, Lãnh đạo Vụ Tổ chức Cán bộ cơ quan, Lãnh đạo Văn phòng Ban và các anh chị Phòng Tổng hợp, Văn phòng Ban, nơi tôi công tác, đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian và động viên để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi theo học và hoàn thành khoá học này
Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Học viên
Dương Thanh Văn
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
2 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2 1.2 Số người lao động làm việc tại các doanh nghiệp SXCN,
TTCN trong khu vực ngoài quốc doanh của tỉnh Bắc Ninh 11
4 2.1 Vốn sản xuất nghề mộc của các hộ trong làng Đồng Kỵ 26
6 2.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở một số ngành nghề trọng điểm
7 2.4 Cơ cấu giá trị xuất khẩu một số mặt hàng tỉnh Bắc Ninh 38
9 2.6 Thu nhập bình quân của lao động tại làng nghề Đồng Kỵ 45
10 2.7 Thu nhập bình quân đầu người, đầu hộ làng nghề Đồng Kỵ 45
11 2.8 Các dạng chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất tại
12 2.9 Tỷ lệ mắc các bệnh của người dân đến khám tại làng nghề
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
3 2.3 Thị trường xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ của Đồng Kỵ 41
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với phát triển nông nghiệp và các LN Đây là một trong những nét đặc trưng cơ bản về truyền thống kinh tế, văn hoá, xã hội của nông thôn Việt Nam Nhiều thế hệ người Việt Nam đã lam lũ, không ngừng sáng tạo trong suốt hàng nghìn năm để hình thành một hệ thống LN phong phú mà kết tinh trong nó là những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Trong quá trình mở cửa hội nhập, xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng ta luôn xác định việc mở rộng và phát triển các LN là một trong những nội dung quan trọng của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Đây không chỉ là vấn đề có ý nghĩa trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài trong sự phát triển kinh tế nông thôn Đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Hồng, đất chật, người đông và nhiều làng xã phổ biến là kinh tế thuần nông, thì phát triển LN sẽ là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, đảm bảo cho kinh tế nông thôn PTBV
Đối với Bắc Ninh, phát triển LNTT là bước đi đúng đắn để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và Tỉnh đã đề ra chủ trương khôi phục, phát triển Những năm qua, các LNTT trên địa bàn Tỉnh không những góp phần rất lớn trong việc giải
quyết việc làm (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời
vụ), nâng cao thu nhập cho người lao động, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, mà
còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội ở khu vực nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Từ đó, tạo tiền đề cần thiết cho quá trình CNH, HĐH diễn ra sâu rộng trên phạm vi cả nước Vì vậy, phát triển sản xuất tại các LN là một việc làm rất quan trọng
LNĐG Đồng Kỵ là một trong những LNTT của tỉnh Bắc Ninh Trải qua mấy trăm năm, từ một LNTT chỉ chuyên làm nghề mộc, đến nay, Đồng Kỵ đã trở thành một trung tâm chuyên cung cấp các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ cho thị trường trong nước và xuất khẩu, tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương và các
Trang 11vùng lân cận… Bên cạnh những tác động tích cực, LNĐG Đồng Kỵ cũng như nhiều LNTT khác đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức trong việc duy trì phát triển sản xuất như: nguồn vốn hạn hẹp; công nghệ, thiết bị lạc hậu; khả năng tổ chức quản lý còn hạn chế; trình độ tay nghề của người lao động chưa cao; nguyên liệu đầu vào ngày càng khan hiếm; sự canh tranh gay gắt từ thị trường bên ngoài…, đặc biệt
là tình trạng ONMT ngày càng nghiêm trọng đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự PTBV của LN Vì vậy, khắc phục những yếu tố thiếu bền vững trong quá trình phát triển tại LNĐG Đồng Kỵ cũng như các LNTT khác đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong Tỉnh, cũng như trên địa bàn các LN Thấy được tầm quan trọng của vấn đề đó, học viên quyết định lựa chọn đề tài
“Phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành quản lý kinh tế
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiện nay, việc phát triển các LN ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học Thời gian qua đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về vấn
đề này ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nhỏ của một LN thì
có rất ít những công trình, đề tài đi sâu nghiên cứu và phân tích về thực trạng phát triển của một LN, từ đó đưa ra giải pháp cho sự PTBV của chính LN đó, nhất là một
LN phát triển mạnh như LNĐG Đồng Kỵ
2.1 Nhóm các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp nông thôn và làng nghề nói chung
+ “Các ngành nghề nông thôn Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội (1998)
+ “Làng nghề Việt Nam và môi trường” của Đặng Kim Chi (chủ biên),
Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội (2005)
+ “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh Đồng bằng sông
Hồng” của GS TS Nguyễn Trí Dĩnh, Hà Nội (2005)
+ “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa” của
TS Dương Bá Phương, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (2001)
Trang 12+ “Làng nghề du lịch Việt Nam” của GS TS Hoàng Văn Châu, Nxb Thống
kê, Hà Nội (2007)
+ “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của ThS Bùi Văn Vượng,
Nxb Văn hoá (1998)
+ “Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội
nhập kinh tế thế giới” của TS Nguyễn Văn Hiến, Tạp chí phát triển và hội nhập (số
4 (14), tháng 5 và 6/2012)
+ “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa” của TS Mai Thế Hởn, GS TS Hoàng Ngọc Hoà, PGS TS Vũ Văn Phúc,
Nxb Chính trị Quốc gia (2003)
Các nghiên cứu trên đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về lịch sử phát triển, phân loại LN Việt Nam; hiện trạng KT-XH LN Việt Nam; hiện trạng môi trường các LN; những tồn tại ảnh hưởng tới sự phát triển KT-XH LN Việt Nam ; qua đó,
dự báo xu hướng phát triển và mức độ ONMT do hoạt động LN gây ra trong tương lai Đồng thời, đưa ra hệ thống các giải pháp cho phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về LN trong những năm gần đây mới chỉ đưa ra những vấn đề chung về phát triển cho các LN
mà chưa trực tiếp bàn vấn đề PTBV LN, nhất là LNĐG Đồng Kỵ
2.2 Nhóm các nghiên cứu tình hình phát triển của các làng nghề trong và ngoài tỉnh Bắc Ninh
+ “Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng công nghiệp hóa nông thôn”,
Luận án Tiến sỹ của Lê Văn Hương (2010)
+ “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”,
Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Như Chung (2010)
+ “Làng nghề, phố nghề Thăng Long, Hà Nội” của Bộ Văn hoá Thông tin (2000)
+ “ Làng nghề Hà Tây” của Sở Công nghiệp Hà Tây (2001)
+ “Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An" do Sở Khoa học, Công
nghệ và Môi trường và Hội Văn nghệ Dân gian Nghệ An phối hợp nghiên cứu
Trang 13(PGS TS Ninh Viết Giao chủ biên) (1998)
+ “Điều tra khảo sát làng nghề truyền thống và tìm giải pháp khôi phục phát
triển” do Sở Công nghiệp Nghệ An thực hiện (2001)
+ “Nghề thủ công truyền thống Quảng Ngãi”, Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh (2003)
