Trong điều kiện nền kinh tế ở nước ta hiện nay, bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì không ít các doanh nghiệp còn lúng túng trong việc quản lý và sử dụng vốn, nhiều doanh ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGÔ THỊ THANH HUYỀN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KÍNH VIGLACERA ĐÁP CẦU
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60 34 05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN HÙNG
HÀ NỘI - 2009
Trang 2Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
7
1.1.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp 8
1.1.2 Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 13
1.1.3 Phân loại vốn của doanh nghiệp 15
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 22 1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 22 1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp
24
1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp
25
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần
Kính Viglacera Đáp Cầu sau cổ phần hoá cho đến nay
47
Trang 32.2.1 Đặc điểm và nguồn hình thành vốn của Công ty cổ phần
2.3.1 Đánh giá những thành công và hạn chế về hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
56
2.3.2 Nguyên nhân thành công và hạn chế về hiệu quả sử dụng
vốn của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
74
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN KÍNH VIGLACERA ĐÁP CẦU TRONG THỜI
3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
3.2.4 Tăng nhanh vòng quay hàng tồn kho 90 3.2.5 Quản lý các khoản phải thu và xây dựng chính sách tín
dụng thương mại hợp lý
92
3.2.6 Xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho kỳ kế hoạch 94 3.2.7 Đa dạng hoá nguồn vốn huy động cho hoạt động kinh doanh 97 3.2.8 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy công ty 97 3.2.9 Sử dụng vốn vay đúng mục đích 98
Trang 42.3 Phân tích tình hình doanh thu và thu nhập của Công ty cổ
phần Kính Viglacera Đáp Cầu qua các năm 55 2.4 Phân tích biến động quy mô vốn chủ sở hữu của Công ty cổ
phần Kính Viglacera Đáp Cầu năm 2008 57 2.5 Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty cổ phần Kính
2.6 Kết cấu nguồn hình thành vốn kinh doanh của công ty cổ
phần Kính Viglacera Đáp Cầu qua các năm 2004, 2005,
2.7 Phân tích tài sản, nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn của
Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu năm 2008 64
2.9 Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình sử dụng vốn
của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu năm 2004,
2.10 Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình sử dụng vốn
của một số công ty kính năm 2008 73 2.11 Sản lƣợng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm kính của Công
Trang 5ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu 78 2.12 Cơ cấu nợ của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu 79 3.1 Tổng hợp các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 82 3.2 Trình độ chuyên môn theo bậc đào tạo của nguồn nhân lực
Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu 89 3.3 Tính khoảng thời gian chênh lệch về nguồn tài trợ 96
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
SỐ TÊN HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ TRANG 1.1 Phân loại vốn trong doanh nghiệp……… 22 1.2 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ……… ….33 1.3 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
………46 2.2 Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng vốn kinh doanh của
Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu ……… 62 2.3 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ……… 72 2.4 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu…80
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đi trước đón đầu với những công nghệ mới của nền kinh tế tri thức trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Trong quá trình phát triển nền kinh tế, ở nước ta đã và đang diễn ra cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Năm 2009 là năm thứ ba, Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Hơn nữa, hiện nay Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới đang nằm trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu Đối với nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, cơ hội thật nhiều, song cũng không ít những thách thức,
“các doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì phải đối mặt với nhiều thách thức: cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp nước ngoài trên hầu hết các lĩnh vực ở nhiều cấp độ khác nhau; điểm xuất phát thấp, năng suất lao động thấp, cơ cấu kỹ thuật lạc hậu, năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế, của nhiều sản phẩm và cả năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế; đang chuyển đổi thể chế kinh tế, trình độ, năng lực quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp hạn chế; chịu nhiều sức ép hơn các nước đang phát triển khác do chưa phải là kinh tế thị trường; môi trường kỹ thuật khu vực và thế giới nhiều biến động, cạnh tranh gay gắt, thay đổi nhanh, đòi hỏi khả năng thích ứng cao” [1, tr.104]… Muốn cạnh tranh được thì các doanh nghiệp phải tìm cách tối đa hoá lợi nhuận Muốn tối
đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc lựa chọn phương
án đầu tư vốn sao cho có hiệu quả nhất Nhiệm vụ của người làm công tác tài chính
là phải xác định được nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh và lựa chọn phương án, hình thức huy động vốn sao có lợi nhất (huy động nguồn có lãi suất thấp nhất, quy
Trang 7mô vốn lớn, hình thức huy động thuận tiện…) Doanh nghiệp cần phải biết rằng doanh nghiệp không thể sản xuất với bất kỳ giá nào, bán những sản phẩm thị trường cần và chấp nhận được chứ không bán cái mình có Trong các biện pháp để tăng cao lợi nhuận của doanh nghiệp, có một biện pháp hàng đầu có hiệu quả nhất
là nâng cao hiệu quả sử dụng tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp, trong đó có sử dụng hiệu quả vốn Làm thế nào để sử dụng có hiệu quả vốn của doanh nghiệp? Đây là một bài toán khó, vì không có một biện pháp chung cho tất cả các doanh nghiệp mà mỗi một doanh nghiệp khác nhau, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau lại có một biện pháp riêng cho từng doanh nghiệp đó
Trong điều kiện nền kinh tế ở nước ta hiện nay, bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì không ít các doanh nghiệp còn lúng túng trong việc quản lý
và sử dụng vốn, nhiều doanh nghiệp còn không thể tái sản xuất giản đơn được, vốn kinh doanh mất dần đi sau mỗi chu kỳ kinh doanh và doanh nghiệp luôn ở tình trạng thiếu vốn, kinh doanh thua lỗ và nguy cơ phá sản luôn rình rập những doanh nghiệp làm ăn yếu kém Thực tế này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân quan trọng là công tác quản lý và sử dụng vốn kém, sử dụng vốn không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp, trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển mạnh như hiện nay
là hết sức cần thiết, nó quyết định đến sự sống còn của mỗi doanh nghiệp
Việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp tác động rất lớn đến việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh đang là vấn đề bức xúc đặt
ra đối với tất cả các doanh nghiệp
Vốn là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, và là một trong hai yếu tố quan trọng quyết định đến sản xuất và lưu thông hàng hoá Do đó,bất kì một doanh
Trang 8nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải quan tâm đến vốn để tạo lập, quản lý và sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả, nhằm đạt tới mục tiêu tối da hoá lợi nhuận trong khuôn khổ cho phép của pháp luật
Thông qua nghiên cứu những lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn, cùng với việc nắm bắt tình hình thực tế tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp
Cầu, tác giả chọn vấn đề “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu” làm đề tài cho luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý
về hiệu quả sử dụng vốn, về hiệu quả kinh doanh dưới các khía cạnh khác nhau, như:
- Ngô Quang Huân (2002), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
của các doanh nghiệp dệt trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sỹ
kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
- Trần Hồ Lan (2003), Những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của các doanh nghiệp Nhà nước ngành nhựa ở Việt Nam, Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân
- Trần Đức Lộc (2004), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh
tế- xã hội vùng Đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010, Luận án tiến sỹ kinh tế
- Huỳnh Đức Lộng (1999), Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Quỳnh Sang (2008), Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Luận án
tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học giao thông vận tải, Hà Nội
Trang 9- Nguyễn Văn Tạo (2004), Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Thương
Mại
Các đề tài trên đã đề cập đến vấn đề hiệu quả kinh doanh cũng như vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp Về nhận thức, những nghiên cứu trên thường tách rời, nhấn mạnh riêng từng mảng độc lập nhau: hiệu quả quản lý và sử dụng vốn; hiệu quả đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh Những mảng đề tài này chưa làm rõ sự liên kết giữa các khâu, các giai đoạn của một quá trình luân chuyển vốn
để có cách nhìn toàn diện, tổng hợp, chưa thấy rõ được sự tác động, ảnh hưởng giữa huy động tới sử dụng vốn
Với những tồn tại về nhận thức, tồn tại về lý luận và phương pháp luận, tồn tại
về thực tế, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu còn bị hạn chế làm cho người quản lý, người điều hành Công
ty chưa đưa ra được các giải pháp tổng thể để nâng cao hiệu quả kinh doanh, trong
đó có hiệu quả sử dụng vốn
Đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu”, được thực hiện với mong muốn làm rõ về mặt lý luận quá trình luân chuyển vốn trong Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu, từ quá trình đưa vốn vào kinh doanh, đến việc đánh giá thực trạng sử dụng vốn của Công ty, từ đó tìm
ra những nguyên nhân cơ bản và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong Công ty
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 10Trên cơ sở hệ thống hoá những lý luận về hiệu quả sử dụng vốn, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình vốn và sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu, luận văn đánh giá tình hình vốn và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty và đề xuất những giải pháp đồng bộ, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ khái niệm hiệu quả sử dụng vốn, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp, những nhân tố ảnh hưởng tới việc quản trị vốn của các doanh nghiệp trong tình hình nền kinh tế hiện nay
- Phân tích rõ thực trạng vốn, tình hình hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu trong thời gian qua, và những tồn tại cần khắc phục
- Đề xuất những giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công
ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp sản xuất
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề có liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng vốn của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu trong thời gian sau cổ phần hoá (từ năm
2005 đến nay)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến như phương pháp
Trang 11thống kê kinh tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế… để tiến hành nghiên cứu
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn tại các công ty cổ phần
- Nêu ra các vấn đề thực trạng mấu chốt về việc sử dụng vốn và đề xuất một
số giải pháp cơ bản để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu trong tình hình nền kinh tế hiện nay
- Nêu lên một số bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu nói riêng và cho các doanh nghiệp sau cổ phần hoá nói chung
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Kính
Viglacera Đáp Cầu
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ
phần Kính Viglacera Đáp Cầu trong thời gian tới
Trang 12CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
Doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp và đa dạng, cả về số lượng và cơ cấu nguồn lực, về chuyên môn, về công nghệ sử dụng hay hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện hiện nay, với sự hội nhập của nền kinh tế thị trường, cách hình thức cạnh tranh mới, các công nghệ mới xuất hiện, thúc đẩy doanh nghiệp phải tự thích ứng, phải trở nên mềm dẻo hơn Dưới áp lực của nhiều sự ràng buộc,
cả từ bên ngoài (Nhà nước, nhà cung cấp, khách hàng, các tổ chức tài chính ) lẫn
từ bên trong (liên minh giữa các nhóm khác nhau trong cùng ngành), doanh nghiệp cần phải có biện pháp để có thể tồn tại và phát triển Trong đó có việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là yếu tố quyết định quan trọng nhất
Do mục tiêu nghiên cứu, chương này chủ yếu sẽ đi vào nghiên cứu lý thuyết chung về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động, phần lớn do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ở từng doanh nghiệp quyết định Mặc dù vậy, có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp là đều phải sử dụng vốn để chuẩn bị các yếu tố đầu vào, thực hiện một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định để tạo ra các sản phẩm hoặc dịch
vụ hoàn thành đầu ra, nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp để đạt được
sự tăng trưởng và phát triển
Trang 13Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năng xảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúng đắn Dưới sức ép của thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp phải chuyển dần từ chiến lược trong cung cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiện đại Những đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả ngày càng cao hơn, tinh tế hơn của các khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Trong các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu nói riêng cần trả lời được câu hỏi: sử dụng vốn kinh doanh như thế nào cho có hiệu quả cao?
