1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam

111 805 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong giai đoạn đề tài nghiên cứu thì Nhà nước mới chỉ xác định mục tiêu chuyển kinh doanh xăng, dầu sang cơ chế thị trường, giảm dần sự bù lỗ của Nhà nước, song vẫn can thiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU 7

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu 7

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong Thương mại 7

1.1.2 Quản lý nhà nước trong kinh doanh xăng dầu 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Kinh nghiệm của Malaysia về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 31

1.2.2 Bài học kinh nghiệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 34

Kết luận chương 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003-2013 36

2.1 Khái quát hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam 36

2.1.1 Sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam 36

2.1.2 Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 40

2.1.3 Những hạn chế trong hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam 42

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 45

2.2.1 Quản lý các chủ thể kinh doanh xăng dầu 45

2.2.2 Quản lý giá 55

2.2.3 Quản lý đo lường và chất lượng 71

Trang 4

2.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng

dầu 74

2.3.1 Những thành tựu 74

2.3.2 Những hạn chế 77

Kết luận chương 2 80

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM 81

3.1 Các yếu tố ảnh hướng đến quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian tới 81

3.1.1 Xu hướng biến động của thị trường xăng dầu thế giới 81

3.1.2 Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế -xã hội trong nước 82

3.1.3 Thực thi cam kết hội nhập của Việt Nam 83

3.1.4 Quan điểm nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong kinh doanh xăng dầu và chủ trương xây dựng các Nhà máy lọc dầu trong nước 84

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 89

3.2.1 Quản lý các chủ thể kinh doanh Xăng dầu 89

3.2.2 Quản lý điều hành giá bán xăng dầu 90

3.2.3 Quản lý đo lường, chất lượng 94

3.2.4 Nhóm giải pháp khác 95

Kết luận chương 3 98

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

APEC : Diễn đang kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

IEA : Cơ quan năng lượng quốc tế

OPEC : Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

USD : Đông đô la Mỹ

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

VAT : Thuế gía trị gia tăng

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu ở khâu nhập hàng 23

Bảng 1.2: Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu khâu xuất hàng 23

Bảng 2.1 Khối lƣợng xăng dầu nhập khẩu năm 2010- 2012 39

Bảng 2.2 Cơ cấu nhập khẩu xăng dầu tiêu dùng nội địa 40

Bảng 2.3 Tỷ trọng xăng dầu nhập khẩu của các đầu mối năm 2013 41

Bảng 2.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam giai đoạn 2008-2012 42

Bảng 2.5 Các doanh nghiệp đƣợc cấp phép nhập khẩu xăng dầu 46

Bảng 2.6 Bảng tính giá cơ sở theo Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 18/12/2013 63

Bảng 2.7 Tình hình sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu từ khi bắt đầu trích đến nay 67

Bảng 3.1 Các dự án nhà máy lọc dầu tại Việt Nam 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hơn 27 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt Mức sống của người dân ngày một nâng cao, nhu cầu về mọi mặt của con người ngày càng tăng, một trong những nhu cầu hàng ngày của người dân là phương tiện giao thông, như: Xe gắn máy, Ô tô, máy bay… trở thành cần thiết của mỗi gia đình Mặt khác, nền kinh tế phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, theo

đó nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào như xăng dầu ngày càng tăng

Xăng dầu là mặt hàng nguyên nhiên liệu chiến lược, có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Nó tác động đến rất nhiều ngành nghề sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu trên 70% xăng dầu cho nhu cầu tiêu thụ trong nước, mặt khác xăng dầu là mặt hàng hết sức nhạy cảm, mang yếu tố chính trị do vậy Nhà nước đã thực hiện quyền kiểm soát và thể hiện vai trò của mình thông qua việc quản lý các chủ thể kinh doanh, quản lý giá cả, quản lý đo lường chất lượng và một số chính sách điều tiết, hỗ trợ

Hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau trong việc Nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh xăng dầu Có ý kiến cho rằng, nhờ vai trò điều tiết của Nhà nước vào thị trường xăng dầu, nhu cầu về nguồn năng lượng của nhiều ngành kinh tế và của người dân được đảm bảo, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định và cải thiện đời sống dân cư Song cũng có nhiều ý kiến khác cho rằng: Nhà nước chưa thực sự thể hiện rõ vai trò của mình trong quản lý hoạt động kinh doanh xăng dầu Việc quản lý các chủ thể kinh doanh xăng dầu còn buông lỏng trong nhiều năm Quản lý giá xăng dầu đã xác định nguyên tắc cơ bản là “Giá bán xăng dầu được thực

Trang 8

hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, tuy nhiên quản lý của Nhà nước về giá chưa có sự thay đổi đột phá Ngoài ra, việc quản lý của Nhà nước về chất lượng, số lượng xăng dầu bán ra trên thị trường vẫn còn nhiều lúng túng

Tình hình này đang đặt ra nhiều câu hỏi: Thực trạng quản lý nhà nước trong kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam thời gian qua như thế nào; đã đạt được những thành tựu gì và còn tồn tại những hạn chế gì? Nguyên nhân nào dẫn đến thành công và hạn chế đó? Cần có giải pháp gì để tăng cường vai trò quản

lý của Nhà nước trong kinh doanh xăng dầu? Việc tìm giải đáp cho các câu hỏi này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần làm sáng tỏ, bổ sung cơ sở lý luận

và thực tiễn nhằm nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh

doanh xăng dầu ở Việt Nam Đây chính là lý do tác giả đã chọn đề tài: “Nâng

cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ của mình

các đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu một lĩnh vực trong hoạt động kinh doanh xăng dầu, chưa làm rõ được vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực

này Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Quang Tuấn (2008) với đề tài Quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu ở Việt Nam đã nêu được một số hạn

chế về thực trạng kinh doanh xăng dầu từ khi Việt Nam nộp đơn gia nhập tổ

Trang 9

chức thương mại thế giới WTO đến năm 2008 và cũng đưa ra một số quan điểm giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh doanh xăng dầu Tuy nhiên, trong giai đoạn đề tài nghiên cứu thì Nhà nước mới chỉ xác định mục tiêu chuyển kinh doanh xăng, dầu sang cơ chế thị trường, giảm dần sự bù lỗ của Nhà nước, song vẫn can thiệp sâu trong quá trình điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu; Các khâu quản lý của Nhà nước vẫn còn khá phức tạp không bảo đảm sự chặt chẽ và thụ động, người tiêu dùng không thể giám sát được giá bán của Doanh nghiệp Do vậy đề tài chưa phản ánh đầy đủ các hạn chế của Nhà nước trong quản lý kinh doanh xăng dầu đến giai đoạn hiện nay

Một số bài báo đăng trên internet của Thu Hà (2012), Nguyễn Quang A (2013), Tiến Dũng (2013), Ngô Trí Long (2013), đã nêu được những tác dụng tích cực của cơ chế quản lý, điều hành kinh doanh xăng dầu hiện nay (Nghị định số 84/2009/NÐ-CP) tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đầu mối qua đó hình thành thị trường kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Trong điều kiện giá cả xăng dầu thế giới lên xuống thất thường để bình ổn giá cả trong nước, Nhà nước đã điều hành giá bán xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; cách tính giá áp dụng thống nhất theo một công thức tính giá chung do Nhà nước quy định Tuy nhiên các bài viết chưa làm rõ những bất cập của cơ chế kinh doanh xăng dầu hiện nay, cụ thể: đã tạo ra những rào cản, hạn chế các thành phần kinh tế gia nhập thị trường kinh doanh xăng dầu, hạn chế cạnh tranh và còn tạo ra những "đặc quyền" cho Doanh nghiệp đầu mối, kẽ hở cho việc đầu cơ, găm hàng, ép buộc nhau trong mua bán , tạo ra những bất ổn của thị trường trong toàn hệ thống Ngoài ra để khắc phục cơ chế điều hành giá bán xăng dầu thiếu linh hoạt do Nhà nước khống chế giá tối đa các bài viết chưa nêu được những giải pháp giúp các Doanh nghiệp chủ động tính

Trang 10

toán phương án và quy định giá bán theo tín hiệu của thị trường

Vì những lý do nêu trên, việc bổ sung và phát triển những vấn đề còn chưa nghiên cứu và chỉ ra các giải pháp mới là hết sức cần thiết Bằng những tài liệu và các chính sách mới nhất liên quan đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tác giả sẽ đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tiếp cận từ góc độ Quản lý kinh tế