Các nghiên cứu trên đã phân tích lịch sử hình thành và phát triển của nghề thủ công và tình hình phát triển nghề, LN thủ công truyền thống trên địa bàn các tỉnh, thành phố; giới thiệu một số nghề ở một số địa phương, quy trình và thực trạng sản xuất Các giải pháp đưa ra có đề cập đến cơ chế chính sách mang tính định hướng,
có tác động đến khu vực LN, nhưng chưa tập trung đi sâu nghiên cứu các giải pháp
cụ thể đảm bảo cho sự PTBV các LN
2.3 Nhóm các bài viết , nghiên cứu về tình hình phát triển làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
+ “Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, Bắc Ninh và vấn đề
ô nhiễm môi trường”, Luận văn tốt nghiệp đại học của Lê Thị Thành (2012)
+ “Sự ra đời của nghề mộc và nghề chạm khảm gỗ làng Đồng Kỵ với sự phát
triển du lịch Bắc Ninh”, Luận văn tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thị Hoa (2012)
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu trên các tạp chí, các bài tham luận đề cập đến sự phát triển của LNĐG Đồng Kỵ theo nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chưa có một bài viết nào nghiên cứu sâu, cụ thể dưới dạng luận văn thạc sỹ, luận án khoa học về sự PTBV LNĐG Đồng Kỵ
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTBV LNĐG Đồng
Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự PTBV LNĐG Đồng Kỵ trong thời gian tới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về LN và PTBV LN ở Việt Nam; đồng thời, khảo sát kinh nghiệm PTBV LN ở một số địa phương trong cả nước
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển LNĐG Đồng Kỵ theo hướng bền vững
Trang 14trong những năm gần đây; chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém cùng nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy PTBV LNĐG Đồng Kỵ trong thời gian tới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: PTBV LNĐG Đồng Kỵ
- Phạm vi nghiên cứu: LNĐG Đồng Kỵ nằm trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian khảo sát, đánh giá: từ năm 2006 đến 2013
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic để tiếp cận nghiên cứu cơ sở lý luận PTBV LNĐG Đồng Kỵ; đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, dựa trên các nguồn số liệu, tư liệu thu thập được trong quá trình khảo sát thực tiễn để đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp PTBV LNĐG Đồng Kỵ Luận văn cũng tham khảo những tài liệu của chính quyền và nhân dân địa phương: Ban Quản lý các KCN thị
xã Từ Sơn; UBND phường Đồng Kỵ; các cụ trong Ban Di tích, Ban Khánh tiết phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn được trình bày theo 3 chương, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề
Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ
Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ
Trang 15nhau “Nghề” trong cụm từ “LN” là khái niệm chỉ các hoạt động SXKD phi nông
nghiệp diễn ra tại khu vực nông thôn mà lao động trong các nghề này thường được tách ra từ nông nghiệp với mục tiêu tăng thu nhập
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về LN Có quan niệm cho rằng: “LN
là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy, lấy nó làm nghề sống chủ yếu” Với quan niệm này, LN hiện nay không còn nhiều Có quan
niệm lại cho rằng:“LN là làng có làm nghề thủ công nhưng không nhất thiết tất cả
dân làng đều làm nghề” Với quan niệm này, rất khó xác định thế nào là LN, bởi vì
hầu như ở các làng, xã nước ta đều có nghề thủ công Đề tài Khảo sát một số LNTT
- chính sách và giải pháp (1996) của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học quan niệm:
“LN là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp
ở nông thôn” Quan niệm này mới nêu về mặt định tính, mà chưa nêu được mặt
định lượng của LN GS Trần Quốc Vượng quan niệm: “LN là làng tuy vẫn trồng
trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả, cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công” [16, tr 27] Quan niệm này chưa
Trang 16nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, LN, LNTT Cụ thể như sau:
- Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản
phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc
có nguy cơ bị mai một, thất truyền Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải
đạt 03 tiêu chí: (i) nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (ii) nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; (iii) nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của LN
- LN là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc
hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành
nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau LN được công nhận phải đạt 03 tiêu chí: (i) có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (ii) hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (iii) chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
- LNTT là LN có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời LNTT được
công nhận phải đạt tiêu chí LN và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này Đối với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận LN (theo tiêu chí
(i) và (ii) trên đây) nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo
quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là LNTT
Dựa vào những quan niệm khác nhau về LN cũng như Thông tư quy định nêu
trên, ta có thể đưa ra khái niệm chung về LN như sau: LN là một cụm dân cư sinh
sống trong một làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc, (gọi chung là làng) có hoạt động SXKD các ngành nghề ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương sản xuất và kinh doanh một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng Về mặt định lượng, LN là
làng có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề (thu nhập từ LN chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ); đồng thời, giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương
Trang 171.1.2 Phân loại làng nghề
Có nhiều cách phân loại LN tuỳ theo mục đích nghiên cứu Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
a Phân loại theo lịch sử hình thành và phát triển của các làng nghề
Người ta chia LN thành LNTT và LN mới Đây là cách phân loại phổ biến, hay dùng nhất, trong đó: LNTT là những LN thỏa mãn các điều kiện mà Thông tư 116/2006/TT-BNN quy định [1, tr 2] LN mới là những LN mới hình thành, đặc biệt từ năm 1986 đến nay
b Phân loại theo số lượng nghề của làng
Người ta chia LN thành làng một nghề và làng nhiều nghề Làng một nghề là làng mà ngoài nghề nông có thêm một nghề thủ công chiếm ưu thế tuyệt đối Làng nhiều nghề là làng mà ngoài nghề nông có từ hai nghề thủ công trở lên, hay vừa có thêm nghề thủ công vừa có nghề dịch vụ khác
c Phân loại theo ngành nghề
Người ta chia LN thành LN chế biến lương thực, LN gốm sứ, LN rèn, LN sản xuất vật liệu xây dựng, LN dệt, LN ươm tơ, LN sản xuất đồ gỗ,
1.1.3 Đặc điểm chung của các làng nghề truyền thống Việt Nam
a Luôn gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân, các LN xuất hiện trong các làng xã ở nông thôn với vai trò là các nghề phụ trong các hộ gia đình Sau đó, các nghề TTCN được tách dần nhưng không rời khỏi, mà gắn liền với SXNN Các LN tồn tại song song cùng với hoạt động SXNN, đáp ứng các nhu cầu
