AASP Quá trình giám sát ASEAN và Quy trình giám sát ASEAN+3 ABF Quỹ trái phiếu Châu Á ABI Sáng kiến trái phiếu Châu Á ABMI Sáng kiến thị trường trái phiếu Châu Á ADB Ngân hàng phát triển
Trang 1SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2005
Trang 2Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HỒNG SƠN
Hà Nội - 2005
Trang 3Trang
Phần mở đầu 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp tác tài chính - tiền tệ 6
1.1 Lý thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu 6
1.1.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại 6
1.1.2 Phản ứng đồng đều đối với các cú sốc 7
1.1.3 Sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất 8
1.1.4 Sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô 9
1.2 Các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ cơ bản 10
1.2.1 Chia sẻ thông tin; đối thoại chính sách; tư vấn; theo dõi và giám sát tài chính 10
1.2.2 Thiết lập các cơ chế chung cho hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực 11
1.2.3 Tối ưu hoá chính sách kinh tế với nội dung cơ bản là phối hợp chính sách nhằm tối đa hoá tổng phúc lợi kinh tế của những nước tham gia 11
1.2.4 Thành lập liên minh tiền tệ khu vực 12
1.3 Đông Á có phải là một khu vực tiền tệ tối ưu? 14
1.3.1 Sự tương đồng và khác biệt giữa Châu Âu và Đông Á 15
1.3.2 Các tiêu chuẩn của OCA đối với Đông Á 19
1.3.2.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại 19
1.3.2.2 Phản ứng đồng đều đối với các cú sốc 22
1.3.2.3 Sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất 23
1.3.2.4 Sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô 28
Kết luận chương 1 30
Chương 2: Thực trạng quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á 32
2.1 Sự cần thiết phải hợp tác về tài chính và tiền tệ Đông Á 32
2.1.1 Hấp thụ tối đa những lợi ích và giảm thiểu các tác động tiêu cực của toàn cầu hoá tài chính 32
Trang 42.1.3 Thúc đẩy quá trình liên kết thương mại và đầu tư trong khu vực 34
2.1.4 Giảm thiểu sự phụ thuộc vào dòng vốn tư nhân nước ngoài ngắn hạn 35
2.1.5 Bù đắp lại được những thiệt hại về phúc lợi do việc hình thành đồng tiền chung châu Âu (Euro) gây nên 37
2.2 Các hình thức hợp tác tài chính tiền tệ ở Đông Á 38
2.2.1 Trao đổi thông tin và các quy trình giám sát khu vực 38
2.2.1.1 Nhóm khuôn khổ Manila (Manila Framework Group) 39
2.2.1.2 Quy trình giám sát ASEAN (ASEAN Surveilance Process) và Quy trình giám sát ASEAN+3 (ASEAN+3 Surveilance Process) 40
2.2.1.3 Quy trình đối thoại chính sách và kiểm điểm kinh tế ASEAN +3 (ASEAN+3 Economic Review and Policy Dialogue Process) 41
2.2.1.4 Các hình thức khác 43
2.2.2 Thiết lập cơ chế chung cho hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực - Sáng kiến Chiang Mai (CMI) 47
2.2.2.1 Mở rộng thoả thuận Hoán đổi ASEAN (ASA) 47
2.2.2.2 Thiết lập mạng lưới Hoán đổi song phương cũng như các Thoả thuận Mua lại giữa các nước ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc 49
2.2.2.3 Đề xuất thiết lập Thỏa thuận tài trợ khu vực và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm ở Đông Á 53
2.2.2.4 Đánh giá về CMI 54
2.2.3 Xây dựng thị trường trái phiếu và quỹ trái phiếu khu vực 54
2.2.3.1 Sáng kiến thị trường trái phiếu Châu Á 54
2.2.3.2 Quỹ trái phiếu Châu Á 57
2.3 Những cản trở đối với quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á 60
2.3.1 Chênh lệch phát triển lớn giữa các nước trong khu vực 60
2.3.2 Vấn đề nước đứng đầu 63
Trang 52.3.4 Các vấn đề khác 68
Kết luận chương 2 69
Chương 3: Triển vọng hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á và một số gợi ý cho Việt Nam 71
3.1 Một số mô hình/ quan điểm về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á 71
3.1.1 Các ý tưởng của các chính phủ và thủ lĩnh chính trị 71
3.1.2 Các sáng kiến trong khuôn khổ ASEAN + 3 72
3.1.3 Một số sáng kiến đề xuất của giới học giả và tổ chức nghiên cứu 75
3.2 Các đề xuất tăng cường hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á 78
3.2.1 Nâng cao hiệu quả giám sát khu vực 78
