Các tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Hàn Quốc và cũng qua đó đưa ra một vài kết quả đảm bảo côn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ ANH TUẤN
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở HÀN QUỐC – BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - NĂM 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
Lê Anh Tuấn
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở HÀN QUỐC – BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM
Chuyên ngành: KTTG & QHKTQT
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÍ MẠNH HỒNG
HÀ NỘI - NĂM 2010
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ……… i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ……… …………ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 7
1.1 Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: Khái niệm, thước đo 7
1.1.1 Các khái niệm 7
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế ………7
1.1.1.2 Phát triển kinh tế……….9
1.1.1.3 Phát triển bền vững ……… 10
1.1.1.4 Công bằng xã hội ……… 12
1.1.1.5 Đảm bảo xã hội ……… 14
1.1.2 Thước đo công bằng xã hội 16
1.1.2.1 So sánh phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư 16
1.1.2.2 Đường cong Lorenz 17
1.1.2.3 Hệ số Gini 20
1.1.2.4 Chỉ số Theil L 21
1.1.2.5 Một vài thước đo khác 22
1.2 Các quan điểm về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội 23
1.2.1 Ưu tiên tăng trưởng kinh tế tất yếu dẫn tới bất bình đẳng 23
1.2.2 Ưu tiên công bằng hơn tăng trưởng 26
1.2.3 Tăng trưởng phải đi liền với công bằng 29
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường 32
1.3.1 Thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế - xã hội 32
1.3.2 Nhân tố tài sản 33
1.3.3 Nhân tố Lao động 33
Trang 41.3.4 Vài nhân tố khác 34
CHƯƠNG 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở HÀN QUỐC 36
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội Thực trạng về công bằng xã hội ở Hàn Quốc: kết quả và xu hướng 36
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội Hàn Quốc trước năm 1960 36
2.1.2 Công bằng xã hội ở Hàn Quốc trong quá trình tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1961 - 1996 40
2.1.2.1 Giai đoạn cất cánh (1961 - 1979) 40
2.1.2.2 Từ sau năm 1980 đến năm 1996 52
2.2 Đánh giá chung vấn đề giải quyết công bằng xã hội ở Hàn Quốc trong tăng trưởng kinh tế 57
2.2.1 Thành tựu chung đạt được 57
2.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm bất bình đẳng về thu nhập 58
2.2.1.2 Công bằng xã hội được thực hiện thông qua việc tạo dựng các cơ hội việc làm và các phúc lợi xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân 64 2.2.1.3 Phát triển giáo dục vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo công bằng xã hội 70
2.2.2 Một vài hạn chế ……… …………75
2.2.3 Một số nguyên nhân chính 77
2.2.3.1 Nhà nước Hàn Quốc và cơ chế quản lý của nhà nước 77
2.2.3.2 Hàn Quốc đã xây dựng được một hệ thống giáo dục - đào tạo hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 81
2.2.3.3 Di sản thời kỳ thuộc Nhật Bản 83
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 85
3.1 So sánh điều kiện kinh tế của Hàn Quốc và Việt Nam 85
3.1.1 Điểm tương đồng 85
3.1.2 Điểm khác biệt 85
Trang 53.2 Khái quát về công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam 86 3.3 Một số bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc có thể vận dụng cho Việt Nam 95
3.3.1 Tranh thủ thời gian và cơ hội để xây dựng và khai thác tối đa lợi thế so sánh tương đối: nguồn lao động đông đảo, lương thấp và cần cù, chịu khó 95 3.3.2 Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho đội ngũ lao động và cộng đồng dân cư 97 3.3.3 Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đặc biệt là con đường đào tạo tập hợp đội ngũ chỉ đạo kinh tế - xã hội có tri thức khoa học; chú trọng phát triển khoa học - kỹ thuật, trong đó có kỹ thuật công nghệ cao 101 3.3.4 Cung cấp nhà ở công cộng 104 3.3.5 Đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế trong phát triển 107
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 112
Trang 6NTC: Công ty xuyên quốc gia
MNC: Công ty đa quốc gia
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UNDP: Chương trình hỗ trợ phát triển của liên hợp quốc
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế nhanh và đảm bảo công bằng xã hội là những mục tiêu “lý tưởng” mà nhiều quốc gia theo đuổi Tuy nhiên, không dễ dàng đạt được các mục tiêu này, nhất là cùng một lúc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
tế nhanh song vẫn thực hiện được sự phân phối thu nhập tương đối công
bằng Ở đây trong nhiều trường hợp vẫn tồn tại một sự “đánh đổi”: một nền kinh tế tăng trưởng nhanh thường kéo theo những hệ quả phân phối không
như mong muốn
Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mối quan hệ phức tạp, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn Tuy nhiên, xét về dài hạn tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện phân phối công bằng, cải thiện mức sống, đồng thời công bằng xã hội là điều kiện để phát triển bền vững
Trong lịch sử kinh tế thế giới, có không ít quốc gia đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, rút ngắn thời gian công nghiệp hoá đất nước mình Trong quá trình tăng trưởng kinh tế thường xuất hiện các nhóm dân cư ít được
ưu đãi và các vùng suy yếu bị bỏ ngoài dòng phát triển Trên thực tế rất ít nước đang phát triển xử lý hài hoà mối quan hệ này Có những nước duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian song phân hoá giàu nghèo lại trở nên nghiêm trọng (như một số nước Nam Mỹ) Một số nước thì tuy phân phối thu nhập tương đối công bằng song kinh tế lại trì trệ (các nước
xã hội chủ nghĩa trước đây) Có những nước cả thành tích tăng trưởng kinh tế
và phân phối thu nhập đều rất nghèo nàn Trong bối cảnh đó, thành tựu của những con rồng Châu Á là rất ấn tượng, vừa tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng vẫn đảm bảo công bằng xã hội và Hàn Quốc chính là một trong những trường hợp đó
Trong quá trình đổi mới theo hướng chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập nền kinh tế thế giới ở Việt Nam đã đem lại nhiều thành tựu to lớn về
Trang 9kinh tế xã hội Mặc dù vậy, muốn thoát nghèo, lạc hậu, Việt Nam cần phải tăng trưởng nhanh bền vững Tính chất bền vững cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho Việt Nam không thể hy sinh mục tiêu công bằng xã hội cho mục tiêu tăng trưởng Cùng một lúc Việt Nam phải theo đuổi cả hai mục tiêu này Tuy nhiên trên thực tế đây không phải là một quá trình dễ dàng Thực tiễn đổi mới cho thấy: Chênh lệch mức sống tại Việt nam đang có xu hướng tăng lên, mặc dù mức độ chênh lệch thu nhập tại Việt Nam vẫn còn tương đối thấp so với các nước láng giềng; phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn tại Việt Nam tăng lên; và khoảng cách kinh tế giữa các vùng tại Việt Nam cũng tăng lên
Để giải quyết vấn đề đảm bảo công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh
tế, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ những quốc gia đi trước đã thành công trong tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng vẫn đảm bảo công bằng xã hội Trong trường hợp này nghiên cứu kinh nghiệm của NICs Đông Á, đặc biệt là
Hàn Quốc là rất có ý nghĩa Do đó, đề tài: “Đảm bảo công bằng xã hội trong