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu kể từ năm 2003 đến năm 2013 Tập trung nghiên cứu vai trò quản lý nhà nước thông qua các chính sách điều hành như: Quản lý chủ thể kinh doanh xăng dầu; quản lý giá bán xăng dầu; quản lý số lượng, chất lượng xăng dầu và một số chính sách điều hành khác

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp luận nghiên cứu của khoa học quản lý và quản lý kinh tế Kết hợp truyền thống và hiện đại

Những phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: phương pháp

so sánh, phương pháp phân tích, kết hợp phân tích với tổng hợp Luận văn

có tham khảo và kế thừa những công trình khoa học có liên quan, các bài viết liên quan trên các trang web

Phương pháp phân tích, tổng hợp được kết hợp áp dụng để phân tích việc sử dụng các công cụ quản lý của Nhà nước: Quản lý chủ thể kinh doanh, quản lý giá, quản lý số lượng chất lượng và các công cụ khác trong quản lý kinh doanh xăng dầu Trên cơ sở đó, tổng hợp kết quả phân tích đưa ra nhận định về vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Phương pháp so sánh được áp dụng nhằm so sánh vai trò quản lý Nhà nước giữa các giai đoạn để rút ra những thành tựu, hạn chế qua đó đưa

ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước trong kinh doanh xăng dầu

Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ Tổng cục thống kê, các công trình nghiên cứu, sách, báo có liên quan được chính thức phát hành

6 Đóng góp của Luận văn

Luận văn đã tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống các công cụ quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam, nêu ra bài học kinh nghiệm của quốc gia đang phát triển và cùng khu vực qua đó xem xét vận dụng thực tế quản lý của nước này thực hiện phù hợp với điều kiện của Việt Nam Trên cơ sở lý luận, bài học kinh nghiệm và thực trạng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, Luận văn đưa ra các giải pháp

Trang 12

nhằm nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới Các giải pháp chủ yếu bao gồm: Chuẩn hóa điều kiện kinh doanh đối với các chủ thể kinh doanh xăng dầu, Cơ chế giá linh hoạt tạo quyền quyết định giá cho các doanh nghiệp, kiện toàn lại công tác quản lý số lượng, chất lượng xăng dầu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2013

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong Thương mại 1.1.1.1 Quản lý nhà nước về thương mại

Quản lý nhà nước về thương mại là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về kinh tế, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của hệ thống

cơ quan quản lý trên tầm vĩ mô về thương mại các cấp đến hệ thống bị quản

lý thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện môi trường xác định

Quản lý nhà nước về thương mại bao giờ cũng là một quá trình thực hiện và phối hợp bốn loại chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát của các cơ quan quản lý vĩ mô các cấp

Các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước về thương mại là người ra quyết định, người tổ chức, điều hành và tác động tới các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân tiến hành hoạt động thương mại trong phạm vi thị trường cả nước, thị trường từng địa phương cũng như thị trường ngoài nước theo phạm

vi phân công, phân cấp quản lý

Nhà nước sử dụng quyền lực của mình trong điều hành và quản lý thương mại thông qua ban hành và sử dụng các công cụ kế hoạch hóa, chính sách, luật pháp và các quy định khác về thương mại để tác động tới các chủ thể người bán, người mua trên thị trường Sự tác động của hệ thống quản lý nhà nước về thương mại đến đối tượng trao đổi luôn đặt trong mối quan hệ

Trang 14

với môi trường cụ thể, xác định trong từng thời kỳ [15]

1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước về thương mại

Quản lý nhà nước về thương mại vừa phản ánh những đặc điểm chung của quản lý, vừa thể hiện nét đặc thù

a Những đặc điểm chung của quản lý kinh tế

Mọi loại hình quản lý kinh tế đều bao gồm 2 hệ thống: chủ thể hay cơ quan quản lý và khách thể hay đối tượng quản lý; con người là trung tâm của quản lý nằm ở cả 2 hệ thống, do vậy, mọi quản lý suy cho cùng là quản lý con người, do con người và vì con người; quản lý bao giờ cũng có sự trao đổi thông tin và liên hệ ngược, nếu không có thông tin sẽ mất đi linh hồn của quản lý kinh tế; quản lý luôn có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường; quản lý kinh tế luôn hướng vào mục tiêu xác định và phải có giải pháp để thực hiện mục tiêu đã vạch ra

b Tính đặc thù của quản lý nhà nước về thương mại

Quản lý nhà nước về thương mại có tính đặc thù thể hiện ở mục tiêu và các công cụ, phương tiện sử dụng nhằm đạt mục tiêu

Mục tiêu của quản lý nhà nước về thương mại gắn liền với quá trình kinh tế - xã hội, các lợi ích cần phải đạt được từ thương mại trong từng thời

kỳ cụ thể Mục tiêu của quản lý nhà nước về thương mại bị chi phối bởi mục tiêu của quản lý kinh tế - xã hội mà Đảng, Nhà nước đã vạch ra Mục tiêu bao trùm của quản lý nhà nước về thương mại là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững và đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội

Để đạt mục tiêu, quản lý nhà nước về thương mại cần phải có quá trình tổ chức, công nghệ và kỹ thuật để vận hành, phải sử dụng các công

cụ, phương tiện mang tính liên ngành (như các chiến lược, các quy hoạch, các loại luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau,…) để điều tiết hoạt động

Trang 15

thương mại theo định hướng mục tiêu, phù hợp với lợi ích mong muốn trong mỗi thời kỳ

Tuy nhiên, vấn đề lợi ích và quan hệ lợi ích giữa các bên, các chủ thể trong kinh tế thương mại được xem trọng hàng đầu, trong khi đó đối với các lĩnh vực sản xuất (chẳng hạn trong công nghiệp), các liên kết về kỹ thuật được coi trọng trước tiên trong quản lý và là nền tảng mang lại các giá trị, các lợi ích về kinh tế

Quản lý nhà nước về thương mại bao gồm quản lý các chủ thể thương nhân, các nhà sản xuất và người tiêu dùng trong và ngoài nước cũng như các hoạt động trao đổi của họ, cùng các hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại, trong khi đó quản lý nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất lại không hàm chứa các hoạt động và hành vi của những người tiêu dùng hàng hoá đó

Quản lý nhà nước về thương mại còn bao gồm việc kiểm tra việc chấp hành chính sách, luật pháp và các định chế khác có liên quan tới lĩnh vực thương mại Nó liên quan tới nhiều cấp, nhiều ngành và đòi hỏi phải có sự phối hợp cả trong nước và quốc tế (nước đối tác thương mại, các tổ chức kinh

tế, thương mại khu vực và quốc tế) [15]

1.1.1.3 Chức năng quản lý nhà nước về thương mại

- Chức năng kế hoạch hoá thương mại

Kế hoạch hoá thương mại là toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển thương mại của quốc gia bao gồm phạm vi của cả nước, của từng địa phương, từng vùng và theo từng ngành hàng, ngành dịch vụ phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

Nhà nước thực hiện chức năng kế hoạch hoá để định hướng, hướng dẫn hoạt động thương mại và đầu tư của các chủ thể tham gia thị trường trong

Trang 16

nước cũng như thị trường quốc tế Giúp các doanh nghiệp có sự lựa chọn và quyết định đúng đắn, chiến lược, chính sách và kế hoạch sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển

Các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tiếp cận thông tin từ các văn bản kế hoạch hoá như: các chiến lược và dự báo phát triển kinh tế, thương mại và thị trường; quy hoạch mạng lưới thương mại, hệ thống thị trường, thương nhân và kênh phân phối; các chương trình dự án phát triển hạ tầng thương mại, phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại và cạnh tranh; kế hoạch, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển thương mại trong từng thời kỳ,v.v

Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại, cần phải đổi mới nhận thức về kế hoạch hoá, cải tiến nội dung, phương pháp và hoàn thiện bộ máy kế hoạch hoá thương mại, tăng cường các phương tiện kỹ thuật và nâng cao trình độ nguồn nhân lực làm công tác chiến lược, quy hoạch

và kế hoạch phát triển thương mại, nhất là trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay

- Chức năng tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý thương mại

Nhà nước thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, qui hoạch, chính sách, các văn bản pháp quy khác về quản lý thương mại Đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để triển khai thực hiện những công việc thuộc về chức năng quản

lý nhà nước, nhằm đưa chính sách, pháp luật vào thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, biến chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển thương mại thành hiện thực

Hoạt động thương mại rất đa dạng, diễn ra trên phạm vi cả nước và từng địa phương, từng vùng, ở cả thị trường trong và ngoài nước, liên quan

