1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam

178 768 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, hoạt động của KVC còn nhiều bất cập, nguồn lực quốc gia bị chi tiêu lãng phí, hiệu quả cung cấp hàng hoá và dịch vụ công thấp, đa số các hoạt động này mang nặng độc quyền nhà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cam kết i

Mục lục ii

Danh mục các thuật ngữ viết tắt v

Danh mục bảng biểu vi

Danh mục hình vẽ vii

Mở đầu 1

Chương 1: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh đối với

khu vực công 12

1.1 Khu vực công và vai trò của nhà nước 12

1.1.1.Khu vực công trong nền kinh tế 12

1.1.2 Quan niệm về hàng hóa công 15

1.1.3 Vai trò nhà nước trong điều tiết kinh tế 21

1.2 Sự cần thiết vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công 23

1.2.1.Các thất bại nhà nước 23

1.2.2.Sự hạn chế về môi trường cạnh tranh 26

1.2.3.Vai trò của cạnh tranh đối với khu vực công 30

1.3 Các ý tưởng vận dụng cạnh tranh vào thực tiễn 32

1.3.1.ý tưởng về tái cấu trúc nhà nước 33

1.3.2.Chủ nghĩa công quản mới 36

1.3.3.Lý thuyết lựa chọn công 38

1.3.4.Lý thuyết chính yếu/đại diện 40

1.4 Thực chất cạnh tranh đối với khu vực công 41

1.4.1 Đặc điểm cạnh tranh đối với khu vực công 41

1.4.2.Các hình thức và kỹ thuật xúc tiến cạnh tranh đối với

khu vực công 47

1.4.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động cung ứng hàng hóa trong

khu vực công 52

Trang 3

Chương 2: Kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh đối với khu vực

công ở một số nước 55

2.1 Vận dụng lý luận công quản mới ở Anh 55

2.1.1 Sự thể nghiệm lý luận công quản mới ở Anh 55

2.1.2 Nhận xét về tư nhân hóa ở Anh 57

2.2 Mở rộng cạnh tranh đối với khu vực công ở Australia 60

2.2.1 Cơ sở pháp lý cho cạnh tranh đối với khu vực công 60

2.2.2 Áp dụng rộng rãi đấu thầu cạnh tranh 61

2.2.3 Hạn chế về áp dụng cạnh tranh đối với khu vực công 63

2.3 Mô hình khu vực công mới New Zealand 64

2.3.1 Những nguyên tắc đổi mới khu vực công 64

2.3.2 Công ty hóa các bộ phận sở hữu nhà nước 64

2.3.3 Một số điểm đáng lưu ý 67

2.4 Cạnh tranh đối với khu vực công ở Trung Quốc 69

2.4.1 Tái cơ cấu nhà nước trong môi trường cạnh tranh 69

2.4.2 Cạnh tranh trong các lĩnh vực dịch vụ xã hội 71

2.4.3 Cạnh tranh trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích 74

2.4.4 Một số nhận xét đáng lưu ý 77

2.5 Cải cách khu vực công theo hướng cạnh tranh ở Singapore 78

2.5.1 Cải cách khu vực công 78

2.5.2 Mở rộng cạnh tranh đối với lĩnh vực y tế 79

2.6 Những bài học kinh nghiệm 82

Chương 3: Thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công

ở Việt Nam 89

3.1 Khu vực công trong quá trình chuyển đổi sang nền

kinh tế thị trường 89

3.1.1 Khu vực công và cạnh tranh trước khi Đổi mới 89

3.1.2 Khu vực công sau khi Đổi mới 92

3.2 Tình trạng cạnh tranh đối với khu vực công 95

3.2.1 Thực trạng độc quyền nhà nước 95

3.2.2 Cạnh tranh nội bộ trong các lĩnh vực công 103

3.2.3 Cạnh tranh công-tư trong cung ứng hàng hóa 107

Trang 4

3.2.4 Những yếu tố gây trở ngại đối với cạnh tranh 117

3.3 Những nhận xét chung 122

Chương 4: Những giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam 128

4.1 Nguyên tắc tiếp cận cạnh tranh đối với khu vực công 128

4.1.1 Cạnh tranh nhằm nâng cao phúc lợi xã hội 128

4.1.2 Cạnh tranh có kiểm soát 129

4.1.3 Cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể 130

4.1.4 Cạnh tranh phải phù hợp với những quy định và

thông lệ quốc tế 131

4.2 Hệ thống giải pháp cơ bản 132

4.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh 132

4.2.2 Xử lý tình trạng độc quyền 135

4.2.3 Tạo tiền đề cho cạnh tranh 137

4.2.4 Sử dụng các hình thức cạnh tranh với bên ngoài 140

4.2.5 Cạnh tranh trực tiếp theo giá và chất lượng hàng hóa 143

4.2.6 Thiết lập cơ quan điều tiết và giám sát cạnh tranh độc lập 145

4.2.7 Mở cửa khu vực công cho cạnh tranh quốc tế 147

4.2.8 Tuyên truyền và thuyết phục 147

Kết luận 151

Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan tới luận án 154 Tài liệu tham khảo 155

Trang 5

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế

Tư nhân Chương trình phát triển Liên hợp quốc

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Phân loại hàng hoá công-tư 18

Bảng 1 2: Chức năng của nhà nước 22

Bảng 1.3: Một vài ví dụ về chỉ số đánh giá kết quả hoạt động 53

Bảng 2.1: Một số tác động nghịch của tư nhân hoá ở Anh 59

Bảng 2.2: Tiết kiệm chi phí trong đấu thầu cạnh tranh ở Australia 62

Bảng 2.3: Mặt trái của hợp đồng và đấu thầu cạnh tranh 63

Bảng 2.4: Trách nhiệm tham gia công-tư 71

Bảng 2.5: Cơ cấu đầu tư vào giáo dục, 1994-2001 73

Bảng 3.1: Thị phần chuyển phát nhanh của các đối thủ lớn 98

Bảng 3.2: Độc quyền nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải 101

Bảng 3.3: Các doanh nghiệp cạnh tranh trong bưu chính viễn thông 104

Bảng 3.4: Giá cước một số dịch vụ của VNPT, áp dụng ngày 1/4/2005 106

Bảng 3.5: Hệ thống cơ sở y tế công 1995-2004 108

Bảng 3.6: Thái độ làm việc của cán bộ bệnh viện tư 109

Bảng 3.7: Chất lượng dịch vụ tại bệnh viện tư 109

Bảng 3.8: Hình thức phối hợp công - tư trong bệnh viện 111

Bảng 3.9: Giáo dục mầm non 112

Bảng 3.10: Cao đẳng và đại học 112

Bảng 3.11: Cạnh tranh trong lĩnh vực chuyển phát 116

Bảng 3.12: Số đối thủ cạnh tranh tư nhân trong chuyển phát 117

Bảng 3.13: Chênh lệch sau đấu thầu, 1998-2003 120

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Bức tranh HHC và HHT 20

Hình 2.1: Doanh nghiệp nhà nước trong tương tác các nhân tố 65

Hình 2.2: Triết lý cung ứng dịch vụ y tế 79

Hình 2.3: Cơ cấu chi tiêu dịch vụ y tế 81

Hình 3.1: Tỷ trọng sản lượng công nghiệp theo loại hình doanh nghiệp 90

Hình 3.2: Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp, 2000-2004 (%) 94

Hình 3.3: Độc quyền nhà nước trong khâu phát điện 97

Hình 3.4: Độc quyền phân phối điện của nhà nước 97

Hình 3.5: Thị phần viễn thông vào internet của các doanh nghiệp 105

Hình 3.6: Số sinh viên công lập và ngoài công lập 113

Hình 3.7: Dịch vụ vận tải hành khách theo thành phần kinh tế, 2001-2006 114

Hình 3.8: Dịch vụ vận tải hành khách ngoài nhà nước 115

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khu vực công (KVC) là tập hợp những cơ cấu tổ chức nhà nước hoạt động nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể cộng đồng và toàn xã hội Hoạt động của khu vực này có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, từ việc xác nhận sinh, tử cho tới việc cung ứng dịch vụ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cuộc sống

Song, hoạt động của KVC thường bị coi là kém hiệu quả vì thiếu môi trường cạnh tranh và vấp phải những thất bại nhà nước Từ đó, nguồn lực công không được sử dụng một cách hiệu quả Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định điều này Chẳng hạn, Le Grand [87, tr 739-777] cho rằng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước không có hiệu quả cao vì điều kiện cạnh tranh của chúng rất hạn chế, áp lực bị phá sản và hoàn thiện cơ cấu hoạt động

vì hiệu quả không lớn Điều thống nhất rộng rãi là cần áp dụng cạnh tranh vào trong KVC để các chủ thể kinh tế ganh đua cung ứng đầu ra hiệu quả hơn [105, tr 1-22] Đồng thời, nhà nước cũng cần phải điều chỉnh vai trò, chức năng của mình để tạo ra môi trường cạnh tranh giữa chủ thể công và tư một cách lành mạnh, trật tự và kỷ cương

Ở Việt Nam, hoạt động của KVC còn nhiều bất cập, nguồn lực quốc gia

bị chi tiêu lãng phí, hiệu quả cung cấp hàng hoá và dịch vụ công thấp, đa số các hoạt động này mang nặng độc quyền nhà nước [10, 33] Thực tế này đặt

ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện hiệu quả hoạt động của khu vực này Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc sử dụng cơ chế thị trường, đặc biệt cạnh tranh được xem là một trong những giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của KVC hiện tại

Trang 9

Cho tới thời điểm này, vấn đề cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam gần

như chưa được nghiên cứu sâu rộng (điều này sẽ luận giải cụ thể hơn trong

Tình hình nghiên cứu về đề tài) Nhu cầu nhận thức tạo ra sức ép mạnh mẽ

cho các nhà nghiên cứu và giới lãnh đạo phải quan tâm thỏa đáng hơn cho vấn

đề này Nhận thức tốt về lý luận sẽ giải quyết hữu hiệu hơn những tình huống thực tiễn mà KVC ở Việt Nam đang đối mặt

Trong khi đó ở nước ngoài, lý luận về cạnh tranh đối với KVC và kinh nghiệm vận dụng thành công cạnh tranh vào khu vực này đã được khẳng định bằng thực tiễn Đây cũng là những bài học cần phải nghiên cứu và tìm cách vận dụng sáng tạo vào điều kiện kinh tế chính trị Việt Nam Bằng việc tận dụng lợi thế của nước đi sau, Việt Nam có thể tiết kiệm được một số nguồn lực nhất định cho phát triển KVC của mình hiệu quả hơn trong tương lai

