1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao và trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo

79 781 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, nhận thức về vai trò quan trọng của xóa đói, giảm nghèo đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội đã được thay đổi căn bản ở các cấp, các ngành, nhờ vậy, chính sách xóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ _ 

NGUYỄN VĂN Y

NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI TRONG CÔNG CUỘC

XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -NGUYỄN VĂN Y

NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI TRONG CÔNG CUỘC

XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60 34 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI THỊ THANH XUÂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

i

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO VAI TRÕ HỘI PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 9

1.1 Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo 9

1.1.1 Khái niệm và nguyên nhân của đói nghèo 9

1.1.2 Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo 12

1.1.3 Vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo 12

1.2 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Hội Phụ nữ một số huyện 17

1.2.1.Kinh nghiệm của Hội Phụ nữ huyện Ba Vì 17

1.2.2 Kinh nghiệm của Hội phụ nữ huyện Thạch Thất( Hà Nội) 19

1.2.3 Kinh nghiệm của Hội Phụ nữ huyện Chương Mỹ( Hà Nội) 21

1.2.4 Kinh nghiệm của Hội phụ nữ huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi ) 24

1.2.5 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Hội phụ nữ huyện Quốc Oai 26

Trang 4

ii

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

CỦA HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI 28

2.1 Khái quát về Hội phụ nữ huyện Quốc Oai 28

2.2 Thực trạng hoạt động xóa đói giảm nghèo của Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai từ năm 2006 đến nay 30

2.2.1 Hỗ trợ hội viên vay vốn 30

2.2.2 Hỗ trợ đào tạo và hướng nghiệp cho hội viên 33

2.2.3 Giúp hội viên làm kinh tế gia đình 35

2.2.4 Vận động hội viên thực hiện kế hoạch hóa gia đình 39

2.2.5 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra nước ngoài 43

2.3 Đánh giá chung về hoạt động XĐGN của Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai 44

2.3.1 Những thành tựu cơ bản 44

2.3.2 Một số hạn chế chủ yếu 49

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÕ HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI TRONG CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 52

3.1 Định hướng của Hội trong hoạt động xóa đói giảm nghèo đến năm 2020 52

3.2 Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt động xóa đói giảm nghèo của hội phụ nữ huyện Quốc Oai từ nay đến năm 2020 55

3.2.1 Đẩy mạnh các chương trình “ góp vốn”, “tiết kiệm vốn” trong cộng đồng phụ nữ 55

3.2.2 Tăng cường huy động đi đôi với hướng dẫn hội viên sử dụng vốn vay có hiệu quả 56

3.2.3 Tăng cường tuyên truyền về kế hoạch hóa dân số tới tận từng thành viên của Hội 58

Trang 5

iii

3.2.4 Tăng cường hoạt động tập huấn khoa học kỹ thuật cho hội viên 60 3.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận đông các đoàn thể tham gia xóa đói giảm nghèo 62 3.2.6 Tăng cường phân cấp quản lý và phối kết hợp với các cơ quan, đoàn thể 64 3.2.7.Chính phủ cần có hệ thống chính sách đồng bộ trong xóa đói giam nghèo 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT

DS-KHHGĐ Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

Trang 7

v

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 2.1 Tỷ lệ các chủ hộ nghèo trong huyện là nữ 29 Bảng 2.2 Kết quả hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế XĐGN 38 Bảng 2.3 Kết quả XĐGN của Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối tùy thuộc điều kiện

cụ thể của từng thời kỳ và từng quốc gia Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất thế giới Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì

tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều

Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế Việt Nam là một trong những nước

có thu nhập thấp trên thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN

là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc

tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến Chúng ta đều biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát triển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã hội, bệnh tật phát triển, trật tự an ninh chính trị không ổn định…

Trong thời kỳ nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH), phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đề XĐGN càng khó khăn và phức tạp hơn so với thời kỳ trước Muốn đạt được hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình nhằm thực hiện mục tiêu dân

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Quốc Oai là huyện ngoại thành TP Hà Nội, với diện tích là 147 km2

Trang 9

2

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của thành phố, sự nỗ lực

cố gắng của lãnh đạo và nhân dân toàn huyện nên tình hình kinh tế - xã hội đã

có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói hàng năm giảm từ 2-3% Những thành tựu đó là kết quả nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp cùng các tổ chức và

cá nhân trong huyện, trong đó có sự đóng góp tích cực của Hội Phụ nữ huyện

Thực tế đó đang dặt ra cho các cấp chính quyền địa phương phải tìm biện pháp hữu hiệu nhằm thực hiện XDGN bền vững, trong đó có vai trò của Hội phụ nữ huyện Nhằm góp phần tìm giả pháp cho vấn đề này, tôi chọn đề tài luận văn thạc sỹ của mình là: “ Nâng cao vai trò của Hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo” Câu hỏi nghiên cứu của luận văn là: Hội phụ nữ có vai trò gì trong hoạt động XDGN trên địa bàn huyện Quốc Oai? Và cần phải làm gì? Để nâng cao vai trò của Hội trong hoạt động này?

2 Tình hình nghiên cứu

Vẫn đề xóa đói giảm nghèo đã có nhiều công trình nhiên cứu và báo cáo được công bố Liên quan đến nội dung của đề tài có các công trình tiêu biểu sau:

Cuốn sách Chính sách xóa đói, giảm nghèo - Thực trạng và giải pháp là

kết quả nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, do PGS.TS Lê Quốc Lý - Phó Giám đốc Học viện chủ biên

Với 9 chương, hơn 300 trang sách, cuốn sách đã đánh giá một cách tổng quan

về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chủ trương, đường lối của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo; các chương trình xóa đói, giảm nghèo điển hình; đánh giá tổng quát việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; nêu ra những định hướng,

Trang 10

3

mục tiêu xóa đói, giảm nghèo cùng những cơ chế, giải pháp nhằm thực hiện

có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới

Có thể thấy rằng, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm

và được xây dựng thành chương trình mục tiêu quốc gia Qua đó, nhận thức

về vai trò quan trọng của xóa đói, giảm nghèo đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội đã được thay đổi căn bản ở các cấp, các ngành, nhờ vậy, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng, đặc biệt là trong giai đoạn 2001-2010, như: chính sách xóa đói, giảm nghèo góp phần làm tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, làm thay đổi mức sống của người nghèo, làm tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước… Tuy nhiên, chính sách xóa đói, giảm nghèo vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: thành tựu chưa thực sự bền vững, chính sách còn chồng chéo, thiếu thống nhất và đồng bộ, chủ yếu thiên về lượng, chưa chú trọng đến chất lượng giảm nghèo, còn mang tính ngắn hạn…

Đây cũng chính là động lực để các tác giả thực hiện cuốn sách này, với mục đích rút ra những bài học, bổ sung luận cứ cho công tác hoạch định chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới Với sự đầu tư nghiêm túc, tâm huyết của các tác giả, cuốn sách là một công trình khoa học

có giá trị tham khảo tốt cho các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, đặc biệt là chính sách xóa đói, giảm nghèo ở nước ta

- Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, của TS Đỗ

Thị Bình và Lê Ngọc Hân, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Cuốn sách này nêu lên các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ở nước ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ

Trang 11

có các khu vực miền núi và đồng bằng, đặc biệt là khu vực vùng núi phía Bắc

có các đồng bào dân tộc sinh sống chịu sự tác động phân hóa giàu nghèo rõ rệt, đời sống của các đồng bào dân tộc nơi đây rất khó khăn, các nhu cầu thiết thực cho cuộc sống vẫn còn thiếu, các cơ sở hạ tầng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc nơi đây chưa đáp ứng được đại bộ phận đồng bào Bên cạnh