Trang 17

tới nhiều bộ, ngành Do vậy, nhà nước phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý về thương mại các cấp Trung ương và tỉnh (Thành phố), giữa các ngành thương mại, dịch vụ với các ngành sản xuất trong nền kinh tế, giữa chính phủ, quốc hội, tòa án và cơ quan khác Trong thương mại quốc tế, chức năng này được thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ thương mại song phương hoặc trong quan hệ thương mại của từng khối kinh

tế nhằm đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký kết

Để thực hiện hiện chức năng này, nhà nước phải tạo lập cơ cấu tổ chức

bộ máy quản lý thương mại thích hợp, phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các

cơ quan, bộ ngành ở trung ương cũng như các sở, ngành ở địa phương, quy định phân cấp quản lý và sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức đó Chức năng này còn bao gồm việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý nhà nước về thương mại đặt ra.Trong từng thời kỳ và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đó trong từng thời kỳ phát triển

- Chức năng lãnh đạo, điều khiển các hoạt động thương mại

Nhà nước là người đại diện quyền lợi hợp pháp của mọi chủ thể tham gia thị trường, đảm bảo thực thi quyền kinh doanh của các doanh nghiệp bằng luật pháp, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền Một mặt, nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp hoạt động theo định hướng đã vạch ra Mặt khác, nhà nước phải điều tiết thị trường can thiệp khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sức mạnh nền tài chính quốc gia, giữ vững sức mua của tiền tệ, bảo đảm lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng Khi thực hiện chức năng này, nhà nước là người ra các quyết định (ban hành các văn bản chính sách và pháp luật) để lãnh đạo, điều khiển các các chủ thể tham gia thị trường và cùng các hoạt động thương mại của họ

Trang 18

tiết thị trường và quan hệ thương mại, xử lý mâu thuẫn của các quan hệ trao đổi đó Những biện pháp khuyến khích hay hạn chế trong thương mại quốc tế thường được sử dụng là các chính sách kinh tế (thuế, lãi suất, giá, tỷ giá, trợ cấp khác) và công cụ phi thuế Nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật để ràng buộc quan hệ trao đổi, buôn bán của các chủ thể kinh doanh trên thị trường, không phân biệt đó là nhà kinh doanh trong nước hay nước ngoài Để điều tiết thị trường nhà nước trong nhiều trường hợp phải sử dụng thực lực kinh tế của mình để điều hoà cung cầu, ổn định giá cả thị trường, nâng cao sức mua xã hội Nhà nước còn sử dụng các biện pháp hành chính, các công cụ mang tính

kỹ thuật khác để tác động vào thị trường và các quan hệ trao đổi

Trong quá trình điều khiển hệ thống kinh tế và thương mại quốc gia, nhà nước chú trọng hỗ trợ cho các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế

về thông tin, về kỹ thuật, về kết cấu hạ tầng của thị trường Nhà nước là người trực tiếp quản lý các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ kinh tế nhà nước đúng pháp luật nhằm chống thất thoát, tham nhũng, đảm bảo sinh lợi và tăng thu cho ngân sách Thực hiện chức năng này có quan hệ chặt chẽ với phân cấp và phối hợp quản lý trong nội bộ ngành, giữa các ngành, các địa phương cũng như giữa ngành và cấp trong quản lý nhà nước về thương mại

- Chức năng kiểm soát các quan hệ trao đổi, các hoạt động thương mại

Mọi chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế đều phải tuân thủ luật pháp và các quy định chính sách của nhà nước liên quan tới thương mại Nhà nước kiểm soát tất cả các quan hệ, trao đổi buôn bán trên thị trường giữa các bên thông qua bộ máy tổ chức bằng việc sử dụng các phương pháp, công cụ khác nhau Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh cũng như các chế độ quản lý của các chủ thể đó (như đăng ký kinh doanh, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ, trình trạng môi trường, nghĩa vụ nộp thuế và chấp hành các quy định khác trong kinh

Trang 19

doanh, ) Nhà nước kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước để đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tài sản của quốc gia cho các mục tiêu phát triển kinh

tế – xã hội trong từng thời kỳ

Phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật

và các qui định chính sách của Nhà nước như buôn bán hàng cấm, kinh doanh các dịch vụ không được phép, gian lận thương mại, buôn lậu, làm hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh, lập các báo cáo về tài chính sai sự thật, các hoạt động lừa đảo, Từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh (hoặc giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc xử phạt theo các quy định hành chính, luật pháp) thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước về thương mại Đây chính là 2 mục tiêu cơ bản của chức năng kiểm soát trong quản lý nhà nước

về thương mại

Ngoài ra, nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá sức mạnh của hệ thống

tổ chức bộ máy quản lý thương mại của nhà nước các cấp cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại trong từng giai đoạn để có những giải pháp đổi mới và tăng cường cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, phù hợp với định hướng mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội [15]

1.1.1.4 Vai trò của quản lý nhà nước về thương mại

- Định hướng, hướng dẫn hoạt động của các chủ thể trao đổi

Nhà nước định hướng, hướng dẫn các doanh nghiệp trong các hoạt động đầu tư và kinh doanh trên thị trường nội địa và quốc tê, nhằm khai thác

có hiệu quả tiềm năng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cho sự phát triển thương mại Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư và nâng cao phúc lợi xã hội

Trang 20

Vai trò định hướng, hướng dẫn của nhà nước trong lĩnh vực thương mại được thể hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu, các dự án, kế hoạch và chính sách Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có cơ

sở để tính toán, lựa chọn các quyết định đầu tư và kinh doanh theo các ngành hàng, các nhóm sản phẩm dịch vụ, theo phạm vi thị trường và theo độ dài thời gian cũng như liên kết, liên doanh với các đối tác một cách hợp lý

Để giúp doanh nghiệp có định hướng đầu tư và kinh doanh đúng đắn, các văn bản kế hoạch hoá và chính sách thương mại cũng như pháp luật của nhà nước cần phải minh bạch, rõ ràng, thống nhất và đồng bộ Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quan lý nhà nước để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược, chính sách, quy hoạch, dự án, và thông hiểu các quyết định của nhà nước Chất lượng của công cụ kế hoạch hoá, chính sách và bộ máy tổ chức trong quản lý nhà nước về thương mại được tăng cường mới tạo niềm tin, sự yên tâm cho các doanh nghiệp trong tính toán, quyết định phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh

- Tạo lập môi trường thương mại và cạnh tranh

Môi trường thương mại và cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, luật pháp và thủ tục hành chính Các thông tin về kế hoạch hoá thương mại nếu bị thiên lệch trong quá trình phổ biến cho các doanh nghiệp, các quy định chính sách nếu phân biệt đối xử sẽ bóp méo cạnh tranh, thủ tục hành chính rườm rà, khung khổ pháp lý nếu không đầy dủ, đồng bộ, nhất quán và minh bạch sẽ gây trở ngại cho thương mại trên nhiều mặt, dẫn đến cả tổn thất về vật chất, tài chính và tinh thần, văn hoá Do vậy quản lý Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập, cải thiện môi trường kinh doanh, nhất là trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn

có sự vận động biến đổi không ngừng

Trang 21

nghiệp thông qua khai thông các quan hệ thương mại, làm thông thoáng sự giao lưu hàng hoá trong nước và quốc tế, nhờ thiết lập khung khổ pháp lý đầy

đủ hơn, đồng bộ hơn, tiến bộ hơn và thuận lợi hơn trong lĩnh vực thương mại bao gồm các quy định pháp luật, các chính sách, ký kết các hiệp định, thực hiện các cam kết mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế

Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, các quy định, vừa là người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhằm đưa chúng vào thực tiễn cuộc sống của các doanh nghiệp Trong quá trình đó, nhà nước đã sử dụng quyền lực, sứ mạng và khả năng của mình để kiến tạo môi trường kinh doanh Nếu môi trường kinh doanh phù hợp, nghĩa là có sự đồng thuận, thống nhất giữa nhà nước và doanh nghiệp, chính phủ trong trường hợp này đã ủng hộ thị trường, tôn trọng và phát huy tính hiệu quả của thị trường

Để tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh

ở mức độ cao hiện nay, nhất là mục tiêu của doanh nghiệp là có nhiều di động, đòi hỏi các nhà quản lý vĩ mô cũng phải đổi mới nhận thức và tư duy về các công cụ, chính sách quản lý, nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất trong việc ra quyết định cũng như phối hợp lãnh đạo, điều hành hoạt động kinh tế, thương mại

- Hỗ trợ các doanh nghiệp và giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp thương mại