Trên cơ sở những lý do thiết thực đó, Tác giả luận án quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam” Đề tài hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cạnh tranh đối với KVC và luận giải hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh vào khu vực này vì mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện phúc lợi cho nhân dân Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu về đề tài

Tình hình triển khai nghiên cứu ở nước ngoài

Chủ đề nghiên cứu về cạnh tranh đối với KVC được nhiều học giả nước ngoài quan tâm Danh mục tài liệu tham khảo của Luận án liệt kê nhiều công trình khoa học quan trọng đã từng công bố ở nước ngoài Những công trình này được tham khảo và tiếp thu có phê phán trong quá trình hoàn thành Luận án Phần tiếp theo sẽ tổng kết một số điểm chính về tình hình nghiên cứu trong các tác phẩm quan trọng đó

Trang 10

Trong tác phẩm “Market failure, government failure, leadership and

public policy” [thất bại thị trường, thất bại nhà nước, lãnh đạo và chính sách

công], hai tác giả Joe Wallis và Brian Dollery giới thiệu các lý thuyết và biến thể lý luận liên quan tới thất bại thị trường, thất bại nhà nước và chủ nghĩa công quản mới Nhà nước cần phải can thiệp để khắc phục thất bại thị trường Nhưng các tác giả cho rằng sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế cũng vấp phải một số thất bại như “thất bại lập pháp”, “thất bại hành chính”, “thất bại

tư pháp”, “thất bại hành pháp”, “thất bại chính trị” Mặt khác, KVC ít phải đối mặt với áp lực cạnh tranh mãnh liệt của nhiều đối thủ vì nó được bảo đảm bằng những quy định và sức mạnh quyền lực nhà nước Những thất bại nhà nước và sự thiếu vắng áp lực cạnh tranh dẫn tới sự mất hiệu quả trong hoạt động của KVC

Trong tác phẩm “Market or Government: choosing between imperfect

alternatives” [thị trường hay chính phủ: lựa chọn giữa các phương án không

hoàn hảo], Wolf đã lập luận rằng sự vận dụng quá mức cơ chế thị trường và can thiệp nhà nước đều gây ra những méo mó nhất định cho nền kinh tế nói chung và KVC nói riêng Mỗi phương án đều có những ưu thế riêng và có thể

bổ sung cho nhau trong những điều kiện nhất định Do đó, việc vận dụng cơ chế thị trường vào KVC làm cho hoạt động của khu vực này trở nên linh hoạt, hiệu quả và đáp ứng kịp thời nhu cầu người tiêu dùng hơn

Trong cuốn sách của mình “Sáng tạo lại chính phủ: tinh thần kinh

doanh sẽ làm biến đổi khu vực công ra sao?”, Osborne và Gaebler đã khuyến

khích thị trường hoá hoạt động công cộng để nâng cao hiệu qủa của chúng Hai tác giả đã đưa ra nhiều ý tưởng mới nhằm đưa tinh thần kinh doanh theo phong cách tư nhân vào khu vực công Vận dụng cạnh tranh vào hoạt động cung ứng hàng hoá và dịch vụ công là một trong những hướng cải cách bộ máy nhà nước sang kiểu tổ chức thị trường để đạt mục tiêu công Chính phủ

Trang 11

tạo môi trường cạnh tranh tích cực cho khu vực công và tư để nâng cao hiệu quả và chất lượng hàng hóa cho công dân Theo Osborne và Gaebler, lợi thế

rõ ràng nhất của cạnh tranh là đem lại hiệu quả cao hơn và trách nhiệm hơn trong cung cấp hàng hóa

“Báo cáo phát triển thế giới 1997” của Ngân hàng thế giới [World

Development Report 1997 The State in a changing world] cho rằng vai trò nhà nước trong thế giới hiện đại có nhiều thay đổi, đòi hỏi thiết lập các thể chế đủ năng lực để vận hành khu vực công một cách hiệu quả, thoả mãn nhu cầu đa dạng của công chúng Việc hoàn thiện quy trình cung ứng hàng hoá và dịch vụ công cần phải dựa vào cơ chế thị trường và tham gia của KVT

Tác phẩm “Phục vụ và duy trì: giới thiệu hành chính công trong một

thế giới cạnh tranh”, đã giới thiệu cơ chế cạnh tranh trong mua sắm công

Cạnh tranh lành mạnh không chỉ cần thiết cho việc bảo đảm hiệu quả về hoạt động mua sắm hàng hoá và dịch vụ công mà còn củng cố lòng tin của công chúng vào hoạt động kinh tế mà dễ bị quan chức lợi dụng Ý tưởng vận dụng cạnh tranh vào mua sắm công sẽ cải thiện hiệu quả sử dụng ngân sách, khắc phục bớt tình trạng tham nhũng và lạm dụng công quỹ Một trong nhiều ý tưởng của tác phẩm này là phân tích các tác động của cơ chế cạnh tranh trong nền hành chính công Theo nhóm tác giả này, nền hành chính công trong thế giới cạnh tranh hiện nay cần phải hướng tới “bốn chữ E”: kinh tế (Economy), hiệu quả (Efficiency), hiệu lực (Effectiveness) và công bằng (Equity) Như vậy, người dân sẽ được thừa hưởng những sản phẩm tốt và kịp thời do nền hành chính công chuẩn mực tạo ra

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lý luận cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và trong KVC nói riêng, các học giả nước ngoài còn tổng kết thực nghiệm việc vận dụng lý luận đó vào từng điều kiện của từng nước

Trang 12

Luận án này cũng đã khảo cứu nhiều công trình về kinh nghiệm vận dụng

cạnh tranh vào KVC

Jan-Erik Lane đã đánh giá những kinh nghiệm cải cách khu vực công ở

nhiều quốc gia trong tác phẩm của mình “Public Sector Reform: rationale,

trends and problems” [cải cách khu vực công: lý do, xu hướng và vấn đề]

Một ý tưởng quan trọng được phát hiện trong tác phẩm này là các cuộc cải cách KVC đều theo hướng mở rộng môi trường cạnh tranh trong khu vực này

ở các nước như Australia, New Zealand, Germany, Canada, Anh và nhiều nước phát triển khác Tác giả đã đánh giá kết quả vận dụng những ý tưởng mới về quản trị công của một số quốc gia trong vài thập kỷ gần đây Mỗi nước là một trường hợp nghiên cứu với nhiều vấn đề khác nhau và cách thức giải quyết riêng biệt

Nhiều công trình khác cũng đã tổng kết kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh vào KVC ở các nước như Trung Quốc, Singapore Chẳng hạn, Janet Tay

đã khảo cứu tiến trình và kết quả thực hiện cải cách khu vực công ở Singapore

trong thập kỷ vừa qua trong tác phẩm “Public service reforms in Singaporre”

[cải cách dịch vụ công ở Singapore]; Kai Hong Phua tập trung vào đánh giá những kinh nghiệm của Singapore trong lĩnh vực y tế trong công trình khoa

học “Health care financing options: lessons and innovations from the

Singapore system” Những thành công trong cải cách lĩnh vực y tế công ở

Singapore thể hiện sự kết hợp hài hoà lợi ích công với lợi ích tư trong đầu tư phát triển lĩnh vực y tế ở quốc đảo này

Đối với Trung Quốc, quan điểm cải cách KVC được nhìn nhận lại dựa trên sự tiếp thu những lý thuyết quản trị công hiện đại Xu Songtao đã giới thiệu những tiếp cận mới mà Chính phủ Trung Hoa vận dụng vào cải cách

KVC trong môi trường cạnh tranh của thế giới trong tác phẩm “China's

Public Administration Reform: New Approaches” [Cải cách nền hành chính

Trang 13

công Trung Quốc: những tiếp cận mới] Từng cách tiếp cận mới được cân nhắc và vận dụng có chọn lọc theo các mức độ khác nhau vào từng lĩnh vực của KVC, như y tế, giáo dục, cấp nước sinh hoạt, điện năng, giao thông vận tải, viễn thông và môi trường Chẳng hạn trong lĩnh vực giáo dục, Mok, K.H

công bố công trình “Merging of the Public and Private Boundary: Education

and the Market place in China” [Sự hợp nhất ranh giới công và tư: giáo dục

và thị trường ở Trung Quốc] Theo Mok, hệ thống giáo dục ở Trung Quốc đang có sự kết hợp công-tư, cơ chế thị trường được khuyến khích vận dụng để nâng cao chất lượng đào tạo theo định hướng nhu cầu thị trường

Tóm lại, nhiều công trình nước ngoài đã đề cập tới nội dung cạnh tranh,

cụ thể có một số công trình đã đề xuất nhiều ý tưởng mở rộng cạnh tranh đối với KVC Một số nghiên cứu cho hay rằng nhiều nước đã đạt được những thành công lớn trong hoàn thiện KVC bằng cách vận dụng cơ chế cạnh tranh của thị trường và khu vực này

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài này, điều dễ nhận thấy rằng cho tới thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài bàn về cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam Như vậy, chủ đề nghiên cứu này vẫn còn rất mới lạ, cần phải đầu tư nghiên cứu nhiều

Tình hình triển khai nghiên cứu trong Việt Nam

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về cạnh tranh đối với KVC cực

kỳ hạn chế Điều này được kiểm chứng cứ thông qua quá trình sưu tầm tư liệu cho Luận án Cho tới nay, chưa có một công trình nào trực tiếp bàn về cạnh tranh đối với KVC hay liên quan tới đề tài này được lưu trữ trong các trung tâm đào tạo và viện nghiên cứu lớn trong cả nước như Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, Viện quản lý kinh tế Trung ương, Trường đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện chính trị và hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện kinh tế Việt Nam, v.v

Trang 14

Theo Danh mục đề tài và luận án của Đại học kinh tế quốc dân được xuất bản mới đây, trong hơn 660 luận tiến sỹ và 1300 luận văn thạc sỹ chưa

có công trình nghiên cứu sâu về KVC nói chung và cạnh tranh đối với khu vực này nói riêng Tuy nhiên, Danh mục này cho thấy rằng đã có một số luận