cơ bản và thiết yếu của người dân Bên cạnh đó, hoạt động SXNN lại cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho các ngành nghề nông thôn Vì vậy, LN là một yếu
tố không thể tách rời với làng quê và hoạt động SXNN
b Có sản phẩm thủ công truyền thống độc đáo, có tính thẩm mỹ cao, mang đậm bản sắc văn hóa địa phương
Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật, mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi LN Ví dụ, cũng
Trang 18là đồ gốm, nhưng có thể phân biệt được gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) với gốm Thổ Hà (Bắc Giang) và gốm Bát Tràng (Hà Nội), ; bởi chúng mang đặc điểm riêng của mỗi vùng quê
c Có thị trường tiêu thụ tại chỗ
Sự ra đời của các LN là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương Ngày nay phạm vi hoạt động kinh doanh của các LN đã
mở rộng ra phạm vi quốc gia; một số LN đã chủ động tổ chức xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài
d Công nghệ sản xuất lạc hậu là chủ yếu nhưng ngày nay đã kết hợp với công nghệ hiện đại
Công cụ lao động trong các LN thường thô sơ; kỹ thuật sản xuất dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ thủ công là chính Hiện nay, sự kết hợp giữa công nghệ thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại đã được áp dụng tương đối phổ biến, góp phần làm tăng NSLĐ Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các LN ở nông thôn còn lạc hậu Do đó, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và sức cạnh tranh thấp
Bảng 1.1: Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay Trình độ
kỹ thuật (%)
Chế biến nông lâm thủy sản
Thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng
Các ngành dịch vụ
Các ngành khác
Thủ công bán
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)
e Nguyên liệu sản xuất chủ yếu có tại địa phương hoặc vùng lân cận
Nguyên liệu sản xuất chủ yếu của các LN thường có sẵn tại chỗ, đặc biệt là những LN sản xuất sản phẩm tiêu dùng như mây tre đan, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng Ngày nay, cùng với sự phát triển và hội nhập, nhu
Trang 19cầu nguyên liệu lớn, nguồn nguyên liệu tại chỗ của một số LN không đáp ứng được hoặc không có để đáp ứng, nên phương thức cung ứng nguyên liệu cũng có sự thay đổi: từ việc thu gom ở các địa phương khác, đến việc nhập khẩu từ nước ngoài
g Lao động trong các làng nghề phổ biến là lao động thủ công, phương pháp dạy nghề theo phương thức truyền nghề
Hiện nay, lao động của các LN không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng gia đình, dòng họ trong làng mà việc thuê mướn lao động đã phổ biến, hình thành thị trường lao động Lao động trong các LN trước đây được dạy theo phương thức truyền thống trong các gia đình tại phạm vi từng làng từ đời này sang đời khác Hiện nay, nhiều cơ sở kinh tế nhà nước, HTX làm nghề truyền thống đã tổ chức các lớp dạy nghề tập trung Ngày nay, việc phát triển mạnh kinh tế tư nhân và hộ gia đình đã phục hồi phương thức dạy nghề theo cách truyền nghề, thợ cả kèm cặp thợ phụ và thợ học việc
h Hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề chủ yếu là hộ gia đình
Hình thức tổ chức SXKD tại các LN rất đa dạng, phong phú, đan xen nhau, gồm: Hộ thuần nông; hộ kiêm nghiệp; hộ chuyên nghiệp; tổ hợp tác, HTX TTCN hoặc HTX nông nghiệp có kinh doanh TTCN; doanh nghiệp kinh doanh TTCN
(DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần ); trong đó, loại hình hộ gia đình vẫn
chiếm ưu thế
Các tổ hợp tác và HTX chủ yếu đáp ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra, còn sản xuất
do các hộ gia đình đảm nhận Các doanh nghiệp là hạt nhân liên kết các hộ gia đình
và HTX kinh doanh ngành nghề TTCN ở nông thôn bằng các hoạt động nghiên cứu thị trường, quảng bá thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm, nhất là xuất khẩu; thiết kế mẫu
mã hay nhận sản xuất theo mẫu mã, cung ứng vật tư, đặt hàng gia công cho các HTX, hộ gia đình, đầu tư nhà xưởng, thu gom, đóng gói sản phẩm [6, tr 12-19]
1.1.4 Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội
LN là một mô hình kinh tế có từ lâu đời ở nước ta Vai trò to lớn của LN không chỉ thể hiện ở chỗ giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu KT-XH
Trang 20nông thôn, mà còn góp phần lưu giữ, phát triển những giá trị truyền thống của sản phẩm LN, làm rạng rỡ văn hóa Việt trong khu vực và trên thế giới
a Thu hút nhân lực, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông thôn
Tại khu vực nông thôn hiện nay, số người trong độ tuổi có khả năng lao động
là 32 triệu người [15, tr 33] nhưng khoảng hơn 1/4 thời gian lao động của họ chưa được sử dụng Vì vậy, phát triển LNTT có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động Trong các ngành nghề thủ công truyền thống, lao động sống thường chiếm tỷ lệ tới 60-65% giá thành sản phẩm, nên việc phát triển các LN sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động đang ngày càng dư thừa ở nông thôn Hiện nay cả nước có 961 xã có LN Các LN đã thu hút 327 nghìn hộ và 767 nghìn lao động thường xuyên Bình quân một LN có 248
hộ và 580 lao động [15, tr 28-29] Nhiều LN đã thu hút trên 60% lao động vào các hoạt động ngành nghề [21, tr 7], chẳng hạn như các LN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
thể hiện ở Bảng 1.2 dưới đây
Bảng 1.2: Số người lao động làm việc tại các doanh nghiệp SXCN, TTCN
trong khu vực ngoài quốc doanh của tỉnh Bắc Ninh
TT Huyện, Thị,
Thành phố
Công ty TNHH DNTN HTX
Người lao động
Trang 21Với sự phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn, thu nhập của người nông dân ngày càng được nâng cao từ sản xuất hàng hoá, đã thu hút một bộ phận
lớn nông dân chuyển hẳn sang hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp; kéo theo đó
là sự phát triển của nhiều ngành nghề dịch vụ khác, tạo được nhiều việc làm cho
người lao động Số hộ nông thôn cả nước năm 2011 là khoảng 15,34 triệu hộ; trong
đó, số hộ làm nghề trong lĩnh vực nông lâm thủy sản là 9,53 triệu hộ, số hộ làm nghề trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ đạt 5,13 triệu hộ Trên phạm
vi cả nước trong giai đoạn 2001-2011, số hộ nông lâm thủy sản cứ qua 5 năm lại giảm đi khoảng từ 9-10%, còn khu vực công nghiệp xây dựng tăng ở mức 4,5-5%, khu vực dịch vụ tăng chậm hơn ở mức từ và 3,5-4,5% [15, tr 31-32]
Bảng 1.3: Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn qua 3 ngành nghề chia theo vùng KT-XH tại 3 kỳ tổng điều tra các năm 2001, 2006 và 2011
Đơn vị tính (%)
Cả nước
Nông lâm thủy sản CN xây dựng DV
2001 2006 2011 2001 2006 2011 2001 2006 2011 79,61 70,41 59,59 7,36 12,46 18,40 11,51 15,95 20,52
ĐBSH 77,26 60,48 42,63 10,50 20,36 31,26 11,67 18,31 25,18 Trung du
MNPB 91,15 86,50 79,74 2,27 4,33 8,48 6,33 8,81 11,47 Bắc Trung Bộ
DHMT 80,28 71,95 62,64 6,93 11,16 15,52 11,36 15,73 20,47 Tây Nguyên 91,94 88,38 85,28 1,55 2,52 3,04 6,22 8,84 11,42 ĐNB 58,46 49,06 36,07 16,06 23,37 31,45 20,02 24,43 28,5 ĐBSCL 79,23 71,81 62,17 7,83 9,74 14,33 12,64 16,89 21,33
(Nguồn: Tổng Cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các LN, các hộ ngành nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn đã có tác dụng tích cực đến quá trình phát triển KT-
Trang 22XH và ngày càng trở thành động lực thúc đẩy quá trình phân công và chuyển dịch
cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH
b Góp phần tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống nông thôn
Các hoạt động ngành nghề được xem như đầu máy của sự tăng trưởng, tạo việc làm mới, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho bản thân người lao động cũng như mỗi gia đình và cả cộng đồng; thu nhập và tích luỹ của hộ nông thôn tăng lên Đến năm 2011, vốn tích luỹ bình quân một hộ nông thôn đạt 17,4 triệu đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2006 Nếu loại trừ yếu tố trượt giá, thì vốn tích lũy bình quân một
hộ nông thôn năm 2011 tăng khoảng 41% so với năm 2006, cao hơn mức tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời kỳ 2006-2011 (gần 40%) [3, tr 34-35] Có những LN đạt thu nhập cao như làng gốm Bát Tràng: bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt 10-20 triệu đồng/năm, các hộ trung bình đạt 40-50 triệu đồng/năm, còn các hộ có thu nhập cao đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm Thu nhập từ nghề sứ của Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn xã [4, tr 18] Thu nhập tăng là điều kiện để đẩy lùi đói nghèo, kéo gần hơn khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị Đời sống ở khu vực nông thôn được cải thiện là điều kiện góp phần củng cố CSHT nông thôn Đây là một trong những mục tiêu và yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
c Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Phát triển ngành nghề nông thôn, LN chính là con đường chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển từ lao động nông nghiệp thu nhập thấp sang lao động ngành nghề chất lượng cao với thu nhập cao hơn
Với việc phát triển các nghề, các LNTT, các doanh nghiệp nhỏ và các ngành nghề ở nông thôn, một mặt, tạo việc làm, tăng thu nhập và sức mua cho người dân ở nông thôn; mặt khác, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường lao động trong nông thôn
d Góp phần gia tăng giá trị sản lượng của địa phương
Tại các LN, giá trị sản lượng TTCN chiếm đến 60-80% tổng GDP của địa phương, góp phần làm cho tổng số GDP được tạo ra ở địa phương tăng lên Ví dụ
Trang 23như ở Bắc Ninh, năm 2009, giá trị sản phẩm của các LN trong Tỉnh đạt 260 tỷ đồng, chiếm gần 3/4 tổng giá trị SXCN ngoài quốc doanh Riêng làng Đồng Kỵ đạt
30 tỷ đồng/năm, làng sắt Đa Hội đạt trên 36 tỷ đồng/năm
e Góp phần huy động, sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong dân
Các LN phát triển góp phần huy động vốn nhàn rỗi trong dân Hiện nay, chưa
có một thống kê chính thức nào về nguồn vốn có sẵn trong dân Theo Báo cáo về tình hình KT-XH năm 2012 của Tổng Cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy
mô nền kinh tế cả nước đạt 136 tỷ USD với thu nhập bình quân đầu người hằng năm đạt trên 1.540 USD Giả sử chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu chiếm khoảng 12-15% tổng số thu nhập bình quân của 1 người dân, tức là mỗi người dân trung bình một năm tiết kiệm được 185-231 USD, thì với số dân 90 triệu người, mỗi năm
số vốn nhàn rỗi ước đạt 16,7-20,8 tỷ USD Đây là một con số khẳng định tiềm năng
to lớn về nguồn vốn có thể huy động trong dân cư Tuy nhiên, theo thống kê thì
mức độ huy động vốn nhàn rỗi trong dân mới chỉ đạt 36% (17% từ tiền gửi tiết kiệm
và 19% đầu tư ngắn hạn) tổng số vốn hiện có; còn lại 44% dùng để mua vàng,
ngoại tệ với mục đích để dành và 20% để mua nhà đất nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt Ngành nghề nông thôn phát triển là một biện pháp rất tốt nhằm huy động những nguồn vốn này vào sản xuất Thực tế ở LN, hầu hết các đơn vị sản xuất đều
có nhu cầu vay thêm vốn để mở rộng sản xuất bởi họ đã tận dụng toàn bộ nguồn vốn nhàn rỗi của mình để sản xuất Điều đó cho thấy rằng, phát triển kinh tế LN là một giải pháp sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, phát huy sức mạnh của kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình
g Góp phần ổn định kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Xuất phát từ chỗ có việc làm, có thu nhập ổn định, LN sẽ hạn chế những tệ nạn
xã hội, ổn định an ninh trật tự Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng LN phát triển đem lại cho người dân cơ hội làm giàu trên mảnh đất mình sinh sống và làm giảm đi gánh nặng cũng như sức ép cho đô thị Việc phát triển kinh tế LN góp phần nâng cao đời sống văn
Trang 24hoá tinh thần cho dân cư Các sản phẩm được tạo ra là sự kết tinh, bảo lưu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh truyền thống của dân tộc Việt Nam Nhiều LN có sản phẩm mang tên địa phương đã làm vẻ vang cho dân tộc, như: tơ lụa Hà Đông, gốm Bát Tràng, đồ gỗ Đồng Kỵ Trong các LNTT thường có phong tục thờ ông tổ nghề và có ngày hội làng, hội nghề Đây là một nét văn hoá riêng độc đáo của người Việt Nam mà qua các LN, ta có thể hiểu thêm được văn hoá nghề, văn hoá sống của con người Việt Nam Đẩy mạnh phát triển LN cũng là một cách giữ gìn và phát huy một bộ phận của nền văn hoá dân tộc
1.2 Phát triển bền vững các làng nghề
1.2.1 Quan niệm
Trên cơ sở lý luận và quan điểm về PTBV, phát triển LNTT là một bộ phận trong chiến lược PTBV của đất nước, được đặt ra trong khuôn khổ quan niệm về PTBV đất nước có chú ý tới những yếu tố đặc thù của các LN; đảm bảo yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu sản xuất đảm bảo hợp lý, có hiệu quả, nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ONMT, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Theo đó, có thể đưa ra quan niệm PTBV LN là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế
ổn định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân LN, gắn liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội của LN như: việc làm, thu nhập và sức khỏe của người dân, gắn với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống của LN
Với quan niệm này, nội dung PTBV LN cũng phải tuân theo các yêu cầu của
sự PTBV nói chung Đó là:
Thứ nhất, bảo đảm duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động
SXKD và dịch vụ của bản thân LN, bao gồm: các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế trong hoạt động SXKD, khả năng cạnh tranh
Thứ hai, cùng với đà tăng trưởng của hoạt động SXKD và dịch vụ, những vấn
đề xã hội cũng phải từng bước được giải quyết Đó là các vấn đề về việc làm cho người lao động, chênh lệch giàu nghèo, mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục của người dân, sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội của LN
Trang 25Thứ ba, cải thiện tình trạng ONMT LN, nhất là tình trạng hiệu ứng nhà kính,
rác thải, nước thải, khí thải từ các hoạt động SXKD và dịch vụ của LN
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của làng nghề
1.2.2.1 Tăng trưởng kinh tế Đó là sự gia tăng về quy mô sản lượng nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định Để đánh giá sự PTBV của LN, có thể sử dụng một
số tiêu chí sau:
- Sự gia tăng giá trị sản xuất tại các LN, thường được thể hiện qua chỉ số
GDP Yêu cầu PTBV đòi hỏi mức tăng trưởng GDP phải ổn định
- Thị trường và chất lượng sản phẩm Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao và
ổn định thì cần có thị trường tiêu thụ lớn và ổn định Do đó, thị trường và chất lượng sản phẩm chính là chìa khóa cho sự PTBV của các LN
- Vốn: Tại các LN vốn sản xuất thường là tự có của các gia đình hoặc các CSSX
nhỏ, nên quy mô vốn của bản thân LN cũng là yếu tố quan trọng đảm bảo sự PTBV