Các doanh nghiệp đều là “một thực thế sống” trong nền kinh tế, họ cũng cần những sự trợ giúp nhất định Nhà nước bằng quyền lực, trách nhiệm

và khả năng của mình hỗ trợ cho các doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn của đất nước trong từng thời kỳ Nhà nước có thể hỗ trợ cho mọi người dân và doanh nghiệp về ý chí làm giàu, hỗ trợ về tri thức, về vốn, cơ sở vật chất phương tiện kỹ thuật và thông tin, các hỗ trợ về xúc tiến thương mại, các thủ

Trang 22

những trường hợp khác nhau trong quá trình họat động Đặc biệt, khi đối mặt với thách thức của môi trường kinh doanh luôn biến động Tuy nhiên, những

hỗ trợ mang tính trợ cấp bóp méo thương mại và cạnh tranh sẽ bị loại bỏ trong

xu hướng hội nhập và phát triển

Hoạt động thương mại đòi hỏi doanh gia phải có nhiều tố chất, điều kiện nhưng có những vấn đề chỉ nhà nước mới có thể giải quyết được cho nhà kinh doanh như an ninh thương mại hoặc phần lớn do nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh doanh Nhà nước là chỗ dựa tin cậy và tốt nhất cho các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh và đầu tư, cạnh tranh cùng tồn tại và phát triển

Nhà nước là người trực tiếp can thiệp và giải quyết các mâu thuẫn trên thị trường Chỉ Nhà nước chứ không phải thị trường mới có khả năng và cần thiết phải giải quyết các mâu thuẫn giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trong mua và bán, trong nhập khẩu và xuất khẩu, mâu thuẫn giữa kinh doanh đúng đắn, trung thực và kinh doanh trốn thuế, giữa kinh doanh hàng thật, hàng hóa được nhà nước cho phép kinh doanh với hàng giả, hàng cấm, mâu thuẫn giữa chủ và thợ, người làm thuê, giữa thương mại và môi trường,

Nhà nước dựa vào các chuẩn mực về luật pháp, các định chế cần thiết

để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành luật, giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hệ thống bộ máy tổ chức gồm tòa án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật Trong nền kinh tế thị trường, phần lớn các giao dịch được thực hiện dựa trên cở sở hợp đồng Khi những định chế, các luật lệ quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm, vấn đề sở hữu và cơ chế cưỡng bức vận hành tốt sẽ giảm thấp chi phí vận hành kinh doanh và hoạt động thị trường sẽ hiệu quả hơn, giảm bớt các tranh chấp thương mại

- Điều tiết các quan hệ thị trường, các hoạt động thương mại

Trang 23

Các quan hệ thị trường, các hoạt động trao đổi tự nó không phải bao giờ cung cân đối và hiệu quả Theo quy luật thị trường, các chủ thể kinh doanh luôn qua tâm tới việc bố trí, di chuyển nguồn lực đến nơi có điều kiện sản xuất và thương mại thuận lợi, bán được giá cao, tìm kiếm nhiều lợi nhuận, dẫn đến phân bổ nguồn lực tập trung quá lớn, mất cân đối Trong khi đó, một

bộ phận dân cư, thu nhập thấp (nhất là ở khu vực “đói và nghèo”), các nhà kinh doanh không muốn tới hoặc tới đó rất ít, vì không thể tìm kiếm được lợi nhuận Do vậy, Nhà nước phải điều tiết các quan hệ trao đổi, các hoạt động thương mại nhằm hạn chế nhược điểm trên để đảm bảo tính cân đối và hiệu quả của tổng sản phẩm xã hội, để mọi người dân đều được hưởng lợi từ kết quả và thành tựu phát triển - xã hội

Nhà nước một mặt hướng dẫn, khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động theo định hướng thông qua chiến lược, quy hoạch, các chương trình dự

án và kế hoạch vĩ mô đã vạch ra Mặt khác, nhà nước phải điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sức mạnh nền tài chính quốc gia, giữ vững sức mua của tiền tệ, bảo đảm lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng

Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điều tiết thị trường và thương mại, xử lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ trao đổi Những biện pháp khuyến khích hay hạn chế thương mại thường được sử dụng là thuế quan và các biện pháp phi thuế Để điều tiết thị trường, trong nhiều trường hợp nhà nước phải sử dụng thực lực kinh tế nhà nước để điều hoà cung cầu, ổn định giá cả thị trường, nâng cao sức mua xã hội Nhà nước còn sử dụng các biện pháp hành chính, các công cụ mang tính kỹ thuật khác

để tác động vào thị trường và các quan hệ trao đổi

Nhà nước không chỉ điều tiết các quan hệ trao đổi để bảo đảm kinh doanh bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh, mà còn điều chỉnh các quan hệ lợi

Trang 24

ích khác của các chủ thể tham gia thị trường như quan hệ về tiền công và tiên lương giữa chủ doanh nghiệp và nhân viên, quan hệ về phân chia lợi tức trong doanh nghiệp, quan hệ về nghĩa vụ doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách nhà nước khi kinh doanh, sử dụng tài sản công và làm ô nhiễm môi trường, …

Xu hướng Nhà nước sẽ dần thoát ly khỏi hoạt động kinh doanh, nhưng vai trò quản lý thương mại của Nhà nước phải được tăng cường để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường, đồng thời sử dụng thị trường và kinh tế thị trường phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, khu vực tư nhân cũng sẽ được sử dụng nhiều hơn trong các biện pháp điều tiết thị trường, kể cả tham gia vào cung cấp các dịch

vụ hạ tầng thương mại, các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội khác

- Giám sát, kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại

Quản lý nhà nước về thương mại bao giờ cũng hướng tới các mục tiêu

cụ thể phù hợp với định hướng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đát nước trong từng thời kỳ Do vậy, thông qua thực hiện các chức năng quản lý, Nhà nước sẽ giám sát, kiểm tra và phát hiện những biểu hiện sai lệch, những mâu thuẫn bất hợp lý trong quá trình thực hiện mục tiêu để từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh sự phát triển thị trường, thương mại cho phù hợp

Các mục tiêu của thương mại mang tính bền vững bao gồm mục tiêu về kinh tế, về xã hội, về môi trường và văn hóa, trong đó mục tiêu kinh tế không chỉ là số lượng mà còn thể hiện ở chất lượng của tăng trưởng thương mại Kiểm sóat và điều chỉnh việc thực hiện mục tiêu phát triển thương mại đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cấp và các ngành, giữa trung ương và địa phương, giữa trong nước và quốc tế, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước

về thương mại dịch vụ, trong các hoạt động chống buôn lậu và gian lận thương mại

Trang 25

Để công tác giám sát, kiểm tra của nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại, đòi hỏi bộ máy tổ chức và nhân sự phải phù hợp, kỹ thuật và trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ kiểm sóat phải được tăng cường Đồng thời phải kết hợp hệ thống kiểm soát với các hệ thống khác của quản lý nhà nước như thông tin, hoạch định, kiểm tóan, thanh tra,… thương mại [15]

1.1.2 Quản lý nhà nước trong kinh doanh xăng dầu

1.1.2.1 Kinh doanh xăng dầu

a) Xăng dầu và vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế - xã hội

- Các sản phẩm xăng dầu:

Xăng dầu là một loại năng lượng Xăng dầu thường được phân chia thành các sản phẩm chủ yếu sau:

Xăng ô tô: Tên thương mại của các loại xăng ô tô được đặt theo trị số

ốc tan, bao gồm: Xăng RON 90, Xăng RON 92, Xăng RON 95 Xăng ô tô chủ yếu được dùng làm nhiên liệu cho các phương tiện giao thông đường bộ như

ô tô, xe máy (loại dùng động cơ xăng)

Xăng máy bay: Chủ yếu là ZA1, loại xăng này sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ máy bay Đây là sản phẩm đặc chủng sử dụng cho ngành hàng không

Dầu Điêzen (DO): Dầu Điêzen được phân loại theo hàm lượng lưu huỳnh, bao gồm: DO 0,5%S (tức là hàm lượng lưu huỳnh tối đa là 0,5%) và

DO 0,25%S Dầu Điêzen được dùng vào các mục đích: Làm nhiên liệu cho các phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt (loại dùng động

cơ Điêzen); Làm nhiên liệu đốt cho một số cơ sở sản xuất; Làm nhiên liệu cho chạy máy phát điện

Trang 26

Dầu hoả (KO): Dầu hoả được sử dụng làm nhiên liệu thắp sáng hoặc nhiên liệu đốt cho một số cơ sở sản xuất