quá trình tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.” - có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội là vấn đề không hoàn toàn mới, do đó có nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực này Cũng có nhiều nghiên cứu về kinh nghiệm các nước khác như:
Phạm Bích Thu (1997), Sự thần kỳ Đông Á – Tăng trưởng kinh tế và
chính sách cộng đồng, NXB Khoa học xã hội
Tác giả đã phân tích sự thần kỳ kinh tế ở Đông Á từ các khía cạnh như tăng trưởng, công bằng và biến đổi kinh tế; chính sách cộng đồng và tăng trưởng ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng xuất khẩu Tác giả cũng đề cập đến vài nguyên nhân dẫn đến sự công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế Đông Á Tuy nhiên đây là phân tích tổng hợp sự thần kỳ Đông Á, vì thế mà
Trang 10chưa đi sâu vào cụ thể từng nước, đặc biệt là Hàn Quốc Vì đây cũng là nghiên cứu tổng hợp Đông Á nên cũng chưa cụ thể được những bài học kinh nghiệm để có thể vận dụng cho Việt Nam
Joseph E.Stiglitz và Slahid Yusuf (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ
Đông Á, NXB Chính trị Quốc gia
Trong tác phẩm này các tác giả đã đưa ra cách nhìn mới về kinh nghiệm phát triển của khu vực Đông Á những năm 90 sau khi đã khảo sát cuộc khủng hoảng và sự phục hồi Tác phẩm cũng dành một chương viết về thay đổi của kinh
tế Hàn Quốc, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng năm 1997 Các tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công trong tăng trưởng
và phát triển kinh tế Hàn Quốc và cũng qua đó đưa ra một vài kết quả đảm bảo công bằng xã hội
Nguyễn Anh Tuấn (1994), Vài khía cạnh Việt Nam - suy ngẫm từ kinh
nghiệm của các nền kinh tế mới công nghiệp hoá Đông Á, NXB Khoa học xã
hội
Tác giả phân tích sự phát triển Đông Á trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá đất nước Trong công trình này, tác giả chủ yếu nghiên cứu và phân tích về các thành tựu trong phát triển tăng trưởng kinh tế mà chưa phân tích về khía cạnh đảm bảo công bằng xã hội trong mối quan hệ với tăng trưởng phát triển kinh tế
Lê Thu Thuỷ (1993), Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập, NXB
Khoa học xã hội
Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả đã tìm hiểu nghiên cứu
về mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội ở một vài nước Đông Á Tác giả cũng đã đưa ra nhiều mô hình tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội của vài nước trong đó có Hàn Quốc nhưng cũng không chỉ rõ bài học kinh nghiệm nào trong giải quyết công bằng xã hội nên
áp dụng cho Việt Nam trong quá trình tăng trưởng kinh tế của mình
Trang 11Hoàng Văn Hiển (2008), Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn
Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả đã phân tích quá trình phát triển kinh tế qua các giai đoạn của Hàn Quốc trong một thời gian rất dài, từ sau chiến tranh đến nay và những triển vọng phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong thời gian tới Từ sự phát triển kinh tế đó, tác giả cũng đã phân tích quá trình thực hiện công bằng xã hội của Hàn Quốc Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu của mình tác giả chủ yếu nêu lên những bài học kinh nghiệm để phát triển kinh tế và vài bài học kinh nghiệm trong giải quyết công bằng xã hội cho Việt Nam nhưng vẫn chưa được cụ thể
Lê Bộ Lĩnh (1998), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số
nước Châu Á và Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả đã khái quát lý thuyết và thực tiễn tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Châu Á, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nền kinh tế Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á như Malaixia, Thái Lan, Việt Nam Tác giả đã phân tích những mặt thành công nhất trong một vài lĩnh vực của quá trình thực hiện công bằng xã hội ở mỗi nước trong đó có Việt Nam, tác giả cũng chưa nêu những bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ các nước có thể áp dụng cho Việt Nam
Trần Mai Chi (1997), Kinh nghiệm công nghiệp hoá NICS Đông Á và
vận dụng Việt Nam, NXB Học viện chính trị Hồ Chí Minh
Trong tác phẩm này tác giả chủ yếu phân tích quá trình phát triển công nghiệp hoá của NICS Đông Á và thông qua sự phát triển đó cũng phần nào thực hiện công bằng xã hội Mặc dù có bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhưng chủ yếu vẫn là bài học cho sự phát triển kinh tế nói chung
Cũng nghiên cứu về công bằng xã hội ở Hàn Quốc, nhiều tác giả như
Lê Bàn Thạch, Trần Thị Tài, Nguyễn Thị Luyến, Dương Văn Quảng, Nguyễn Mạnh Thắng cũng đã có những luận giải về mối quan hệ giữa tăng trưởng
Trang 12kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Các tác giả cũng đề cập đến quá trình thực hiện công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc Tuy nhiên các tác giả cũng chưa đề cập sâu đến các bài học có thể vận dụng cho Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội ở các nước Đông Á trong thời kỳ công nghiệp hoá, trong đó có Hàn Quốc nhưng đây vẫn là một vấn đề rộng lớn và phức tạp Vì vậy, việc nghiên cứu sâu thêm vấn đề này riêng đối với trường hợp Hàn Quốc trong bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới hiện nay là một việc làm hết sức
có ý nghĩa đối với Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích kinh nghiệm bảo đảm công bằng xã hội trong quá trình theo đuổi chiến lược tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc nhằm rút ra những bài học hữu ích cho Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá các quan điểm bàn luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đặc biệt đối với các nước đang phát triển
Phân tích thực tiễn tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề công bằng xã hội ở Hàn Quốc trong quá trình này thời kỳ Hàn Quốc thực hiện công nghiệp hoá
Khái quát và rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc cho Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu giải quyết vấn đề đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu kinh tế Hàn Quốc trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá từ một nước đang phát triển trở thành một nước công nghiệp phát triển (giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1996 khi Hàn Quốc gia nhập tổ chức OECD)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp biện chứng duy vật, phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở Hàn Quốc, phân tích các báo cáo số liệu, tham khảo các kết quả nghiên cứu khác của các tác giả; phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh, kế thừa có cân nhắc, phân tích khách quan, sử dụng số liệu thống kê có chọn lọc
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn phân tích và làm rõ thực tiễn giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc trên cơ sở đó chỉ ra thành công và hạn chế của Hàn Quốc trogn lĩnh vực này
- Từ kinh nghiệm Hàn Quốc, luận văn rút ra một số bài học cho Việt Nam trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của mình
7 Kết cấu, nội dung của luận văn
Chương 1: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Chương 2: Giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc
Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG I:
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1.1 Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: Khái niệm, thước đo