1.1 Vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như là một tế bào với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để cung cấp cho xã hội Doanh nghiệp có thể thực hiện được một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động, và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Để có được các yếu
tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô
và điều kiện kinh doanh
Từ khi thành lập, doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định gọi là vốn điều
lệ Vốn điều lệ chủ yếu ở đây là tiền vốn góp của các chủ doanh nghiệp, hoặc có thể là đất đai, nhà cửa, ô tô, máy móc thiết bị sản xuất Trong quá trình hoạt động
Trang 14sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể mua sắm thêm các máy móc thiết bị khác, xây dựng nhà xưởng, nhà văn phòng, mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thuê lao động từ vốn bằng tiền hiện có hoặc đi vay mượn, từ phần lợi nhuận được tích luỹ để phát triển kinh doanh Thể hiện bằng tiền của tất cả các tài sản của doanh nghiệp trong bất cứ một thời điểm nào thì đó chính là vốn của doanh nghiệp tại thời điểm đó Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào thì cũng cần có vốn
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của vốn kinh doanh
Có nhiều khái niệm khác nhau về vốn kinh doanh:
Thứ nhất, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản
được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời [18, tr.57]
Thứ hai, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về toàn bộ tài
sản hữu hình, tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời
Vốn là tiền ứng trước để kinh doanh nhưng tiền chưa hẳn đã là vốn Tiền được gọi là vốn thì phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Tiền phải có giá trị lưu hành
- Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một mức độ nhất định, đủ để đầu tư vào một dự án kinh doanh
- Khi tiền đủ lượng phải vận động nhằm mục đích kiếm lời
Vốn là số tiền mà doanh nghiệp nắm trong tay trong suốt thời gian tồn tại để thực hiện công việc kinh doanh của mình [34]
Trang 15Tóm lại, vốn kinh doanh là số tiền đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn kinh
doanh thể hiện bằng tiền về mặt giá trị của tài sản Hình thái biểu hiện vật chất của vốn kinh doanh là các loại tài sản trong doanh nghiệp
1.1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hoá
từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển vốn kinh doanh Sự chu chuyển vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
Nhìn chung, ta có thể thấy vốn của doanh nghiệp có những đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, vốn phải vận động và sinh lời Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài
sản, nhưng không phải lúc nào tiền cũng là vốn Tiền phải vận động và sinh lời mới được gọi là vốn Trong quá trình vận động, tiền có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng khi kết thúc vòng tuần hoàn phải trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn Đó cũng là nguyên lý đầu tư, sử dụng bảo toàn và phát triển vốn Vì vậy, khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản không vận động, tài nguyên, sức lao động không sử dụng, tiền- vàng bỏ ống cất trữ, hoặc các khoản nợ khó đòi… chỉ là những đồng
“vốn chết” Mặt khác, tiền có vận động nhưng khi kết thúc vòng luân chuyển mà không mang lại giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu kỳ tiếp theo cũng bị ảnh hưởng (vốn bị mất đi)
Trang 16Thứ hai, vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định Đó là biểu
hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp như nhà xưởng, đất đai, thiết bị sản xuất, nguyên vật liệu, chất xám, thông tin… Như vậy, một lượng tiền mà thoát ly giá trị thực của tài sản để đưa vào đầu tư hoặc những khoản nợ mà không có khả năng thu hồi được thì không đúng nghĩa của vốn
Thứ ba, vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy được tác dụng Để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp phải có đủ vốn
Thứ tư, vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định Muốn đồng vốn sinh lời,
thì cần phải có chủ thể sở hữu vốn gắn liền với lợi ích kinh tế với nó Do vậy, họ sẽ tăng cường quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả Doanh nghiệp không những chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn ngoài doanh nghiệp như: nhận vốn góp liên doanh, liên kết, phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn…
Thứ năm, vốn có giá trị về mặt thời gian- nghĩa là phải xét đến giá trị thời gian
của đồng vốn Vì trong nền kinh tế thị trường, vốn bị ảnh hưởng của lạm phát, sự biến động của giá cả nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm hác nhau là khác
nhau Do vậy, đồng vốn được đầu tư khác nhau theo thời gian (Khi định giá doanh
nghiệp hoặc đầu tư trong một thời gian dài cần xem xét đến đặc trưng này)
Thứ sáu, trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là một loại
hàng hoá đặc biệt Những người có sẵn vốn có thể đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì đến thị trường này để có được vốn Người có vốn là chủ
nợ (người cho vay), người cần vốn là con nợ (người đi vay) Người đi vay sử dụng vốn của người cho vay và phải trả một khoản tiền nhất định (lãi tiền vay- tính theo
Trang 17tỷ lệ lãi suất nhất định), người cho vay không mất quyền sở hữu vốn mà chỉ mất quyền sử dụng Việc mua bán vốn cũng tuân theo quy luật cung- cầu trên thị trường Như vậy, khác với hàng hoá thông thường, vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng
Thứ bảy, vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình mà nó
còn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình như: bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tài sản vô hình ngày càng đa dạng và phong phú, chúng ngày càng
có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp Vì vậy, vấn đề quan trọng là việc xác định (định giá) các tài sản nói chung và tài sản vô hình trong doanh nghiệp nói riêng
Trên đây là khái niệm về vốn dưới góc độ tài chính, còn dưới góc độ của kế toán, vốn kinh doanh được hiểu như sau:
Thứ nhất, vốn chính là tổng cộng tài sản của doanh nghiệp
Chúng ta có phương trình cơ bản của kế toán, tại một thời điểm xác định thì:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
(Nguồn: Hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam)