3.2.2 Phát triển thị trường trái phiếu khu vực 81
3.2.3 Phối hợp chính sách tỷ giá hối đoái trong khu vực 82
3.2.4 Đề xuất về nước đứng đầu 86
3.3 Một số gợi ý cho Việt Nam 87
3.3.1 Vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập ASEAN+3 87
3.3.2 Việt Nam: Những thách thức trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế 91
3.3.3 Một số gợi ý nhằm thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam trong khu vực Đông Á và quốc tế 96
3.3.3.1 Các gợi ý mang tính tổng thể 96
3.3.3.2 Các gợi ý về lĩnh vực tài chính - ngân hàng 97
Kết luận chương 3 106
Kết luận 107
Danh mục tài liệu tham khảo 109
Phụ lục 113
Trang 6AASP Quá trình giám sát ASEAN và Quy trình giám sát ASEAN+3 ABF Quỹ trái phiếu Châu Á
ABI Sáng kiến trái phiếu Châu Á
ABMI Sáng kiến thị trường trái phiếu Châu Á
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AFDM+3 Hội nghị các Thứ trưởng tài chính và Phó thống đốc Ngân hàng
Trung ương ASEAN+3 AFMM+3 Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính ASEAN+3
AMF Quỹ tiền tệ Châu Á
APEC Diễn đàn hợp tác khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
ASA Thỏa thuận hoán đổi ASEAN
ASCU Phòng Phối hợp giám sát ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN+3 ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
ASP Quá trình giám sát ASEAN
ASP+3 Quy trình giám sát ASEAN+3
BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế
BSA Các thỏa thuận hoán đổi song phương
CMI Sáng kiến Chiang Mai
CRA Công ty định mức tín nhiệm
EMEAP Diễn đàn các ngân hàng trung ương Đông Á-Thái Bình Dương EPA Hiệp định đối tác kinh tế
ERPD Quy trình kiểm điểm kinh tế và đối thoại chính sách ASEAN+3
EURO Đồng tiền chung Châu Âu
FTA Hiệp định thương mại tự do
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNI Tổng thu nhập quốc dân
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
Trang 7NASP Hệ thống Giám sát Đông Bắc Á
NBSA Mạng lưới các thỏa thuận hoán đổi song phương
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
NMI Sáng kiến Miyazawa mới
OCA Khu vực tiền tệ tối ưu
Repo Thỏa thuận mua lại
SEANCEN Diễn đàn của nhóm các ngân hàng trung ương Đông Nam Á
SEANZA Diễn đàn nhóm các ngân hàng trung ương Đông Nam Á, Niu
Dilân và Úc
WB Ngân hàng thế giới
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý tưởng về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á đã có từ khá lâu nhưng nó mới chỉ được chính thức bắt đầu từ tháng 12 năm 1997, khi các nhà lãnh đạo ASEAN và các đối tác từ Đông Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh không chính thức bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ hai tại Malaysia
Kể từ đó đến nay, quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á đã phát triển mạnh từ những hình thức ban đầu như trao đổi thông tin và xây dựng các quy trình giám sát khu vực (thể hiện ở việc thành lập Nhóm khuôn khổ Manila, xây dựng quy trình giám sát ASEAN, quy trình đối thoại chính sách và kiểm điểm kinh tế ASEAN + 3, giám sát sự di chuyển vốn tư nhân, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm…) tới việc thành lập các cơ chế phòng và chống khủng hoảng cho toàn
khu vực như Sáng kiến Chiang Mai, xây dựng Quỹ trái phiếu Châu Á… Trong
tương lai, chính phủ các nước Đông Á còn mong muốn xây dựng một liên minh tiền tệ - hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ cao nhất trong các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ
Tất cả những nỗ lực trên cho thấy hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á là một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm và ủng hộ Tuy nhiên, quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á còn gặp phải một số thách thức như: sự phát triển không đồng đều, sự xuất hiện ngày càng nhiều các hiệp định thương mại tự do song phương và sự khác biệt về văn hóa, truyền thống, cách cư xử và giải quyết các vấn đề giữa các nước thành viên Do vậy, quá trình này đòi hỏi các nước cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm đạt được mục tiêu hợp tác của mình