án được bảo vệ về sự cạnh tranh trong một số ngành cụ thể, và về vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế và tạo môi trường cạnh tranh Việc tra cứu danh mục đề tài nghiên cứu và luận án được bảo vệ tại Trường đại học Kinh

tế, Đại học Quốc gia Hà nội cho thấy rằng đề tài cạnh tranh trong KVC chưa được nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu của Viện quản lý kinh tế Trung ương hiện đang lưu trữ một số tài liệu về KVC Chẳng hạn, một số sách dịch từ nước ngoài thông qua vài dự án tài trợ của Úc, Canada, Pháp, Thuỵ Điển về quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó có đề cập tới những vấn đề của KVC Rất tiếc rằng trong số tài liệu đó lại không có sách nghiên cứu sâu về cạnh tranh đối với KVC của Việt Nam Tuy nhiên, Viện đã công bố kết quả

dự án VIE 01/025: “Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia” (2003) Trọng

tâm của công trình này là năng lực cạnh tranh Quốc gia Song, một số thông tin trong công trình này có ích cho luận giải một số khía cạnh về cạnh tranh đối với KVC Chẳng hạn, việc đánh giá tình trạng độc quyền nhà nước trong một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng là những thông tin cần thiết cho luận án này

Trong một số năm gần đây, trên diễn đàn khoa học đã xuất hiện một số công trình đề cấp tới một số khía cạnh liên quan tới cạnh tranh trong các lĩnh

vực công Trong “Báo cáo phát triển Việt Nam 2005” của Ngân hàng thế giới

và UNDP, khi bàn về giải pháp nâng cao việc sử dụng hiệu quả các nguồn chi tiêu công cộng, các tác giả có kiến nghị mở rộng việc cạnh tranh đối với khu vực này để các chủ thể công và tư nhân có thể cạnh tranh vì hiệu quả cao, chất

Trang 15

lượng hàng hóa công phù hợp với nhu cầu khách hàng Đó cũng là gợi ý phù hợp với ý tưởng mà Luận án đang theo đuổi giải quyết

Trong qúa trình nghiên cứu khoa học của mình, Tác giả Luận án đã công bố một vài công trình liên quan tới cạnh tranh đối với KVC Tác giả lập luận rằng cạnh tranh được coi như là một động lực quan trọng để hoàn thiện

sự vận hành của KVC Để có môi trường cạnh tranh lành mạnh cần phải đề cao vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước, trong việc thiết lập kỷ cương, luật lệ đóng vai trò quan trọng

Những công trình trên là những bước khám phá ban đầu về một số khía cạnh liên quan tới cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam Việc kế thừa những ý tưởng này là cần thiết và tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để tạo căn cứ khoa học cho hoàn thiện Luận án này

Tóm lại, còn quá ít công trình nghiên cứu sâu rộng về bản chất cạnh

tranh đối với KVC ở Việt Nam thời gian qua Ở nước ngoài, nhiều công trình bàn tới khả năng vận dụng cạnh tranh vào KVC, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào về cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam Trong phạm vi quốc gia, các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm chưa thỏa đáng tới những ý tưởng vận dụng cạnh tranh vào khu vực công nên còn rất hiếm các công trình khoa học hay đề tài nghiên cứu về nội dung này Vì thế, có thể khẳng định rằng vấn

đề cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam còn nhiều cơ hội bỏ ngỏ cho nghiên cứu chuyên sâu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của Luận án là phác họa bức tranh cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam và luận giải hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực này Để đạt được mục tiêu cơ bản này, Luận án đặt ra 4 nhiệm vụ quan trọng sau đây:

(1) Luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối với khu vực công

Trang 16

(2) Giới thiệu những kinh nghiệm cần thiết về cạnh tranh đối với KVC

ở một số nước trên thế giới như cơ sở tham khảo cho Việt Nam (3) Phân tích thực trạng cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam

(4) Đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Trọng tâm nghiên cứu của Luận án là “cạnh

tranh đối với KVC” trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ công (gọi tắt là HHC), và một số loại hàng hóa và dịch vụ tư, (gọi tắt là HHT) HHC có thể bao gồm những loại hàng hóa công thuần túy và những loại hàng hóa công không thuần túy (tức là mang tính chất tư)1 Nội hàm “cạnh tranh đối với KVC” thể hiện ý tưởng chủ đạo rằng sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các

chủ thể thuộc KVC với nhau mà còn diễn ra giữa các chủ thể công với chủ thể

tư, chủ thể liên doanh công tư và các chủ thể kinh tế khác

Bằng phương pháp định tính là chủ yếu, Luận án chỉ tập trung xem xét

sự cạnh tranh của các chủ thể công với nhau, giữa chủ thể công với chủ thể tư

và chủ thể hỗn hợp công tư trong việc cung ứng HHC và một số HHT Những

số liệu hay trường hợp minh họa cho nghiên cứu trong Luận án được giới hạn trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích (điện lực, bưu chính viễn thông, giao thông) và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục) Đây là những lĩnh vực cơ bản

có tác động rộng lớn tới đời sống tất cả thành viên xã hội và hoạt động của nền kinh tế quốc dân

Giới hạn không gian: Luận án tập trung chính vào giải quyết những

vấn đề đã lựa chọn diễn ra ở Việt Nam Bên cạnh đó, Luận án lựa chọn giới thiệu những kinh nghiệm quan trọng của một số quốc gia tiêu biểu về cạnh

1

Những khái niệm này sẽ được giải thích rõ hơn trong Chương 1

Trang 17

tranh đối với KVC như Anh, Australia, New Zealand, Trung Quốc và Singapore

Giới hạn thời gian: Giai đoạn mà Luận án tập trung nghiên cứu là giai

đoạn sau khi có chính sách đổi mới ở Việt Nam Tất nhiên, để nghiên cứu có

hệ thống, một số khía cạnh liên quan trong quá trình luận giải vấn đề chính có thể thuộc về giai đoạn trước 1986 Đối với phân tích kinh nghiệm quốc tế, phạm vi thời gian nghiên cứu bao hàm giai đoạn thời gian rộng hơn, từ những năm đầu của thập kỷ 1980s trở lại đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, Luận án kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp luận cần thiết cho phân tích và luận giải bản chất và quá trình vận động

và phát triển của các hiện tượng, sự vật Nghiên cứu KVC cùng không thể không vận dụng phương pháp luận này Hơn nữa, Luận án còn sử dụng nhiều phương pháp khoa học cụ thể như Phân tích, Tổng hợp, So sánh,Thống kê, v.v

Trong quá trình hoàn thành Luận án, nhiều công trình khoa học trong

và ngoài nước (ít nhiều) liên quan tới chủ đề này được tham khảo và tiếp thu

có phê phán Đặc biệt, một số lượng lớn tài liệu nước ngoài được sưu tầm và dịch thuật phục vụ cho Luận án này Các loại tài liệu quý này được sưu tầm thông qua nhiều kênh khác nhau trong nhiều năm nghiên cứu trong nước và trong khoảng ba năm Tác giả nghiên cứu ở Australia

6 Đóng góp khoa học của Luận án

Trang 18

Với những kết quả nghiên cứu, Luận án hy vọng sẽ đóng góp những ý tưởng mới và thúc đẩy công tác nghiên cứu KVC ở Việt Nam theo chiều rộng

và chiều sâu của vấn đề:

i Hệ thống hóa lý luận cạnh tranh đối với KVC, làm rõ những đặc trưng, hình thức và kỹ thuật thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC;

ii Làm rõ thực trạng cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam thời gian qua trên cơ sở đó chỉ rõ các vấn đề cần giải quyết

iii Xây dựng các nguyên tắc vận dụng cạnh tranh đối với KVC và thiết

kế hệ thống giải pháp thiết thực thúc đẩy cạnh tranh ở Việt Nam

Những đóng góp khoa học này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của KVC, đặc biệt trong quan chức và những người hoạch định chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này

Chương 3: Thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam

Chương 4: Những giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công

ở Việt Nam

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH

ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG 1.1 KHU VỰC CÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

1.1.1 Khu vực công trong nền kinh tế

Xét về nguồn gốc, sự phát triển của các tổ chức KVC phát triển mạnh vào những năm đầu thế kỷ XIX trong nhiều quốc gia [72, tr.2] Tác động của công nghiệp hoá và phát triển của đô thị làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội lớn như di chuyển dân cư, mở rộng và phát sinh ngành nghề, hoạt động từ thiện, chất lượng cuộc sống, v.v Những vấn đề xã hội này khiến cho nhà nước phải tham gia mạnh mẽ hơn để đối phó và giải quyết Trong thời kỳ này, sự phát triển mạnh của kinh tế thị trường đã bộ lộ nhiều khiếm khuyết hay ngoại ứng tiêu cực ví như bất công, ô nhiễm môi trường và độc quyền Do vậy, nhà nước lúc này không đơn thuần thể hiện vai trò của mình trong thu thuế hay cung cấp dịch vụ quốc phòng mà còn tích cực trong khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường Để giải quyết những vấn đề này, nhà nước chi tiêu ngân sách của mình không chỉ đơn thuần như người tiêu dùng mà cả như người đầu tư Nhà nước cần phải triển khai những chính sách và cơ chế để thực hiện việc can thiệp của mình một cách hợp pháp và có hiệu lực trên quy

mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Rõ ràng, sự phát triển của KVC gắn với vai trò quan trọng và to lớn của nhà nước trong việc khắc phục những khuyết tật thị trường và đáp ứng nhu cầu chung xã hội Xét về cơ cấu tổ chức, KVC là tập hợp nhiều cơ quan và tổ chức tập thể nhằm phục vụ lợi ích chung của mọi thành viên xã hội [72, tr.2] Những hợp phần của KVC gồm các đặc trưng như sau: (i) những cơ quan và

Trang 20

tổ chức này do nhà nước thành lập nhằm phục vụ lợi ích chung mà nhà nước theo đuổi và thông qua đó phục vụ công dân; (ii) mục tiêu và quy chế hoạt động của chúng là do nhà nước quyết định thông qua quy trình chính trị và hành chính; (iii) nguồn ngân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này được phân bổ từ nguồn thu nhập thuế quốc gia và địa phương và chịu sự giám sát của nhà nước; (iv) nhà nước chịu trách nhiệm về những giao ước pháp lý cho các thực thể hợp phần của mình và nắm quyền kiểm soát pháp lý về những hoạt động của chúng