đó thi khu vực đồng bằng, thành thị trên cả nước khá phát triển Từ các dịch vụ

y tế, chăm sóc sức khỏe, các công trình giao thông, cơ sở hạ tầng đã cơ bản đáp ứng được cho đại bộ phận người dân khu vực thành thị Các tác gia cũng đưa ra các giải pháp để thu hẹp khoảng cách và sự phân hóa giàu nghèo gữa các vùng dân tộc và miến núi phía bắc của nước ta dưới tác động của kinh tế thị trường như : Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tạo ra sản phẩm giá trị cao cho thi trường, phát triển các loại cây trồng công nghiệp có giá trị kinh tế cao, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến khu vực miền núi và đồng bào dân tôc để nâng cao, phát triển kinh tế-xã hội nâng cao đời sống cho người dân góp phần đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo, giảm nghèo của Chính phủ

- Việc xóa đói giảm nghèo ở Hưng Hà, của Nhật Tân, Tạp chí cộng sản

số 12 năm 1993 Tác giả đề cập đến công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Hưng Hà ( Thái Bình) và đánh giá cao các cấp ủy đảng, các tổ chức, hiệp hội tại đia phương tham gia công tác xóa đói giảm nghèo Điển hình là Hội Liện Hiệp Phụ Nữ huyện với các phong trào thi đua xây dựng chi hội như: ba

Trang 12

5

không, ba có: Nghĩa là phấn đấu không có hội viên phụ nữ nghèo, không có người mắc tệ nạn xã hội, không có trẻ em suy dinh dưỡng bỏ học và chị em sinh con thứ ba; các chi hội phát động các phong trào giúp nhau phát triển kinh tế tăng gia sản xuất và xây dựng nếp sống văn hóa ở khu dân cư Hưởng ứng các phong trào toàn bộ chi hội cơ sở trong huyện đã xây dựng chương trình hành động và tổ chức cho cán bộ, hội viên, phụ nữ học tập nội dung của phong trào, cam kết và tham gia tổ chức thi đua với các chi hội trên địa bàn Tập Công tác DS-KHHGĐ của các cấp đảng ủy, ủy ban nhân dân, các tổ chức, cơ quan trên địa bàn cũng được triển khai đồng bộ và có nguyên tắc như các hình thức đăng ký thực hiện kế hoạch hóa gia đình đối với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, đồng thời coi trọng khuyến khích cá nhân, đơn vị

tự giác thực hiện; xử lý các trường hợp vi phạm chính sách dân số Các quy định, chính sách phù hợp được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo dư luận xã hội

có lợi cho việc thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ

- Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục”

của TS Bạch Đình Ninh, Tạp chí Cộng sản số 10 năm 1999 Nghệ An có các huyện và xã thuộc khu vúi miền núi có nhiều đồng bào dân tọc sinh sống Tác giả nhận xét vị trí đĩa lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu là nguyên nhân chủ yếu của đói nghèo tại đây, các cơ chế, chính sách của chính quyền Tỉnh Nghệ An

về vốn hộ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất hộ gia đình chưa cụ thể, chính xác cho từng hộ gia đình là nguyên nhân làm cho ngồn vốn vay phát triển sẩn xuất

hộ gia đình không hiệu quả, làm giảm hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo tại đại phương Các giải pháp theo tác giả phải có tiêu chí cụ thể cho mỗi hộ gia đinh khi vay vốn sản xuất, có cơ chế kiểm tra , giám sát ngồn vốn vay của từng hộ gia đình Khắc phục vị trí, điều kiện thiên nhiên, khí hậu bằng việc nghiên cứu trồng xen, thâm canh nhiều loại cây lương thực, cây công nghiệp

Trang 13

- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến nay

- Đề xuất các định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của hội trong công tác xoá đói giảm nghèo huyện Quốc Oai đến 2020

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan đến công tác

và chương trình xoá đói giảm nghèo của các Hội phụ nữ một số đia phương trên cả nước.Trong đó đi sâu nghiên cứu các hoạt động của Hội Phụ nữ huyên

Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung : nghiên cứu thực trạng đói nghèo và phát triển kinh tế của

của Hội phụ nữ huyện Quốc Oai và một số hội phụ nữ tại các địa phương khác

Phạm vi thời gian : từ năm 2006 đến nay và một số định hướng, giải

pháp đến năm 2020

Trang 14

5.2 Phương pháp cụ thể

Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp được thu thập từ 2 nguồn:

+ Từ các sách, công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về các nội dung liên quan đến chủ đề tiểu luận

+ Từ các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hà Nội và đại hội Đảng bộ huyện Quốc Oai, các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện, báo cáo của các phòng LĐTB&XH, Phòng Thống kê,Hội phụ nữ huyện qua 5 năm từ 2006 đến 2011, và các mục tiêu, giải pháp của hội đến năm 2020

Phương pháp phân tích

- Để phân tích thực trạng đói nghèo của huyện chúng tôi sử dụng các phương pháp: thống kê mô tả để mô tả thực trạng, thống kê so sánh tỷ lệ phân trăm hộ nghèo tại các xã trong tòa huyện để từ đó đánh giá, đưa ra các đinh hướng cho từng xã

- Căn cứ vào thực trạng đói nghèo của huyện, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Quốc Oai đến năm 2020 để đưa ra những định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của hội phụ nữ trong XĐGN đến năm

20020 cho huyện Quốc Oai

Trang 15

8

6 Đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ đặc điểm đói nghèo của Phụ nữ và so với các đối tượng khác

- Đề xuất, định hướng và nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Hội phụ nữ

huyện Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo đến năm 2020

- Đánh giá thực trạng vai trò Hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong XDGN hiện nay, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế của Hội trong hoạt động này

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về nâng cao vai trò Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo

Chương 2: Thực trạng hoạt động xóa đói giảm nghèo của Hội phụ nữ huyện Quốc Oai

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò Hội Phụ nữ huyên Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo đến năm 2020

Trang 16

9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM

VỀ NÂNG CAO VAI TRÕ HỘI PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo

1.1.1 Khái niệm và nguyên nhân của đói nghèo

1.1.1.1 Khái niệm nghèo đói

Tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa

như sau: “ nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa

mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”[15]

Theo liên minh châu Âu (EU) thì đánh giá: “ Một gia đình nghèo là gia đình

có mức thu nhập không băng nửa so với các gia đình khác trong quốc gia »

Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu nghèo đói là tình trạng một bộ phận

dân không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã

Trang 17

10

hội ở Copenhagen( Đan Mạch), những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trong tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại

Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc Nó

là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn

về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Thái Lan vào tháng 9/1993 Theo hội nghị này, đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại:

Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ

phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu

để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…; Còn

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức

trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định

Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: 1) không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; 2) có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; 3) thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Trang 18

11

Việt Nam cũng nằm trong các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề nghèo đói, và cũng đang nỗ lực đề xóa đói giảm nghèo, song đến nay tình trạng đói nghèo vẫn còn phổ biến, nhất là tại các vùng nông thôn

1.1.1.2 Nguyên nhân

Vấn đề đói nghèo của các quốc gia tuy có những nguyên nhân giống nhau, song do điều kiện cụ thể khác nhau mà mỗi nước lại có nguyên nhân khác nhau Tại Việt Nam, đói nghèo là do các nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt,

hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực

Thứ hai, do người dân thiếu kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu vốn

kinh doanh, hoặc gia đình đông con, thiếu người làm và không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro

Thứ ba, do cơ chế chính sách Cụ thể là chính sách thiếu hoặc không

đồng bộ Thêm vào đó là những khó khăn trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực nông thôn, miền núi Các chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách giáo dục đào tạo, ytế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới hiện vẫn chưa có tác động tích cực đến đời sống dân nghèo

Thứ tư, do số hộ nghèo tại các tỉnh thành phố trên cả nước chưa ý thức

đầy đủ về việc phải tự giải thoát mình khỏi cảnh nghèo khó cũng như là chưa lo tích góp vốn để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình Nhiều tỉnh thành, nơi có đồng bào là người dân tộc thiểu số còn có suy nghi cho rằng đầu tư cho xóa đói giảm nghèo là việc của Nhà nước, của chính quyền các cấp vì thế nên chưa có ý thức hợp tác, bảo vệ và khai thác các công trình hạ tầng cơ sở do nhà nước xây đầu tư xây dựng vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại địa phương