Theo quan điểm này, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tất cả tài sản trong doanh nghiệp (không kể đến tài sản đó hình thành từ đâu: hình thành từ vốn
tự có của doanh nghiệp hay hình thành từ vốn vay, vốn nợ của người khác) Do đó, nói đến hiệu quả sử dụng vốn cũng chính là nói đến hiệu quả sử dụng tài sản trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai, vốn chính là vốn chủ sở hữu (vốn tự có)
Trong kế toán quốc tế, họ đưa ra phương trình cơ bản của kế toán là:
Trang 18Tài sản = Nợ + Vốn Như vậy, theo kế toán Mỹ thì không có khái niệm về nguồn vốn, vốn theo khái niệm này chính là vốn của chủ sở hữu Các khoản nợ không được gọi là vốn
mà gọi theo đúng bản chất của nó là “Nợ”, và vốn không phải là toàn bộ giá trị của tài sản trong doanh nghiệp vì có một bộ phận tài sản được hình thành từ các khoản
nợ [37] Xét về phương diện vốn của doanh nghiệp, quan điểm này đúng, bởi vì nó
đã tạo cho nhà quản trị một sự rõ ràng, mạch lạc, rất cụ thể về sự nhận biết tài sản
và vốn trong doanh nghiệp
Tuy nhiên, để đánh giá một cách tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp thì trong đề tài này nghiên cứu cũng chính là đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp (không thể nói, tài sản được hình thành từ các khoản
nợ thì không cần sử dụng có hiệu quả, mà ngược lại nó còn cần phải sử dụng một cách có hiệu quả nhất để đảm bảo thanh toán lãi vay và nợ vay)
Như vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn thì nên lấy theo quan điểm của
kế toán Việt Nam: đánh giá hiệu quả của tất cả tài sản trong doanh nghiệp, không phải chỉ đánh giá phần tài sản hình thành từ vốn tự có
1.1.2 Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu cá nhân, tập thể hoặc Nhà nước Nhưng dù vốn đó thuộc sở hữu cá nhân, tập thể hay Nhà nước thì vai trò của nó đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vẫn không thay đổi
Thứ nhất, vốn đóng vai trò tiên quyết trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp Vốn là cơ sở vật chất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vốn đảm bảo duy trì sự phát triển của doanh nghiệp Có vốn thì mới khởi sự được doanh nghiệp Vốn được sử dụng để mua sắm các tư liệu sản xuất cho doanh nghiệp, vốn được đầu tư mua hàng hoá, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, máy
Trang 19móc thiết bị sản xuất, nhà cửa Thiếu vốn hoặc sử dụng vốn không hợp lí sẽ làm cho doanh nghiệp bị trì trệ, thậm chí phá sản Cổ nhân xưa có câu: “Buôn tài không bằng dài vốn‟‟ Vốn là cơ sở định hướng quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thường xuất hiện ba vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Đó là ba vấn đề lớn để định hướng cho doanh nghiệp phát triển Trong đó vấn đề sản xuất như thế nào, đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn là bao nhiêu thì làm được Điều này quyết định hướng phát triển của doanh nghiệp Phát triển doanh nghiệp quy mô to hay nhỏ, ngắn hạn hay dài hạn, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn kinh doanh mà chủ doanh nghiệp có được
Xét về mặt giá trị thì vốn kinh doanh là tiền Nhờ có có tiền người ta mới có thể
có được các yếu tố của quá trình sản xuất là đối tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động Đối tượng lao động (nguyên vật liệu) chịu sự tác động của con người (sức lao động) thông qua tư liệu lao động (công cụ dụng cụ, tài sản cố định) tạo thành thành phẩm để phục vụ cho nhu cầu của con người;
Xét về mặt hiện vật thì vốn kinh doanh là giá trị của các hiện vật Các hiện vật này là thực thể vật chất tồn tại phục vụ cho nhu cầu của con người
Thứ hai, vốn kinh doanh là phương tiện giúp con người thực hiện các quá
trình thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, tiền vốn đối với doanh nghiệp có ý nghĩa
hết sức to lớn và nó phục vụ cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp luôn có mục tiêu lợi nhuận hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội
Vì vậy, điều quyết định đối với các doanh nghiệp để tiến hành sản xuất kinh doanh
đó là tiền vốn Và các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải sử dụng vốn có hiệu quả
Trang 20Thứ tư, vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của
doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
Số lượng vốn của doanh nghiệp nhiều hay ít là một trong những tiêu thức để xếp doanh nghiệp vào loại quy mô lớn, quy mô vừa hay quy mô nhỏ Nó cũng là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có của doanh nghiệp (doanh nghiệp ít vốn thì sử dụng máy móc thiết bị có công nghệ trung bình nên sử dụng nhiều nhân công, chi phí nguyên vật liệu không tiết kiệm được làm cho chi phí cao; nếu doanh nghiệp có nhiều vốn thì có thể đầu tư vào máy móc thiết bị có công nghệ tiên tiến cần ít lao động hơn, năng suất cao hơn, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu hơn làm cho chi phí giảm…) Ngoài ra, vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ quyết định đến khả năng tham gia mở rộng thị trường (nếu vốn ít, dù doanh nghiệp có khả năng
mở rộng thị trường thì doanh nghiệp cũng không thể thực hiện được)
Thứ năm, cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, việc doanh nghiệp có vốn hay không, và có thể tập trung được vốn nhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, nó là điều kiện để thực hiện chiến lược kinh doanh, nó là chất kết nối các quá trình sản xuất kinh doanh, là dầu nhớt bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động
Tóm lại, để doanh nghiệp có thể ra đời, tồn tại và phát triển thì không thể không có sự đóng góp của vốn Đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ Vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó được sử dụng một cách có hiệu quả nhất
1.1.3 Phân loại vốn của doanh nghiệp
Trang 21Tuỳ theo mục đích quản lý và nghiên cứu khác nhau, người ta có các tiêu thức khác nhau để phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có các tiêu thức phân loại cơ bản sau:
1.1.3.1 Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn
Theo tiêu thức này thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai loại vốn cố định và vốn lưu động
* Vốn cố định
- Vốn cố định là vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định và sau một thời
gian dài mới thu hồi được toàn bộ [18, tr.80]
- Vốn cố định là một bộ phận vốn đầu tư bên trong ứng trước về tài sản cố định trong doanh nghiệp [34]
Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản cố định Vốn