Trong KVC, cơ chế phân bổ nguồn lực cơ bản là phi thị trường Nói cách khác, khu vực công thực hiện phân bổ nguồn lực không tuân thủ quy luật thị trường Ví dụ, việc triểnkhai các chương trình an ninh quốc phòng, cứu trợ

xã hội, kết cấu hạ tầng quốc gia, v.v sẽ không tuân thủ các quy luật thị trường

và không thể phân phối như hàng hoá tiêu dùng tư nhân Việc cung cấp những loại hàng hoá này không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của khách hàng tiêu dùng, tức là giá cả không đưa ra tín hiệu đúng cho điều chỉnh mặt cung Phần lớn loại hàng hoá do KVC cung ứng và sản xuất đều bảo đảm cho phép tất cả thành viên xã hội cùng sử dụng chung với nhau không cần phân chia khẩu phần, không phụ thuộc nhiều vào số lượng người tiêu dùng và khả năng tiêu dùng của người khác Nói ngắn ngọn, những sản phẩm của KVC nhằm phục vụ lợi ích chung cho tất cả thành viên xã hội

Hoạt động của các tổ chức thuộc KVC phải tuân thủ quy tắc và quy định do nhà nước phê chuẩn Công việc/chương trình được phê duyệt thông qua một quy trình hành chính Việc ra quyết định hay phủ quyết quyết định phải dựa vào cơ chế đại diện [52, tr.198] Người đại diện bỏ phiếu phê chuẩn ngân sách công và cơ quan hành pháp triển khai chi tiêu nguồn tiền này Phân

bổ ngân sách và hoạt động cung ứng/sản xuất được thể chế hóa bằng luật lệ hay quy định để bảo đảm việc cung ứng đầu ra một cách đầy đủ và đúng

Trang 21

chủng loại cho những đối tượng hưởng lợi như đã cam kết Các nhóm dân cư hay nhóm lợi ích khác nhau sẽ được hưởng lợi hay chịu những tác động khác nhau trong từng quyết định của nhà nước thông việc thực thi chính sách/quy định của nhà nước như chính sách chi tiêu công, phúc lợi xã hội và nhiều chính sách khác

Căn cứ vào bản chất của mình, KVC chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ

đa mục tiêu liên quan tới lợi ích kinh tế-xã hội chứ không phải theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cá nhân Hoạt động của KVC hướng tới thỏa mãn lợi ích chung cho toàn bộ thành viên xã hội hay nhiều nhóm lợi ích khác nhau Việc phân phối công bằng thành quả và nguồn lực công là đòi hỏi quan trọng để bảo đảm sự duy trì hài hòa lợi ích và tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội Nhiều chương trình công được phê duyệt nhằm thoả mãn lợi ích của các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội Việc đáp ứng nhu cầu khách hàng không phải vì

lý do khả năng thanh toán mà do lý do phân phối vì lợi ích chung

Kinh phí hoạt động của các tổ chức công và đầu vào để đạt được các mục tiêu công ích đều do nhà nước tài trợ từ ngân sách quốc gia Kế hoạch chi tiêu và quy trình phê duyệt do nhà nước giám sát theo một quy trình hành chính Trong lĩnh vực nhân sự cũng vậy, số lượng biên chế, việc bổ nhiệm hay bãi nhiệm nhân sự và chế độ thù lao buộc phải theo những quy định chung của nhà nước Nói cách khác, nhà nước nắm quyền kiểm soát pháp lý

về những hoạt động của tổ chức của mình thành lập ra

Như vậy, KVC bao gồm các thực thể nhà nước thực hiện sứ mệnh quan trọng là phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội theo những quy trình được xác lập trước mang tính pháp lý Thông qua các chương trình chi tiêu công, nhà nước cung ứng các loại hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầuxã hội

Trang 22

1.1.2 Quan niệm về hàng hoá công

Các tiêu chí cơ bản2 để phân biệt HHC và HHT dựa trên tính chất tiêu dùng của nó, thể hiện dưới hai khía cạnh: (i) tính loại trừ; (ii) tính tranh giành

Tính loại trừ hàm ý trả lời câu hỏi: „có thể ngăn cản mọi người sử dụng

hàng hoá không?‟ Lợi ích của hàng hóa đem lại là rộng lớn, phổ quát cho

mọi người hưởng lợi hay chỉ giới hạn hẹp, riêng cho một cá thể nhất định Những hàng hoá không có tính loại trừ là những hàng hoá mà mọi người đều

có thể tiếp cận sử dụng nó mà không thể ngăn cản Ví dụ, không khí trong sạch là hàng hoá không loại trừ vì không thể loại trừ bất cứ ai trong xã hội không thở, mọi người hít không khí thoải mái mà không phải trả tiền

Những hàng hoá loại trừ là hàng hoá mà người chiếm hữu nó có thể dễ dàng ngăn cản người khác sử dụng Chẳng hạn, người sở hữu cái bánh có thể không cho phép người khác sử dụng chiếc bánh đó, nếu muốn

Tính tranh giành hàm nghĩa trả lời câu hỏi: „việc sử dụng hàng hoá của

người này có làm giảm khả năng tiêu dùng hàng hoá đó của người khác không?‟ Hàng hoá tranh giành là những loại hàng hoá mà việc tiêu dùng của

người này sẽ hạn chế hoặc loại bỏ việc sử dụng đồng thời của người khác đối với hàng hoá đó Ví dụ, quả cam được người nào đó ăn rồi thì người khác không còn thưởng thức nó được nữa Đa số hàng hoá, lâu bền và không lâu bền, đều có tính tranh giành

Hàng hoá không tranh giành là những hàng hoá mà việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đồng thời của người khác

2Trong nhận thức thông thường ở Việt Nam hiện nay, hàng hóa công và hàng hoá tư được phân biệt bởi dấu hiệu sở hữu Nhiều người vẫn cho rằng HHC là do doanh nghiệp nhà nước cung cấp còn HHT là do tư nhân sản xuất

Trang 23

đối với hàng hóa đó Hàng hoá không tranh giành bao gồm hữu hình và vô hình Chương trình phát thanh trên sóng Radio là hàng hoá không tranh giành Một khi người này mở đài nghe thì việc này cũng không hạn chế người khác nghe đài ở cùng kênh đó Những hàng hoá hữu hình không tranh giành có thể

kể tới như các phong cảnh đẹp, kỳ quan, công trình mỹ thuật công cộng, v.v

Những hàng hoá đồng thời có tính loại trừ và tính tranh giành gọi là

HHT thuần tuý Bánh mỳ là HHT thuần tuý, một người này ăn hết chiếc

bánh mỳ thì chắc chắn người khác không còn cái bánh đó để ăn được nữa, số người sử dụng bánh mỳ nhiều sẽ ảnh hưởng tới lượng bánh mỳ cung ứng trong cửa hàng (tranh giành) Đồng thời, những người sở hữu một lượng bánh

mỳ nào đó có thể dễ dàng loại trừ những người khác sử dụng chúng

Ngược lại, những hàng hoá có hội tụ đầy đủ cả hai thuộc tính không

loại trừ và không tranh giành gọi là HHC thuần tuý 3 Chẳng hạn, quốc phòng nhằm ngăn chặn sự tấn công từ bên ngoài, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia thì hoạt động này đem lại lợi ích cho tất cả công dân, không thể loại trừ một ai sống trong quốc gia này Mặt khác, có thêm một công dân sinh ra, hưởng lợi

từ hàng hoá này cũng không gây ảnh hưởng tới sự tiêu dùng của những người còn lại trong xã hội

HHC thuần tuý không thể phân bổ theo định suất để tiêu dùng và việc hạn chế người sử dụng chúng dường như không thể hay vô cùng đắt đỏ Đặc tính khác của HHC thuần tuý là chi phí cận biên cho việc có thêm một người

sử dụng bằng 0, nên khi có thêm người sử dụng, mức độ sử dụng hàng hoá của những người tiêu dùng còn lại không bị ảnh hưởng Vì vậy, việc phân chia theo suất hay khẩu phần cho người tiêu dùng là không cần thiết đối với HHC thuần tuý Hàng hoá này không thể chia theo khẩu phần bằng hệ thống

3Stiglitz, J.E cho rằng HHC thuần tuý có 2 đặc tính: không thể phân bổ theo khẩu phần để

sử dụng và không muốn sử dụng nó theo khẩu phần Xét về thuật ngữ, đây là cách diễn đạt khác của hai đặc tính mà chúng ta đang nói ở trên

Trang 24

giá cả [52, tr.167] Chẳng hạn, „quản lý nhà nước có hiệu lực‟ với tư cách là HHC thuần tuý không thể chia ra từng định suất cho công dân và thu tiền sử dụng theo giá cả thị trường Quản lý nhà nước có hiệu lực sẽ đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội không loại trừ bất cứ công dân nào và mức độ hưởng thụ của công dân này không ảnh hưởng gì tới khả năng sử dụng của công dân khác

Trong thực tế, ranh giới giữa HHT với HHC chỉ là tương đối Trong khoảng giữa hai cực HHT thuần tuý và HHC thuần tuý, tồn tại một số loại hàng hóa được gọi là HHC không thuần tuý và/hay HHT không thuần tuý, tức

là có thể hội tụ không đủ hai tiêu chí nói trên hoặc sự kết hợp hai tiêu chí ở giới hạn nhất định [52, tr.170]

Việc phân loại HHC mang ý nghĩa tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhận thức về mức độ “công”, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thị trường, quy định pháp lý và tình trạng công nghệ Tuy nhiên, việc phân định HHC rất cần thiết để hiểu rõ những vấn đề cần giải quyết khi đưa ra quyết định liên quan tới KVC [98, tr 57]

Trong một số hoàn cảnh nhất định, một số loại hàng hoá có thể chuyển

từ hàng hoá công sang hàng hoá tư và ngược lại Ví dụ, cuộc bắn pháo hoa hoành tráng trong một trung tâm đông đúc dân cư trở thành hàng hoá công vì

nó đem lại sảng khoái cho tất cả dân cư và không loại trừ một ai ở đó Ngược lại nếu việc bắn pháo hoa đó lại diễn ra trong một công viên giải trí tư nhân ở

xa các trung tâm đông đúc thì nó mang tính hàng hoá tư nhân nhiều hơn bởi

vì mọi người muốn thưởng thức phải mua vé vào công viên đó Thêm một ví

dụ khác, chẳng hạn hải đăng Lâu nay chúng ta vẫn thừa nhận hải đăng là HHC thuần tuý, nhưng trong thế kỷ 19 ở Anh, hải đăng là do tư nhân sở hữu

và vận hành [44, tr.290] Chủ hải đăng không thể thu phí các thuyền trưởng

có thuyền đi qua nhưng lại thu phí các chủ của những bến cảng lân cận ngọn

Trang 25

hải đăng này Nếu các chủ bến cảng đó không trả tiền thì chủ ngọn hải đăng

sẽ tắt đèn nên tàu bè sẽ không cập cảng đó nữa

Việc xác định hàng hóa mang tính công hay không phụ thuộc vào số lượng người hưởng lợi và khả năng loại trừ họ ra khỏi việc sử dụng hàng hoá