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mục tiêu, ước vọng của tất cả các dân tộc và của mọi thời đại Tuy nhiên, việc đạt được mục tiêu kép này là không dễ dàng và trong thực tiễn đã có nhiều bằng chứng về sự đối lập giữa tăng trưởng và công bằng Các chính sách dựa trên mục tiêu công bằng có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế Ngược lại, các chính sách chỉ nhằm vào tăng trưởng có thể làm cho bất bình đẳng tăng lên Như vậy cần
có sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tất các các quốc gia trên thế giới, không phân biệt khuynh hướng chính trị, khi đã giành được độc lập, có chủ quyền, đều xác lập cho mình chiến lược phát triển kinh tế xã hội Những mục tiêu phát triển đều dựa vào khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài Mỗi quốc gia trên thế giới đều
có sự kết hợp và khả năng khai thác các nguồn lực khác nhau Song, quan niệm chung nhất là phải tạo ra được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế và xã hội, trong đó tăng trưởng được coi là tiền đề cần thiết cho sự phát triển
Tăng trưởng kinh tế mới chỉ giới hạn trong khuôn khổ làm tăng thêm sản lượng bằng cách mở rộng qui mô, chứ chưa đề cập đến mối quan hệ của
nó với các vấn đề xã hội
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện một cách phổ quát theo quan điểm kinh tế học là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian Tăng trưởng kinh tế theo nghĩa này thường được đo lường bằng sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian hoặc tăng thu nhập
Trang 15theo đầu người Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế chỉ thể hiện mặt lượng của nền kinh tế theo thời gian
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GNP hay GDP Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó
Khi đo lường sự tăng trưởng người ta thường sử dụng các số đo tuyệt đối và số đo tương đối
Mức tăng trưởng tuyệt đối: Có thể được tính theo hai phương pháp
Trong đó:
∆Y: tổng sản phẩm tăng thêm của năm n so với năm gốc
Yn: tổng sản phẩm của năm n
Trong đó:
∆y: Tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm n so với năm gốc
yn-1: Tổng bình quân dầu người của năm trước đó
Mức tăng trưởng tương đối (hay còn gọi là tốc độ tăng trưởng), được
tính theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng theo hai phương pháp
- Theo tổng sản phẩm (GNP hoặc GDP) của nền kinh tế:
Yn – Yn-1 ∆Y
g (Y) = x 100 =
Yn-1 Yn-1 Trong đó: g (Y): Tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế
Trang 16- Theo tổng sản phẩm bình quân đầu người
yn –yn-1 ∆y g(y) = x 100 =
yn-1 yn-1
Trong đó: g(y): Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm bình quân đầu người
Tất cả các chỉ tiêu phản ánh mức tăng trưởng kinh tế như GNP, GDP hay GNP, GDP bình quân đầu người … đều được tính theo hai loại giá: giá hiện hành và giá cố định
Giá hiện hành là giá phát sinh trong quá trình giao dịch, trao đổi thực tế của năm báo cáo
Giá cố định là giá hiện hành của một năm nào đó được chọn làm gốc Trên cơ sở đó, người ta tính đổi các chỉ tiêu kinh tế của các năm khác theo giá năm gốc Mục đích ở đây là để loại trừ sự ảnh hưởng của yếu tố giá cả đến các chỉ tiêu kinh tế trong mỗi năm nhằm đánh giá sự thay đổi thuần về khối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Mục tiêu của mỗi quốc gia là tạo ra sự tiến bộ toàn diện, mà sự tăng trưởng kinh tế là một điều kiện quan trọng Sự tiến bộ của quốc gia trong một giai đoạn nhất định được xem xét trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự tiến
bộ về xã hội Sự gia tăng về kinh tế còn được thay thế bằng thuật ngữ tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế tác động thúc đẩy sự tiến bộ về mọi mặt của
xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý là nội dung của phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế bao hàm ý nghĩa rộng lớn - Nó không chỉ bao gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm cả
những thay đổi về chất lượng cuộc sống Như vậy, phát triển kinh tế có thể
hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời
kỳ nhất định
Trang 17Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế - xã hội rộng lớn, mà trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của nó Song, nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được nội dung cơ bản sau:
- Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý có khả năng khai thác hiệu quả nguồn lực trong nước và nước ngoài
- Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư, giảm bớt đói nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm công bằng xã hội
- Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có nhiều ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng
Phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn
1.1.1.3 Phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được công bố trong một bài báo có nhan đề “Tương lai cho chúng ta” của tác giả Gro Harlem Brundland, một nhà môi trường người Na Uy làm việc trong Uỷ ban quốc tế về môi trường
và phát triển (WCEB) Theo bà Brundland, phát triển bền vững được hiểu là kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng đến khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của mình
Tháng 6 năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janiero đã đưa ra bản tuyên ngôn “Về môi trường và phát triển”
về “Chương trình nghị sự 21” và đưa ra định nghĩa về phát triển bên vững là
“sự phát triển nhằm thoả mãn nhu các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng
Trang 18không làm tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” Hội nghị cũng đã coi “phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài đạt được của mọi quốc gia”, của mọi hoạt động nhằm thúc đẩy tăng trưởng, nhưng cũng tìm mọi phương cách để giảm thiểu tác hại của tăng trưởng kinh tế đến môi trường sống của xã hội loài người
Nhà nước ta đã đưa ra quan niệm chính thức về phát triển lâu bền là
“thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và văn hoá cho thế
hệ hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một cách khôn khéo tài nguyên thiên nhiên Xây dựng và thực hiện các chính sách,
kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức nhằm đảm bảo cho khả năng sử dụng lâu bền các tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hoá và liên kết chặt chẽ với tất cả các khía cạnh của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước” [29]
Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên và con người, giữa tự nhiên và nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển của xã hội tương lai
Nội dung của khái niệm phát triển bền vững được quan niệm bao gồm:
- Sự duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh tế trong một thời gian dài
- Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ, gần gũi với môi trường để đảm bảo tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ sau vẫn có điều kiện phát triển
Khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, khái niệm tăng trưởng được hiểu theo nghĩa rộng hơn Walter Rostow đã dùng khái niệm tăng trưởng để đưa ra một lý thuyết tổng quát về sự phát triển Ông chia quá trình phát triển của xã hội loài người thành năm giai đoạn tăng trưởng từ xã hội truyền thống đến xã hội hiện đại Quan niệm này rõ ràng là nhấn mạnh đến nội dung kinh tế của quá trình phát triển, hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cho phát triển Và cũng chính vì