cố định thể hiện bằng tiền về mặt giá trị của tài sản cố định Hình thái biểu hiện vật chất của vốn cố định là tài sản cố định
Tài sản cố định có giá trị lớn (hiện nay giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên) và thời gian sử dụng lâu dài (thời gian sử dụng lớn hơn 1 năm) Do đó, tài sản cố định
có đặc điểm: tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh hình thái vật chất ban đầu của tài sản cố định hầu như không thay đổi, nhưng giá trị tài sản cố định bị giảm dần theo mức độ hao mòn của tài sản cố định Hình thái biểu hiện vật chất của vốn cố định là tài sản dài hạn, nên đặc điểm của vốn cố định tương tự đặc điểm của tài sản dài hạn Vốn cố định có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Trang 22Hai là, sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị của vốn cố định được dịch
chuyển dần vào chi phí sản xuất kinh doanh
Ba là, vốn cố định hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời
gian sử dụng hoặc tài sản cố định khấu hao hết Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, số vốn đầu tư vào tài sản cố định thu hồi được một phần thông qua việc trích khấu hao tài sản cố định tính vào chi phí Vốn cố định thu hồi hết khi tài sản
cố định khấu hao hết hoặc hết thời gian sử dụng, khi đó vốn cố định mới hoàn thành một vòng tuần hoàn
Những đặc điểm trên đây của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó, là các tài sản cố định của doanh nghiệp Việc bảo toàn và sử dụng tốt số vốn cố định hiện có là vấn đề có
ý nghĩa kinh tế rất lớn ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng của doanh nghiệp
* Vốn lưu động
- Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh
- Vốn lưu động là một bộ phận vốn đầu tư ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thực hiện một cách liên tục và bình thường [34]
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục nên vốn lưu động của doanh nghiệp cũng vận động không ngừng, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ gọi là chu chuyển của vốn lưu động Vốn lưu động chu
Trang 23chuyển không ngừng, nên trong cùng một lúc thường xuyên tồn tại các bộ phận khác nhau trên các giai đoạn vận động khác nhau của vốn lưu động
Khác với vốn cố định, vốn lưu động có những đặc điểm sau:
Một là, vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất;
Hai là, vốn lưu động dịch chuyển một lần toàn bộ giá trị vào chi phí sản xuất
kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh;
Ba là, vốn lưu động thường xuyên vận động, thay đổi hình thái biểu hiện qua
các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Vốn lưu động kết thúc một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Từ khái niệm và đặc điểm vốn lưu động đòi hỏi việc quản lý vốn lưu động phải thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm: quản
lý vốn tiền mặt; quản lý hàng tồn kho dự trữ; quản lý các khoản phải thu, phải trả; quản lý các khoản vay ngắn hạn
1.1.3.2 Căn cứ vào nguồn hình thành
Người ta chia vốn của doanh nghiệp thành hai loại như sau:
* Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn chủ
sở hữu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp Về cơ bản gồm các bộ phận chủ yếu sau: Vốn góp ban đầu; lợi nhuận không chia; tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới Ta xem xét cụ thể thành phần từng nguồn như sau:
- Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp mới thành lập bao giờ chủ doanh
nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do chủ doanh nghiệp đóng góp- chủ sở hữu góp vốn
Trang 24+ Doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước Chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước là Nhà nước
+ Công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp Mỗi cổ đông là chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ + Doanh nghiệp tư nhân, vốn do chính chủ doanh nghiệp bỏ vốn Chủ doanh nghiệp là một cá nhân, cá nhân đó cũng chính là chủ sở hữu doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của mình
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn do các thành viên tham gia thành lập công ty góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn về các nghĩa vụ của công ty
+ Công ty hợp danh, vốn do các thành viên hợp danh và các thành viên góp vốn khác Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, còn các thành viên góp vốn khác chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi vốn góp của mình
+ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động kinh doanh
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn do các thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp đóng góp Có thể 100% là vốn nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), có thể một phần là vốn của nhà đầu tư nước ngoài, một phần là vốn của nhà đầu tư trong nước (doanh nghiệp liên doanh)
- Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Quy mô vốn ban đầu của chủ doanh
nghiệp là yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, nếu hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng
Trang 25nguồn vốn Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được
sử dụng tái đầu tư, mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp
Tự tài trợ bằng nguồn lợi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc bên ngoài
- Phát hành cổ phiếu: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có
thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp Trong thực tế, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình của doanh nghiệp mà lựa chọn số lượng cổ phiếu sẽ phát hành, mệnh giá, và loại cổ phiếu sẽ phát hành, cổ phiếu thường hay cổ phiếu
ưu đãi
* Các khoản nợ phải trả, để đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh
doanh, vốn tự có của doanh nghiệp không đủ, doanh nghiệp phải huy động vốn từ các nguồn khác như:
- Đi vay vốn của các tổ chức, cá nhân khác: doanh nghiệp sử dụng khoản vốn này phải bỏ ra chi phí sử dụng vốn làm cho chi phí kinh doanh tăng lên, lợi nhuận giảm xuống;
- Phát hành trái phiếu: là hình thức huy động vốn của các công ty cổ phần, công ty cũng phải bỏ ra chi phí sử dụng vốn;
- Chiếm dụng vốn của các cá nhân, tổ chức khác: khoản vốn này doanh nghiệp
sử dụng không phải mất chi phí sử dụng vốn hoặc chi phí rất nhỏ, khoản vốn này doanh nghiệp nào cũng muốn sử dụng nhiều nhất
1.1.3.3 Căn cứ vào quá trình hình thành vốn
* Vốn ban đầu là khoản vốn hình thành khi thành lập doanh nghiệp hay còn