đó [44, tr.290] Như ngọn hải đăng đang đề cập ở trên là hàng hoá công tại vì

nó mang lại lợi ích (không phải trả tiền) cho rất nhiều thuyền trưởng vì tránh được những đá ngầm hay dòng nước nguy hiểm Song, nếu nó chỉ đem lại lợi ích cho chủ một số bến cảng lân cận thì nó giống hàng hóa tư nhân hơn

Theo Rosen H.S việc phân loại hàng hoá công không mang tính tuyệt đối mà việc này còn phụ thuộc vào điều kiện thị trường và tình trạng công nghệ [99, tr.56] Chẳng hạn, trở lại ví dụ về ngọn đèn hải đăng Trong điều kiện thông thường, đèn bật sáng dẫn đường cho tất cả các tầu bè đi qua lại, việc sử dụng hải đăng không mang tính tranh giành và loại trừ đối với mọi tầu thuyền đi qua lại vùng biển này Khi đó, ngọn hải đăng rõ ràng là HHC thuần tuý Nhưng giả định rằng một khi áp dụng công nghệ mới vào việc bật tắt thì hải đăng không còn là HHC thuần tuý nữa bởi vì có khả năng loại trừ Khi đó, những tầu nào mua thiết bị đặc biệt nhận biết ánh sáng dẫn đường từ ngọn hải đăng này mới có khả năng đi qua khu vực đó, còn tầu nào không mua thiết bị này sẽ bị loại trừ ra khỏi việc sử dụng ngọn hải đăng đó

Bảng 1.1: Phân loại hàng hoá công- tƣ

Trang 26

Nguồn: Mankiw, N.G Những nguyên lý của kinh tế học Tập I kinh tế học vi mô Nxb Lao

động 2004 tr.285

Gregory Mankiw từ Đại học Havard gọi một số bộ phận HHC không thuần tuý bằng tên khác, ví như nguồn lực cộng đồng và độc quyền tự nhiên

(Bảng 1.1) Những hàng hoá có tính tranh giành nhưng không có tính loại trừ

(chính xác hơn là khó loại trừ) gọi là nguồn lực cộng đồng Chẳng hạn, cá đại dương là nguồn lợi mang tính cạnh tranh vì số lượng người đánh bắt nhiều sẽ làm cho nguồn lực khan hiếm hơn cho người khác Trong khi đó việc thiết lập những biện pháp loại trừ các ngư dân khác đánh bắt bằng việc thu tiền là không thể hay rất tốn kém

Những hàng hoá không có tính tranh giành nhưng có tính loại trừ gọi là hàng hoá độc quyền tự nhiên, ví như phòng cháy, truyền hình cáp, những con

đường thưa người có thu phí (Bảng 1.1) Truyền hình cáp mang tính loại trừ

bởi lẽ người xem buộc phải trả phí dịch vụ thì mới được tiếp cận dịch này theo mật khẩu Nhưng trong phạm vi những khách hàng đã được phép tiếp cận thì nó không mang tính tranh giành bởi lẽ người sử dụng này truy cập vào mạng truyền hình này không làm giảm khả năng sử dụng của người khác Lợi ích kinh tế tăng dần khi số lượng người đủ điều kiện truy cập tăng lên trong chi phí cận biên cho việc có thêm một người sử dụng gần như bằng 0

Nếu nhìn từ góc độ chi phí cận biên sử dụng và mức độ loại trừ, có thể phác thảo bức tranh về HHC và HHT như sau: (i) những HHC thuần tuý bao giờ cũng mang đặc tính là chi phí cận biên cho việc có thêm một người sử dụng bằng 0 và khả năng loại trừ là không thể hay vô cùng tốn kém; (ii) những HHC không thuần tuý có được đặc trưng bởi mức chi phí cận biên cho việc có thêm một người sử dụng lớn hơn 0 và khả năng loại trừ dễ dàng và ít tốn kém hơn nhiều; (iii) HHT thuần tuý là những hàng hoá có đặc tính là chi phí cận biên cho việc có thêm một người sử dụng tương đối cao và khả năng

Trang 27

loại trừ người khác sử dụng rất dễ dàng [52, tr.170-175] Hình 1.1 minh hoạ bức tranh HHC và HHT theo những nội dung đã phân tích ở trên

Xuất phát từ đặc điểm của HHC như vậy, có thể rút ra kết luận rằng về

cơ bản nhà nước thực hiện cung ứng HHC hiệu quả hơn thị trường tư nhân

Do HHC không có tính loại trừ, nên người hưởng lợi không phải trả tiền khi

sử dụng Chính điều này đã cản trở việc cung ứng chúng trên thị trường tư nhân Do đó, nhà nước cần phải giải quyết vấn đề này bằng cách thực hiện cung ứng chúng Quá trình cung ứng được tài trợ qua thuế đem lại lợi ích đồng đều cho mọi người Nếu tư nhân cung ứng HHC thì họ sẽ thu tiền sử dụng chúng Việc thu tiền làm cho số lượng người sử dụng hàng hóa này ít đi, tức là hàng hóa này nằm trong tình trạng dưới mức sử dụng hay gây ra sự tổn thất hiệu quả

Hình 1.1: Bức tranh HHC và HHT

HHT thuần tuý

* Độc quyền

tự nhiên

* Giao thông công cộng

* Môi trường

Trang 28

Vấn đề „kẻ ăn không‟ cũng xuất phát từ việc sử dụng HHC Có người được hưởng lợi mà không phải tốn kém gì, mà việc ngăn chặn sự lợi dụng này rất tốn kém hay không thể thực hiện Tư nhân đòi hỏi các giao dịch phải diễn

ra trên cơ sở trả giá phù hợp trên thị trường Để giải quyết vấn đề kẻ ăn không

và chia sẻ lợi ích của HHC đem lại cho mọi người, nhà nước phải đứng ra đảm nhận cung ứng thông qua tài trợ từ ngân sách công

Mặt khác, nhà nước còn thực hiện cung ứng một số loại HHT vì lý do kinh tế và lý do chính trị-xã hội Lý do kinh tế xuất phát từ việc tổn thất hiệu quả do chi phí giao dịch quá cao Ví dụ, để thu được tiền của người vào công viên nhà kinh doanh tư nhân phải chi phí tốn kém như đầu tư xây dựng tường rào bao quanh (điều này có thể làm mất cảnh quan của công viên), lập các trạm thu vé vào cổng, trả lương cho người thu vé, v.v Hơn nữa, việc thu tiền như vậy còn hạn chế số lượng người vào thưởng thức cảnh đẹp hay hít không khí trong lành trong công viên đó Vì thế, KVT không thiết tha tham gia cung ứng chúng cho người tiêu dùng, thay vào đó nhà nước phải đảm nhận

Lý do chính trị-xã hội xuất phát từ sự duy trì mức công bằng trong phân phối phúc lợi xã hội và cơ hội phát triển ổn định cho những người hưởng lợi Chẳng hạn, „việc công cộng cung cấp giáo dục là những tính toán mang tính phân phối; nhiều người cảm thấy rằng những cơ hội của thanh niên

là không nên phụ thuộc vào sự giàu có của cha mẹ‟ [52, tr.175]

Qua sự phân tích trên, HHC có những đặc tính riêng trong việc thỏa mãn nhu cầu chung trong nền kinh tế Việc nhà nước tham gia cung ứng HHC

và một số HHT cũng xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội nhằm khắc phục một trong các khuyết tật thị trường Phân tiếp theo sẽ giới thiệu đầy đủ vai trò của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế quốc dân

1.1.3 Vai trò nhà nước trong điều tiết kinh tế

Trang 29

Sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế nhằm khắc phục các khuyết tật

thị trường và cải thiện công bằng xã hội (Bảng 1.2)

Chức năng tối thiểu của nhà nước là cung cấp hàng hoá và dịch công thuần tuý và thực hiện chính xã hội bảo đảm sự ổn định và bình đẳng xã hội Hoạt động của nhà nước trong cung cấp HHC thuần tuý gồm có dịch vụ an ninh quốc phòng, hệ thống luật pháp và trật tự xã hội, bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quản lý kinh tế vĩ mô, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Bên cạnh đó, nhà nước còn thực hiện những chức năng xã hội và cứu trợ khẩn cấp như các chính sách xóa đói giảm nghèo, phúc lợi cho những nhóm người dễ bị tổn thương, hoạt động trợ giúp khẩn cấp trong những tình huống rủi ro và thiên tai

Y tế cộng đồng

Bảo vệ người nghèo:

Chương trình chống đói

nghèo Trợ cấp thiên tai

Các chức

năng

trung gian

Khắc phục ngoại ứng:

Giáo dục phổ thông Bảo vệ môi trường

Điều tiết độc quyền:

Điều tiết sử dụng hạ tầng, Chính sách chống độc quyền

Khắc phục rủi ro:

Bảo hiểm (nhân thọ, hưu trí) Điều tiết tài chính Bảo vệ người tiêu dùng

Cung cấp bảo hiểm xã

hội:

Phân bổ lại lương hưu Trợ cấp gia đình Bảo hiểm thất nghiệp

Phân phối lại:

Phân phối lại tài sản Nguồn: World Bank.The state in a changing world Washington D.C 1997, tr.27

Trang 30

Chức năng trung gian gồm những hoạt động nhằm khắc phục ngoại ứng, điều tiết độc quyền, khắc phục rủi ro và cung cấp các loại hình bảo hiểm xã hội Những hoạt động này góp phần tích cực trong việc hạn chế những hạn chế của thị tr-ờng Chẳng hạn, những chính sách chống độc quyền bảo đảm cho môi tr-ờng cạnh tranh bình đẳng hơn, xã hội hạn chế đ-ợc những khoản

“thất thoát trắng” về hiệu quả Về góc độ dịch vụ xã hội, chính phủ cung cấp dịch vụ giáo dục phổ thông, bảo hiểm xã hội, bảo vệ ng-ời tiêu dùng, v.v những hoạt động can thiệp này sẽ hạn chế những tác động tiêu cực của thị tr-ờng tới đời sống nhân dân, đặc biệt đối với những đối t-ợng dễ bị tổn th-ơng trong xã hội nh- trẻ em, ng-ời cao tuổi, ng-ời thất nghiệp