Trang 19vậy, nó bộc lộ những khiếm khuyết và làm nảy sinh nhiều câu hỏi Thứ nhất,
liệu tăng trưởng kinh tế có tự động đưa đến phát triển hay không, nói cách khác tăng trưởng kinh tế có đảm bảo giải quyết tất cả các vấn đề xã hội liên
quan đến sự phát triển hay không? Thứ hai, liệu tăng trưởng kinh tế có thể
diễn ra liên tục trong những điều kiện bất bình đẳng xã hội hay không? Những câu hỏi này đã được các nhà nghiên cứu về phát triển trả lời và quan điểm khá phổ biến hiện nay là không thể đồng nhất tăng trưởng kinh tế với phát triển
1.1.1.4 Công bằng xã hội
Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế trong kinh tế học mang tính thực chứng, là cái có thể xác định bằng các con số, khái niệm công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tuỳ thuộc nhiều vào quan điểm của con người Chính những quan niệm khác nhau về bình đẳng đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau Trong kinh tế người ta sử dụng hai khái niệm khác nhau
về công bằng Khái niệm thứ nhất là công bằng theo chiều ngang: nghĩa là đối
xử như nhau với những người có đóng góp như nhau Khái niệm thứ hai là công bằng theo chiều dọc: nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau Nếu như công bằng theo chiều ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì công bằng theo chiều dọc cần có sự điều tiết của chính phủ Việc phân định và kết hợp công bằng theo chiều dọc và chiều ngang sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự
Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, gồm cả các yếu
tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá Có thể có công bằng về phương diện kinh tế nhưng chưa chắc có bình đẳng về các phương diện khác Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập được phân bổ theo mức độ tham gia cả các yếu tố (vốn, kỹ thuật, lao động, tài nguyên) vào quá trình sản xuất và do đó có thể đảm bảo sự công bằng về phương diện kinh tế Tuy nhiên, các tầng lớp xã hội khác nhau có thể không có được những công bằng trong các hoạt động chính trị, xã hội
Trang 20Chính nội hàm rộng của khái niệm bình đẳng xã hội đã làm cho vấn đề của khái niệm bình đẳng trở nên phức tạp Cho đến nay, người ta vẫn chủ yếu
sử dụng các công cụ đo lường mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập để biểu đạt bình đẳng xã hội nói chung Các nhà kinh tế thường đưa ra sáu lý do sau đây dẫn đến sự khác biết trong phân phối thu nhập:
- Khả năng và kỹ năng lao động khác nhau
- Cường độ làm việc khác nhau
- Sự khác nhau về nghề nghiệp
- Sự khác nhau về giáo dục đào tạo
- Được hưởng thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau
- Gánh chịu rủi ro khác nhau
Xã hội công bằng, đương nhiên không phải là một xã hội bình quân cào bằng và cũng không chỉ công bằng về lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế trong phân phối, mà còn đòi hỏi phải có sự công bằng về chính trị, về pháp luật, về
tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, về tự do dân chủ và sự bình đẳng về
cơ hội sản xuất, kinh doanh, được tự do hành nghề, mà ngành nghề đó không
bị phát luật ngăn cấm Do vậy, một nội dung quan trọng của xã hội công bằng trước hết là thiết lập một sân chơi bình đẳng trong xã hội cho tất cả các thành phần kinh tế, mọi thành viên xã hội được tự do đua tài trên thương trường theo pháp luật
Một vấn đề đáng lưu ý là luôn có một số người phải gánh chịu những rủi ro, những điều không may mắn của tạo hoá như tật nguyền, cô đơn, cơ nhỡ …, do đó xã hội phải có chính sách nhân đạo đối với họ
Công bằng xã hội ở đây còn được biểu hiện là sự bình đẳng trong cơ hội việc làm, cơ hội về buôn bán và đầu tư, bình đẳng trong việc tiếp cận với những cơ hội mà với sự cố gắng và năng lực sẵn có của con người có thể đạt đến một mức sống cao hơn Đây chính là kết quả sự công bằng được thực
Trang 21hiện trong phát triển và vì vậy, nếu khi mọi tầng lớp dân chúng có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và được thụ hưởng thành quả của sự phát triển tương ứng với sức lực, trí tuệ và tài năng của mình thì lúc đó hiện tượng này được coi là sự phát triển công bằng Luận điểm này khác hẳn một số quan niệm tầm thường hoá công bằng xã hội trong sự tăng trưởng theo cái gọi là cào bằng thu nhập, bình quân hoá mức sống theo hướng thủ tiêu các động lực theo hướng của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
1.1.1.5 Đảm bảo xã hội
Hiện nay khái niệm Đảm bảo xã hội (ĐBXH) trở nên khá phổ biến Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), “Đảm bảo xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc
bị gảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết, đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế về trợ cấp cho các gia đình đông con”
Trong hiến chương Đại Tây Dương, ĐBXH được hiểu theo nghĩa rộng
là sự đảm bảo thực hiện quyền con người sống trong hoà bình, được tự do làm
ăn, cư trú, di chuyển, phát triển chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật; được học tập, làm việc và nghỉ ngơi, có nhà ở; được chăm sóc y tế và đảm bảo thu nhập để có thể thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, tuổi già …
Ở Mỹ ĐBXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội nhằm bảo tồn nhân cách và giá trị cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người đời sống ấm no hạnh phúc và hữu ích để phát triển tối đa khả năng của mình
Ở Việt Nam do dịch từ tiếng nước ngoài nên thuật ngữ ĐBXH có nhiều tên gọi khác nhau như bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an sinh xã hội … và qua nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ “đảm bảo xã hội” đã được giải thích tương đối thống nhất, đó là sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình,
Trang 22trước hết là trong các trường hợp túng thiếu về kinh tế, bị mất hoặc giảm sút thu nhập đáng kể do gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, do nghỉ thai sản, về già, bị thiệt hại về thiên tai, hoả hoạn, dịch hoạ, đồng thời xã hội cũng ưu đãi những thành viên, có những cống hiến đặc biệt cho đất nước, mặt khác cũng cứu vớt những thành viên lầm lạc, mắc vào tệ nạn, nhằm phối hợp chặt chẽ với các chính sách xã hội khác, đạt tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trong xã hội nói chung, đảm bảo xã hội nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho mọi công dân của mình và ổn định cuộc sống qua các hoạt động hợp tác tập thể của chính quyền các cấp ĐBXH bao gồm:
Đảm bảo thu nhập:
Đây là một cách khắc phục tình trạng bị mất thu nhập do thất nghiệp, bị thương và ốm đau, già yếu, tàn tật, chết chóc, tai nạn lao động …, trước tiên dưới hình thức bảo hiểm xã hội (bảo hiểm việc làm, bảo hiểm hưu trí, và bảo hiểm đền bù cho người lao động)
Bảo hiểm chăm sóc y tế:
Sự chi trả bảo hiểm chăm sóc y tế nhằm thanh toán chi phí chăm sóc y
tế cho người tham gia bảo hiểm trong việc điều trị bệnh tật, thương tật, tăng cường chất lượng các cơ sở y tế, tập huấn bác sĩ, y tá, và những người tham gia vào lĩnh vực chăm sóc y tế khác
Dịch vụ phúc lợi:
Các dịch vụ phúc lợi được cung cấp tại các cơ sở phúc lợi hoặc tại nhà cho những người gặp trở ngại trong cuộc sống bình thường Những người sử dụng dịch vụ có thể phải chịu một phần chi phí tuỳ thuộc vào thu nhập của họ