- Lực lượng lao động có tay nghề cao là một yếu tố tác động rất nhiều đến chất
lượng sản phẩm Lao động trong LN thường chủ yếu là lao động thủ công, nên trình
độ tay nghề của lao động đóng vai trò rất quan trọng đối với chất lượng sản phẩm
và sự PTBV của LN
1.2.2.2 Đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội
Tiến bộ và công bằng xã hội là một trong những nhân tố cơ bản của phát triển,
là mục tiêu cuối cùng của đường lối, chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước
ta phấn đấu thực hiện Đối với LN nông thôn có thể đánh giá vấn đề này theo một
số tiêu chí cơ bản sau:
- Mức độ giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân: Thu nhập
bình quân là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá và là tiền đề để nâng cao mức sống của người dân Chỉ khi có việc làm, con người mới có thu nhập, có cơ hội để phát triển toàn diện, tự đáp ứng những nhu cầu cơ bản và những nhu cầu chất lượng cao
- Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong LN và giữa thành thị với nông thôn
Đây là mục tiêu của tiến bộ và công bằng xã hội Sự phát triển LN được xem là bền vững khi mục tiêu này từng bước được thực hiện cùng quá trình tăng trưởng kinh tế;
Trang 26biểu hiện ra ở mức thu nhập ổn định và cao so với lao động thuần nông; khoảng cách giàu nghèo ngay trong LN và giữa thành thị và nông thôn từng bước được thu hẹp
- Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn: LNTT thường lưu giữ các dấu ấn văn
hóa dân tộc rất sâu sắc Sự PTBV LN đòi hỏi bảo tồn các giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của dân cư LN
1.2.2.3 Bảo vệ môi trường
Để đánh giá sự PTBV LN, cần phải quan tâm đến việc cải thiện môi trường, khắc phục tình trạng ONMT tại các LN theo 4 loại cơ bản sau:
- Môi trường không khí: Để tính mức độ ô nhiễm không khí tại các LN, người ta
có thể đo nồng độ bụi trong không khí, các loại khí độc hại (CO, NO2, SO2, H2S, NH3)
- Môi trường nước: Mức độ ONMT nước tại các LN thường được phân tích
qua các thông số nồng độ PH (mg/l), BOD5 (mg/l), SS (mg/l), tổng khí Nitơ (mg/l), tổng Phốt pho
- Các chất thải rắn: Ở các LN thủ công mỹ nghệ, chất thải rắn thường là các
đầu mẩu mây, tre, nứa; còn các LN SXCN thì chủ yếu là xỉ than, các sản phẩm bị hỏng và rơi vãi trong quá trình sản xuất Ngoài ra, các LN sản xuất đúc đồng, trạm khảm, rác thải sản xuất thường là mạ sắt, sắt vụn
- Ô nhiễm tiếng ồn: sản xuất thường gây ra tiếng ồn lớn do trình độ khoa học
kỹ thuật ở các LN còn lạc hậu Hiện nay, phần lớn các LN nằm xen kẽ trong khu dân cư nên tiếng ồn gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Người ta thường đo chỉ tiêu mức ồn tương đương bằng đơn vị dBA- đề xi ben A
1.3 Kinh nghiệm và bài học phát triển bền vững làng nghề ở một số tỉnh , thành phố và các huyện trong tỉnh Bắc Ninh
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội
Hà Nội với vị trí là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước, được coi là
“mảnh đất trăm nghề” với nhiều LN nổi tiếng như đúc đồng Ngũ Xá, gốm sứ Bát
Tràng, lụa Vạn Phúc Sự phát triển các LN ở Hà Nội đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động ở nông thôn, đóng góp khá lớn cho GTSXCN, TTCN toàn Thành phố Có nhiều doanh nghiệp LN đạt kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ 1 triệu USD
Trang 27trở lên, như: các công ty TNHH mây tre đan Yên Trường, Tiến Động, và có 9 LN
có doanh thu đạt 50 tỉ đồng/năm trở lên, trong đó đồ gỗ mỹ nghệ Vạn Điểm (huyện Thường Tín) đạt doanh thu 105 tỉ đồng/năm; dệt kim, bánh kẹo La Phù (huyện Hoài Đức) đạt doanh thu 340 tỉ đồng/năm Để tạo điều kiện cho LN phát triển theo hướng bền vững, thành phố Hà Nội đã thực hiện tốt những chính sách sau:
- Thông qua các quỹ khuyến công quốc gia, quỹ khuyến công của Thành phố
để hỗ trợ chính quyền các địa phương mở các lớp truyền nghề, dạy nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động
- Tập trung tuyên truyền giúp đỡ các doanh nghiệp LN, cá nhân khởi sự doanh nghiệp, lập dự án xin đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, huy động vốn, xin ưu đãi đầu tư, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu và các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật; hướng dẫn tư vấn CSSX nông nghiệp nông thôn đổi mới và ứng dụng tiến bộ KH-CN nhằm vừa nâng cao năng lực sản xuất, vừa hạn chế tình trạng ONMT
- Quy hoạch phát triển LN, xây dựng các điểm nông nghiệp LN,… nhờ đó có thể đảm bảo cho các LN bảo tồn và phát triển, gắn với việc kiểm soát ONMT
- Thường xuyên tổ chức hội chợ, triển lãm nhằm quảng bá sản phẩm trong và ngoài nước
- Có chính sách phát triển DLLN tốt Thành phố Hà Nội đã tận dụng và phát triển tốt các dịch vụ DLLN, tạo thêm việc làm cho người dân tại LN và mang về thu nhập không nhỏ
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở tỉnh Thái Bình
Tính đến năm 2008, cả 285 xã, phường, thị trấn của Thái Bình đều có các hoạt động ngành nghề; trong đó, 125 xã có LNTT tồn tại từ lâu đời, xen kẽ với những làng có nghề mới, như: đan túi sợi, sản xuất lưỡi câu, đan lưới ni lông, chiếu trúc,
đá mỹ nghệ Thống kê năm 2006, hoạt động nghề và LN đã tạo việc làm cho hơn 163.000 người, thu nhập bình quân đầu người ổn định từ 450-500 nghìn đồng/tháng Hàng trăm doanh nghiệp đã xuất hiện, góp phần làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực Năm 2000, cơ cấu kinh tế của tỉnh là nông
Trang 28nghiệp 53%, công nghiệp xây dựng 14,75%, thương mại dịch vụ 31,5%, đến năm
2006 tương ứng là 40%, 25,59% và 34,5% Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2000 là 3,19%, đến năm 2007 tăng lên 11,51% [26] Để có được những kết quả trên, tỉnh Thái Bình đã đưa ra một số giải pháp khuyến khích phát triển LN theo hướng PTBV Cụ thể như sau:
- Chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động, khuyến khích tư nhân
và các tổ chức xã hội mở cơ sở đào tạo nghề cho nông dân
- Xây dựng hệ thống cơ chế chính sách đầu tư thông thoáng để tạo sức hút đầu
tư, lựa chọn đầu tư phát triển những ngành nghề có công nghệ phù hợp với khả năng, trình độ của người lao động và không làm hại môi trường
- Thông qua các tổ chức chính trị-xã hội phát động các phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và khắc phục ONMT, như: cho vay vốn, phổ biến kinh nghiệm sản xuất, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới
1.3.3 Kinh nghiệm phát triển làng nghề các huyện trong tỉnh Bắc Ninh
Các LN ở Bắc Ninh hình thành và phát triển từ lâu đời, hoạt động ở hầu hết các ngành kinh tế chủ yếu GTSX của các LN tăng nhanh, luôn chiếm từ 75-80% GTSXCN ngoài quốc doanh và khoảng 30% GTSXCN trên địa bàn toàn Tỉnh Đến năm 2004, Tỉnh đã quy hoạch và đầu tư xây dựng 21 CCN LN Hiện nay, toàn Tỉnh có
62 LN và đặc biệt là có những LN phát triển rất mạnh như LN sản xuất sắt thép Đa Hội, LN sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Để các LN PTBV, ngoài việc thực hiện các
chính sách của Tỉnh thì các huyện còn có những giải pháp riêng hỗ trợ LN PTBV như :
- Huyện Gia Bình cho vay vốn phục vụ sản xuất, nhất là với hộ nghèo
- Huyện Yên Phong xây dựng và tích cực thực hiện Đề án khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, triển khai Đề án xây dựng CCN tập trung ở Phong Khê, Văn Môn, Tam Đa và Đề án cơ giới hoá sản xuất Huyện tiếp tục triển khai thực hiện Đề án khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, đưa nghề mới vào địa phương, củng cố và phát triển các LN theo hướng mở rộng quy mô và đổi mới