Trang 19

12

1.1.2 Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo

Nghèo đói vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020 là xây dựng một xã hội “ Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, vì vậy xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân ta Điều này xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:

- Nghèo đói sẽ cản trở sự phát triển chung của toàn xã hội

- Nhèo đói làm cho con người mất đi vị tri, vai trò trong xã hội

- Ngèo đói làm cho con người ta thiếu thốn về vật chất, ảnh hưởng đến tinh thần

- Nghèo đói gây ra các tiêu cực trong xã hội, các tệ nạn xã hội Nghèo đói không chỉ làm con người ta thiếu thốn về vật chất mà còn tạo ra những suy nghi tiêu cực cho con người, con người không lao động sản xuất mà thay vào đó là tham gia vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, số đề v Người nghèo cũng tác động đến quyền bình đẳng, vị trí cá nhận và sự phát triển trong từng xã hội

Từ những phân tích trên ta thấy việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân ta để hương tới một xã hội dân giàu, nước mạnh

1.1.3 Vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo

Phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới, nhưng tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ lại gấp đôi nam giới Vì vậy, phụ nữ được xếp vào nhóm “yếu thế” trong xã hội

Theo điều tra của Ngân Hàng Thế giới năm 1997-1998, tỷ lệ dân số nữ 15 tuổi trở lên chưa đến trường tại Việt Nam la 13,4%, nhiều hơn 2 lần tỷ lện nam

Phụ nữ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay để xản xuất kinh doanh

Phụ nữ Việt Nam có tỷ lệ nữ là đại biểu quốc hội khá cao (khoảng 25%), xếp thứ 2 khu vực châu á, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị

Trang 20

13

Phụ nữ Việt Nam hiện đang làm chủ 21% trong tổng số hơn 500.000 doaanh nghiệp cả nước, 30 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán.Doanh nghiệp nữ của Việt Nam cũng có mặt ở hầu hết các lĩnh vực như; dệt may, chế biến nông sản, thủy sản, da dày.v…

Rõ ràng những đặc điểm trên của phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn vào việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội, và cũng là đặc điểm nổi bật bản sắc người phụ nữ Việt Nam

Phụ nữ tuy là “phái yếu” nhưng một khi được tổ chức lại, họ lại có sức mạnh đáng kể Điều này được thể hiện rõ khi Hội Phụ nữ các cấp tham gia vào công cuộc xóa đói giảm nghèo Vai trò của các cấp Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất, giúp hội viên vay vốn, phát triển kinh tế gia đình

- Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn quan tâm đến sự phát triển, tiến bộ, bình đẳng của phụ nữ Trung ương Hội luôn sát sao hội viên, hỗ trợ chị em phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là tại các tỉnh, các khu vực khó khăn Trong nhiều năm qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với chức năng đại diện chăm lo cho quyền lợi phụ nữ đã tập trung chỉ đạo và triển khai nhiều phong trào tới các cấp hội nhưng chương trình, thiết thực hỗ trợ cho phụ nữ ở các nơi kho khăn phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo

- Các cấp Hội phụ nữ trong cả nước đều có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập” đã khơi dậy được tiềm năng to lớn, sức sáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinh nghiệm, ngày công sản xuất trong phụ nữ các khu vực khắp đất nước đặc biệt

là vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số Các tổ nhóm “Vay vốn - tiết kiệm”, “Phụ nữ sản xuất giỏi”, “Câu lạc bộ phụ nữ khuyến nông”, “Câu

Trang 21

14

lạc bộ nữ doanh nghiệp”, các mô hình lồng ghép dân số, sức khoẻ sinh sản với xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, xoá mù chữ… đã thu hút nhiều phụ nữ ở các tỉnh , thành và khu vực có các đông bào dân tộc thiểu số tham gia

Các cấp Hội tập trung khai thác từ ngân hàng, các tổ chức quốc tế, từ

tiết kiệm của chị em để hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Hội đã chủ động tín chấp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện uỷ thác với Ngân hàng Chính sách xã hội cho phụ nữ các cấp vay với cách thức vay trả linh hoạt, phù hợp Đến nay số vốn do các cấp Hội vùng quản lí là trên 10.550 tỷ đồng cho hàng triệu lượt chị em được vay Không chỉ giúp vốn, các cấp Hội còn tranh thủ các nguồn lực để tổ chức tập huấn, hội thảo, tham quan mô hình, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên 250.000 lượt phụ nữ …

Thứ hai, hướng dẫn kỹ thuật cho hội viên

Các cấp Hội đã không chỉ giúp chị em hội viên vay vốn, mà còn hướng dẫn chị em sử dụng đồng vốn đúng mục đích, hướng dẫn kỹ thuật tiên tiến,

sử dụng giống mới vào sản xuất … Nhờ vậy, nhiều chị em phụ nữ đã căn bản thoát đói và giảm nghèo Nhiều tấm gương giúp nhau phát triển kinh tế, nhiều điển hình vượt khó, thoát đói nghèo vươn lên khá, giàu xuất hiện; một

bộ phận phụ nữ đã mạnh dạn phát triển kinh tế trang trại, tiểu thủ công nghiệp, đa dạng hoá ngành nghề với doanh thu hàng năm từ 50-100 triệu đồng, góp phần giải quyết việc làm cho phụ nữ và thay đổi bộ mặt khu vực nông thôn và miền núi

Mô hình “Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ” và chỉ tiêu “80% trở lên số

hộ đói nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ” được các tỉnh tổ chức thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo như Hội phụ nữ tỉnh chỉ đạo 1-2 xã điểm, còn mỗi xã giúp 1-2 hộ nghèo trở lên, trong đó ưu tiên giúp hộ phụ nữ nghèo làm chủ hộ Cách thức là phân công 2-3 cán bộ, hội viên có

Trang 22

15

kinh tế khá hay đơn vị kết nghĩa giúp 1 hội viên về vốn, giống, cây, con, kinh nghiệm, kiến thức làm ăn để dần vươn lên thoát nghèo

Thứ ba ,giúp chị em kinh nghiệm làm ăn

Việc xây dựng các mô hình điểm hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo gắn với củng cố cơ sở Hội, phát triển hội viên, xây dựng lực lượng nòng cốt trong phụ nữ được các cấp Hội quan tâm chỉ đạo Năm 2005-2006 Trung ương Hội

đã trực tiếp chỉ đạo tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Gia Lai xây dựng mô hình xoá đói giảm nghèo cho phụ nữ và hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm cho phụ nữ 5 tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn,

Hà Giang, Lai Châu, Sơn La… Chỉ đạo phụ nữ dân tộc Mông, Dao ở hai xã Phong Niên, Bản Cầm huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xây dựng mô hình điểm có gắn với Hội thảo đầu bờ về trồng ngô lai, nuôi lợn sinh sản, nuôi dê, hướng dẫn chế biến, dự trữ lương thực, thực phẩm đạt kết quả tốt được cấp

uỷ, chính quyền địa phương đánh giá cao, phụ nữ dân tộc thiểu số được thụ hưởng thật sự phấn khởi, tích cực tham gia sinh hoạt hội

Hoạt động giúp phụ nữ thoát nghèo của các cấp Hội ngày càng đa

dạng, đạt nhiều kết quả nổi bật như tập trung giúp xây, sửa nhà cho phụ nữ nghèo, tặng học bổng cho bà con hộ nghèo, giúp hộ nghèo do phụ nữ làm chủ

hộ thoát nghèo bền vững Bằng sự đóng góp tiền, ngày công của phụ nữ, cộng đồng, doanh nghiệp Các mái ấm tình thương đã được xây dựng Chỉ tính riêng hai đợt là tập trung kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên và hưởng ứng đợt thi đua đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ phát động, Trung ương hội đã phát động phong trào “Phụ nữ cả nước với Điện Biên”, phụ nữ cả nước đã giúp cho 2.713 phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số xoá được nhà tranh tre, ở tạm