Nhà n-ớc can thiệp vào kinh tế dựa trên nguyên tắc hỗ trợ, tức là duy trì

và tạo thuận lợi cho khu vực t- nhân phát triển Hay nói khác đi, nhà n-ớc thực hiện các chức năng tích cực- khơi dậy những nhân tố thị tr-ờng nh- tạo môi tr-ờng rộng rãi cho các doanh nghiệp t- nhân hoạt động, tạo thuận lợi cho phát triển nền tảng sở hữu t- nhân, tự do sản xuất kinh doanh những gì pháp luật không cấm, v.v

Nh- vậy, vai trò của nhà n-ớc là vô cùng to lớn trong việc khắc phục các thất bại thị tr-ờng và bảo đảm sự công bằng xã hội Thông qua đó, luật lệ

và quy tắc vận hành nền kinh tế đ-ợc xác lập một cách chặt chẽ theo một quy trình trật tự nhất định

1.2 SỰ CẦN THIẾT VẬN DỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CễNG

Theo lụgic lập luận ở cỏc mục trờn, một trong cỏc lý do cơ bản để nhà nước can thiệp vào kinh tế là những „khuyết tật thị trường‟ Nhưng khi nhà nước can thiệp vào kinh tế, sự can thiệp này lại vấp phải những „thất bại nhà nước‟ như chi tiờu lóng phớ nguồn lực cụng và thiếu mụi trường cạnh tranh (độc quyền) Trong khi đú, cạnh tranh được coi là một trong cỏc phương cỏch

Trang 31

quan trọng trong việc sửa chữa những thất bại này Phần này sẽ luận giải những lý do đó

1.2.1 Các thất bại nhà nước

Nhiều công trình khoa học đã chỉ rõ nhiều thất bại nhà nước khi nhà nước can thiệp vào nền kinh tế Mục này khái quát 3 điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, thất bại lập pháp thể hiện trong sự mất hiệu quả phân bổ

nguồn lực Dollery và Wallis [106, tr.37] lập luận rằng sự mất hiệu quả phân

bổ nảy sinh từ việc cung cấp quá mức hàng hoá công khi các nhà chính trị gia theo đuổi chiến lược nhằm tối đa hoá cơ hội bảo đảm cho họ đắc cử hay tái đắc cử thay vì thực hiện chính sách vì lợi ích chung Vì mục tiêu trúng cử hay tái đắc cử, các chính trị gia tìm kiếm sự ủng hộ của các nhóm lợi ích bằng việc “moi” tiền nhà nước về cho các cơ sở để tranh thủ phiếu cử tri Một thực

tế nữa là “thông đồng” trong phê duyệt ngân sách hay chương trình làm cho mức chi tiêu chính phủ tăng vọt

Thứ hai, thất bại hành chính quan liêu làm cho việc thực hiện các chính

sách không hiệu quả cho dù những chính sách đó có lợi cho xã hội Xét theo bản chất người kinh tế, các công chức không có đủ những khuyến khích để thực hiện các chính sách này như ý muốn Công chức tìm cách để tối đa ngân sách vì nguồn ngân sách lớn hàm ý lương tăng, quyền lực và danh tiếng [52, tr.258] Họ tăng quy mô ngân sách bằng cách cung cấp đầu ra quá mức cho phép Công chức hưởng lợi trực tiếp từ ngân sách chính phủ nên họ thích có mức chi tiêu cao Điều này có nghĩa rằng trong KVC thường xảy ra sự hoang phí nguồn lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước rất hạn chế

Hơn nữa, sự trì trệ trong bộ máy hành chính quan liêu làm cho việc đáp ứng nhu cầu nhân dân giảm hiệu quả Những hình thức thưởng-phạt chưa đầy

đủ đối với công chức tạo ra sức ỳ lớn trong vận hành bộ máy quan liêu hành chính Chế độ làm việc cả đời, không bị miễm nhiệm tạo ra một lá chắn cho ai

Trang 32

đã có tấm vé thông hành vào đội ngũ công chức nhà nước Vì thế, họ tự đánh mất dần sự nhiệt tình và cầu toàn vì không bị áp lực “chọn lọc” tự nhiên như trong KVT Việc quản lý hiệu quả nguồn lực công không được quan tâm thoả đáng và trách nhiệm phục vụ nhân dân quy định thiếu rõ ràng

Tệ nạn quan liêu gây ra „khoảng trống‟ trong tiếp cận thông tin và phản ứng với những tình huống thực tế Luồng thông tin chính sách không được luân chuyển kịp thời tới những bên liên quan Những nhu cầu phát sinh hay những mối quan tâm mới của công chúng không được đáp ứng thoả đáng từ phía cơ quan hành chính

Thứ ba, tệ nạn trục lợi phát sinh khi nhà nước thực hiện can thiệp vào

nền kinh tế Rõ ràng khi đó, nhiều khoản thu nhập/phúc lợi được chuyển khoản cho các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội Nhiều người cũng có thể lợi dụng việc này để phân phối lại nguồn lực có lợi cho cá nhân

Bên cạnh đó, một số công chức còn được hưởng nhiều bổng lộc do chức vụ và vị trí công tác trong bộ máy công quyền đem lại chứ không hoàn toàn do tài năng cống hiến Chế độ tiền lương cứng nhắc trong KVC cũng làm mất đi những động lực phát triển và đổi mới Người cống hiến nhiều, có trí tuệ chưa được trả thù lao tương xứng, người có công chưa được khen thưởng kịp thời và thích đáng

Niskanen W.A., thành viên cố vấn kinh tế của Chính quyền Reagan, cho rằng công chức quan tâm tới “tiền lương, bổng lộc, danh tiếng, quyền lực, chức vụ” Đó là những nhân tố liên quan tới quy mô cơ quan Công chức tìm mọi cách để tối ưu quy mô cơ quan giống như các hãng mở rộng quy mô của mình Họ cạnh tranh với công chức khác để có ngân quỹ Cạnh tranh của bộ máy quan liêu thay cho cạnh tranh thị trường [52, tr.258] Wolf lập luận rằng

cơ chế thị trường xác lập sự tương quan giữa chi phí sản xuất và giá cả đầu ra, nhưng hoạt động phi thị trường gần như không xác lập trên cơ sở này vì thu

Trang 33

nhập từ hoạt động phi thị trường được trích ra từ nguồn thu thuế nhà nước Rõ

ràng, “ở đâu nguồn thu nhập bảo đảm hoạt động không liên quan tới chi phí

sản xuất, ở đó có nhiều nguồn lực tiêu hao hơn mức cần thiết để tạo ra đầu ra nhất định” [109, tr.63]

Hành động của công chức ảnh hưởng rất lớn tới việc chi tiêu ngân sách

đã được cấp duyệt Do tâm lý lo sợ rằng cơ quan nào đó không chi tiêu hết ngân sách đã phân bổ trong năm tài chính thì sẽ bị cắt giảm vào năm tài chính tiếp theo, nên các công chức luôn tìm mọi lý do để chi tiêu cho hết ngân sách

đã cấp Việc này không phải lúc nào cũng hiệu quả và hợp lý Với động cơ như vậy, công chức sẽ bóp méo lợi ích và chi phí liên quan tới hoạt động của mình Thực tế, một cơ quan được cấp ngân sách tổng thể theo năm tài chính, nhưng việc chi tiêu tổng ngân sách đó cũng có phần tuỳ nghi của cơ quan Công chức có thể sử dụng quyền tuỳ nghi này để theo đuổi mục đích riêng hơn là mục tiêu do cơ quan lập pháp đề ra Vấn đề đặt ra là phải giám sát và cắt giảm phần chi tiêu để tăng hiệu quả kinh tế, nhưng việc này không đơn giản đối với những dự án công

Thêm một điểm nữa liên quan tới tính phi hiệu quả trong sử dụng ngân sách Điểm này cũng liên quan tới động cơ lợi ích cá nhân của công chức Bản chất của hiện tượng này gắn chặt với quan hệ hoạt động của công chức với quản lý ngân sách được giao Công chức không tiêu tiền riêng của mình

mà tiêu tiền công nên họ không thận trọng trong tiết kiệm chi tiêu trong những hoạt động thường ngày, tức là họ không thận trọng trong việc so sánh đầu vào (ngân sách chi tiêu) với đầu ra (kết quả thực hiện hoạt động chi tiêu này) Vì thế, hiệu quả sử dụng nguồn lực công là vấn đề cần xem xét và quan tâm, nó phụ thuộc nhiều vào thái độ của công chức trong bộ máy quan liệu

Trang 34

Với những lập luận như vậy, nhà nước cũng có những thất bại trong việc vận hành bộ máy quản lý và cung ứng hàng hóa cho công dân Những thất bại này dẫn tới sự mất hiệu quả hoạt động và sử dụng lãng phí công quỹ

1.2.2 Sự hạn chế về môi trường cạnh tranh

Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng căn nguyên của sự kém hiệu quả kinh tế của KVC là thiếu môi trường cạnh tranh Chẳng hạn, Le Grand [87, tr 739-777] cho rằng nhà nước tham gia vào cung cấp hàng hoá ít đem lại hiệu quả Một trong các lý do dẫn tới tình trạng này là điều kiện cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước rất hạn chế, nên áp lực bị phá sản và hoàn thiện cơ cấu hoạt động vì hiệu quả không mạnh Trong tác phẩm của mình

“thị trường hay chính phủ: sự lựa chọn giữa các phương án không hoàn hảo”,

Wolf luận giải tính phi hiệu quả của KVC do các chủ thể nhà nước là “tổ chức độc quyền hợp pháp Hậu quả là thiếu môi trường cạnh tranh nên tính toán hiệu quả kinh tế rất khó khăn, nói cách khác, hiệu quả sản xuất và phân bổ không rõ ràng” [108, tr.51-55]

Theo Pitelis, KVT bị nhiều áp lực hơn KVC trong cạnh tranh [97] Những áp lực này xuất phát từ: (i) thị trường kiểm soát công ty, ví như khả năng thôn tính của công ty hiệu quả đối với những công ty không hiệu quả; (ii) thị trường các nhà quản lý, như người quản lý tồi sẽ bị trừng phạt vì không hoàn thành nhiệm vụ; (iii) thị trường sản phẩm, tức là người tiêu dùng

sẽ lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp vận hành hiệu quả với giá cả hợp lý nhất tương ứng chất lượng nhất định Trong KVT, nhà quản lý phải tuân thủ những nguyện vọng của cổ đông công ty vì mục tiêu tối đa lợi nhuận, khả năng gia nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng là rất tự do