kỹ thuật công nghệ, đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm, gắn SXKD với BVMT, triển khai quy hoạch, xây dựng 2-3 CCN vừa và nhỏ đa nghề
Trang 29- Huyện Thuận Thành vừa duy trì hoạt động các ngành nghề truyền thống, vừa xây dựng một số chương trình, đề án, như: xây dựng CCN Dâu, phát triển dâu tơ tằm, chỉ đạo ngành ngân hàng phối hợp với Hội Nông dân thành lập các tổ vay vốn tại 100% thôn xóm với thủ tục đơn giản
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển làng nghề của một
số tỉnh, thành phố và các huyện trong tỉnh
- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành các chủ trương, chính sách thiết thực, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
để khuyến khích phát triển nghề ở nông thôn
- Chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động, khuyến khích mở cơ sở đào tạo nghề cho nông dân, phát triển nghề và chương trình cấy nghề mới
- Phải xây dựng quy hoạch phát triển LN và tổ chức tốt công tác triển khai thực hiện quy hoạch; trong đó, đặc biệt chú ý quy hoạch khu vực xử lý rác, nước thải
- Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương và các tổ chức nước ngoài, huy động nguồn đóng góp của các tổ chức kinh tế trong nước hỗ trợ các chương trình,
- Kết hợp phát triển du lịch với LN
- Cần hỗ trợ, tư vấn cho các doanh nghiệp LN tìm kiếm mặt bằng sản xuất, xin
ưu đãi đầu tư, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu
Thông qua kinh nghiệm của các địa phương này, Đồng Kỵ có thể rút ra một số bài học cho mình trong vấn đề phát triển LN; trong đó, bài học quan trọng đầu tiên
là phải đánh giá đúng vai trò của ngành nghề ở khu vực nông thôn Bên cạnh đó,
cần quan tâm giải quyết một số khó khăn chung của các LN: Một là, đưa các ngành
Trang 30nghề phi nông nghiệp vào sản xuất phải xuất phát từ nhu cầu thị trường Hai là, việc
đổi mới công nghệ sản xuất phải giải quyết đồng bộ các vấn đề về vốn, lao động,
năng lực tiếp nhận khoa học, kỹ thuật, giá thành sản phẩm, Ba là, vốn đầu tư cho sản xuất, cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước Cuối cùng là vấn đề ONMT do sản
xuất TTCN Để giải quyết triệt để những vấn đề này, cần sự nỗ lực không chỉ của bản thân các CSSX mà còn cần sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nước Đây là những bài học cần nghiên cứu để phát triển LNTT ở Đồng Kỵ
Kết luận chương 1 PTBV LN là xu thế tất yếu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn hiện nay Nội dung PTBV LN phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về PTBV nền kinh tế nói chung Đó là phải giải quyết hài hòa 3 lĩnh vực: tăng trưởng kinh tế; đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT trong quá trình phát triển LN Theo hướng đó, nhiều tỉnh và huyện bạn đã có các biện pháp hỗ trợ hiệu quả sự PTBV các LNTT Khảo sát, nghiên cứu các chính sách và giải pháp đã thực thi trong phát triển LN ở một số tỉnh và huyện bạn, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm bổ ích, nhằm thúc đẩy sự PTBV của LNĐG Đồng Kỵ thời gian tới
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ ĐỒ GỖ ĐỒNG KỲ 2.1 Tổng quan về làng nghề đồ gỗ Đồng Kỳ
2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm dân cư
LN Đồng Kỵ thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nằm trên đường Nguyễn Văn Cừ; có vị trí khá thuận lợi: cách trung tâm thành phố Bắc Ninh 12 km, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km Về địa giới hành chính, làng Đồng Kỵ có phía Đông giáp phường Đồng Nguyên, phía Tây giáp xã Phù Khê, phía Nam giáp phường Trang Hạ và phía Bắc giáp xã Hương Mạc
Trước 1997, Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang (gồm 3 thôn Bính Hạ, Trang Liệt, Đồng Kỵ), huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc Sau tái lập tỉnh, từ 1997 đến tháng 8/1999 thuộc xã Đồng Quang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Từ tháng 9/1999 thuộc xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Năm 2008, theo quyết định thành lập thị
xã Từ Sơn, xã Đồng Quang chia tách thành phường Trang Hạ và phường Đồng Kỵ Trước khi thành lập phường Đồng Kỵ, làng Đồng Kỵ gồm có 5 xóm: xóm Bằng, xóm Giếng, xóm Đột, xóm Tư, xóm Nghè Nay gồm có 7 khu phố chính: phố Thanh Bình (xóm Bằng), phố Đồng Tâm (xóm Tư), phố Đại Đình (xóm Đột), phố Nghè (xóm Nghè), phố Thanh Nhàn (xóm Giếng), phố Tân Thành và khu Đồng Tiến (Ba gò) Ngoài ra còn có 02 KCN và khu dân cư nhỏ
Hiện nay, Đồng Kỵ đang diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng, diện tích tự nhiên của Đồng Kỵ có khoảng 334,29 ha, trong đó: đất nông nghiệp là 199,04 ha; đất phi nông nghiệp là 132,84 ha; đất chưa sử dụng là 2,41 ha Tỷ lệ tăng dân số hằng năm của làng nhanh, đặc biệt trong những năm 80-90 thế kỷ XX, tốc độ tăng dân số trung bình khoảng 3% Tính đến hết năm 2012, tổng số hộ dân của Đồng Kỵ
là 3.271 hộ với 16.880 người
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ
Ðồng Kỵ là LN có bề dày truyền thống về sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ từ hàng
trăm năm qua Nơi đây đã hình thành một làng “bách nghệ” mà nổi bật nhất là nghề
mộc, chạm khảm đồ gỗ mỹ nghệ Theo các cụ cao niên trong làng, nghề mộc ở làng
Trang 32Đồng Kỵ đã có khoảng trên 300 năm tuổi Khi đó, cả làng mới chỉ có 36 suất đinh,
và đó cũng chính là 36 người thợ tạo nên ngôi đền cổ hơn 300 năm tuổi của làng, được làm bằng gỗ với những đường nét chạm khắc tinh xảo Nghề mộc và các nghề dệt, xây, khi đó cũng chỉ là nghề phụ của làng, nghề chính vẫn là nghề nông Các dòng họ trong làng từ đời này qua đời khác vẫn có sự truyền lại các bí quyết riêng
về nghề mộc của họ mình
Từ đầu năm 1990, khi nền kinh tế đất nước chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì LN Đồng Kỵ đã nhanh chóng mở các CSSX ngay tại làng với vài trăm hộ SXKD Đến cuối thế kỷ XX, đã có hơn 90% số hộ trong làng và gần 20 doanh nghiệp tổ chức làm gỗ Thị trường tiêu thụ là các thành phố, thị xã trong nước và xuất khẩu sang một số nước láng giềng như Trung Quốc, Campuchia, Lào
Sang thế kỷ XXI, tốc độ phát triển TTCN, dịch vụ LN của địa phương càng nhanh và mạnh Khi LN ngày một phát triển thì mô hình kinh tế hộ gia đình trở nên chật hẹp, không đáp ứng được nhu cầu đi lên của LN Nhiều gia đình trong làng đã chuyển từ sản xuất quy mô nhỏ thành các công ty với quy mô lớn Sự phát triển nghề thủ công mỹ nghệ đi vào cao điểm khi dự án KCN được xây dựng tại địa phương vào năm 2000 Ngay sau đó, nhiều công ty đồ gỗ Ðồng Kỵ ra đời Nếu năm 1996, cả Ðồng Kỵ chỉ có vài công ty thì hiện nay, đã có 2.691 hộ (chiếm 83%) với hơn 8.000 lao động cùng gần 200 công ty và HTX tham gia sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
Mặc dù chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008, nhiều HTX, doanh nghiệp phải đóng cửa, nhưng nhờ có chính sách kích cầu kịp thời của Chính phủ, các doanh nghiệp đã chủ động đưa ra biện pháp ứng phó để
khôi phục và phát triển LN Vào thời điểm hiện nay, LN Đồng Kỵ đã thực sự "sôi
động" trở lại Từ đầu năm 2010 đến nay, do sức mua của thị trường tăng nên lượng