Thứ tư, hỗ trợ dạy nghề cho hội viên

Trang 23

16

Hoạt động dạy nghề, giới thiệu việc làm cho phụ nữ cũng được Hội

phụ nữ nhiều tỉnh như Hoà Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, An Giang… đẩy mạnh với việc dạy nghề truyền thống và một số ngành nghề mới cho nữ nông dân nghèo, trẻ em gái ở các địa bàn có khu du lịch, trung tâm giao lưu; tìm nguồn hàng và tạo việc làm tại chỗ, giúp chị em nghèo tăng thu nhập bình quân 150.000đ-500.000đ/tháng Năm 2005, các tỉnh, thành Hội vùng khó khăn đã tích cực tổ chức dạy nghề cho 196.094 người, tư vấn nghề,

tư vấn việc làm cho 162.765 người; giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 157.937 người

Với nhiều mô hình và biện pháp thiết thực, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt

Nam, đặc biệt là các cấp Hội phụ nữ ở vùng sâu vùng xa trong những năm qua đã giúp cho nhau biết cách làm ăn, mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế gia đình, từ đó từng bước thoát nghèo bền vững Số lượt hộ nghèo được Hội giúp

đỡ là 780.114 hộ; trong đó số lượt hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội phụ

nữ giúp đỡ là 344.168 hộ Riêng năm 2005 đã có gần 80% hộ nghèo do phụ

nữ làm chủ hộ được Hội giúp đỡ, trong đó có 103.420 hộ thoát nghèo

Thứ năm, cùng chung sức xây dựng nông thôn mới

Chương trình xây dựng nông thôn mới của Chính Phủ trên khắp cả nước đã được các cấp Hội Phụ cả nước hương ứng và chúng góp sức lao động, hiến đất và nhiều ngầy công ở mỗi cấp Hội tại địa phượng Điển hình là Hội Phụ Nữ tại các địa phương như Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội đã góp hàng triệu ngày công, đất đang sinh sống để xây dưng nông thôn mới tại địa phương Hôi Phụ nữ tại các tỉnh, thành phố trên khắp cả nước đều tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng nông thôn mới, các Hội phụ nữ ở khăp tỉnh, thành đều đẩy mạnh công tác tuyên truyền, liên quan đến Chương trình xây dựng NTM bằng những việc làm cụ thể như: vận động hội viên, phụ nữ tham gia chuyển dịch cơ cấu sản xuất phát triển

Trang 24

17

kinh tế gắn với XDGN bền vững; tham gia các hoạt động phát triể văn hóa, giáo dục, y tế; tăng cường bao vệ du lịch sinh thái nông thôn; đăng ký thực hiệ các phong trào, cuộc vận động về xây NTM do Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phát động như thực hiện xây dựng gia đình “ 5 không, 3 sạch” với phong trào thi đua “ nhà sạch, vườn đẹp” như ở Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Nguyên…Qua đó, nâng cao nhận thức, đề cao vai trò của chị em trong thực hiện các nội dụng của Chương trình xây dựng NTM

Để thực hiện hiệu quả mục tiêu Quốc Gia về xây dựng NTM các cấp hội phụ nữ các tỉnh tình đã lồng nghép nhiều buổi sinh hoạt phụ nữ, nói chuyện, hội thảo, hợp thôn, xóm để hướng dẫn, vận động hội viên, phụ nữ đăng ký thực hiện các phong trào, cuộc vận động về xây dựng NTM do Hội

và địa phương phát động Bên cạnh đó Hội phụ nữ khắp cả nước đều biết phố kết hợp với các ban ngành, đoàn thể thực hiện xây dựng NTM tại mỗi địa phương bằng nhiều phương thức, tiêu chí hoạt động cụ thể, thiết thực, đồng thời huy sự tham gia tích cực của toàn thể Hội viên Mặt khác các cấp hội còn động viên, gương mẫu tham gia đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của để xây dựng, tu sửa nâng cấp hệ thống đường gia thông thôn xóm, các công trình nhà văn hóa, trường học, trạm y tế, xử lý mội trường bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng Đến thời điểm này các địa phượng đã cụ thể hóa những nội dung thực hiến bằng các tiêu chỉ tiêu 100% các tỉnh, thành Hội đăng ký giúp phụ nữ thoát nghèo có địa chỉ, góp phần thực hiện các tiêu chí giảm nghèo phát triển kinh tế xây dựng NTM

1.2 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Hội Phụ nữ một số huyện

1.2.1.Kinh nghiệm của Hội Phụ nữ huyện Ba Vì

Ba Vì là một huyện miền núi thuộc thành phố Hà Nội, có 7.073 phụ nữ nghèo trong đó có 1.462 hội viên là chủ hộ gia đình Những năm qua, Hội LHPN huyện đã xây dựng phong trào thi đua: Phụ nữ tích cực học tập, lao

Trang 25

18

động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc giúp phụ nữ làm kinhtế với nhiều nội dung như: xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống…

Ban Thường vụ Hội LHPN huyện đã phối hợp với các ban, ngành khảo sát, điều tra hộ nghèo; mở lớp tập huấn, hướng dẫn chị em áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh chăn nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng Hội cũng tổ chức và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế, bằng nhiều hình thức giúp nhau về vốn, công lao động, về cây con giống, kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi; xây dựng mô hình vườn rau dinh dưỡng, trồng rau sạch để cung cấp cho các trường mầm non; xây dựng các công trình vệ sinh nước sạch Năm 2004, Huyện hội duy trì thường xuyên các hoạt động giúp nhau không lấy lãi với số tiền 471.930.000 đồng cho 317 lượt hội viên vay đầu tư sản xuất Đồng thời, khảo sát và giải ngân số tiền 825 triệu đồng cho 55 hộ gia đình hội viên có nhu cầu vay phát triển đàn bò sữa ở 3 xã là Vân Hoà, Tản Lĩnh và Tòng Bạt.Hiện nay, dự án "Chăn nuôi bò sữa" đã phát triển được 285 con, trong đó có gần 200 con cho khai thác sữa[28] Bên cạnh

đó, Hội LHPN huyện còn phối hợp hội LHPN thành phố Hà Nội thực hiện chương trình "Vỗ béo bò thịt" tại 2 xã Ba Vì và Ba Trại Từ nguồn vốn vay,

có hộ gia đình có thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên, nhiều hộ gia đình hội viên phụ nữ có thu nhập từ 30 - 50 triệu đồng[28]

Việc quản lý và sử dụng nguồn vốn được huy động, khai thác cho hội viên vay để sản xuất, tạo việc làm, thu hút chị em tham gia tổ chức Hội thực hiện chương trình ký phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội, đã giải ngânhơn 27 tỷ đồng cho 2.512 gia đình hội viên vay Hiện nay, tổng nguồn vốn của hội đang quản lý là 140 tỷ đồng cho hơn 10 nghìn hội viên vay phát triển kinh tế Song song với việc vay vốn, Hội còn quan tâm đến việc giúp hội viên phát triển đàn bò sinh sản, bò sữa và mô hình trang trại tổng hợp Huyện

Trang 26

19

Hội đang hướng tới hình thành được các vùng sản xuất chuyên canh quy mô

và sản phẩm có giá trị, như trồng lúa chất lượng cao, làng nghề làm nón, mây tre đan, làm miến dong Trong phong trào hỗ trợ xoá nhà tạm, xây dựng

"mái ấm tình thương", bằng những nguồn vốn vận động được từ các tổ chức chính trị xã hội, năm 2004 đã có 4 nhà "Mái ấm tình thương" được tặng cho chị em phụ nữ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trị giá 77 triệu đồng Kết quả trong năm 2004, 127 hội viên phụ nữ thoát nghèo, trong đó 62 hộ thoát nghèo bền vững[28]

1.2.2 Kinh nghiệm của Hội phụ nữ huyện Thạch Thất( Hà Nội)

Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện Thạch Thất (Hà Nội) về các mục tiêu kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, Hội PN huyện Thạch Thất đã có nhiều hình thức

hỗ trợ giúp chị em phát triển kinh tế Một trong những hình thức đó là tổ chức dạy nghề, truyền nghề cho chị em

Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện Thạch Thất (Hà Tây) về các mục tiêu kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, Hội PN huyện Thạch Thất đã có nhiều hình thức

hỗ trợ giúp chị em phát triển kinh tế Một trong những hình thức đó là tổ chức dạy nghề, truyền nghề cho chị em Huyện Thạch Thất có một số làng nghề truyền thống về mộc, mây, giang đan, kim khí nhưng việc nhân cấy nghề, cũng gặp không ít khó khăn, do thị trường hàng hóa không ổn định, nguyên liệu phụ thuộc; các xã chưa làm nghề bao giờ, khi tiếp cận với nghề còn nhiều

bỡ ngỡ, lúng túng Xác định được những thuận lợi và khó khăn, Hội PN huyện Thạch Thất đã tích cực khảo sát, lựa chọn xã và nghề để đưa vào

nhân cấy Năm 2000, được sự giúp đỡ về kinh phí của Trung tâm Hỗ trợ nâng cao năng lực cho phụ nữ, Hội PN huyện đã mở 3 lớp học nghề đan quạt cho

150 hội viên ở xã Cần Kiệm và Hương Ngải, mỗi lớp 50 học viên[12] Giáo

Trang 27

20

viên là người thôn Phú Hòa (xã Bình Phú), có tay nghề cao và thu mua sản phẩm cho chị em Sau 3 lớp học nghề, nhìn chung chị em hội viên rất phấn khởi, tranh thủ mọi thời gian để sản xuất Tuy nhiên, do thị trường tiêu thụ không ổn định, giá cả thấp, nên chỉ duy trì được một thời gian ngắn, nhiều chị

đã phải bỏ nghề

Từ thực tế trên, Hội PN huyện đã rút kinh nghiệm và tìm các biện pháp khắc phục, như trước khi mở lớp dạy nghề, hướng dẫn cơ sở xây dựng kế hoạch cụ thể, lựa chọn giáo viên, đối tượng học nghề, xây dựng nội quy lớp học, trong đó xác định rõ mục đích của lớp học và trách nhiệm của cán bộ, học viên Đặc biệt chú trọng phân công cán bộ đứng ra thu gom, nhận kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cho học viên Năm 2001, Hội PN huyện đã tổ chức được 6 lớp với 300 hội viên, trong đó có 2 lớp học đan quạt và 4 lớp học nghề mây, giang đan[30] Giáo viên dạy đan quạt, Hội đã đề nghị phối hợp với doanh nghiệp mây, giang đan của ông Nguyễn Tuấn Nguyên ở thôn Bình Phú

Do có sự hợp tác chặt chẽ về dạy nghề và thu mua sản phẩm của doanh nghiệp, lớp học nghề đan quạt với 50 học viên mở ở thôn Phú ổ (Bình Phú) đã đạt hiệu quả cao, 100% chị em đã phát huy được nghề đã học Không những học viên đã làm được những mặt hàng đã được dạy, mà còn tự học và cải tiến sản xuất, làm được nhiều mặt hàng mới rất đa dạng, phong phú; nhân rộng phong trào Nhiều chị đã trở thành chủ thu mua hàng, đời sống chị em ngày càng được cải thiện có 4 lớp do Hội PN huyện mở về mây, giang đan ở 4 xã:

Hạ Bằng, Tân Xã, Đồng Trúc, Cần Kiệm, cho 190 hội viên thì chỉ duy trì được ở 2 xã Hạ Bằng và Cần Kiệm Kiên trì với chương trình đưa nghề mới vào những nơi chưa có nghề và những xã nghèo và rút kinh nghiệm của những lần truyền nghề trước, năm 2003, Hội PN huyện đã phối hợp với Phòng Kinh tế hạ tầng nông thôn huyện mở được 10 lớp cho 500 học viên, thì

8 lớp học nghề mây, giang đan, thêu tranh, dệt mành xuất khẩu ở các xã Hạ

Trang 28

21

Bằng, Cần Kiệm, Liên Quan, Lại Thượng, Cẩm Yên đều đã thành công, sau lớp học, chị em vẫn duy trì được việc làm[30] Đúc rút những kinh nghiệm trong việc nhân cấy nghề mới, chị Nguyễn Thị Minh, Chủ tịch Hội PN huyện Thạch Thất cho biết: Để việc nhân cấy nghề thành công, thì đầu tiên là phải chọn nghề phù hợp cho các đối tượng; nhưng điều quan trọng là phải có cơ sở thu mua ngay tại địa phương, để sản phẩm có “đầu ra” Thêm nữa, việc đào tạo giáo viên ngay tại chỗ và lựa chọn học viên cũng là điều rất cần thiết Do

có những bài học thành công và thất bại từ những lần truyền nghề ở các năm trước, năm 2004 này, Hội PN huyện đã quyết định chọn các nghề, như: Mây, giang đan, thêu tranh, dệt mành là phù hợp với hội viên và có cơ sở thu mua tại chỗ để phát triển Từ đầu năm đến nay, Hội đã phối hợp với các ngành mở được 12 lớp với 585 học viên Hiện còn các lớp ở: Đồng Trúc, Tân Xã, Thạch Hòa, Cẩm Yên, Canh Nậu vẫn đang tiếp tục học Những lớp học xong đều duy trì được sản xuất, do có đầu ra đảm bảo Trong mấy năm vừa qua, nhờ có nghề mới mà hàng nghìn chị em phụ nữ huyện Thạch Thất đã có việc làm và thu nhập ổn định

1.2.3 Kinh nghiệm của Hội Phụ nữ huyện Chương Mỹ( Hà Nội)

Xóa đói giảm nghèo hiệu quả là một trong những hoạt động thiết thực, có

ý nghĩa, góp phần xây dựng nông thôn mới của các Hội Phụ nữ huyện Chương Mỹ thời gian qua Để đem lại hiệu quả cao nhất, giúp được nhiều gia đình hội viên thoát nghèo bền vững, hàng năm các cấp Hội Phụ nữ tại các xã tiến hành khảo sát, lập danh sách số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của từng hộ, từ đó có giải pháp hỗ trợ thích hợp

Kết quả khảo sát năm 2000 toàn huyện có trên 900 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn, thiếu việc làm, thiếu kiến thức

Để giúp chị em giải quyết bài toán khó “buôn tài không bằng dài vốn” các cấp

Trang 29

22

chi Hội Phụ nữ trong toàn huyện tiếp tục đẩy mạnh khai thác các nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện (CSXH) và các nguồn khác gần 7,5 tỷ đồng, cho 1.245 chị vay đầu tư sản xuất, kinh doanh[28] Muốn đồng vốn vay được chị em sử dụng đúng mục đích, sinh lời, tháng nào các cấp Hội cũng tiến hành kiểm tra, giám sát hệ thống sổ sách theo dõi, quản lý vốn vay, kiểm tra nguồn vốn và hiệu quả sử dụng vốn của một số gia đình thành viên vay vốn Đồng thời phối hợp với Ngân hàng CSXH tổ chức 23 lớp tập huấn nghiệp vụ tín dụng ủy thác qua ngân hàng, cách ghi chép sổ sách vốn vay cho gần 300 lượt cán bộ chuyên trách Hội Phụ nữ cấp huyện, cấp xã cùng các thành viên ban quản lý tổ tín dụng và vay vốn

Chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp của huyện, và các HTX dịch

vụ nông nghiệp mở gần 200 lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật chăm sóc lúa, bảo vệ đàn gia súc, gia cầm, phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh ở lợn, bệnh vàng lùn, lùn sọc đen, đạo

ôn, rầy hại lúa… cho trên 3.000 cán bộ, hội viên Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng trong tham gia phòng chống, ngăn ngừa dịch cúm gia cầm và thiết lập mô hình chăn nuôi an toàn sinh học tại các hộ chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ cho 50 nông hộ thuộc 4 xã là Phú Nghĩa, Hòa Chính, Thủy Xuân Tiên và xã Thanh Bình của huyện Chương Mỹ và Hỗ trợ 6 hộ gia đình