Dầu Mazut (FO): Dầu Mazut chủ yếu được dùng làm nhiên liệu đốt lò cho các cơ sở sản xuất [14]

Như vậy, qua phân tích công dụng của mỗi loại sản phẩm xăng dầu có thể thấy rằng đối với xăng ô tô thì dùng vào mục đích tiêu dùng cuối cùng; dầu Điêzen, dầu hoả được dùng vào hai mục đích là tiêu dùng cuối cùng và phục vụ sản xuất; dầu Mazut chỉ dùng vào mục đích phục vụ sản xuất

- Vai trò của xăng dầu:

+ Vai trò đối với kinh tế: Xăng dầu là đầu vào quan trọng cho nhiều ngành sản xuất Có thể nói xăng dầu tác động một cách toàn diện, dây chuyền đến tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, từ nông nghiệp, công nghiệp cho đến dịch vụ Nhiên liệu là một yếu tố trong giá thành sản xuất, giá xăng dầu thay đổi làm cho các sản phẩm có liên quan thay đổi theo, đến lượt

nó lại tác động đến các sản phẩm khác Sản xuất càng phát triển thì mức độ chuyên môn hoá, hợp tác hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ dẫn đến mức độ giao lưu về hàng hoá ngày càng lớn Giao lưu hàng hoá không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia mà diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi quốc tế Việc giao lưu hàng hoá có thể thực hiện bằng đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không và hiện nay nguồn cung cấp nhiên liệu chủ yếu cho các phương tiện vận tải này là xăng dầu

Xăng dầu là nguồn hàng hóa có giá trị đóng góp vào GDP của nhiều quốc gia đặc biệt thông qua hoạt động xuất khẩu Dầu mỏ xuất hiện đã làm đảo lộn trật tự kinh tế thế giới, một số quốc gia nghèo khó bỗng chốc trở nên giàu có nhờ nguồn dầu mỏ dồi dào dưới lòng đất Mức tiêu thụ xăng dầu của mỗi nước là căn cứ đánh giá trình độ phát triển đi lên của nền kinh tế theo

Trang 27

chiều hướng công nghiệp hoá

+ Vai trò đối với đời sống xã hội: Xăng dầu là loại nhiên liệu dùng cho phương tiện đi lại hàng ngày hiện tại khó có thể thay thế được Mặc dù đã có các phương tiện mới ra đời ứng dụng các công nghệ sử dụng năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, pin nhiên liệu, tuy nhiên số lượng các phương tiện này là không đáng kể Thêm vào đó, chi phí cho việc đầu tư, phát triển các công nghệ này thường đòi hỏi nguồn vốn rất lớn và nhiều doanh nghiệp không mặn mà với việc phát triển theo hướng này Hiện tại, do vai trò cực kỳ quan trọng của xăng dầu đối với kinh tế và đời sống xã hội nên giá nhiên liệu xăng dầu ảnh hưởng đến hầu như tất cả các loại hàng hoá và từ đó tác động đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội

+ Vai trò đối với chính trị: Xăng dầu là nguyên nhân sâu xa của nhiều cuộc nội chiến, chiến tranh xâm lược hoặc tranh chấp giữa các quốc gia Đặc biệt trong hơn một thập niên trở lại đây, khi mà dầu mỏ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội của thế giới thì kéo theo đó là các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia với nhau nhằm tranh giành sự kiểm soát đối với nguồn dầu mỏ

+ Vai trò đối với an ninh quốc phòng: Xăng dầu không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân mà nó còn đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng Song song với việc trang

bị các máy móc, thiết bị, khí tài là việc cung cấp xăng dầu, nguồn nhiên liệu chính để vận hành các phương tiện, thiết bị này Xăng dầu là điều kiện bảo đảm phát huy sức mạnh chiến đấu và khả năng phòng thủ bảo vệ đất nước Trong thời chiến,phần lớn các xe tăng, máy bay, tàu chiến, không thể hoạt động nếu không có xăng dầu Trong thời bình, xăng dầu vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo dưỡng thiết bị, khí tài và luyện tập sẵn sàng chiến

Trang 28

đấu Hầu như tất cả các quốc gia đều xác lập một cơ chế bảo đảm và cung cấp xăng dầu riêng cho lĩnh vực an ninh quốc phòng

Tóm lại, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, xăng dầu giữ một

vị trí đặc biệt quan trọng Xăng dầu không chỉ là yếu tố bảo đảm cho các hoạt động sản xuất và đời sống được tiến hành bình thường mà còn tham gia vào việc tạo ra giá trị xã hội làm cho đời sống xã hội ngày càng được cải thiện

Dầu mỏ nói chung và xăng dầu nói riêng từ khi xuất hiện cho đến ngày nay và cả nhiều năm tiếp theo đã và sẽ còn là một sản phẩm chiến lược hàng đầu của các quốc gia

b) Đặc điểm của kinh doanh Xăng dầu

- Xăng dầu là một loại hàng hoá có những đặc tính lý hoá riêng do vậy,

để được phép kinh doanh cần có những điều kiện bảo đảm nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật

Xăng dầu ở thể lỏng rất dễ bốc cháy, đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ trên 23 độ C với áp suất trên 100 áp mốt phe chỉ cần một tia lửa điện phóng qua có thể gây phản ứng sinh nhiệt bốc cháy Đặc điểm này đòi hỏi công tác phòng cháy trong hoạt động kinh doanh xăng dầu hết sức nghiêm ngặt Phương tiện và thiết bị dùng cho kinh doanh xăng dầu phải là những thiết bị chuyên dùng Công tác phòng cháy chữa cháy gắn liền với toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh xăng dầu Xăng dầu là một loại sản phẩm rất dễ bị hao hụt trong quá trình vận chuyển, lưu kho và kinh doanh Do đó, trong hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải tính toán đường vận động của xăng dầu và có biện pháp hợp lý nhằm hạn chế tối đa mức hao hụt

Trang 29

Bảng 1.1: Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu ở khâu nhập hàng

Đơn vị tính: % lượng hàng nhập

TT Loại xăng dầu Phương tiện nhập dỡ Định mức hao hụt

01 Xăng các lọai - Tầu dầu

- Xà lan

- Xitéc đường sắt, xitéc ôtô

- Bể (chuyển bể)

0,48 0,36 0,25 0,12

02 Dầu hoả (KO),

Nguồn: Tập đoàn xăng dầu Việt Nam,năm 2012[17]

Bảng 1.2: Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu khâu xuất hàng

Đơn vị tính: %/lượng xuất

04 Nhiên liệu đốt lò các loại (FO) 0,04

Nguồn: Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, năm 2012[17]

Trang 30

- Xăng dầu là mặt hàng rất dễ bị giảm hoặc mất phẩm chất Xăng dầu kém phẩm chất sẽ ảnh hưởng đến quá trình kích nổ và phá huỷ động cơ Việc kinh doanh xăng dầu kém phẩm chất sẽ gây ra tác hại lan truyền và trực tiếp phá huỷ năng lực sản xuất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống xã hội Vì vậy, đòi hỏi quy trình nhập, xuất, phương tiện tồn chứa, loại hình và phương tiện vận tải, kỹ thuật bảo quản xăng dầu phải được nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng và có những giải pháp về kỹ thuật, tổ chức quản lý trong quá trình kinh doanh xăng dầu

- Xăng dầu là một loại hoá chất độc hại đối với con người Xăng dầu là một hợp chất có phản ứng hoá học mạnh, thường gây nên ô nhiễm môi trường Vì vậy, quá trình kinh doanh xăng dầu phải đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ môi trường và cần phải có các biện pháp phù hợp để hạn chế tối đa tác động tới môi trường

- Hoạt động kinh doanh xăng dầu liên quan trực tiếp đến cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh xăng dầu cũng

là một bộ phận cấu thành quan trọng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Cơ

sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia quyết định quy mô và trình độ hiện đại của các cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh xăng dầu Và ngược lại, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh xăng dầu là một bộ phận cấu thành cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, đóng góp

và mở rộng quy mô, trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội

Hệ thống cảng biển, hệ thống vận tải thuỷ, bộ, đường sắt, hệ thống kho chứa, đường ống dẫn xăng dầu, vừa là cơ sở cho hoạt động kinh doanh xăng dầu vừa là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Những hệ thống này càng mở rộng và hiện đại không chỉ đảm bảo cho kinh doanh xăng dầu thuận lợi mà còn là sự tăng cường tiềm lực phát triển của nền kinh tế Nếu hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ

Trang 31

như những mạch máu của nền kinh tế thì đồng thời nó cũng là mạng để xăng dầu vận động Vì vậy, quan điểm toàn diện trong việc xây dựng, mở rộng và hiện đại hoá các cơ sở phục vụ kinh doanh xăng dầu cũng phải được xem là quá trình tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế

Hơn thế nữa, do đặc thù của ngành kinh doanh này, việc sử dụng triệt

để hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm kinh doanh là hết sức cần thiết, việc phối hợp giữa các tổ chức kinh doanh xăng dầu trong sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dùng phải hết sức chặt chẽ Nếu mỗi tổ chức kinh doanh lại phân tán xây dựng một hệ thống bảo đảm riêng thì sự lãng phí sẽ là rất lớn

- Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh chịu sức ép mạnh của các quan hệ kinh tế - chính trị quốc tế Do vị trí và tầm quan trọng của xăng dầu trong phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi các quốc gia đều có một chiến lược riêng về khai thác, chế biến, xuất nhập khẩu, dự trữ và kinh doanh xăng dầu Thực tế cho thấy, quan hệ ngoại giao song phương, chính sách phong toả và cấm vận của các nước lớn luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất, nhập khẩu xăng dầu

Là một mặt hàng chiến lược, tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước có thế lực trong buôn bán quốc tế luôn sử dụng mặt hàng xăng dầu như một con bài trong các quan hệ kinh tế - chính trị quốc tế Vì vậy, kinh doanh xăng dầu không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh tế mà nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của tình hình chính trị quốc tế

- Xăng dầu là mặt hàng có tính nhạy cảm cao: Như đã phân tích ở phần vai trò của xăng dầu, xăng dầu là mặt hàng có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội, thậm chí ảnh hưởng đến cả an ninh quốc phòng

và đời sống chính trị Vì vậy, kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực rất nhạy cảm, một thay đổi nhỏ trong cung cầu cũng có thể tạo ra tác động lớn đến kinh tế

xã hội

Trang 32

c) Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu

Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu chính là các yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu về xăng dầu

Những nhân tố ảnh hưởng đến cung về xăng dầu có thể kể đến như:

- Hạn ngạch của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (Organization of the petroleum Exporting Countries) có ảnh hưởng lớn đến khả năng cung cấp xăng dầu ra thị trường thế giới vì tổ chức này tập trung những nước xuất khẩu dầu lớn Năm 2013, OPEC chiếm 39,7% sản lượng dầu thế giới [35]

- Lượng dầu trong kho dự trữ của Tổ chức năng lượng thế giới IEA (International Energy Agency) IEA bao gồm những nước tiêu thụ xăng dầu lớn là Mỹ, Nhật Bản và các nước Tây Âu Biện pháp quan trọng nhất của IEA

là dự trữ dầu nhằm chống lại những ảnh hưởng tiêu cực khi OPEC giảm sản lượng khai thác hoặc có những biến động lớn về cung trên thị trường Khi cung trên thị trường giảm đến một mức nhất định, IEA sẽ lấy dầu trong kho

dự trữ ra, bù đắp một phần mức thiếu hụt làm giảm áp lực tăng giá dầu [36]

- Tình hình chính trị trên thế giới cũng có tác động mạnh mẽ đến cung cầu và giá cả dầu mỏ trên thế giới Đặc biệt là khu vực Trung Đông nơi tập trung trên 60% sản lượng của thế giới Thực tế cho thấy, cuộc chiến Irắc, tình hình chính trị căng thẳng ở Palestin và Israel, nạn khủng bố quốc tế đều ảnh hưởng đến sản lượng khai thác dầu

- Hoạt động đầu tư, thăm dò và khai thác các mỏ dầu khí mới

Những nhân tố ảnh hưởng đến cầu về xăng dầu là:

- Sự tăng trưởng của kinh tế thế giới Nhu cầu xăng dầu có quan hệ chặt chẽ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới Đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc đã làm gia tăng đáng kể nhu cầu về xăng dầu Trung Quốc hiện đang nhập khẩu khoảng 60% lượng tiêu thụ dầu khí trong

Trang 33

khi Mỹ giảm sự phụ thuộc hơn với dầu khí từ nước ngoài với tỷ lệ nhập vào chỉ chiếm 50% lượng tiêu thụ

- Sự đầu cơ của các quốc gia và các hãng xăng dầu lớn trên thế giới

Để đối phó với những biến động về nguồn cung xăng dầu một biện pháp rất quan trọng mà các nước công nghiệp phát triển hay áp dụng là xây dựng các kho dự trữ dầu tại nước mình Ngoài việc quan tâm đầu tư xây dựng các kho chứa dầu dự trữ tại các nhà máy lọc dầu thì các nước này còn đặc biệt quan tâm đến việc thiết lập các kho dự trữ chiến lược về xăng dầu Các công

ty lọc dầu có nhiệm vụ bắt buộc là phải xây dựng các kho chứa dầu dự trữ với

sự hỗ trợ nhất định của Nhà nước Thông thường khi xây dựng nhà máy lọc dầu người ta chỉ cần xây kho dự trữ cho khoảng 3 tuần là đủ để đối phó với những sự cố thiên nhiên như bão lụt Tuy nhiên, hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều xây dựng thêm kho để có dự trữ chiến lược Ví dụ như Nhật Bản đã có kho dự trữ cho khoảng 4 tháng nghĩa là họ thường xuyên có trong kho gần 100 triệu tấn dầu thô không kể lượng dầu vẫn được nhập hàng ngày cho các nhà máy đang vận hành Còn trong kho dự trữ chiến lược của

Mỹ có khoảng 230 triệu tấn dầu thô Trung Quốc cũng tuyên bố hiện đang xây dựng các cơ sở dự trữ xăng dầu chiến lược quốc gia và khi Trung Quốc bắt đầu quá trình dự trữ thì sẽ tác động mạnh mẽ đến tổng cầu về xăng dầu, tính đến tháng 01/2013 Trung Quốc đã dự trữ một lượng dầu thô lên tới gần

20 tỷ thùng Như vậy đây là một khối lượng tương đối lớn và nó có tác động không nhỏ đến thị trường cầu về dầu mỏ trên thế giới [39]

- Yếu tố thời tiết Xăng dầu hiện nay được dùng làm nhiên liệu sưởi ấm chính thay thế gần như hoàn toàn than và củi nên một mùa đông lạnh giá hay

ấm áp đều ảnh hưởng đến nhu cầu xăng dầu thế giới

- Việc sử dụng nhiên liệu thay thế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Bên cạnh xăng dầu, người sử dụng năng lượng còn có những nguồn

Trang 34

nhiên liệu khác như khí thiên nhiên, than, năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sóng, Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cho phép con người làm ra những máy móc, phương tiện tiêu thụ xăng dầu ít hơn trước đây, đồng thời khoa học kỹ thuật phát triển cũng cho phép tạo ra những máy móc chạy bằng các nguồn năng lượng khác Như vậy, việc chuyển sang sử dụng nhiên liệu thay thế và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật

có tác động làm giảm nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trên thế giới Tuy nhiên, theo

dự báo của các chuyên gia năng lượng thế giới thì nhu cầu về xăng dầu của thế giới đến năm 2015 tiếp tục gia tăng vì chưa có một dạng năng lượng mới nào có thể thay thế một cách có hiệu quả được xăng dầu

1.1.2.2 Nội dung của quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

a) Quản lý chủ thể kinh doanh xăng dầu

Do đặc điểm của thị trường xăng dầu, khả năng gia nhập thị trường của doanh nghiệp rất hạn chế Trong điều kiện thị trường xăng dầu thế giới bị chi phối bởi các tập đoàn dầu mỏ khổng lồ, các doanh nghiệp xăng dầu của các nước đang phát triển không dễ tồn tại và phát triển Do đó, nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo lập các doanh nghiệp trong lĩnh vực này

Sản phẩm xăng dầu có vai trò rất quan trọng với sản xuất và đời sống nhưng lại có thể gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường Do đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu rất cao Trong khi đó, mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận nên không phải lúc nào doanh nghiệp cũng chú

ý đầy đủ trách nhiệm của mình Quản lý nhà nước đối với các chủ thể kinh doanh xăng dầu nhằm nâng cao tri thức, hiểu biết, kỹ năng của họ; buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm là rất cần thiết

Do đặc thù kinh doanh xăng dầu mang tính kỹ thuật - thương mại nên các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này thường phải đáp ứng một số điều

Trang 35

- Giá cả xăng dầu trên thị trường thế giới biến động khó dự đoán

Nhà nước có thể điều tiết giá bằng một số biện pháp:

- Định giá là việc Nhà nước dùng công cụ hành chính để tác động vào mức giá, được thể hiện dưới các dạng như: giá chuẩn, giá sàn, giá trần, giá khung, giá tính

- Trợ giá là việc Nhà nước sử dụng công cụ tài chính, tín dụng nhằm biến đổi mức giá theo tính toán của mình thông qua kênh ưu đãi: Ưu đãi thuế,

ưu đãi tín dụng hay trợ cấp tài chính trực tiếp

- Sử dụng quỹ bình ổn giá để điều tiết

- Các biện pháp khác: khuyến cáo, đăng ký và niêm yết giá, hướng dẫn tính và lập giá

Trang 36

c) Quản lý đo lường và chất lượng

Do đặc điểm của sản phẩm xăng dầu, người tiêu dùng không đủ thông tin về sản phẩm Trên thị trường xăng dầu, người mua không đủ điều kiện kiểm định về số lượng, chất lượng sản phẩm Người tiêu dùng chỉ có thể kiểm định chất lượng xăng dầu trong quá trình sử dụng Thậm chí, chỉ khi máy móc không hoạt động do chất lượng xăng dầu không đảm bảo (xăng dầu có nước lã; xăng dầu có pha a-xê-tôn; xăng dầu có nhiều cặn…) người sử dụng mới biết được chất lượng xăng dầu Sự không đảm bảo về

số lượng, chất lượng sản phẩm xăng dầu không chỉ làm tổn hại lợi ích người tiêu dùng, mà còn làm tổn hại lợi ích xã hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là chức năng của nhà nước

d) Các chính sách điều tiết, hỗ trợ

Do những đặc điểm, tầm quan trọng của xăng dầu và các khuyết tật của thị trường xăng dầu, Nhà nước cần có các chính sách điều tiết, hỗ trợ

Thứ nhất, tạo lập môi trường cạnh tranh trên thị trường xăng dầu Đây

là chính sách quan trọng nhất trên thị trường xăng dầu Để tạo lập môi trường này, Nhà nước cần tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh trên thị trường xăng dầu và cạnh tranh với nhau thật sự bình đẳng

Thứ hai, phải cung cấp đầy đủ, minh bạch thông tin cho doanh nghiệp

và người tiêu dùng về thị trường xăng dầu thế giới, trong nước; hoạt độngc của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước… Khi đó, các doanh nghiệp sẽ không con cơ hội độc quyền giá cả; người tiêu dùng có cơ hội mua xăng dầu đảm bảo cả số lượng, chất lượng

Thứ ba, Nhà nước cần đầu tư xây dựng kết cấu hạt tầng cho ngành xăng dầu: hệ thống kho bãi, cảng biển, trang thiết bị phòng chữa cháy nổ… Đây là

cơ sở quan trọng để hiện đại hóa, ngành xăng dầu, nâng cao hiệu quả và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và

Trang 37

cho xã hội

Thứ tư, sử dụng các công cụ bình ổn cho thị trường xăng dầu Những công cụ này rất đa dạng Để ổn định thị trường xăng dầu, đa số các nước đều xây dựng quỹ dự trữ xăng dầu Khi giá xăng dầu thế giới tăng đột biến, Nhà nước có thể sử dụng quỹ dự trữ để ổn định thị trường xăng dầu nội địa [23]

Để ổn định thị trường xăng dầu, Nhà nước có thể sử dụng công cụ tài chính xây dựng quỹ bình ổn giá xăng dầu, thuế xăng dầu…

Ngoài ra, Nhà nước có thể hỗ trợ thị trường xăng dầu bằng nhiều chính sách khác: đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học - công nghệ

về xăng dầu; phát triển công nghiệp chế biến dầu; nghiên cứu, tìm kiếm các nguồn năng lượng mới; xây dựng thị trường xăng dầu…

là hết sức cần thiết đối với Việt Nam

Một vấn đề đặt ra là, chọn quốc gia nào để tham khảo kinh nghiệm quản lý hoạt động kinh doanh xăng dầu? Sau khi tìm hiểu, tác giả quyết định lựa chọn Malaysia làm nước tham khảo kinh nghiệm quản lý Sở dĩ lựa chọn tham khảo kinh nghiệm quản lý của Malaysia vì Quốc gia này cùng khu vực Đông Nam Á có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về đặc điểm và trình độ phát triển của thị trường các sản phẩm xăng dầu

1.2.1 Kinh nghiệm của Malaysia về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

Quản lý của Nhà nước Malaysia về lĩnh vực kinh doanh xăng dầu đã thực sự theo cơ chế thị trường, đảm bảo hiệu quả của doanh nghiệp trong

Trang 38

nước đồng thời mở cửa thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Hiện nay, Malaysia đã hình thành môi trường kinh doanh xăng dầu cạnh tranh tương đối lành mạnh, hiệu quả

- Quản lý chủ thể kinh doanh Xăng dầu: Malaysia chỉ thành lập duy

nhất một doanh nghiệp nhà nước có toàn quyền sở hữu về ngành dầu khí và độc quyền thăm dò tìm kiếm dầu khí trên đất liền và ngoài khơi thuộc chủ quyền của Malaysia, đó là hãng xăng dầu quốc gia Malaysia PETRONAS

PETRONAS là một công ty dầu khí tổng hợp đảm nhận từ thăm dò, khai thác, chế biến và tiêu thụ cũng như các hoạt động khác thuộc lĩnh vực công nghiệp dầu khí PETRONAS trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, do Chính phủ điều hành thông qua bộ máy tham mưu là “Hội đồng cố vấn dầu khí quốc gia”, các Bộ của Chính phủ chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tuỳ theo chức năng của từng bộ liên quan đối với PETRONAS PETRONAS là công ty mẹ, trực thuộc công ty mẹ có 3 loại công ty con:

+ (1) Công ty 100% vốn của PETRONAS hoạt động trong tất cả các lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến, bán buôn, bán lẻ, vận chuyển xăng dầu

+ (2) Công ty có trên 50% vốn của PETRONAS hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất chế biến phân bón, khí lỏng, dịch vụ kỹ thuật

+ (3) Công ty dưới 50% vốn của PETRONAS hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất gas, hoá dầu

Như vậy, những công ty hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực xăng dầu đều là những công ty 100% vốn của PETRONAS

Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ Malaysia trong lĩnh vực dầu khí là củng cố và tăng cường cho Công ty duy nhất này của Chính phủ về dầu khí đi đôi với mở cửa thu hút đầu tư của các công ty dầu mỏ nước ngoài Nhà nước chủ trương chỉ chiếm lĩnh thị trường bán lẻ trong nước ở mức 30% nhu cầu,

Trang 39

còn lại cho các hãng nước ngoài vào kinh doanh Trên thị trường Malaysia có các hãng xăng dầu nước ngoài tham gia như SHELL, ESSO, BP, MOBIL, CALTEX chiếm lĩnh khoảng 70% thị phần bán lẻ

- Quản lý giá: Hiện nay, Chính phủ Malaysia đang thực hiện kiểm soát

giá bán lẻ xăng dầu đối với xăng, Điêzen thông qua cơ chế “giá tự động”

Giá bán lẻ xăng và dầu Điêzen được xác định như sau:

Giá bán lẻ= Giá thành sản phẩm + Chi phí phân phối + Chi phí vận chuyển + Hoa hồng đại lý + Lợi nhuận công ty + Thuế [30]

Mục tiêu lợi nhuận trong kinh doanh xăng dầu luôn phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước Chính vì vậy, Malaysia quy định mức lợi nhuận hợp lý cho kinh doanh xăng dầu (mức lãi bằng 3% giá bán) Mục tiêu lợi nhuận trong kinh doanh xăng dầu có sự chủ động điều tiết của Nhà nước để đảm bảo cho hoạt động này vừa có thu nhập hợp lý vừa phục vụ tốt cho sản xuất và đời sống

- Các biện pháp hỗ trợ khác:Malaysia là nước xuất khẩu dầu thô

Malaysia đã lập quỹ bù giá bằng cách lấy lãi từ hoạt động xuất khẩu dầu thô

để bù lỗ cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nhập khẩu khi giá dầu trên thị trường thế giới tăng đột biến Trước tình hình giá dầu thế giới lên cao,