hàng tiêu thụ cũng tăng từ 20% đến 40% Đây là một tín hiệu khả quan cho các HTX, doanh nghiệp, hộ cá thể và người lao động
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của làng nghề đồ
gỗ Đồng Kỳ
2.2.1 Cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất
Trang 332.2.1.1 Cơ sở hạ tầng
Đồng Kỵ nằm ở điểm giữa của thành phố Hà Nội và Bắc Ninh; cách không xa các trục đường giao thông chính của Tỉnh: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1B, đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn, Quốc lộ 5 nên giao thông rất thuận lợi
Là một địa phương trong tỉnh Bắc Ninh, nằm ở vùng kinh tế trọng điểm, nên
LN Đồng Kỵ có hệ thống CSHT tương đối hoàn chỉnh so với mặt bằng chung cả nước: hệ thống đường liên xã, đường vào làng đã được đầu tư nâng cấp và làm mới thành đường hai làn xe rộng rãi; đường trong làng cũng đã được rải nhựa, bê tông hóa, ô tô có thể vào tận nơi; hệ thống cầu cống đã được làm mới Các KCN mới và khu dân cư mới đều có hệ thống trục đường rộng rãi Các khu phố đều xây dựng nhà văn hóa khang trang Hệ thống viễn thông và 6 trạm điện có công suất 250-320 KVA đến từng thôn xóm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho trên 15.000 dân CSHT phục vụ cho hệ thống giáo dục và hệ thống y tế tương đối đầy đủ: 01 trạm y tế với đội ngũ y bác sỹ đã được đào tạo chuyên môn tốt, 01 trường trung học cơ sở, 02 trường tiểu học và 5 nhà trẻ mẫu giáo Bên cạnh đó, có một số trường cao đẳng, đại học có trụ sở trên địa bàn thị xã Từ Sơn, rất gần trung tâm Phường, như: trường Đại học Thể dục thể thao I, trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà, trường Cao đẳng thuỷ sản và trường Cao đẳng công nghiệp Hưng Yên Hiện nay, UBND tỉnh Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn đang từng bước thực hiện Dự án nhà máy xử lý nước thải thị xã Từ Sơn tại khu phố Trịnh Nguyễn, phường Châu Khê; dự kiến đến năm 2015 làm nhiệm vụ thu gom, xử lý nước thải cho 7 phường, trong đó có phường Đồng Kỵ Mặc dù CSHT tương đối đầy đủ, song vẫn còn những khó khăn nhất định: là phường loại I của thị xã Từ Sơn, nhưng Đồng Kỵ không có khu vui chơi giải trí cho trẻ em Hệ thống cơ sở y tế, trang thiết bị khám chữa bệnh còn thiếu, gây khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Hệ thống nước sạch còn thiếu, các hộ gia đình vẫn phải dùng nước giếng khoan, giếng đá; riêng ở CCN đến nay đã được
sử dụng nước máy, nhưng không đủ cho nhu cầu sử dụng của nhân dân Hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt, nước mưa, nước thải công nghiệp đều tiêu thoát chung
mà không có sự tác động xử lý nào Sự lưu thông thường xuyên của các xe trọng tải
Trang 34lớn, xe chở gỗ, việc đổ nguyên vật liệu ra đường khiến cho mặt đường ở đây xuống cấp nghiêm trọng, nhiều ổ voi, ổ gà Việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại thị
xã Từ Sơn còn gặp nhiều khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, trong khi đó lại chưa có nhà máy xử lý rác thải trên toàn Thị xã [19]
2.2.1.2 Mặt bằng sản xuất
Diện tích mặt bằng dành cho sản xuất của LN chật hẹp, nhỏ bé Hầu hết các khu sản xuất đều nằm liền kề khu dân cư Người dân dựng xưởng sản xuất ngay trong chính khuôn viên diện tích nhà mình, lắp đặt hàng loạt các máy cưa, máy trà, máy bào trước sân và sản xuất luôn tại đó Người dân sử dụng ngay đường giao thông trước nhà, hay đường ngõ làm nơi tập kết nguyên vật liệu Ngoài ra, hệ thống nhà xưởng chủ yếu được làm bằng lán, lợp tấm fibro xi măng, không có khu vực riêng cho khu máy bào, máy cưa nên rất bụi Nghề phát triển cũng kéo theo việc quá tải của CSHT, như: cấp, thoát nước, rác thải, khí thải, tiếng ồn và đường sá chật hẹp, xuống cấp nhanh Điều đó dần trở thành sức cản LN phát triển, đòi hỏi cần
có địa điểm sản xuất mới để giải phóng sức sản xuất, mở rộng quy mô và giải quyết các vấn đề bức xúc về hạ tầng
Đứng trước tình trạng thiếu diện tích mặt bằng cho sản xuất, những năm qua, chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã cho thành lập các CCN LN, trong đó KCN LN Đồng
Kỵ rộng 12 ha vào năm 2001 và KCN LN Đồng Quang đạt tiêu chuẩn môi trường gồm 30 ha (17 ha đất của phường Trang Hạ và 13 ha đất phường Đồng Kỵ) vào năm 2008 đã từng bước tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư và tạo điều kiện cho các hộ sản xuất có đủ diện tích để xây nhà xưởng, mở rộng sản xuất Ngay sau khi thành lập, KCN LN Đồng Kỵ và 17 ha KCN LN Đồng Quang đạt tiêu chuẩn môi trường đã được lấp đầy với sự hiện diện của khoảng 100 công ty, xí nghiệp, HTX, Các xưởng sản xuất có diện tích tương đối lớn từ 100-500 m2, tập trung các máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất Sự ra đời của các KCN là hướng đi đúng
để khuyến khích đầu tư phát triển LN, quảng bá thương hiệu Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì các CCN này cũng bắt đầu bộc lộ những mặt yếu kém, như: diện tích không đủ so với nhu cầu của người dân, công tác quy hoạch còn chưa
Trang 35tính đến khả năng giải quyết ONMT, Các hộ, các doanh nghiệp đăng ký thuê đất tại đây đã không di dời CSSX đến Cụm mà thay vào đó là xây dựng cửa hàng giới thiệu sản phẩm hay xây nhà ở, một số hộ còn cho thuê lại với mục đích kinh doanh Kết quả là vấn đề mặt bằng không những không đƣợc giải quyết mà còn nảy sinh các vấn đề phức tạp nhƣ ONMT, tranh chấp đất đai,
2.2.2 Vốn đầu tư và công nghệ sản xuất
(Nguồn: UBND phường Đồng Kỵ)
Bảng 2.1 cho thấy, vốn sản xuất của hộ qua các năm tăng dần Do các hộ mở
rộng sản xuất và do giá vật liệu gỗ tăng nhanh qua các năm, nên lƣợng vốn cần để sản xuất tăng lên Vốn của các doanh nghiệp và các hộ sản xuất trong LN đƣợc huy động chủ yếu từ hai nguồn chính là vốn tự có và vốn vay Thực tế vốn tự có trong các LN hiện nay chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu tổng vốn huy động, khoảng từ 30-40%, còn lại chủ yếu là vốn vay Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có rất nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng cho vay và tạo vốn cho phát triển LN Trên địa
Trang 36bàn thị xã Từ Sơn đã có đến 20 chi nhánh ngân hàng hoạt động Tại làng Đồng Kỵ
đã có phòng giao dịch của các ngân hàng: nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương, Đầu tư và phát triển, Sài Gòn thương tín… nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân ở đây
Tỉnh Bắc Ninh hiện đang hoàn tất đề án “Bảo tồn và phát triển nghề, LN Bắc
Ninh giai đoạn 2010-2020” có nguồn vốn đầu tư 2.230 tỉ đồng, với 3 nhiệm vụ
chính: Bảo tồn LNTT; phát triển LN kết hợp du lịch; xây dựng LN mới đồng thời với xử lý ô nhiễm LN Ngoài ra, Chính phủ cũng có các chính sách hỗ trợ nhằm
tăng vốn đầu tư cho các CSSX Tuy nhiên do một số nguyên nhân: (i) Những ràng
buộc về lãi suất vay, điều kiện thế chấp cũng như những vướng mắc trong thủ tục
vay vốn; (ii) Tồn đọng lượng vốn lớn do sản phẩm, nguyên liệu gỗ không tiêu thụ được trong dân; (iii) Lãi suất cao từ việc vay ngoài dẫn đến nguy cơ khó trả, thậm
chí vỡ nợ; mà rất ít doanh nghiệp LN, đặc biệt những doanh nghiệp nhỏ và những
hộ sản xuất cá thể tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi từ phía các ngân hàng và Nhà nước, dẫn đến tình trạng thiếu vốn tại LN ngày một gia tăng
2.2.2.2 Công nghệ sản xuất