44 triệu đồng phục vụ cho việc chăn nuôi an toàn sinh học Tiếp tục giải ngân vốn quỹ quay vòng xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh hộ gia đình, đến nay đạt 15 tỷ đồng, cho trên 500 hộ vay, nâng số hộ có công trình bảo đảm hợp vệ sinh lên 80%

Chưa dùng lại ở đó, các cấp hội còn vận động cán bộ, hội viên hưởng ứng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, phát động chị em tham gia tổ, nhóm tiết kiệm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phong trào phụ nữ giúp nhau giống, vốn, tiền mặt, ngày công, vật liệu xây dựng… để

Trang 30

23

cùng phát triển kinh tế gia đình Cụ thể, năm 2004 có hơn 605 chị giúp gần

2430 phụ nữ nghèo, phụ nữ tàn tật, đơn thân 1,8 tỷ đồng Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2005 đã có hơn 1.126 chị giúp trên 850 chị em với tổng số tiền là 1.3

tỷ đồng 90% chị em vay vốn tham gia gửi tiền tiết kiệm thông qua tổ tín dụng

và vay vốn, với số tiền lên tới hơn 9 tỷ đồng[28] Số tiền đó, vừa để trả lãi vay ngân hàng, vừa giúp các thành viên khác trong tổ vay đầu tư chăn nuôi, trồng trọt, nâng cao thu nhập Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng “Mái ấm tình thương”, các cấp Hội đã quyên góp ủng hộ xây dựng được nhiều nhà, trị giá hàng trăm triệu đồng và hàng trăm ngày công

Bên cạnh các hoạt động ngày vì người nghèo, các cấp Hội còn góp phần xóa đói giảm nghèo và vận động chị em mở rộng sản xuất cả bề rộng lẫn chiều sâu Đó là tăng hiệu suất sử dụng đất trên một đơn vị canh tác, tăng năng suất cây trồng, phòng chống tốt dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi, chủ động áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh các hoạt động cho phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình Và nhiều việc làm thiết thực, như: Hội LHPN huyện tổ chức hội nghị giao ban, học tập kinh nghiệm doanh nhân nữ tại các huyện lân cận thuộc ngoại thành Hà Nội, thu hút đông đảo chị em tham dự; Phối hợp với các Phòng Phòng ban, các tổ chức, cơ quan đoàn thể, các hiệp hội đóng trên đia bàn huyện để tổ chức các cuộc hội thảo chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ các hộ gia đình hoặc các doanh nghiệp, các xưởng sản xuất nhỏ nhỏ trong lĩnh vực chế biến thực phẩm và các khóa khóa tập huấn đào tạo bỗi dưỡng kiến thức cho doanh nghiệp, quy trình chế biến thực phẩm; Phối hợp với Hội Bảo trợ người tàn tật , trẻ mồ côi của huyện tổ chức hội thi tay nghề giỏi người khuyết tật toàn huyện lần Hội LHPN huyện Chương Mỹ phối kết hợp với trung tâm hướng nghiệp huyện thường xuyên

mở lớp dạy nghề may công nghiệp, may dân dụng, nấu ăn, nghề tiểu thủ công nghiệp cho gần 2000 lao động Mở lớp đào tạo kiến thức quản lý doanh

Trang 31

24

nghiệp cho 360 nữ chủ doanh nghiệp Hội Phụ nữ các, huyện phối hợp với nữ chủ doanh nghiệp và các ngành mở hơn 105 lớp dạy nghề thủ công mỹ nghệ, thu hút trên 900 hội viên tham gia, giới thiệu và tiếp tục tìm việc làm mới cho hàng ngàn chị em

Qua bình xét cuối năm 2010, toàn huyện có 234 số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ thoát nghèo Điều đó cho thấy, những hoạt động thiết thực hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế, xây dựng gia đình no ấm mà các cấp Hội Phụ nữ triển khai đã góp phần thực hiện hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới của huyện Chương Mỹ- Thành Phố Hà Nội

1.2.4 Kinh nghiệm của Hội phụ nữ huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi )

Hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế huyện Sơn Hà đã có những bước tiến triển Song, đời sống của nhân dân nói chung, phụ nữ nói riêng, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Hiện nay, toàn huyện có 14.053 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên, trong đó phụ nữ dân tộc thiểu số là 11.591 người; tổng số hội viên là 7.375 người (có 6.248 người dân tộc thiểu số), sinh hoạt ở

91 chi hội và 279 tổ phụ nữ, phần lớn phụ nữ trình độ học vấn thấp, điều kiện tiếp cận với thông tin khoa học và kiến thức xã hội còn nhiều hạn chế, không được đào tạo nghề, chị em quen với cách làm ăn cũ, thiếu vốn và thiếu đất sản xuất Vì vậy, tỷ lệ hộ nghèo còn cao: 75,54% (theo chuẩn mới)

Từ thực trạng trên, các cấp Hội xác định công tác xoá đói giảm nghèo (XĐGN) cần được tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả, nhằm nâng cao đời sống cho chị em, thu hút, tập hợp hội viên, nâng cao vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội

Để từng bước giải quyết khó khăn, giúp hội viên, phụ nữ XĐGN, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, Ban Chấp hành Hội phụ nữ huyện đã tăng cường chỉ đạo cơ sở Hội tổ chức những hoạt động cụ thể như: tín chấp hơn 2,1 tỷ đồng cho 355 phụ nữ nghèo vay vốn Khai thác vốn từ các dự án nước ngoài

Trang 32

25

(CARE; RUDEP) trên 1,2 tỷ đồng cho 1015 lượt chị vay Huy động vốn trong

tổ chức Hội (Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo, tổ phụ nữ hùn vốn-tiết kiệm, vốn từ quỹ hội) 250 triệu đồng cho 464 lượt chị vay Ngoài việc khai thác các nguồn vốn, Hội đã chủ động phối kết hợp với các ngành chức năng tổ chức

mở các lớp tập huấn cho 2.125 lượt cán bộ, hội viên về kiến thức hỗ trợ phụ

nữ phát triển kinh tế, kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, chương trình IPM;

kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh hỗ trợ gia đình, chương trình tín dụng-tiết kiệm, chương trình quản lý vốn đã cho năng suất và giá trị kinh tế cao Trong 5 năm qua, Hội cơ sở đã vận động giúp cho 550 phụ nữ nghèo vay không lấy lãi 300 chỉ vàng, trị giá cây, con giống, ngày công, tiền mặt trên 260 triệu đồng, giúp 355 chị qua cơn hoạn nạn khó khăn, trị giá tiền

38 triệu đồng, khoảng 6.000 lon gạo và hàng trăm ngày công lao động Nhờ

đó, Hội đã giúp cho một bộ phận phụ nữ xoá được đói, giảm được nghèo

Từ năm 2001 đến nay, đã có 2.039 chị thoát nghèo, 37 chị thu nhập hàng năm từ 30 triệu đồng trở lên Điển hình như các chị: Đinh Thị Hồng xã Sơn Trung; Đinh Thị Trói xã Sơn Thành, Đinh Thị Máy xã Sơn Nham, Đinh Thị Triêm xã Sơn Hạ Song song với những chương trình hỗ trợ và phát triển kinh tế, Hội Phụ nữ huyện Sơn Hà còn thực hiện lồng ghép các chương trình, phong trào khác như xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, phụ nữ tiến bộ ; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bình đẳng giới nhằm tuyên truyền, vận động chị em nâng cao kiến thức chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh môi trường, phòng chống HIV/AIDS Hội còn tuyên truyền cho 100% cán bộ hội và 70% hội viên quần chúng kiến thức về công ước quyền trẻ em, nạn bạo hành gia đình, luật hôn nhân và gia đình, kết hợp với các ngành vận động, đưa trẻ đến trường đạt 95%