để hạn chế những tác động tiêu cực của nó, Malaysia áp dụng biện pháp điều chỉnh tăng giá kết hợp với trợ giá nhiên liệu ở mực độ nhất định Tuy nhiên,

từ tháng 7/2010, Chính phủ nước này đã hủy bỏ trợ giá với xăng RON 97 và

để loại này biến động theo thị trường quốc tế Việc cắt giảm sẽ còn tiếp tục trong thời gian 3 - 5 năm sau đó để cải thiện ngân sách chính phủ và nâng cao hiệu suất kinh tế Năm 2012, nước này đã chi tới 17 tỷ ringgit (khoảng 4,7 tỷ USD) cho trợ cấp các sản phẩm xăng dầu Giá xăng RON 97 của Malaysia tính đến đầu tháng 3/2013 là 2,9 ringgit (19.530 đồng) và xăng RON 95 được trợ giá là 1,9 ringgit (12.795 đồng)[30]

Trang 40

1.2.2 Bài học kinh nghiệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Malaysia có thể rút ra bài học cho Việt Nam:

(1) Quản lý của Chính phủ đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường xăng dầu: Chính phủ Malaysia rất chú trọng và quản lý chặt chẽ,

thống nhất hoạt động kinh doanh xăng dầu Đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng có trật tự theo luật pháp Malaysia Tạo lập được môi trường kinh doanh gồm nhiều hãng dầu, trong đó thu hút nhiều hãng dầu nước ngoài tham gia cùng cạnh tranh lành mạnh qua đó đảm bảo đáp ứng lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng Ngoài ra kênh bán lẻ xăng dầu là kênh trực tiếp đáp ứng nhu cầu người dân, Chính phủ Malaysia đã điều hành thị trường với phần lớn là các hãng dầu nước ngoài tạo mội trường cạnh tranh hoàn hảo đem lại lợi ích cho người dân Malaysia

(2) Độc quyền đối với doanh nghiệp nội địa trong kinh doanh xăng dầu: Chính phủ Malaysia chỉ thành lập duy nhất một doanh nghiệp nhà nước

có toàn quyền sở hữu về ngành dầu khí và độc quyền thăm dò tìm kiếm dầu khí trên đất liền và ngoài khơi thuộc chủ quyền của Malaysia, đó là hãng xăng dầu quốc gia Malaysia PETRONAS nên việc điều tiết hoạt động kinh doanh xăng dầu tập trung

(3) Quản lý giá: Chính phủ Malaysia cũng can thiệp vào giá cả xăng

dầu bằng cơ chế "giá tự động", trong cơ cấu giá có phần lợi nhuận định mức hợp lý đảm bảo hiệu quả cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

(4) Các công cụ hỗ trợ khác: Malaysia đã lập quỹ bù giá bằng cách lấy

lãi từ hoạt động xuất khẩu dầu thô để bù lỗ cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nhập khẩu khi giá dầu trên thị trường thế giới tăng đột biến

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Ngọc Bảo (2010), “Vai trò của Petrolimex trong vận hàng kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường”, Tạp chí Thị trường Giá cả (Số đặc biệt Xuân Canh Dần) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Petrolimex trong vận hàng kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường”, "Tạp chí Thị trường Giá cả
Tác giả: Bùi Ngọc Bảo
Năm: 2010
2. Bộ Công thương (2009), Thông tư số 36/2009/TT-BCT ban hành Quy chế đại lý kinh doanh xăng dầu, ngày 14 tháng 12 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2009/TT-BCT ban hành Quy chế đại lý kinh doanh xăng dầu
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
10. Bộ Thương mại (2005), Quyết định số 2645/2005/QĐ-BTM về thù lao đại lý kinh doanh mặt hàng xăng, ngày 1 tháng 11 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2645/2005/QĐ-BTM về thù lao đại lý kinh doanh mặt hàng xăng
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2005
11. Chính phủ (2007), Nghị định số 55/2007/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu, ngày 06 tháng 4 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 55/2007/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
12. Chính phủ (2009), Nghị định số 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu, ngày 15 tháng 10 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
13. Hồ Đại Đức (năm 2007), Một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đến năm 2015, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đến năm 2015
14. Kiều Đình Kiểm (1999), Các sản phẩm Dầu mỏ và hoá dầu, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các sản phẩm Dầu mỏ và hoá dầu
Tác giả: Kiều Đình Kiểm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
15. Thân Danh Phúc (2012), Giáo trình quản lý Nhà nước về thương mại, Trường đại học thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nước về thương mại
Tác giả: Thân Danh Phúc
Năm: 2012
16. Lại Viết Thích (2003), “Thực hiện quy chế kinh doanh xăng dầu mới: Bước tiến vào thị trường tự do”, Tạp chí Thương Mại, số 38, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quy chế kinh doanh xăng dầu mới: Bước tiến vào thị trường tự do”, "Tạp chí Thương Mại
Tác giả: Lại Viết Thích
Năm: 2003
17. Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (2012), Quy chế quản lý hao hụt xăng dầu, ngày 20 tháng 09 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý hao hụt xăng dầu
Tác giả: Tập đoàn xăng dầu Việt Nam
Năm: 2012
18. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 93/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống kho xăng dầu trên phạm vi cả nước đến năm 2010, ngày 16 tháng 7 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 93/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống kho xăng dầu trên phạm vi cả nước đến năm 2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2002
19. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý kinh doanh xăng, dầu, ngày 15 tháng 9 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý kinh doanh xăng, dầu
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2003
20. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm tra về chất lượng, ngày 07 tháng 3 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm tra về chất lượng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
21. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 04/2009/QĐ-TTg về việc trích quỹ bình ổn giá xăng dầu, ngày 09 tháng 01 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2009/QĐ-TTg về việc trích quỹ bình ổn giá xăng dầu
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
22. Trần Hậu Thƣ (1994), Vai trò quản lý của Nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò quản lý của Nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả: Trần Hậu Thƣ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
23. Nguyễn Quang Tuấn (2008), Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu ở Việt Nam, Luận văn Thạc Sỹ quản lý kinh tế, Trường Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Năm: 2008
24. Nguyễn Cao Vãng (1995), Kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội.Bài trên các trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Cao Vãng
Năm: 1995
27. Tiến Dũng, Thị trường xăng dầu: Vẫn độc quyền nhóm (ngày 15/10/2013)/ Download: http://www.kinhte24h.com/view-gh/52/64489/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xăng dầu: Vẫn độc quyền nhóm
28. Dân việt, Trung quốc trở thành nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới (tháng 08/2013)/Download: http://xangdau.net/tin-tuc/thong-tin-ve-dau-mo/trung-quoc-se-tro-thanh-nha-nhap-khau-dau-lon-nhat-the-gioi-thang-10-toi-32279.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung quốc trở thành nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới
40. Duy Tiên, Khởi công dự án lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa (23/10/2013), Download: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/khoi-cong-du-an-loc-dau-hon-9-ty-usd-793101.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu ở khâu nhập hàng - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 1.1 Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu ở khâu nhập hàng (Trang 29)
Bảng 1.2: Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu khâu xuất hàng - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 1.2 Chỉ tiêu hao hụt Xăng dầu khâu xuất hàng (Trang 29)
Bảng 2.1. Khối lƣợng xăng dầu nhập khẩu năm 2010- 2012 - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 2.1. Khối lƣợng xăng dầu nhập khẩu năm 2010- 2012 (Trang 45)
Bảng 2.2. Cơ cấu nhập khẩu xăng dầu tiêu dùng nội địa - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 2.2. Cơ cấu nhập khẩu xăng dầu tiêu dùng nội địa (Trang 46)
Bảng 2.3. Tỷ trọng xăng dầu nhập khẩu của các đầu mối năm 2013 - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 2.3. Tỷ trọng xăng dầu nhập khẩu của các đầu mối năm 2013 (Trang 47)
Bảng 2.5. Các doanh nghiệp đƣợc cấp phép nhập khẩu xăng dầu  TT  Tên doanh nghiệp  Loại hình - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 2.5. Các doanh nghiệp đƣợc cấp phép nhập khẩu xăng dầu TT Tên doanh nghiệp Loại hình (Trang 52)
Bảng 2.6. Bảng tính giá cơ sở theo Nghị định số 84/2009/NĐ-CP   ngày 18/12/2013 - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 2.6. Bảng tính giá cơ sở theo Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 18/12/2013 (Trang 69)
Bảng 2.7. Tình hình sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu từ khi bắt đầu  trích đến nay - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 2.7. Tình hình sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu từ khi bắt đầu trích đến nay (Trang 73)
Bảng 3.1. Các dự án nhà máy lọc dầu tại Việt Nam - Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Bảng 3.1. Các dự án nhà máy lọc dầu tại Việt Nam (Trang 93)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w