gọi là vốn điều lệ Khoản vốn này do chủ doanh nghiệp bỏ ra khi thành lập doanh
Trang 26nghiệp Số vốn này lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp, quy
mô của từng doanh nghiệp
* Vốn bổ sung là số vốn do doanh nghiệp huy động tăng thêm trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn này có thể hình thành từng nhiều nguồn khác nhau (từ lợi nhuận để lại, nhận vốn góp liên doanh liên kết, Nhà nước cấp,…)
1.1.3.4 Theo quá trình tuần hoàn của vốn
Vốn của doanh nghiệp luôn vận động không ngừng, chuyển hoá từ hình thức này sang hình thức khác Sự vận động của vốn được biểu hiện bằng sơ đồ tuần hoàn của C Mác như sau:
Đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lưu thông, quá trình vận động vốn lưu động được thể hiện qua sơ đồ sau:
* Vốn sản xuất (H SX H‟) là biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản sản
xuất trong doanh nghiệp
T H SX H’ T’ T’=T+ T
Trang 27Tài sản sản xuất là các loại tài sản đang trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất như: sản phẩm đang nằm trên dây chuyền sản xuất, các loại chi phí tiền lương, chi phí nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ đang dùng cho bộ phận quản lý doanh nghiệp
* Vốn lưu thông (H‟ T‟) là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu thông của
doanh nghiệp
Tài sản lưu thông là các loại tài sản đang tồn tại trên lĩnh vực lưu thông như: thành phẩm, hàng hoá gửi bán, các khoản phải thu, chi phí nguyên vật liệu, tiền lương nhân viên thuộc bộ phận bán hàng
Sau quá trình lưu thông, giá trị sản phẩm được thực hiện, vốn của doanh nghiệp được thu hồi với hình thái tiền tệ như ban đầu nhưng với số lượng lớn hơn
và vòng chu chuyển của vốn đã hoàn thành
1.1.3.5 Căn cứ theo mức độ tham gia của vốn
* Vốn tích cực: là vốn hình thành tài sản hiện đang trực tiếp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh (máy móc thiết bị đang sử dụng, nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền )
* Vốn không tích cực là khoản vốn hiện không tham gia trực tiếp vào hoạt
động kinh doanh (khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ, các loại tài sản cố định không cần dùng, chờ thanh lý )
Các cách phân loại trên được tổng hợp qua hình 1.1
Trang 28Hình 1.1: Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Mỗi một cách phân loại nói trên đều cung cấp những thông tin có ý nghĩa khác nhau cho người sử dụng thông tin Nó có thể cung cấp cho người sử dụng thông tin về cơ cấu tài sản của một doanh nghiệp, về việc sử dụng vốn hiện nay ở các khâu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (vốn ở khâu nào ứ đọng, khâu nào còn thiếu vốn; phần vốn nào tích cực, phần vốn nào không tích cực), hay kiểm soát sự tăng trưởng của vốn và sự biến động về cơ cấu vốn
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Theo đặc điểm
chu chuyển của vốn
Theo nguồn hình thà nh
Theo quá trình hình thà nh vốn
Vốn cố
định
Vốn lưu động
Vốn bổ sung
Theo quá trình tuần hoà n vốn
Theo mức độ tham gia
của vốn
Vốn dự
trữ
Vốn sản xuất
Vốn tích cực
Vốn không tích cực Vốn lưu
thông
Trang 291.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Việc khai thác huy động vốn đã khó, thì việc sử dụng vốn có hiệu quả và hợp
lý càng khó hơn, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển mạnh
và sôi động như hiện nay
Sử dụng vốn trong doanh nghiệp là việc quyết định bỏ vốn để đầu tư vào đâu, đầu tư như thế nào và đầu tư bao nhiêu là đủ cho các hoạt động kinh doanh
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh Vì vậy, "hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh" [1] Theo quan điểm này, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua hai chỉ tiêu:
- Lợi nhuận = Kết quả kinh doanh - Chi phí
- Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh = Lợi nhuận
Vốn kinh doanh "Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất" [2] Theo quan điểm này thì hiệu quả sử dụng vốn chỉ được đánh giá qua một chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra:
Hiệu quả sử dụng vốn = Kết quảVốn
Trong đó: tuỳ vào yêu cầu đánh giá mà kết quả có thể là doanh thu, thu nhập hay lợi nhuận; và vốn có thể là vốn kinh doanh, vốn lưu động hay vốn cố định bỏ
ra để đạt được kết quả
Quan niệm đúng về hiệu quả sử dụng vốn giúp nhà quản lý, người chủ doanh nghiệp thực hiện quản lý và sử dụng vốn tốt hơn Ở đây, cần nhấn mạnh hơn là khái niệm hiệu quả sử dụng vốn phản ánh tổng hợp trình độ khai thác sử dụng vốn
Trang 30trong doanh nghiệp Nó không dừng lại ở kết quả hoạt động của doanh nghiệp, mà
nó hướng đến mục đích chính là sinh lợi tối đa của đồng vốn bỏ ra với chi phí thấp nhất Do vậy để hiểu rõ bản chất của hiệu quả sử dụng vốn ta nên phân biệt hai phạm trù là kết quả, và hiệu quả sử dụng vốn
Để hoạt động, doanh nghiệp phải có mục tiêu hoạt động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội, cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và các doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt được
các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất, đó là hiệu quả Để đạt được hiệu quả cao thì doanh nghiệp phải sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất có hiệu quả (lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động)
Hiệu quả sử dụng vốn phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Nếu doanh nghiệp lấy mục tiêu chiếm lĩnh thị trường làm trọng tâm, thì có thể đó là doanh thu bán hàng và những chi phí gắn liền với hoạt động bán hàng của doanh nghiệp Nhưng nếu mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, thì đó
là lợi nhuận đạt được từ vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Tóm lại, khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là đánh giá hiệu quả của tất cả các loại vốn mà doanh nghiệp bỏ ra, trong tất cả các hoạt động và ở mọi giai đoạn của quá trình luân chuyển vốn kể từ khi có ý định bỏ vốn, huy động vốn để thực hiện đầu tư cho đến khi sử dụng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh Đánh giá trong hiện tại và trong tương lai
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo an toàn về mặt tài chính, giảm bớt rủi ro, làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp, làm tăng quy mô doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
Trang 31tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao vị thế, uy tín trên thương trường, giúp doanh nghiệp ngày càng tự chủ hơn về mặt tài chính Yêu cầu cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp phải