Ngược lại, các doanh nghiệp công không bị chi phối của các áp lực này hay bị áp lực với mức độ thấp hơn nhiều vì những khuyến khích không đủ

mạnh để khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn lực (như đã chứng minh

Trang 35

trong Mục 1.2.1 ở trên) Những chủ thể kinh tế thuộc KVC chủ yếu là những

công cụ phân phối lại của nhà nước hay/và công cụ trợ giúp chính trị nhằm khắc phục khuyết tật thị trường

Trong KVC, các chủ thể gần như thờ ơ với cạnh tranh vì họ không phải ganh đua vì sự sống còn, vì lợi nhuận sát sườn cho mình Các chủ thể công hoạt động theo những quy định, quy tắc và chuẩn mực được xác định trước trong cơ cấu bộ máy công quyền Nhiều quy trình rất cứng nhắc, hoạt động của các cơ sở công không được hạch toán kinh tế cụ thể theo nguyên tắc thương mại Viên chức máy móc làm theo một quy trình hành chính cứng nhắc mà không cần quan tâm tới nhu cầu, nguyện vọng khách hàng Họ cũng không tìm cách để nâng cao hiệu suất phục vụ vì không có đối thủ cạnh tranh

Vì thiếu áp lực lực cạnh tranh nên các chủ thể thuộc KVC gần như ít quan tâm tới việc hoàn thiện thủ tục giao dịch theo hướng tiện lợi và giảm chi phí hành chính để thu hút khách hàng từ những đối thủ khác hay ít ra giữ được những bạn hàng thân thiết từ lâu Các chủ thể KVC ít phải đối mặt với nguy cơ phá sản vì được sự bảo trợ của nhà nước Do thế, hoạt động của chủ thể công không đề cao vấn đề quản lý và sử dụng nguồn lực hiệu quả Thậm chí, nhiều chủ thể công làm ăn thua lỗ kéo dài nhưng cũng không sợ phá sản

vì được nhà nước bảo trợ Nhà nước thường biện minh cho sự bảo trợ này bằng những lý do kinh tế và chính trị mà nhà nước hiện đang duy trì

Một trong những hiện tượng thể hiện sự thiếu vắng môi trường cạnh tranh là độc quyền do quyền uy hành chính nhà nước tạo ra Một số doanh nghiệp được nắm giữ đặc quyền do chính phủ giao trong việc cung cấp/sản xuất hàng hoá nào đó Nhà nước độc quyền trong cung ứng nhiều loại hàng hóa, do vậy hiệu quả phân bổ và sản xuất không thể vượt qua mức hiệu quả của tư nhân cung cấp [87, tr.739-777] Tình trạng độc quyền nhà nước gây ra

ba tác động tiêu cực như sau:

Trang 36

Thứ nhất, độc quyền nhà nước làm mất cân đối trong tương quan lợi

ích giữa các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế Các doanh nghiệp độc quyền nhà nước nắm giữ trong tay nguồn lực lớn và nhiều ưu đãi của chính phủ Với những lợi thế tuyệt đối này, họ gần như độc tôn trong nhiều lĩnh vực không có một doanh nghiệp tư nhân nào có thể sánh kịp Nhưng xét về năng lực cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp độc quyền nhà nước lại không thực sự có lợi thế vì hiệu quả hoạt động rất thấp [52, tr.246-248] Hiện tượng phân biệt đối xử chủ thể nhà nước và tư nhân tạo ra sự thiên vị vô lý trong sản xuất-kinh doanh Các doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi hơn nhiều trong việc tiếp cận các nguồn lực công so với các doanh nghiệp thuộc KVT

Thứ hai, độc quyền nhà nước ngăn cản hay hạn chế sự cạnh tranh và

gia nhập thị trường của các chủ thể kinh tế khác Nhiều quy định của nhà nước trong quản lý nền kinh tế đã tạo ra rào cản pháp luật, loại bỏ sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng vào khu vực kinh tế nhà nước Như vậy,

cơ hội cạnh tranh đối với KVC cho tất cả các chủ thể kinh tế với thành phần

sở hữu khác nhau luôn bị giới hạn Hiệu quả sản xuất và phân bổ nguồn lực trong khu vực này bị hạn chế bởi thiếu áp lực cạnh tranh

Thứ ba, độc quyền nhà nước đã gây ảnh hưởng tới lợi ích của người

tiêu dùng và các cộng đồng xã hội Xuất phát từ vị trí thống lĩnh về quy mô, các doanh nghiệp độc quyền nhà nước áp đặt phong cách và chất lượng dịch

vụ không phù hợp với người tiêu dùng, chẳng hạn như quan liêu, cửa quyền Mức giá hàng hoá độc quyền bao giờ cũng cao hơn chi phí cận biên Người tiêu dùng phải chấp nhận giá, ít có cơ hội lựa chọn khác đối với những hàng hoá và dịch vụ do các doanh nghiệp này cung cấp

Nếu các quan chức nhà nước không điều hành tốt doanh nghiệp độc quyền thì người chịu thiệt ở đây lại là người tiêu dùng và người nộp thuế-những người chỉ biết trông cậy vào hệ thống chính trị

Trang 37

Quan chức nhà nước là nhóm người có lợi ích đặc biệt và tìm cách cản trở những biện pháp cải cách làm giảm chi phí Nói một cách đơn giản, để bảo đảm cho doanh nghiệp vận hành tốt thì rõ ràng việc bỏ phiếu bầu cử là không đáng tin cậy bằng động cơ lợi nhuận [44,

tr.421]

Như vậy, độc quyền nhà nước gây ra nhiều tác động bất lợi cho nền kinh tế, đặc biệt hạn chế khả năng cạnh tranh Thiếu vắng môi trường cạnh tranh dẫn tới tình trạng rằng các chủ thể kinh tế trong khu vực kinh tế nhà nước sử dụng lãng phí công quỹ, ít chú ý thị hiếu của người tiêu dùng

Nhiều nhà nghiêu cứu KVC đã đề cập tới vai trò của “tranh đua” trong cung ứng hàng hoá công Điều thống nhất rộng rãi là cần áp dụng thị trường cạnh tranh để các chủ thể kinh tế công ganh đua cung ứng đầu ra hiệu quả nhất [105, tr.1-22] Đồng thời, việc cọ sát của nhiều chủ thể kinh tế còn thể hiện trong việc ganh đua về quyền sở hữu, tức là thực hiện chuyển đổi sở hữu trong các chủ thể thuộc KVC để hoàn thiện hơn hiệu quả kinh tế của nó Nhiều chủ thể kinh tế KVT cũng có thể tham gia cạnh tranh với chủ thể công trong việc cung ứng hàng hóa cho xã hội

Cạnh tranh là cơ sở để so sánh kết quả của các bên tham gia trong trò chơi kinh tế Khi chỉ có một chủ thể cung cấp hàng hoá thì không thể đánh giá được năng lực hoạt động của cơ sở này thế nào Một khi nhiều chủ thể tham gia cung ứng loại hàng hóa đó thì sẽ xác lập được cơ sở giá trị để so sánh ai hơn ai về số lượng và chất lượng, năng suất, phong cách phục vụ Chủ thể nào thu hút được nhiều khách hàng, cung cấp được nhiều hàng hoá thoả mãn nhu cầu khách hàng tốt nhất thì sẽ có cơ hội tăng trưởng và tái sản xuất mở rộng Ngược lại, những chủ thể kém hiệu quả sẽ phải chấp nhận thất bại hay phá sản Đó là sự thưởng-phạt do thị trường quyết định một cách khách quan

1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với khu vực công

Trang 38

Mục này khái quát ba tác động cơ bản của cạnh tranh đối với KVC Qua đó, có thể khẳng định rằng cạnh tranh đóng vai trò quan trọng như một trong các phương cách cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của KVC

Thứ nhất, cạnh tranh góp phần sử dụng tối ưu các nguồn lực công

Sự cạnh tranh chi phối hành vi ứng xử của người sản xuất trong hoạt động kinh tế Cơ chế đào thải tự nhiên của thị trường sẽ chọn lọc những người sản xuất hiệu quả hơn Thị trường luôn khuyến khích người „thắng cuộc‟ bằng cách việc thâu tóm các ưu thế về nguồn lực và các điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh tiếp theo Đối thủ thắng cuộc sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng cơ hội sản xuất-kinh doanh trong các chu kỳ tiếp theo

Trong KVC, áp lực cạnh tranh khiến các nhà cung cấp phải tìm cách sử dụng nguồn lực được nhà nước phân bổ hiệu quả để đáp ứng tốt lợi ích chung cộng đồng như đã cam kết và bảo đảm sự bền vững tài chính cho các nhà cung ứng Bất kỳ chủ thể kinh tế nào cũng phải cân nhắc hiệu quả trước khi quyết định sử dụng các nguồn lực sở hữu, nguồn lực huy động hay nguồn lực được phân bổ từ ngân sách Họ luôn tìm mọi cách để tối ưu việc sử dụng các nguồn lực hiện có, tức là chi phí đầu vào nhất định tạo ra đầu ra tối đa có thể, hay giảm tỷ lệ đầu vào trong khi tăng thêm được đầu ra, hoặc tốc độ tăng đầu vào thay đổi chậm hơn tốc độ tăng đầu ra

Khả năng cạnh tranh đối với KVC được phát huy rộng rãi sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực công Các chủ thể kinh tế trong khu vực này không thể thờ ơ hay vô trách nhiệm với những gì họ đang làm cùng với những

nguồn lực hiện có Sự cạnh tranh đưa họ tới gần hơn với tư duy kinh tế: ai

hoạt động hiệu quả sẽ thắng và ai kém hiệu quả chấp nhận thua! Vining và

Weimer đánh giá cao vai trò của “tranh đua” đối với KVC vì sử dụng hiệu quả các nguồn lực để cung ứng HHC [105, tr.1-22]

Trang 39

Thứ hai, cạnh tranh góp phần đa dạng hóa quyền lựa chọn cho người sản xuất và tiêu dùng

Cạnh tranh gây áp lực lên người sản xuất và khiến họ phải đưa ra những quyết định sát với chi phí-lợi ích trong hoạt động và mang tính định hướng nhu cầu khách hàng Thông qua đấu thầu cạnh tranh đối với các chương trình công, bên trúng thầu không thể không tìm cách lựa chọn phương

án tổ chức sản xuất-kinh doanh phù hợp, loại hình công nghệ tương thích và nguồn lực đầu vào khác để bảo đảm đầu ra theo đúng chất lượng như cam kết với chính phủ Việc tổ chức phân phối hàng hoá cho khách hàng được tính toán hợp lý để giảm chi phí giao dịch và đồng thời đáp ứng kịp thời nhu cầu cho công chúng Các nhà sản xuất hàng hoá KVC không thể không tính tới những khả năng kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất để duy trì khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường

Trong phạm vi nhất định, cơ chế thị trường được vận dụng vào KVC nên hoạt động của người sản xuất cũng phải điều chỉnh theo nhu cầu khách hàng, luôn tìm cách hoàn thiện chất lượng sản phẩm để thu hút thêm khách hàng về phía mình Vì thế, người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm phù hợp với bản thân về chất lượng và giá cả Trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, người tiêu dùng là người trọng tài quyết định sự sống còn của sản phẩm/doanh nghiệp Sự lựa chọn và sức tiêu thụ hàng hoá của người tiêu dùng là thước đo chính xác chất lượng và mức độ phù hợp nhu cầu

Các lĩnh vực thuộc KVC ngày càng mở rộng cho nhiều đối thủ cạnh tranh càng làm bớt tính chất độc quyền trong cung ứng hàng hoá Người tiêu dùng sẽ được quyền tự do lựa chọn hàng hóa, họ có thể lựa chọn các nhà cung cấp hợp lý nhất cho mình từ KVT chứ không nhất thiết phải lựa chọn nhà cung cấp trong KVC

Trang 40

Thứ ba, cạnh tranh góp phần làm thay đổi hành vi ứng xử của bộ máy công quyền

Vận dụng tư duy linh hoạt thị trường vào KVC đem lại nhiều đổi thay trong việc ra quyết định chính sách Các quyết định của các nhà quản trị công tiếp cận gần với tư duy của „người kinh tế‟ Các quyết định này phải căn cứ vào những nhu cầu thực tế của cộng đồng chứ không phải xuất phát từ sự tuỳ tiện quan liêu từ trên xuống dưới

Việc đáp ứng nhu cầu của người dân cũng trở nên kịp thời và sát thực hơn bởi lẽ sự cạnh tranh của nhiều chủ thể cung ứng Các chủ thể công nằm trong môi trường cạnh tranh cũng không thể không điều chỉnh ứng xử của mình về phương diện chi tiêu ngân sách, đề cao kết quả, nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng và phong cách phục vụ khách hàng

Dưới áp lực cạnh tranh, phong cách phục vụ của công chức trong bộ máy công quyền phải thay đổi đáng kể Họ phải từ bỏ thái độ „cửa quyền, quan liêu‟ và thích nghi với phong cách phục vụ theo kiểu KVT, tức là coi công dân giống như khách hàng tiêu dùng trên thị trường Kết quả phục vụ của họ sẽ do người tiêu dùng đánh giá thay vì những quy trình đánh giá nội

bộ Kết quả tốt sẽ được „thưởng‟, kết quả tồi sẽ bị „trừng phạt‟ nghiêm ngặt như sự thưởng-phát của thị trường

1.3 CÁC Ý TƯỞNG VẬN DỤNG CẠNH TRANH VÀO THỰC TIỄN

Mục trên đã luận giải tại sao cần phải vận dụng cạnh tranh đối với KVC Mục này sẽ luận giải vấn đề tiếp theo là làm sao hay bằng hình thức nào để đưa cạnh tranh vào hiện thực đời sống kinh tế, đặc biệt trong KVC

1.3.1 Ý tưởng về tái cấu trúc nhà nước

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo điện tử Hà nội mới (2006), “nên sòng phẳng với trường ngoài công lập”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nên sòng phẳng với trường ngoài công lập
Tác giả: Báo điện tử Hà nội mới
Năm: 2006
2. Báo Giao thông vận tải (2006), “Tổng công ty ĐSVN rất cần sự đầu tư của nhiều thành phần kinh tế”, http://giaothongvantai.com.vn, 9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Giao thông vận tải (2006), “Tổng công ty ĐSVN rất cần sự đầu tư của nhiều thành phần kinh tế
Tác giả: Báo Giao thông vận tải
Năm: 2006
3. Báo nhân dân (2006), “Đột phá đào tạo tiến sỹ để nâng cao chất lượng đại học”, http://www.nhandan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đột phá đào tạo tiến sỹ để nâng cao chất lượng đại học”
Tác giả: Báo nhân dân
Năm: 2006
4. Báo nhân dân (2006), “Chống tiêu cực trong giáo dục phải toàn diện”, http://www.nhandan.org.vn, ngày 2/9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống tiêu cực trong giáo dục phải toàn diện”, "http://www.nhandan.org.vn
Tác giả: Báo nhân dân
Năm: 2006
5. Báo Sài gòn giải phóng (2006), “Đại học, cao đẳng ngoài công lập: nhiều nhà đầu tư sẳn sàng tham gia lập trường”, http://www.saigongiaiphong.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học, cao đẳng ngoài công lập: nhiều nhà đầu tư sẳn sàng tham gia lập trường”, http://www.s
Tác giả: Báo Sài gòn giải phóng
Năm: 2006
6. Bộ bưu chính viễn thông (2006), Điều lệ hoạt động của ngành bưu chính viễn thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ hoạt động của ngành bưu chính viễn thông Việt Nam
Tác giả: Bộ bưu chính viễn thông
Năm: 2006
7. Bộ bưu chính viễn thông (2006), Cơ sở dự liệu thống kê thường niên Bộ bưu chính Viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ bưu chính viễn thông (2006)," Cơ sở dự liệu thống kê thường niên Bộ bưu chính Viễn thông
Tác giả: Bộ bưu chính viễn thông
Năm: 2006
8. Bộ bưu chính viễn thông (2007), Số liệu thống kê Tổng cục Bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê Tổng cục Bưu điện
Tác giả: Bộ bưu chính viễn thông
Năm: 2007
9. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Số liệu thống kê Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê Bộ giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2006
12. Bouin O. và Michalet Ch.A. (1993), Cân bằng lại giữa khu vực công cộng và khu vực tư nhân: kinh nghiệm các nước đang phát triển, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cân bằng lại giữa khu vực công cộng và khu vực tư nhân: kinh nghiệm các nước đang phát triển
Tác giả: Bouin O. và Michalet Ch.A
Năm: 1993
13. “Bệnh viện như khách sạn gắn sao” (2007), http://www.vietnamnet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viện như khách sạn gắn sao” (2007)
Tác giả: “Bệnh viện như khách sạn gắn sao”
Năm: 2007
14. “Cần phá thế độc quyền nhận bảo hiểm của y tế nhà nước” (2006), http://www.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cần phá thế độc quyền nhận bảo hiểm của y tế nhà nước” (2006)
Tác giả: “Cần phá thế độc quyền nhận bảo hiểm của y tế nhà nước”
Năm: 2006
16. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), “Báo cáo khảo sát nghiên cứu về cải cách cơ cấu hành chính Trung Quốc”, Ban tổ chức-cán bộ Chính Phủ Việt Nam. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát nghiên cứu về cải cách cơ cấu hành chính Trung Quốc”, "Ban tổ chức-cán bộ Chính Phủ Việt Nam
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1999
20. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 2003
21. Chiavo-Campo S. và Sundarin P.S.A. (2003), Phục vụ và duy trì: cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục vụ và duy trì: cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh
Tác giả: Chiavo-Campo S. và Sundarin P.S.A
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
22. CIEM (2003), Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia. Nxb GTVT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CIEM (2003)," Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia
Tác giả: CIEM
Nhà XB: Nxb GTVT
Năm: 2003
23. CIEM (2004), Báo cáo kết quả các nghiên cứu: Vì một sự tăng trưởng và một xã hội công bằng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả các nghiên cứu: Vì một sự tăng trưởng và một xã hội công bằng
Tác giả: CIEM
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Bộ y tế (2006), http://www.moh.gov.vn, ngày 2/9/2006 Link
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội tới năm 2000, http://www.cpv.org.vn Link
54. Tổng công ty viễn thông quân đội, http://www.vietel.com.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Phân loại hàng hoá công- tƣ                                                               Tính tranh giành - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 1.1 Phân loại hàng hoá công- tƣ Tính tranh giành (Trang 25)
Hình 1.1: Bức tranh HHC và HHT - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 1.1 Bức tranh HHC và HHT (Trang 27)
Bảng 1. 2: Chức năng của nhà nước  Chức - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 1. 2: Chức năng của nhà nước Chức (Trang 29)
Bảng 2.3: Mặt trái của hợp đồng và đấu thầu cạnh tranh - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 2.3 Mặt trái của hợp đồng và đấu thầu cạnh tranh (Trang 72)
Hình 2.1: Doanh nghiệp nhà nước trong tương tác các nhân tố - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 2.1 Doanh nghiệp nhà nước trong tương tác các nhân tố (Trang 74)
Bảng 2.4: Trách nhiệm tham gia công-tƣ  Hình thức  Sở hữu tài - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 2.4 Trách nhiệm tham gia công-tƣ Hình thức Sở hữu tài (Trang 81)
Hình 2.2: Triết lý cung ứng dịch vụ y tế - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 2.2 Triết lý cung ứng dịch vụ y tế (Trang 89)
Hình 2.3: Cơ cấu chi tiêu dịch vụ y tế - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 2.3 Cơ cấu chi tiêu dịch vụ y tế (Trang 91)
Hình 3.1: Tỷ trọng sản lƣợng công nghiệp theo loại hình doanh nghiệp - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 3.1 Tỷ trọng sản lƣợng công nghiệp theo loại hình doanh nghiệp (Trang 100)
Hình 3.2: Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp, 2000-2004 (%) - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 3.2 Tỷ trọng các loại hình doanh nghiệp, 2000-2004 (%) (Trang 104)
Hình 3.3: Độc quyền nhà n-ớc trong khâu phát điện - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 3.3 Độc quyền nhà n-ớc trong khâu phát điện (Trang 107)
Hình 3.4: Độc quyền phân phối điện của nhà nước - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Hình 3.4 Độc quyền phân phối điện của nhà nước (Trang 108)
Bảng 3.2: Độc quyền nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải  Ngành  Mức độ - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 3.2 Độc quyền nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải Ngành Mức độ (Trang 111)
Bảng 3.6: Thái độ làm việc của cán bộ bệnh viện tƣ - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 3.6 Thái độ làm việc của cán bộ bệnh viện tƣ (Trang 119)
Bảng 3.7: Chất lƣợng dịch vụ tại bệnh viện tƣ - Cạnh tranh đối với khu vực công kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam
Bảng 3.7 Chất lƣợng dịch vụ tại bệnh viện tƣ (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w