Trong những năm gần đây, LN Đồng Kỵ đã đẩy mạnh cơ khí hóa, áp dụng nhiều máy móc vào phục vụ cho sản xuất Trừ các khâu tinh xảo, yêu cầu người thợ phải thực hiện bằng thủ công, hầu hết quy trình sản xuất đều đã đưa máy móc vào thay công nhân, như: xẻ, cưa, bào, khoan, vanh lộng, trà (mài gỗ) Điều đó không chỉ cho phép thay thế về cơ bản sức lao động của con người, mà còn đem lại NSLĐ cao Tuy nhiên, sản phẩm của các LNĐG mang tính chất đặc thù, đòi hòi nhiều ở sự khéo léo từ chính bàn tay người lao động Vì thế, việc đổi mới công nghệ diễn ra chậm chạp và còn nhiều hạn chế tại LN Điều này không những ảnh hưởng đến NSLĐ, chất lượng sản phẩm, mà còn là nguyên nhân gây ONMT nghiêm trọng Do
đó, Nhà nước và chính quyền địa phương phải có những biện pháp, chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn về vốn và công nghệ sản xuất cho LN
2.2.3 Lao động
Trang 37Tính đến thời điểm hiện nay, Đồng Kỵ có 3.271 hộ với hơn 16.880 người, trong đó số hộ tham gia sản xuất là 2.691 hộ (chiếm khoảng 83% dân số từ 16-60 tuổi) LN Đồng Kỵ không chỉ giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương mà còn thu hút lao động đến từ các vùng khác Lao động ở đây được phân công theo hướng chuyên môn hoá từng khâu, từng công đoạn của quá trình sản xuất, cũng như trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống ở LN
Tuy số lượng lao động tại LN Đồng Kỵ tăng hằng năm, nhưng chất lượng lao động thì vẫn ở mức thấp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, kỹ thuật lưu truyền từ đời này sang đời khác, không qua đào tạo bài bản Do đó, để duy trì và mở rộng sản xuất, Đảng ủy, UBND và chính quyền địa phương LN cần có chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao tay nghề của người lao động
2.2.4 Nguồn nguyên liệu
Gỗ là nguyên liệu cơ bản cho quá trình sản xuất của LN Đồng Kỵ Các loại gỗ quý thường sử dụng như: trắc, gụ, hương, cẩm lai, mun (đen, sọc), sưa, huyết, vàng tâm, cẩm thị Các CSSX thường mua lại gỗ từ các chủ buôn gỗ Những năm gần đây, do đóng cửa rừng nên nguyên liệu gỗ trong nước trở nên khan hiếm Gần đây,
gỗ cung cấp cho LN chủ yếu là gỗ nhập khẩu từ Lào, Camphuchia và Thái Lan Các chủ buôn gỗ có thể nhập trực tiếp hoặc nhập thông qua các công ty trong nước Gỗ nhập khẩu được các chủ buôn tập kết về các kho bãi (chợ gỗ) ở Đồng Kỵ để các CSSX có nhu cầu đến mua ngay tại khu vực LN
Hình 2.1: Nguồn gốc của nguyên liệu gỗ
Trang 38Hiện nay, giá gỗ tăng cao từ 40-100% hằng năm gây khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là gỗ trắc giá dao động rất lớn tùy theo kích thước, thể loại từ 40-
300 triệu đồng/m3, hoặc cao hơn lên đến hàng tỷ đồng/m3 Đây là yếu tố chính dẫn đến giá sản phẩm đồ gỗ cao Lượng gỗ sử dụng phụ thuộc vào quy mô của CSSX Tổng lượng gỗ sử dụng cho cả làng Đồng Kỵ, ước tính khoảng 20.000 m3/năm; sản xuất trung bình của mỗi hộ gia đình từ 4-6 bộ bàn ghế/tháng, ước khoảng 1-2 m3gỗ/tháng; ở một số HTX, công ty TNHH, lượng gỗ sử dụng có thể lên tới 10-100
m3/tháng Tuy nhiên, với tốc độ khai thác tài nguyên nhanh chóng như hiện nay thì vấn đề tìm kiếm nguyên liệu gỗ cho sản xuất tại LN Đồng Kỵ đã trở nên khó khăn, dẫn đến quá trình sản xuất rơi vào tình trạng bấp bênh, thiếu ổn định
Bảng 2.2: Nguyên liệu và định mức sản xuất Nguyên liệu
Định mức (tính theo bộ bàn ghế )
Mục đích
sử dụng
Lượng sử dụng/năm
Giấy ráp 0,2-0,4 kg Gia công,làm nhẵn bề mặt gỗ 90.000 kg Keo cồn 0,2-1 kg
Làm chất kết dính và đóng rắn trong quá trình lắp ghép, tạo sản phẩm thô
(Nguồn: Báo cáo Đánh giá tác động môi trường CCN LNĐG Đồng Kỵ)
Bên cạnh đó, quá trình sản xuất còn sử dụng nhiều nguyên vật liệu và hoá chất khác, như: keo (cồn), bột đắp, giấy ráp, và đối với sản phẩm hoàn thiện còn dùng
thêm cả sơn và vecni Bảng 2.2 bên trên thể hiện cụ thể định mức nguyên liệu dùng cho sản xuất Bên cạnh đó, đối với các mặt hàng khảm, sau khi hoàn thành phần
mộc sẽ sử dụng ốc, trai và cửu khổng để khảm Các nguyên liệu này ngày càng
Trang 39khan hiếm, thường phải nhập từ Đài Loan, Singapo, Indonexia, Philippin Nguồn nước sử dụng để sản xuất và sinh hoạt là nước giếng đào và giếng khoan Lưu lượng nước sử dụng là: 350m3/ngày đêm Lưu lượng nước xả thải là: 280m3/ngày đêm Nguồn tiếp nhận nước thải là sông Ngũ Huyện Khê
Có thể nói, nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, nhất là nguyên liệu gỗ là hầu như không có và ngày càng trở nên khan hiếm Đây là bài toán nan giải và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển lâu dài của LN Đồng Kỵ
2.2.5 Thương hiệu sản phẩm và quy trình sản xuất
2.2.5.1 Thương hiệu sản xuất
Hiện LN Đồng Kỵ cung cấp gần như đầy đủ các mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp phụ vụ cho sinh hoạt, công việc, trang trí nội thất hay thờ cúng tại thị trường trong và ngoài nước Căn cứ vào công dụng của mặt hàng đồ gỗ, có thể chia các sản
phẩm đồ gỗ của làng Đồng Kỵ thành 3 nhóm chính như sau: (i) các sản phẩm phục
vụ việc xây dựng và hoàn thiện nhà cửa; (ii) các sản phẩm nội thất trong nhà và (iii)
các sản phẩm mang tính chất trang trí thờ cúng Các sản phẩm LN Đồng Kỵ ngày càng khẳng định chất lượng trong và ngoài nước Tuy nhiên, việc xây dựng logo, giới thiệu địa chỉ, hiện chưa đủ để đánh thức tiềm năng, cũng như bảo vệ quyền lợi của mình và khách hàng nên LN Đồng Kỵ phải đăng ký thương hiệu cho sản phẩm của LN, xây dựng chương trình quảng bá, tiếp thị sản phẩm Có như vậy mới tránh được hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái trong quá trình sản xuất và ngày càng tạo dựng uy tín cho sản phẩm của LN Đồng Kỵ
2.2.5.2 Quy trình sản xuất
Quy trình sản xuất sản phẩm đồ gỗ của làng đã từng bước được chuyên môn hóa, phù hợp với xu thế phát triển của nền KTTT, bao gồm các khâu: Pha gỗ, vẽ khuôn, đục, ghép thành phẩm, khảm trai, đánh bóng, bảo quản mặt hàng mộc
Trước đây, mỗi gia đình bắt đầu từ việc nhập gỗ về, tự xẻ, pha, đục, trạm khảm rồi đánh bóng Do nhu cầu phát triển sản xuất theo quy mô lớn hơn, xuất hiện những người chuyên nhận gỗ từ đầu nguồn về bán lại cho người sản xuất Trong số những người sản xuất, lại hình thành những chủ sản xuất đứng ra nhận đơn đặt hàng rồi thuê
Trang 40người khác đứng ra sản xuất Những người đứng ra sản xuất chỉ mua gỗ, thuê nhân công xẻ gỗ rồi sau đó thuê những CSSX nhỏ hơn làm các công đoạn tiếp theo LN giờ đây dần trở thành một xưởng sản xuất lớn Mỗi CSSX đóng vai trò là một bộ phận trong một quy trình khép kín từ khi nhập nguyên liệu đến khi xuất sản phẩm ra thị trường Mỗi CSSX chỉ đảm nhận một khâu nhất định trong quá trình sản xuất; không có CSSX nào đảm nhận từ đầu đến cuối của quá trình sản xuất một sản phẩm
Có thể thấy rằng, sự chuyên môn hoá ở đây rất sâu Tuy nhiên, do xu hướng thị trường mà nhiều khâu trong quá trình sản xuất không được đảm bảo, người sản xuất
chỉ chú ý khâu cuối cùng là việc phun sơn, đánh bóng để hoàn thiện sản phẩm
Hình 2.2: Quy trình sản xuất đồ gỗ
2.2.6 Thị trường tiêu thụ
Đồ gỗ Đồng Kỵ là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng trong và ngoài nước Sản phẩm của LN có mặt ở hầu hết các địa phương trong cả nước nhưng doanh thu của LN có được lại chủ yếu dựa vào xuất khẩu Thị trường lớn nhất là Trung Quốc Việc mở rộng và xuất khẩu mạnh sang thị trường Trung Quốc bắt đầu từ năm 2006 Các sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ có mặt hầu hết ở các điểm buôn bán tại các tỉnh biên giới của Trung Quốc với Việt Nam Năm 2006, đã có 140 cửa hàng giới thiệu sản