Trang 33

26

Thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa, Hội đã phối hợp với Hội LHPN tỉnh, huyện Mộ Đức, Ban vận động “Ngày vì nguời nghèo” của huyện xây dựng 4 căn nhà tình thương với số tiền là 38 triệu đồng Hiện nay, Hội đang triển khai cuộc vận động quyên góp ủng hộ Quỹ xây dựng nhà tình thương cho phụ nữ nghèo Từ đó, đã nâng dần nhận thức của phụ nữ về tổ chức Hội, số hội viên tăng hàng năm 1,5%

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, phong trào hỗ trợ phụ

nữ phát triển kinh tế của Hội phụ nữ Sơn Hà vẫn còn gặp không ít khó khăn Phần lớn cán bộ Hội cơ sở là người dân tộc thiểu số trình độ văn hoá thấp, đa

số chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động tín dụng-tiết kiệm, khả năng điều hành nhóm, phổ biến các kiến thức cần thiết cho chị em còn hạn chế Phần lớn thành viên được vay vốn quen với phương thức canh tác cũ, chưa được tiếp cận và mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, giá thị trường không ổn định, đầu ra cho sản phẩm bấp bênh Vì vậy, để công tác XĐGN đạt hiệu quả, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ và sự quan

Từ những kết quả trong phong trào xóa đói giảm nghèo, giúp nhau phát triển kinh tế trong năm năm qua, sẽ là điều kiện thuận lợi để hội liên hiệp Phụ nữ huyện tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa trong công tác vận động chị

em tham gia các phong trào thi đua góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

1.2.5 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Hội phụ nữ huyện Quốc Oai

Nghiên cứu kinh nghiệm các Hội Phụ nữ huyện nêu trên, có thể rút ra một số bài học mà Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai có thể tham khảo như sau:

Thứ nhất, cần có sự quản lý và hướng dẫn hội viên sử dụng vốn vay có

hiệu quả vào đúng mục đích; vay để làm gì? ; trồng cây gì, con gì? Giá trị kinh tế ra sao? Thời gian và chi phí tiền là bao nhiêu, bán cho ai? Tất cả những câu hỏi ấy là các tiêu chi cụ thể, sát thực mà rõ ràng sẽ làm tăng tính

Trang 34

27

hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần hiệu quả vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương

Thứ hai, các hội phụ nữ cần có sự phối kết hợp giữa Hội phụ nữ với

chính quyền, các ban nghành, đoàn thể ở địa phương trong xóa đói giảm nghèo Trong công tác tuyên truyền chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình như không sinh con thứ ba, hay tư tưởng trọng nam kinh nữ.v…rất cần thiết co sự gắn kết cùng vân động, tuyên truyền của các ban nghành, và chính quyền để có sự thông nhất cũng như thông tin của chủ trương, chính sách của Đảng đến tận từng thành viên phụ nữ, từng hộ gia đình tai địa phương

Thứ ba, Các Hội phụ nữ cần có sự liên kêt với các tổ chức, doanh

nghiệp, hiệp hội đóng trên đia bàn hoặc liên kết với các cơ quan, tổ chức, hội phụ nữ các huyện khác để mở các lớp, khóa tập huấn về KHKT trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ gia đình tại đia phương Ngoài ra nên tổ chức chương trình trao đổi với các doanh nghiệp, nhà sản xuất, xưởng sản xuất xem xem các sản phẩm, nguyên liệu nào có thể trồng hoặc làm ra từ đó xuất cho các doanh nghiệp, nhà xuản xuất tạo công ăn việc làm và có thu nhập cao, ổn định cuộc sống Tăng cường hơn nưa với các hiệp hội người tần tật, trẻ em mồ côi trong huyện và các huyện, tỉnh thành khác để tạo thêm nhiều quỹ tiền giúp đỡ, cứu trợ thành viên khó khăn, người tàn tật, người già và trẻ em mồ côi.Cùng chia sẻ mọi kiến thức làm

an kinh tế, cùng chia sẻ đông viên các thành viên các hiệp hội có nghi lực vương làm giàu trong cuộc sống

Trang 35

28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

CỦA HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI

2.1 Khái quát về Hội phụ nữ huyện Quốc Oai

Hội LHPN huyện Quốc oai được ra đời ngay sau khi thành thành lập Đảng Công sản Việt Nam Là tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp giúp đỡ của Chính quyền, MTTQ và các ban ngành, đoàn thể Hội LHPN có chức năng đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng,dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước; Đoàn kết, tập hợp tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa

Hiện nay Hội phụ nữ huyện Quốc Oai một chủ tịch và hai phó chủ tịch trong đó cán bộ chuyên trách có 4 đồng chí, ủy viên ban chấp hành cơ cấu ngành gồm 5 đồng chí, ủy viên ban chấp hành là cán bộ chủ chốt các xã, thị trấn là 14 đồng chí Trong đó độ tuổi của ban chấp hành là 43,6 tuổi,

về trình độ chuyên môn có 09 đồng chí có trình độ cao đẳng, đại học( chiếm 39,1% Trình độ trung cấp có 05 đồng chí(chiếm 21,7%), trình độ

về lý luận chính trị co 15 đồng chí là trung cấp(chiếm 65,2%),và 08 đồng chí có trình đọ sơ cấp(chiếm 34,8%)

Hội có nhiệm vụ tuyên truyền vận động, giáo dục phụ nữ giữ gìn phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của phụ nữ Việt nam, tổ chức tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực về mọi mặt, tích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội

Trang 36

29

an ninh quốc phòng, xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh

phúc, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh

Hoạt động của Hội Phụ nữ không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì sự tiến

bộ của phụ nữ Về tổ chức, toàn huyện có 20 cơ sở hội, với 129 chi hội, 478

tổ hội phụ nữ Tổng số hội viên tính đến đầu năm 2012 là 23.266 người, chiếm 65% lực lượng lao động toàn huyện Trong số đó, chỉ có 20 % hội viên

có cuộc sống khá giả; 31 % (7.215/23.266 người) số hội viên lâm vào cảnh nghèo đói, túng thiếu

Bảng 2.1 Tỷ lệ các chủ hộ nghèo là nữ trong huyện

nghèo là nữ

Tỷ lệ nghèo %

Trang 37

30

nghèo là nữ

Tỷ lệ nghèo %

Nguồn: Theo số liệu của phòng lao động thương xã hội huyện năm 2008

Qua bảng số liệu trên ta thấy thực trạng tỷ lệ hộ nghèo tại các xã trong

huyện khác nhau rõ rệt.Các xã có tổng số hộ nghèo thấp nhất là Phú Mãn có tổng số hộ là 501, số hộ nghèo chi có 101 hộ và chiếm 20.66%, tiếp đến là xã Đông Xuân số hộ là 1,052 trong đó số hộ nghèo là 181và chiếm 17.21%.Nghĩa