Trợ giúp công cộng:
Trang 23Những hộ gia đình bị coi là nghèo đói nếu mức sống của họ dưới mức chuẩn quy định của Nhà nước thì họ sẽ được nhận tiền và lợi ích chăm sóc y
tế để có được mức sống tối thiểu
1.1.2 Thước đo công bằng xã hội
Trong kinh tế, người ta khó đo lường công bằng xã hội theo một số khía cạnh như công bằng về cơ hội, công bằng về chăm sóc nên về người ta hay quan tâm đến công bằng trong phân phối thu nhập vì thực tế chênh lệch về thu nhập là khó tránh khỏi và nó cũng là kết quả dễ thống kê được Để đánh giá được mức độ công bằng người ta thường đo gián tiếp bằng các chỉ số thể hiện bất bình đẳng về thu nhập
1.1.2.1 So sánh phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư
Thước đo này tính phân phôi thu nhập cho từng cá nhân hoặc hội gia đình nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Đồng thời nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và mội trường sống của dân cư,
mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là người ta chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm năm nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp theo trật tự từ thu nhập thấp nhất đến thu nhập cao nhất
Ví dụ: vào những năm 90, theo số liệu của UNDP, 20% dân số giàu nhất chiếm 83,7% thu nhập toàn thế giới, còn 20% dân số nghèo chỉ chiếm 1,4% Xem bảng số liệu sau đây sẽ thấy rõ điều đó:
Trang 24Bảng 1-1: Sự phân hoá về thu nhập của các nhóm dân cư
STT % dân số
thế giới
Loại giàu – nghèo
Chiếm % thu nhập thế giới
1.1.2.2 Đường cong Lorenz
Một trong những công cụ biểu đạt mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được sử dụng trong kinh tế học là đường cong Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz (1905)
Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông mà cạnh bên
là tỷ lệ phần trăm (%) thu nhập cộng dồn, còn cạnh đáy biểu thị tỷ lệ phần trăm (%) cộng dồn các nhóm dân cư được sắp xếp theo thứ tự mức thu nhập tăng dần Như vậy để xây dựng được đường cong Lorenz, cần tiến hành qua các bước sau:
Trước hết, cần sắp xếp thu nhập của dân cư theo thứ tự tăng dần
Sau đó, chia dân số thành các nhóm có số dân bằng nhau, mỗi nhóm
được gọi là một phân vị Thông thường, người ta hay chia dân số thành 5 nhóm, mỗi nhóm chứa 20% dân số và được gọi là ngũ phân vị Vì trước khi
phân nhóm, thu nhập của cá nhân đã được sắp xếp theo thứ tự tăng dần nên các ngũ phân vị của cá nhân đã được sắp xếp thành ngũ vị nghèo nhất, nghèo thứ nhì, trung lưu, giàu thứ nhì và giàu nhất Tất nhiên, nếu có đủ thông tin,
chúng ta có thể chia dân số thành các nhóm 1/10 (thập phân vị) hay 1/100
Trang 25(bách phân vị) Dân số càng được chia nhỏ thì việc đo lường bất bình đẳng
càng chính xác, tuy nhiên kèm theo đó là yêu cầu về thông tin càng cao
Bước thứ ba là sắp xếp các phân vị dân cư dân cư này dọc theo cạnh
đáy và phần trăm thu nhập tương ứng của các nhóm đó vào cạnh bên của hình
vuông Lorenz Cần lưu ý là cả hai cạnh này đều đo tỷ lệ cộng dồn, thí dụ nó
cho biết tỷ lệ phần trăm thu nhập của 20% số dân nghèo nhất (ngũ phân vị nghèo nhất), rồi 40% (tổng thu nhập của ngũ phân vị thứ nhất và thứ hai), 60% (tổng thu nhập của ba ngũ phân vị đầu tiên) … Nối các điểm kết hợp giữa phần trăm cộng dồn dân số và phần trăm cộng dồn thu nhập, chúng ta sẽ
có đồ thị về đường cong Lorenz có dạng dưới đây:
Như vậy, đường cong Lorenz phản ánh tỷ lệ phần trăm của thu nhập
quốc dân cộng dồn được phân phối tương ứng với tỷ lệ phần trăm cộng dồn của các nhóm dân cư đã biết Tất cả các đường Lorenz đều bắt đầu từ gốc 0
của hình vuông và kết thúc ở điểm I đối diện Điều đó cho biết 0% dân số được nhận tương ứng với 0% và 100% dân số sẽ có 100% thu nhập Số liệu của bảng 1-1 trên được thể hiện bằng đường Lorenz với các điểm sau:
- Điểm E: 20% dân số nghèo nhất, chiếm 1,4% thu nhập
- Điểm F: 40% dân số, chiếm 3,3% tổng thu nhập
B
A
Trang 26- Điểm G: 60% dân số, chiếm 5,6% tổng thu nhập
- Điểm H: 80% dân số, chiếm 17,3% tổng thu nhập
- Điểm I: 100% dân số, chiếm 100% tổng thu nhập
Trong trường hợp thu nhập được phân phối tuyệt đối bình đẳng thì bao nhiêu phầm trăm dân số thì sẽ tương ứng với bấy nhiêu phầm trăm thu nhập Khi đó đường cong Lorenz sẽ trùng vào đường chéo 0I của hình vuông và đường này được gọi là đường bình đẳng tuyệt đối Còn nếu một người nhận toàn bộ thu nhập và những người khác thì không có chút thu nhập nào, đường cong Lorenz sẽ chạy theo cạnh đáy và cạnh bên phải của hình vuông, đó là trường hợp bất bình đẳng tuyệt đối Nhìn chung, đường cong Lorenz thường nằm ở khoảng giữa đường chéo và đường bất bình đẳng tuyệt đối Đường cong Lorenz nằm càng gần đường chéo thì mức độ công bằng càng cao (hay mức độ bất bình đẳng càng thấp) và càng nằm xa đường chéo thì mức độ công bằng càng giảm (hay mức độ bất bình đẳng càng cao)
Đường cong Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp đánh giá tác động của các chính sách đến mức độ công bằng trong phân phối thu nhập của các nhóm dân cư Nó cho phép hình dung được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư thông qua việc quan sát hình dạng của đường cong Nó cũng cho phép so sánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối giữa các quốc gia hay giữa các thời kỳ phát triển
Tuy nhiên sử dụng phương pháp này có những hạn chế Đó là, phương pháp này chưa lượng hoá được mức độ bất bình đẳng bằng một chỉ số, do đó
mà mọi sự so sánh chỉ mang tính chất định tính Nó cũng không đưa ra một kết luận chính xác khi các đường Lorenz giao nhau và rất phức tạp khi phải so sánh quá nhiều nước trong cùng một lúc
Trang 271.1.2.3 Hệ số Gini
Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học người Italia (C.Gini), là thước
đo bất bình đẳng được sử dụng phổ biến nhất Hệ số Gini được đưa ra nhằm lượng hoá đường cong Lorenz Về mặt hình học, hệ số này được tính bằng cách chia diện tích nằm giữa đường cong Lorenz (diện tích hình A) với toàn
bộ diện tích giữa đường bình đẳng tuyệt đối OI và đường cong Lorenz với toàn bộ diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối OI (diện tích A+B)
100 I
Đường bình đẳng tuyệt đối
A Đường cong Lorenz
B
Nếu coi mỗi cạnh của hình vuông là một đơn vị thì diện tích (A+B) luôn bằng ½, khi đó hệ số Gini có thể được tính bằng:
g = 2A
Từ công thức trên cho thấy nếu khoảng cách giữa đường Lorenz và đường chéo càng lớn thì hệ số Gini càng cao Vì đường Lorenz chỉ nằm giữa đường chéo 0I và 00’I, nên 0 ≤ g ≤ 1 Nếu g = 0 là bình đẳng tuyệt đối vì lúc này diện tích A = 0, đường Lorenz trùng với đường chéo OI Nếu g = 1 thì
Trang 28đường Lorenz nằm xa đường chéo nhất, diện tích B = 0, phản ánh sự bất bình đẳng tuyệt đối Trên thực tế g nhận giá trị bằng 0 hay 1 chỉ có ý nghĩa lý thuyết chứ không có trong thực tế, vì không có nước nào có bất bình đẳng tuyệt đối hay bình đẳng tuyệt đối Dựa vào những số liệu thu thập được Ngân hàng thế giới (WB) nhận thấy rằng đối với những nước có thu nhập thấp, hệ
số Gini biến động từ 0,3 đến 0,5 và đối với những nước có thu nhập cao từ 0,2 đến 0,4 Từ đó Ngân hàng thế giới cũng đưa ra nhận xét rằng hệ số Gini tốt nhất thường xoay quanh 0,3