có vốn, trong khi vốn doanh nghiệp lại bị hạn chế Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh nghiệp ngày càng tích luỹ được nhiều vốn hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu đầu tư mới
Hiệu quả sử dụng vốn ở doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng sống còn đến sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của nhiều đối tượng
có liên quan Đó là người lao động trực tiếp trong doanh nghiệp, là các nhà đầu tư,
cổ đông, các nhà cung cấp, các tổ chức tín dụng Ngoài ra Nhà nước sẽ thu được nhiều thuế hơn khi doanh nghiệp phát triển
Tóm lại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là thực sự cần thiết, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính, đòi hỏi vốn chủ sở hữu phải lớn Mặt khác, cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và thế giới đặt ra yêu cầu sử dụng vốn phải có hiệu quả cao để tích tụ và tập trung vốn được tốt hơn
Tuỳ theo mục tiêu quan tâm mà người ta có thể chú ý đến các khía cạnh hay các chỉ tiêu khác nhau của hiệu quả sử dụng vốn
1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đề cập đến các chỉ tiêu đo lường
và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp: [18, tr.125-127], [13, tr.287,
Trang 32tr.303-308], [2, tr.213-217], [24, tr.148-151], [28, tr.26], [15, tr.182], [23, tr.86-96], [21, tr.129], [27, tr.30-39, tr.78-80]
Trên cơ sở các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đã có, trong phạm vi luận văn này, tác giả tiến hành hệ thống hoá và hoàn thiện một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong quá trình
sử dụng vốn như sau:
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn kinh doanh
- Chỉ tiêu 1: Hiệu suất sử dụng vốn (vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh)
sử dụng vốn càng cao Nhìn vào chỉ tiêu trên ta thấy hiệu suất sử dụng vốn phụ thuộc vào hai nhân tố: doanh thu thuần (thu nhập) và tổng vốn kinh doanh bình quân Như vậy, để có hiệu suất sử dụng vốn cao thì, một mặt doanh nghiệp phải tăng doanh thu thuần, mặt khác doanh nghiệp phải tiết kiệm vốn Doanh nghiệp nên giảm các khoản phải thu, tính toán lượng hàng tồn kho hợp lý, tăng cường các biện pháp tiêu thụ hàng hoá, liên tục cải tiến khâu thanh toán để đảm bảo khả năng thu tiền từ khách hàng nhanh nhất, có hiệu quả nhất Bên cạnh đó, doanh nghiệp
Trang 33nên tăng cường khai thác, sử dụng tài sản cố định đã đầu tư, mạnh dạn thanh lý những tài sản không cần dùng hoặc tài sản bị hỏng hóc, đổi mới tài sản cố định để
có công suất cao nhất
- Chỉ tiêu 2: Tỷ suất sinh lời của vốn kinh doanh
Tỷ suất sinh lời vốn kinh doanh = LN
V bq = LN
DT x
DT
V bq
Hoặc = Doanh lợi doanh thu x Vòng quay toàn bộ vốn
Trong đó: LN là lợi nhuận (có thể tính là lợi nhuận trước lãi vay và thuế hay
lợi nhuận sau lãi vay và thuế) Chỉ tiêu này phản ánh một trăm đồng vốn kinh doanh sử dụng bình quân tạo
ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Nếu trên quan điểm hiệu quả kinh tế thì tính theo lợi nhuận trước lãi vay và thuế, vì nó sẽ cho chúng ta biết khả năng sinh lời của một đồng vốn kinh doanh
mà không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập và nguồn gốc của vốn kinh doanh Nếu quan tâm đến nguồn gốc của vốn kinh doanh mà không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập thì tính trên lợi nhuận trước thuế
Nếu trên quan điểm hiệu quả tài chính thì tính trên lợi nhuận sau thuế, vì lợi nhuận sau thuế là phần lợi nhuận doanh nghiệp thực tế được hưởng
Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả tài chính thường có sự mâu thuẫn nhau,
mâu thuẫn này thường được giải quyết bằng các chính sách của Nhà nước như chính sách về thuế (giảm thuế, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp), chính sách lãi suất (cho vay với lãi suất ưu đãi ), chính sách ưu đãi về sử dụng đất, thuế đất
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
ROE = VCSH NI
bq
Trang 34Trong đó: ROE là tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
NI là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp VCSHbq là vốn chủ sở hữu sử dụng bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn của chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện mức sinh lợi của đồng chủ sở hữu càng cao và ngược lại (thực tế các nhà đầu tư thường tránh đầu tư vào các doanh nghiệp có chỉ tiêu này nhỏ hơn 0,17 hay 17%, những doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả chỉ tiêu này phải đạt khoảng 0,2 (hay 20%) đến 0,3 (hay 30%)) [26, tr.29]
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, một mặt phụ thuộc tỷ trọng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cao hay thấp (nếu tỷ trọng vốn chủ sở hữu thấp thì việc đánh giá hiệu quả khi dựa vào chỉ tiêu này thiếu tính khách quan và thiếu chính xác), một mặt phụ thuộc vào trình độ sử dụng vốn, mặt khác, hiệu quả sử dụng vốn còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức nguồn vốn của doanh nghiệp
* Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng vốn lưu động
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được diễn
ra bình thường và liên tục không bị gián đoạn Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả từng đồng vốn lưu động Muốn vậy, trước hết doanh nghiệp phải quản lý tài sản ngắn hạn, đặc biệt là khoản phải thu và hàng tồn kho một các chặt chẽ và có hiệu quả Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả vốn lưu động được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu 1: Hiệu suất sử dụng vốn lưu động (HVLĐ)
H VLĐ = VLĐ DT bq
Trang 35Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, doanh nghiệp tạo ra doanh thu rất lớn nhưng lợi nhuận lại ít hoặc thậm chí không có lợi nhuận Vì vậy, chúng ta nghiên cứu chỉ tiêu sức sinh lời của vốn lưu động để việc đánh giá được chính xác hơn
- Chỉ tiêu 2: Sức sinh lợi vốn lưu động (SVLĐ)
S VLĐ = VLĐ LN bq
Trong đó: LN là lợi nhuận hoạt động kinh doanh (có thể là lợi nhuận trước
thuế và lãi vay, có thể là lợi nhuận sau thuế) Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một trăm đồng vốn lưu động sử dụng bình quân tạo
ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
- Chỉ tiêu 3: Mức tiết kiệm (hay lãng phí) vốn lưu động do tăng (hay giảm) tốc
Trang 36K1, K0 là kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo (kỳ gốc)
- Chỉ tiêu 4: Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho = Giá trị hàng tồn kho bình quân Giá vốn hàng bán