Hương tổng số hộ là 1,590 trong đó số hộ nghèo 197, chiếm 12.39 %

Trong khi đó ở Thị Trấn lại có số hộ nghèo cao;340 hộ nghèo trong

tổng số 3,300 hộ, chiếm 10,30 %, tiếp đến là Sài Sơn với tổng số 4,281hộ thì

có tới 768 hộ nghèo, chiếm 17.94 %.Qua phân tích, đánh giá tỷ lệ hộ nghèo là

nữ trên biểu bảng ta thấy tỷ lệ hộ nghèo tập trung không chỉ các xã gò đồi sâu

xã ma cồn tập trung ngay cả khu vực thị trấn và các xã nằm sát với Thị trấn

2.2 Thực trạng hoạt động xóa đói giảm nghèo của Hội Phụ nữ huyện Quốc

Oai từ năm 2006 đến nay

2.2.1 Hỗ trợ hội viên vay vốn

Hội Phụ nữ huyện luôn chú trọng công tác khai thác các nguồn vốn để

hỗ trợ phụ nữ Trong 5 năm, các cấp Hội phụ nữ toàn huyện đã khai thác và

Trang 38

31

quản lý 280 tỷ đồng vốn vay từ ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng chính sách, tăng trên 100 tỷ đồng so với nhiệm kỳ trước, giúp 7.569 lượt hội viên phụ nữ vay phát triển kinh tế Duy trì 277 tổ phụ nữ tiết kiệm với 9.995 thành viên với số tiền trên 2 tỷ đồng /năm đã giúp cho 1.133 phụ nữ vay Hội phụ

nữ cơ sở đã giúp nhau không lấy lãi số tiền trên 3 tỷ đồng/năm giúp cho 2.255 hội viên vay[13] Ngoài ra, cán bộ hội viên còn tăng cường các hoạt động giúp nhau ngày công, con giống, kinh nghiệm sản xuất Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho tổ trưởng vay vốn, quản lý nguồn vốn 100% phụ nữ tham gia các chương trình của Hội biết cách quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay, trả lãi và gốc đúng kỳ hạn Hội LH Phụ nữ Quốc Oai có 24.827 hội viên, sinh hoạt ở 20 cơ sở hội xã, thị trấn và một đơn vị nữ công an trực thuộc Mặc dù là địa bàn có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, nhưng trong năm 2004, BCH Huyện hội đã phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực cho hội viên, thực hiện 6 chương trình, nhiệm vụ trọng tâm của phụ nữ Năm 2004, số hộ gia đình nghèo đói của hội viên phụ nữ giảm xuống còn 5,7% (năm 2003 là 6,3%), số hộ giàu tăng lên[32] Huyện hội Quốc Oai xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác là xây dựng Hội trong sạch, vững mạnh, kiện toàn đội ngũ cán bộ từ huyện đến các cơ sở, đây là cơ sở quan trọng để hoàn thành các chương trình, kế hoạch đề ra Các cơ sở Hội được quán triệt thường xuyên về việc duy trì nền nếp sinh hoạt, tổ chức cho chị em học tập, nghiên cứu, đăng ký các phong trào thi đua theo 3 tiêu chuẩn: Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc Đã có 20/20

xã, thị trấn, Hội Phụ nữ tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ công tác Hội và chuyên đề cho 100% cán bộ phụ nữ ở các cơ sở Coi trọng công tác xây dựng quỹ hội để tạo điều kiện cho phụ nữ hoạt động tốt như tổ chức lao động tập thể để tạo quỹ Đến nay toàn bộ cơ sở Hội đều có quỹ, số tiền là 85,8 triệu đồng.Trong khi chỉ đạo thực hiện chương trình, Huyện hội đặc biệt chú trọng

Trang 39

và đoàn thể khác trong việc giúp đỡ hội viên về mọi mặt Kết hợp với Trung tâm Khuyến nông huyện tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chuyển đổi mô hình xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha/1năm Kết hợp với ngành Ngân hàng, Phòng Tổ chức - Lao động Quốc Oai để tổ chức tốt hoạt động vay vốn từ các nguồn Đến nay, toàn huyện, Hội Phụ nữ đã đứng ra tín chấp vay vốn khoảng 15 tỷ đồng ở các nguồn, trong đó vốn vay Ngân hàng Nông nghiệp là 6,5 tỷ đồng, vốn vay Ngân hàng Chính sách là 8,3 tỷ đồng, vốn 120 có 375 triệu đồng[19] Những kinh nghiệm mà Hội Phụ nữ Quốc Oai rút ra trong công tác hỗ trợ, giúp đỡ hội viên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cho thấy sự chủ động, sáng tạo, đổi mới các nội dung hoạt động của các cấp Hội đã đến được với từng hội viên, đặc biệt có ý nghĩa với những hội viên có hoàn cảnh khó khăn Bước vào năm mới, các cấp Hội đang tập trung triển khai các chương trình tập huấn, cung cấp tài liệu, thông tin về các tiến bộ KHKT, cây, con, giống mới đẩy mạnh hoạt động vay vốn; mở thêm nhiều lớp dạy nghề tiểu thủ công

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Hân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Hân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Bộ kế hoạch và Đầu tư (2007), Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu, thách thức và giải pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu, thách thức và giải pháp
Tác giả: Bộ kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2007
4. Bộ lao động – Thương binh và Xã hội (2001), Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo gia đoạn (2001-2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo gia đoạn
Tác giả: Bộ lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2001
5. Cuốn sách Chính sách xóa đói, giảm nghèo – Thực trạng và giải pháp là kết quả nghiên cứu của thập thể các nhà khoa học thuộc Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, do PGS.TS. Lê Quốc Lý – Phó giám đốc Học viện chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xóa đói, giảm nghèo – Thực trạng và giải pháp
7.Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Việt Nam thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
8. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo gia đoạn 2006 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo gia đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục, của TS. Bạch Đình Ninh, Tạp chí Cộng sản số 10 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục
14. Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Văn Thiều (1993), Đói nghèo ở Việt Nam, Nxb. Bộ Lao Động- Thương binh và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Văn Thiều
Nhà XB: Nxb. Bộ Lao Động- Thương binh và Xã hội
Năm: 1993
15. Christian Morrison (2003), Bức tranh nghèo khổ trên thế giới, Quang Anh lược thuật, xã hội học số 03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh nghèo khổ trên thế giới
Tác giả: Christian Morrison
Năm: 2003
16. Nguyễn Đình Mạnh (2005), “ Dạy nghề giúp dân xóa đói giảm nghèo”, Báo Nông thôn ngày nay,http://www.minhviet.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nghề giúp dân xóa đói giảm nghèo”, "Báo Nông thôn ngày nay
Tác giả: Nguyễn Đình Mạnh
Năm: 2005
17. Bạch Đình Ninh (1999), Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục, Tạp chí Cộng sản số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục
Tác giả: Bạch Đình Ninh
Năm: 1999
18. Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên)(1999), Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
21. Lương Hồng Quang(2001), Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, Nxb. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lương Hồng Quang
Nhà XB: Nxb. Văn hóa-Thông tin
Năm: 2001
22. Lê Quyết (2002), Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói, giảm nghèo, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói, giảm nghèo
Tác giả: Lê Quyết
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2002
23. Thành ủy Hà Nội (2006), Văn kiện đại hội dẩng bộ Thành Phố Hà Nội lần thứ XIV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện" đại "hội dẩng bộ Thành Phố Hà Nội lần thứ XIV
Tác giả: Thành ủy Hà Nội
Năm: 2006
26. Nhật Tân, (1993), Việc xóa đói giảm nghèo ở Hưng Hà, Tạp chí cộng sản số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc xóa đói giảm nghèo ở Hưng Hà
Tác giả: Nhật Tân
Năm: 1993
28. Nguyễn Ngọc Thạch (2005), Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học: “Thực trạng và giải pháp nhăm nâng cao chất lượng công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tây”, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nhăm nâng cao chất lượng công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch
Năm: 2005
29. Tỉnh ủy Hà Tây (1996), Chỉ thị số 23-CT/TU “ Về việc tăng cường lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc tăng cường lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Tỉnh ủy Hà Tây
Năm: 1996
30. Tỉnh ủy Hà Tây (2004), Chỉ thị số 68- CT/TU Về việc tăng cường lãnh đạo cuộc vận động “ Ngày vì người nghèo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 68- CT/TU Về việc tăng cường lãnh đạo cuộc vận động “ Ngày vì người nghèo
Tác giả: Tỉnh ủy Hà Tây
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tỷ lệ các chủ hộ nghèo là nữ trong huyện - Nâng cao và trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
Bảng 2.1. Tỷ lệ các chủ hộ nghèo là nữ trong huyện (Trang 36)
Bảng 2.2. Kết qủa hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế - Nâng cao và trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
Bảng 2.2. Kết qủa hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế (Trang 45)
Bảng 2.3. Kết quả xóa đói giảm nghèo của Hội phụ nữ huyện Quốc Oai - Nâng cao và trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
Bảng 2.3. Kết quả xóa đói giảm nghèo của Hội phụ nữ huyện Quốc Oai (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w