Hệ số Gini khắc phục được hạn chế của đường Lorenz là nó lượng hoá được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Tuy vậy, việc sử dụng phương pháp này cũng có những hạn chế bởi diện tích hình A có thể như nhau (nghĩa là nhận được hệ số Gini giống nhau) nhưng độ phân bố các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau là không giống nhau, do đó hình dạng của đường Lorenz là khác nhau Điều này đặc biệt đúng khi các đường Lorenz giao nhau, làm cho hệ số Gini trở thành một thước đo không hoàn toàn nhất quán Điểm thứ hai là nó không cho phép phân tách hệ số Gini theo các phân nhóm (chẳng hạn như ở nông thôn, thành thị hay các vùng trong một nước) rồi sau đó “tổng hợp lại” để rút ra hệ số Gini quốc gia
1.1.2.4 Chỉ số Theil L
Một thước đo khác về sự bất bình đẳng cũng hay được nhắc đến do Henri Theil đưa ra là chỉ số Theil L, đại lượng xác định sự bất bình đẳng dựa trên lý thuyết thông tin/ xác xuất Chỉ số Theil L được xác định theo công thức sau:
n Y
L = ∑ ln
i =1
yi N
là số lượng người có trong nhóm và Y là tổng thu nhập (hoặc chi tiêu) của cả nhóm
Trang 29Chỉ số Theil L biến thiên từ 0 (bình đẳng tuyệt đối) đến ∞ (bất bình đẳng tuyệt đối), song trong thực tế chỉ số này ít khi lớn hơn 1 Cũng giống như hệ số Gini, chỉ số Theil L càng lớn thì sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng cao Sử dụng Chỉ số Theil L có hai lợi thế (i) làm tăng trọng số của những người có thu nhập thấp; (ii) khác với hệ số Gini, nó cho phép chúng ta phân tách sự bất bình đẳng chung thành bất bình đẳng trong từng nhóm nhỏ (nói một cách chính xác thì chỉ số Theil L quốc gia là bình quân gia quyền của các chỉ số của các phân nhóm, với quyền số là tỷ trọng số người có trong mỗi phân nhóm trong tổng dân số) Điều này khiến cho chỉ số Theil L đặc biệt hữu ích vì nó cho phép xem xét các yếu tố dẫn tới những thay đổi trong bất bình đẳng ở cấp quốc gia
Chỉ số chất lượng vật chất cuộc sống
Chỉ số này được tính toán dựa trên ba tiêu chí cơ bản là tuổi thọ dự báo,
tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỷ lệ xoá nạn mù chữ Các tiêu chí này hiển nhiên là quá ít và không đề cập trực tiếp đến thu nhập Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy, các nước có thu nhập bình quân đầu người cao không phải bao giờ cũng đạt PQLI cao Nói cách khác, chỉ số này phản ánh những
Trang 30khía cạnh cơ bản của sự phát triển xã hội và những khía cạnh cơ bản của sự công bằng xã hội của một nước
1.2 Các quan điểm về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội
Việc xác định rõ khái niệm và các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội mặc dù phức tạp nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề
cơ bản là giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có mối quan hệ như thế nào? Phải chăng đó là hai quá trình đối nghịch? Nếu vậy, tăng trưởng kinh tế không thể đưa đến phát triển xã hội Nếu không đối nghịch thì tự thân tăng trưởng có tạo ra công bằng xã hội hay không và nó có thể xảy ra đồng thời với công bằng xã hội hay không Công bằng xã hội chỉ là hệ quả của tăng trưởng kinh tế hay còn là điều kiện và tiền đề của nó Đó là những vấn đề đã được thảo luận rộng rãi trong kinh tế học phát triển và kinh tế học phúc lợi cũng như trong các ngành khoa học xã hội nhân văn khác trong nhiều thập kỷ Những quan điểm về vấn đề này có thể khái quát thành một số trường phái chính
1.2.1 Ưu tiên tăng trưởng kinh tế tất yếu dẫn tới bất bình đẳng
Những người theo quan điểm này cho rằng tăng trưởng kinh tế được đảm bảo bằng bất bình đẳng trong phân phối và làm gia tăng sự bất bình đẳng này Lập luận của họ là: chỉ tầng lớp có thu nhập cao mới có khả năng tích luỹ
và đó là nguồn đầu tư chủ yếu đảm bảo cho tăng trưởng nên bất kỳ sự phân phối nào làm giảm mức độ tập trung thu nhập này đều ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế Lập luận này không phải không có cơ sở thực tiễn trong lịch sử của sự phát triển chủ nghĩa tư bản Nhờ quá trình tích tụ và tập trung
tư bản kèm theo sự bần cùng hoá một tầng lớp đông đảo trong xã hội mà cuộc cách mạng công nghiệp có được lực đẩy phi thường Nhà kinh tế học cổ điển Anh, David Ricardo, đã lập luận theo hướng đó Ông cho rằng, tăng trưởng kinh tế được đảm bảo bằng mức tiết kiệm cao của tầng lớp tư sản, và do đó, ông chống lại việc phân phối lại thu nhập bất lợi cho giai cấp tư sản C.Mác
Trang 31cũng giải thích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản bằng lập luận tương tự, mặc
dù ông phản đối trật tự hiện có của chủ nghĩa tư bản Ông chỉ ra quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn tới sự bất bình đẳng lớn đến mức nó trở thành lực cản đối với sự phát triển tiếp theo
Những lập luận đầy đủ nhất về tăng trưởng đối lập với công bằng được trình bày trong lý thuyết của Arthur Lewis bàn về các nước đang phát triển Dựa trên giả thuyết của Ricardo và C.Mác cho rằng, lao động có thể được sử dụng với số lượng không hạn chế chứ không phải là một nguồn lực khan hiếm
và tiền lương thực tế cố định, Lewis đã xây dựng mô hình phát triển kinh tế với nguồn lao động không có giới hạn hay mô hình lao động kế thừa Trong
mô hình này, ông cho rằng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập sẽ tăng trong thời kỳ đầu và chỉ sau khi đạt đến một trình độ phát triển cao mới giảm
đi Theo Lewis, bất bình đẳng không chỉ là kết quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế mà đồng thời còn là nguyên nhân của tăng trưởng Bởi lẽ phân phối có lợi cho những người có thu nhập cao sẽ tạo ra mức tiết kiệm cao Ông lập luận “vấn đề trung tâm trong lý thuyết phát triển kinh tế đó là hiểu được quá trình mà trong đó một cộng đồng xã hội trước đây tiết kiệm và đầu tư khoảng 4-5% thu nhập quốc dân chuyển thành một nền kinh tế trong đó tiết kiệm tình nguyện tăng lên 12-15% thu nhập quốc dân hoặc lớn hơn” [16] Nói cách khác, sự phát triển phụ thuộc vào 10% dân số đang thu được 40% hoặc lớn hơn thu nhập quốc dân Tuy nhiên, Lewis không coi bất bình đẳng trong thu nhập là vĩnh viễn, mà chỉ trong giai đoạn đầu của sự phát triển, khi lao động
dư thừa chưa được chuyển hết sang khu vực hiện đại Mô hình Lewis mở rộng của Fei - Ranis đã giải thích điểm này: khi toàn bộ lao động dư thừa cuối cùng
bị thu hút vào các công việc của khu vực hiện đại, trở thành nguồn lực khan hiếm của sản xuất và nhu cầu lao động ngày càng tăng đòi hỏi tăng lương thực tế ngoài mức sử dụng cận biên Chính việc tăng lương này sẽ dẫn tới giảm bất bình đẳng và nghèo khổ
Trang 32Mô hình của Lewis cho rằng bất bình đẳng góp phần vào phát triển kinh tế và các cố gắng nhằm phân phối lại “một cách hấp tấp và vội vã” sẽ có nguy cơ bóp chết tăng trưởng kinh tế Sự tăng lên nhất thời của bất bình đẳng
là cái giá phải trả cho thành công và nếu tất cả mọi người biết chờ đợi phát triển đi theo tiến trình của nó, họ sẽ được hưởng lợi đúng lúc
Mô hình Lewis đã được thừa nhận khá rộng rãi ở các nước đang phát triển trong nhiều thập kỷ Tuy vậy, nó cũng bộc lộ những khiếm khuyết và bị
phê phán từ nhiều phía Thứ nhất, nó dựa trên giả thuyết của mô hình kinh tế
cổ điển theo đó tăng trưởng là hàm số của hai yếu tố vốn và lao động Ngày nay, người ta thấy rằng mô hình này chỉ giải thích được khoảng 10% mức
tăng trưởng kinh tế Thứ hai, ngay cả khi tiết kiệm có vai trò quan trọng như
Lewis giả định thì cũng chưa có gì đảm bảo cho mức tiết kiệm đó được đầu tư
(có thể đầu tư ra nước ngoài hoặc tăng mức tiêu dùng) Thứ ba, khu vực hiện
đại có khả năng thu hút hết lao động dư thừa hay không và thời gian đó kéo dài bao lâu, liệu nó có đi liền với tăng trưởng không?