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển hàng tồn kho bình quân trong kỳ (thường là một năm) Vòng quay hàng tồn kho lớn chứng tỏ công tác quản trị hàng tồn kho tốt và ngược lại nếu vòng quay hàng tồn kho nhỏ có nghĩa là doanh nghiệp
đã dự trữ quá nhiều nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá, chi phí trong quá trình sản xuất lớn Tăng nhanh vòng quay hàng tồn kho luôn là mục tiêu đối với mọi doanh nghiệp Để làm được điều đó đòi hỏi nhà quản trị tài chính tính toán trữ lượng hàng tồn kho một cách hợp lý nhất phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp thương mại thì các nhân
tố quyết định đến mức hàng tồn kho thường là: khả năng cung cấp của thị trường đầu vào và đầu ra, giá cả và xu hướng biến động giá cả của hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh, khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp, kỳ hạn giao hàng đầu vào và kỳ hạn giao hàng đầu ra, khối lượng hàng hoá cung cấp cho mỗi lần giao, đặc điểm thời vụ của mỗi loại hàng hoá kinh doanh và chính sách quản lý của Nhà nước trong mỗi thời kỳ
Trang 37Trong đó: VCĐbq là vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định bình quân tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần
- Chỉ tiêu 2: Hàm lượng vốn cố định: là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu
Khi sử dụng chỉ tiêu này cần chú ý, tử số chỉ tính phần lợi nhuận có sự tham gia trực tiếp của tài sản cố định tạo ra Vì thế, cần phải loại ra các khoản thu nhập khác như lợi nhuận hoạt động tài chính, lợi nhuận hoạt động khác…
1.2.3.2 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Có nhiều phương pháp phân tích khác nhau, ở đây tác giả chỉ đề cập đến một
số phương pháp cơ bản hay sử dụng:
* Phương pháp chi tiết: mọi hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh đều
có thể và cần thiết chi tiết theo nhiều hướng khác nhau nhằm đánh giá một cách
Trang 38chính xác kết quả đạt được (có thể chi tiết theo thời gian, theo bộ phận cấu thành, theo địa điểm và phạm vi kinh doanh)
* Phương pháp so sánh: đây là phương pháp sử dụng đơn giản và phổ biến
nhất trong phân tích hiệu quả Khi sử dụng phương pháp này cần phải chú ý ba nguyên tắc sau:
Thứ nhất là lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh: tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được
chọn làm căn cứ để so sánh được gọi là gốc so sánh (gốc so sánh có thể là số liệu của
kỳ trước, là các mục tiêu đã dự kiến, hay gốc so sánh có thể là các doanh nghiệp khác cùng ngành, mức trung bình ngành, của khu vực kinh doanh)
Thứ hai là số liệu phải thiết kế dưới dạng so sánh được (số liệu cùng phản ánh
một nội dung kinh tế, cùng một phương pháp tính toán, cùng một đơn vị đo lường,
số liệu thu thập cùng một phạm vi thời gian và cùng một quy mô không gian)
Thứ ba là kỹ thuật so sánh (so sánh bằng số tuyệt đối, số tương đối, số bình
quân…)
* Phương pháp phân tích nhân tố ảnh hưởng (phát triển lên từ phương pháp
loại trừ) được chia thành hai dạng:
- Phân tích nhân tố thuận: xác định ảnh hưởng của từng nhân tố tới đối tượng phân tích (có thể sử dụng hai phương pháp nhỏ là phương pháp thay thế liên hoàn
và phương pháp số chênh lệch)
- Phân tích nhân tố nghịch: thường được sử dụng trong công tác xây dựng kế hoạch, nhằm dự báo, dự đoán tình hình Để thực hiện phân tích này người ta thường sử dụng các phương pháp toán học như các hàm hồi quy (hồi quy đơn, hồi quy bội), phân tích tương quan, xác suất …
Trang 39* Phương pháp cân đối: cân đối là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của một
quá trình hoạt động kinh doanh (cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản, cân đối giữa thu và chi…)
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp luôn chịu tác động bởi các nhân tố khác nhau Đây cũng là những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Về cơ bản ta có thể chia thành các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan
1.3.1 Các nhân tố khách quan
Hình 1.2: Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp
1.3.1.1 Chính sách kinh tế của Nhà nước
Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân bằng các công cụ kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định kinh tế – xã hội, thiết lập khuôn khổ luật pháp, hệ thống chính sách nhất quán có tính định hướng, khuyến khích hoặc trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Các nhân tố khách quan
Thị trường
và cạnh tranh
Chi phí vốn
và thuế
Sự tiến bộ của khoa học
và công nghệ
Các điều kiện cam kết hội nhập WTO
Chính sách
kinh tế của
Nhà nước
Trang 40Bất kỳ một sự thay đổi nào về chính sách của Nhà nước đều tác động đến nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi các chính sách về tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thuế, chi tiêu của chính phủ khuyến khích đầu tư, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, khi các văn bản pháp luật của Nhà nước được bổ sung, sửa đổi, ban hành mới, hay việc gia nhập các tổ chức quốc tế, các định chế tài chính quốc tế sẽ tác động rất nhiều tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của các chính sách trên có thể tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như việc tăng thuế nhập khẩu, thì doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ hàng trong nước có khả năng tiêu thụ hàng hoá của mình tốt hơn, hay việc tăng tỷ giá hối đoái làm doanh nghiệp xuất khẩu có lợi hơn, xuất khẩu hàng hoá được nhiều…, từ đó làm doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả hơn, hiệu quả sử dụng vốn sẽ được nâng cao Ngược lại sự thay đổi của các chính sách trên cũng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác, làm doanh nghiệp làm ăn khó khăn hơn, hiệu quả sử dụng vốn sẽ giảm xuống
Do vậy, cơ chế quản lý kinh tế ổn định, chính sách phù hợp, mang xu hướng tích cực, cởi mở và thuận lợi là điều kiện cần thiết và rất quan trọng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạch định các mục tiêu và chính sách kinh doanh của mình được ổn định và có hiệu quả hơn
1.3.1.2 Thị trường và cạnh tranh
Trong sản xuất hàng hoá, thị trường tiêu thụ sản phẩm là một căn cứ hết sức quan trọng để doanh nghiệp quyết định bỏ vốn và sử dụng vốn Khi xem xét yếu tố thị trường không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh
Các nhân tố thuộc thị trường đầu vào của doanh nghiệp đó là: thị trường tài chính, thị trường hàng hoá đầu vào, tỷ giá hối đoái, thị trường sức lao động, thị