Mô hình Lewis thực ra cũng chứa đựng yếu tố của mô hình dạng ∩ của Kuznets - một mô hình được xây dựng trên sự khảo nghiệm thực tế của một số nước do nhà kinh tế học Mỹ Kuznets tiến hành vào năm 1955 Mô hình này được thể hiện như sau:
Hệ số Gini
Thu nhậo bình quân theo đầu người
Trang 33Theo mô hình trên, khi thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp thì mức độ bất bình đẳng cũng thấp Bất bình đẳng sẽ tăng lên liên tục theo đà tăng trưởng kinh tế và chỉ giảm đi khi xã hội đạt đến một trình độ phát triển kinh tế nhất định Mặc dù một số số liệu thống kê có chọn lọc ủng hộ lập luận của Kuznét nhưng cắt nghĩa nguyên nhân của hiện tượng trên không đơn giản
Có phải tất cả các nền kinh tế lạc hậu đều có sự bình đẳng như giả thuyết của Kuznets không? Bất bình đẳng tăng lên trong quá trình tăng trưởng có thể được giải thích như đối với mô hình Lewis Tuy nhiên, điều này không đúng đối với một số nền kinh tế Đông Á
1.2.2 Ưu tiên công bằng hơn tăng trưởng
Một xã hội công bằng luôn luôn là ước muốn của con người ở mọi thời đại Vì vậy, thật dễ hiểu khi có không ít tư tưởng và lý thuyết nhấn mạnh đến công bằng xã hội hơn là tăng trưởng kinh tế Một xã hội công bằng là cái cần đạt tới, vì vậy đạt tới nó càng nhanh càng chứng tỏ xã hội phát triển nhanh Quan niệm này đã chi phối tất cả các học thuyết chú trọng công bằng mặc dù mức độ và hình thức thể hiện không giống nhau Có hai mô hình lý thuyết và chiến lược phát triển nhấn mạnh đến công bằng hơn tăng trưởng
Phân phối trước, tăng trưởng sau Đây là quan điểm chủ đạo của
đường lối phát triển kinh tế ở nhiều nước đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ hai Quan điểm này dựa trên lập luận là việc tập trung tài sản vào một nhóm người làm trở ngại cho quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Bất bình đẳng không chỉ được coi là sự tha hoá của phát triển mà còn cản trở sự phát triển Vì vậy, việc phân phối lại là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng Theo quan điểm này, các hình thức cách mạng như tước đoạt của người giàu, lấy của người giàu chia cho người nghèo, tịch thu ruộng đất của địa chủ, tiêu diệt tầng lớp tư sản và kinh doanh giàu có đã được thực hiện Trong giai đoạn tiếp theo, vấn đề phân phối
là nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản xuất, có tác dụng mở đường và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Cơ chế phân phối đã được thiết lập sao
Trang 34cho đảm bảo thu nhập phụ thuộc vào đóng góp lao động Tuy nhiên, nền tảng
cơ bản của các quan hệ phân phối vẫn là chủ nghĩa bình quân, duy trì bình đẳng theo quan niệm bình quân Nhà nước thực hiện các chính sách phúc lợi rộng rãi, bất chấp trình độ phát triển kinh tế đã đạt được
Mô hình này, như lịch sử đã chứng minh, mặc dù là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn đối với các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong thời kỳ đầu, đã không
có cơ sở để đứng vững Công bằng trong điều kiện như vậy hoặc đã trở thành lực cản tăng trưởng kinh tế hoặc làm nảy sinh những bất công lớn hơn giữa một bên là những người lao động và một bên là bộ máy quyền lực Những nỗ lực sửa đổi mô hình này trên nền tảng nhận thức không đúng như trên đã không thành công và các nước đi theo nó đã phải chuyển sang nền kinh tế thị trường, ở đó, tăng trưởng và bất bình đẳng được xem xét từ những quan điểm tiếp cận khác
Lấy con người làm trung tâm Phát triển lấy con người là trung tâm
không phải là khái niêm mới mẻ Bản thân mô hình phân phối trước tăng trưởng cũng xuất phát từ ý tưởng lấy con người làm trung tâm Tuy nhiên, nội dung thực sự của chiến lược phát triển lấy con người làm trung tâm như một
hệ quan điểm phát triển phân biệt với các mô hình khác đã được David C.Korten trình bày khá rõ trong cuốn “Bước vào thế kỷ XXI: hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cầu” Theo David C.Korten, hầu hết các chiến lược phát triển được thực hiện cho đến nay đều lấy tăng trưởng làm trọng tâm và ông đã có những phê phán gay gắt các mô hình đó Ông khẳng
định phát triển lấy con người làm trung tâm là “một tiến trình qua đó các
thành viên của xã hội tăng được những khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững và phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ” [28, tr.119] Những định hướng giá trị của chiến lược
này là:
Trang 35- Ưu tiên số một trong việc sử dụng các tài nguyên trái đất là cung cấp cho mọi người cơ hội tạo dựng một cuộc sống vững chắc đối với bản thân và gia đình họ
- Các thế hệ hiện nay không có quyền tự cho phép mình tiêu thụ một cách không cần thiết ảnh hưởng tới khả năng của các thế hệ tương lai
- Mỗi cá nhân có quyền là một thành viên đóng góp cho gia đình, cộng đồng và xã hội
- Quyền kiểm soát các tư liệu sản xuất phải được chia sẻ rộng rãi trong
xã hội
- Chủ quyền nằm trong dân chúng
- Các nền kinh tế địa phương phải được đa dạng hoá và tự lực thích đáng trong việc sản xuất phục vụ các nhu cầu cơ bản
David C.Korten đã nêu ra những ưu tiên chính sách và khẳng định quan điểm lấy con người làm trung tâm ủng hộ tính chất bền vững của cuộc sống con người và môi trường hơn là tăng sản lượng kinh tế Đó là cơ sở của chiến lược “bắt đầu với công bằng, bằng cách phá vỡ các cơ cấu nhị nguyên và nhờ
đó lấy công bằng làm nền tảng cho sự tăng trưởng tổng thể hay tăng trưởng đơn thức” [28, tr.128] Chiến lược sáu giai đoạn của ông mang nặng dấu ấn của quan điểm chủ đạo trên, trong đó công nghiệp hoá đô thị và khuyến khích xuất khẩu là những giai đoạn cuối cùng sau khi đã thực hiện các cải cách về
tư liệu sản xuất, hệ thống chính trị và phát triển nông thôn
Mặc dù tỏ ra ủng hộ các mô hình thực tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong khi lý giải quan điểm của mình, David C.Korten đã quá nhấn mạnh đến khía cạnh công bằng Chiến lược mà ông nêu ra rất hấp dẫn với công chúng nhưng mang nhiều sắc thái kêu gọi mang tính tư tưởng hơn là thưc tiễn
Trang 361.2.3 Tăng trưởng phải đi liền với công bằng
Trong những thập niên qua, người ta cũng nhận thấy những hạn chế của việc chú ý quá mức đến tăng trưởng, hoặc ngược lại, quá chú trọng đến công bằng Vậy, làm thế nào để vừa có tăng trưởng mà vẫn giải quyết được công bằng xã hội Có hai hướng đi chính:
Một là, giải quyết các nhu cầu cơ bản của con người Quan điểm này
được thịnh hành đặc biệt trong những năm 70 và được các tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm Chiến lược này chú trọng đến việc cung ứng các dịch vụ, coi
đó là phương thức tái phân phối lợi nhuận do tăng trưởng kinh tế mang lại và tạo điều kiện để dân chúng có thể tham gia bình đẳng vào hệ thống kinh tế
Lập luận của những người ủng hộ chiến lược này là thị trường không thể phân bố thích đáng lợi nhuận do tăng trưởng kinh tế mang lại, đặc biệt là trong giai đoạn đầu Do vốn xã hội hạn chế của đa số nhân dân, đặc biệt là trình độ giáo dục và y tế đã làm giảm tiềm năng sản xuất của họ và do đó giảm khả năng tham gia vào thị trường với tư cách người lao động và người tiêu thụ Để giúp họ bù đắp những khiếm khuyết này, các chính phủ cần chuyển của cải từ những người được hưởng lợi nhờ tăng trưởng sang tài trợ cho các dịch vụ bù đắp cho người nghèo Những khoản tài trợ này vừa có tác dụng bù đắp những khoản nhu cầu được bù đắp của chính họ về ăn, mặc, ở, sinh hoạt vừa chuẩn bị cho họ có được một chỗ đứng trong lực lượng lao động như giáo dục, chăm sóc sức khoẻ Để thực hiện một chiến lược như vậy, một mặt phải có được một nguồn tài chính lớn dành cho các khoản trợ cấp này, và mặt khác, xây dựng một mạng lưới nhằm phân bổ và thực hiện các dịch vụ cho người nghèo Một loạt chính sách hỗ trợ cho mục tiêu này như chính sách thuế, lãi suất, giá cả ưu đãi
Mặc dù ý tưởng của chiến lược này khá hấp dẫn và hợp lý nhằm đảm bảo công bằng trong điều kiện thúc đẩy tăng trưởng, song nó cũng bị phê
phán về một số khía cạnh Thứ nhất, để có thể thực hiện trợ cấp như vậy,
Trang 37chính phủ cần phải có một nguồn tài chính lớn mà trong nhiều trường hợp,
đặc biệt ở giai đoạn đầu lợi ích thu được từ tăng trưởng còn quá nhỏ Thứ hai,
liệu những trợ cấp như vậy có đủ đảm bảo cho người dân tham gia rộng rãi vào hệ thống kinh tế hay không, hay họ chỉ có khả năng tiếp cận đến giới hạn của nghèo khổ Nói cách khác, quan điểm hướng vào những nhu cầu cơ bản của con người về cơ bản là chương trình hành động xã hội nhiều hơn là một chiến lược tổng thể đảm bảo một cơ chế tương hỗ thực sự giữa tăng trưởng và công bằng
Hai là, tái phân phối cùng với tăng trưởng (Redistribution With
Growth), hay được diễn đạt hơi khác đi như tăng trưởng với phân phối thu nhập được cải thiện, hoặc tăng trưởng cũng chia sẻ Quan điểm này xét về mục đích giống như quan điểm trên nhưng khác về cách thức tiếp cận để đạt được mục tiêu Đây là ý tưởng của Ngân hàng thế giới được thể hiện trong công trình nghiên cứu cùng tên do ngân hàng này đỡ đầu thực hiện Phân phối lại cùng với tăng trưởng là con đường theo đó lợi ích thu được từ tăng trưởng kinh tế cần được phân phối lại sao cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập dần dần được cải thiện hoặc không bị xấu đi trong khi quá trình tăng trưởng vẫn tiếp tục Khác với quan điểm của những người theo mô hình hướng vào những nhu cầu cơ bản của con người nhấn mạnh đến việc đảm bảo các dịch
vụ công cộng, quan điểm tái phân phối cùng tăng trưởng nhấn mạnh việc tăng khả năng sản xuất và sức mua của dân chúng Các chính sách của chính phủ cần đảm bảo một sự phát triển sao cho người dân tìm thấy những cơ hội kiếm tiền tốt hơn đồng thời nhận được những nguồn lợi cần thiết để tạo ra lợi nhuận Theo một nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, công cụ chính sách có thể được sử dụng là:
- Các biện pháp tạo ra sự biến đổi cả lao động và tư bản, khuyến khích
sử dụng lao động lành nghề
Trang 38- “Phân phối lại một cách năng động” tài sản bằng cách định hướng đầu
tư vào các lĩnh vực mà những người nghèo có thể là người sở hữu tài sản như đất đai hoặc các cửa hiệu nhỏ
- Mở rộng giáo dục để cải thiện mức độ biết đọc, biết viết, kỹ năng lành nghề, cách tiếp cận với nền kinh tế hiện đại
Quan điểm tăng trưởng đi liền với công bằng dựa trên một giả thuyết rất quan trọng là công bằng không đối lập với tăng trưởng, ngược lại là yếu tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế Ngay từ năm 1968, Murdal là người đầu tiên đã khẳng định bất bình đẳng có thể làm hại cho tăng trưởng kinh tế Tiếp
đó, Aleluwalia (1974) đã khẳng định trong công trình nghiên cứu của mình rằng “không có mô hình tiêu biểu cho mối quan hệ giữa những thay đổi trong phân phối thu nhập và tốc độ tăng trưởng GNP … Điều này chỉ ra rằng, có ít
cơ sở thực tế vững chắc để chứng minh cho quan điểm tốc độ tăng trưởng cao chắc chắn sẽ nảy sinh bất bình đẳng cao hơn” Hart Mut Elseahans (1989) cũng lập luận khá đầy đủ về tác động của công bằng đối với tăng trưởng Nhiều nhà nghiên cứu khác như Alesina và Perrotti (1994), Alesina và Rodinik (1994), Mancey Birdsall, David Ross và Richarch Sobot (1995) cũng như các chuyên gia ở Ngân hàng thế giới đã tiến hành các công trình nghiên
Trang 39cứu và đưa ra bằng chứng chứng minh tại sao bất bình đẳng cao có thể hạn chế tăng trưởng
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường
Để có được giải pháp cho công bằng xã hội, trước tiên ta tìm hiểu một vài nhân tố dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập vừa là vấn đề của lịch sử để lại, vừa là vấn đề của sự phát triển mà quốc gia nào cũng vấp phải Một vấn đề đặt ra là tại sao có người nghèo và người giàu? Nguồn gốc của sự giàu có và nghèo đói là ở đâu? Có nhiều nhân tố và các nhân tố đó có thể đan xen, thâm nhập vào nhau, nhưng quy tụ lại có vài nhóm nhân tố chính
1.3.1 Thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế - xã hội
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đòi hỏi phải có một thể chế chính trị - xã hội ổn định Sự ổn định về chính trị đó được xác lập trước hết bằng đường lối phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, thể hiện được ý chí phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; phù hợp với các quy luật khách quan; có khả năng thu hút mọi lực lượng đầu
tư, khai thác các nguồn lực trong nước và ngoài nước
Đường lối phát triển đó còn phải được thực thi bằng hệ thống chính sách thích hợp, có khả năng cân đối ngân sách, kiềm chế lạm phát, tạo được
sự thăng bằng trong cán cân thanh toán quốc tế và có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, từng bước tăng tỷ lệ đầu tư cho phát triển
Sự ổn định đường lối phát triển kinh tế -xã hội, hệ thống chính sách nhất quán, thích hợp sẽ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, tạo được lòng tin đối với khu vực và quốc tế từ đó giúp cho việc tăng trưởng kinh tế nhanh hơn và tạo điều kiện thực hiện mặt xã hội tốt hơn Ngược lại, thể chế chính trị không
ổn định và sự lựa chọn đường lối sai lầm sẽ dẫn đến kìm hãm sự tăng trưởng
và thực hiện công bằng xã hội
Trang 40Do được thừa kế tài sản Nhiều cá nhân sinh ra đã là người giàu vì họ
được thừa kế một cơ nghiệp lớn Sự bất công về thu nhập do của cải thừa kế tập trung vào tay một số ít người đã gây ra nhiều sự phản đối và một cách được chính phủ áp dụng để hạn chế sự bất bình đẳng này là đánh thuế cao vào tài sản thừa kế và quà tặng
Do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của các cá nhân ảnh hưởng
lớn đến sự khác nhau về của cải tích luỹ được Có những người tiết kiệm nhiều để tích luỹ một lượng của cải khi về hưu Trái lại, có những người sẵn sàng tiêu dùng hết những gì mình kiếm được mà không lo nghĩ cho tương lai
Do hiệu quả kinh doanh Thực tế cho thấy nhiều người giàu là họ dám
chấp nhận rủi ro, bỏ tiền kinh doanh, gây dựng những doanh nghiệp mới hoặc may mắn đầu tư được vào các chứng khoán có lãi cao
1.3.3 Nhân tố Lao động
Lao động là điều kiện cơ bản tạo ra thu nhập Tuy nhiên, với kỹ năng lao động, điều kiện lao động và tính chất nghề nghiệp khác nhau sẽ dẫn đến thu nhập khác nhau Dưới đây là một số nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
Do khác nhau về khả năng và kỹ năng lao động dẫn đến sự khác nhau
về thu nhập Xu hướng chung là những người có thể lực khoẻ mạnh, có khát vọng, có trí tuệ được giáo dục và có trình độ học vấn cao thì nhận được mức