Bên cạnh đó, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
Trang 9phát triển, Việt Nam đã tích cực thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Việt Nam lần lượt tham gia các tổ chức kinh tế khu vực quan trọng như ASEAN, ASEM, APEC, ký hiệp định khung về hợp tác kinh tế với EU, đạt được các thỏa thuận sâu rộng với IMF và World Bank trong khuôn khổ các chương trình cải cách cơ cấu và xóa đói giảm nghèo; hợp tác với Nhật Bản trong khuôn khổ chương trình Miyazawa nhằm trợ giúp, khắc phục các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á; ký kết và đưa vào thực thi Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ… Tất cả các nỗ lực trên đã đem lại nhiều thành tựu cho phát triển kinh tế và xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, khả năng hợp tác của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, Việt Nam vẫn chưa thực sự chủ động tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu về hợp tác tài chính - tiền tệ ở khu vực Đông Á để từ đó đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam là cần thiết và có vai trò quan trọng
Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Hợp tác tài chính - tiền
tệ Đông Á: thực trạng, triển vọng và một số gợi ý cho Việt Nam” để nghiên
cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Tăng cường hợp tác kinh tế nhất là hợp tác trong lĩnh vực tài chính - tiền
tệ ở Đông Á là một hoạt động được nhiều quốc gia trong khu vực quan tâm và
ủng hộ đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-1998 Các
quốc gia Đông Á đã và đang rất tích cực phát triển mối quan hệ hợp tác tài chính
- tiền tệ trong khu vực Song song với các nỗ lực đó, ở Đông Á và trên thế giới,
đã có nhiều công trình của các cá nhân và tập thể nghiên cứu về hợp tác tài chính
- tiền tệ Đông Á Có thể khẳng định, đây là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn và cần thiết cho khu vực bởi vì nó cung cấp nền tảng lý luận và thực tiễn cho hoạt động hợp tác giữa các quốc gia đồng thời sẽ đưa ra được các giải pháp nhằm giúp Đông Á xây dựng vị thế của mình trên thế giới (trở thành một trong 3 cực trên thế giới là Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á)
Trang 10Nổi bật là chương trình nghiên cứu về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á
do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) triển khai Chương trình này đã thu hút được sự tham gia của nhiều học giả ở các trường đại học lớn của khu vực như Đại học Tokyo, đại học Korea, đại học Kobe; đại học British Columbia; đại học Hitotsubashi…Bên cạnh đó, vấn đề hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á còn được
thảo luận trong nhiều cuộc hội thảo quốc tế như: Hội thảo lần thứ 7 về Hợp tác
Châu Á- Thái Bình Dương trong phạm vi toàn cầu: Chủ nghĩa khu vực và Chủ nghĩa toàn cầu; Hội thảo Những thách thức và cơ hội của Hợp tác Kinh tế ở Đông Á, Hội thảo quốc tế về Hợp tác Kinh tế Châu Á… Sau đây là các công
trình nghiên cứu điển hình trong nước và quốc tế về vấn đề này:
1 Jong-Wha Lee, Yung Chul Park and Kwanho Shin (2002), “Một liên minh tiền tệ ở Đông Á”, Đại học Korea
2 Kiyohiko Fukushima (2004), “Những thách thức trong hợp tác tiền tệ ở Đông Á”, AT10 Hội thảo nghiên cứu, Tokyo
3 N.L Koh, “Hợp tác tiền tệ ở Đông Á”, Oita University
4 Pradmuna B Rana (2002), “Hợp tác tài chính và tiền tệ ở Đông Á: Sáng kiến Chiang Mai”, Asian Development Bank
5 Raul Fabella (2002), “Hợp tác Tiền tệ ở Đông Á: Một khảo sát”, Asia Development Bank
6 Shamsha Akhtar (2004), “Liên kết kinh tế ở Đông Á: Xu hướng, thách thức
và cơ hội”, Hội thảo “Những thách thức và cơ hội của Liên kết kinh tế Đông
Á”
7 Lê Văn Sang: Về các ý tưởng liên kết Đông Á, Tạp chí Kinh tế Châu Á -
Thái Bình Dương, số 4(39) - 8/2002
8 Nguyễn Hồng Sơn (2004), “Hợp tác tài chính tiền tệ Đông Á”, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế, số 11/2004
9 Võ Trí Thành, “Hội nhập tài chính khu vực Đông Á - Bài học và thách thức
đối với Việt Nam”, Tài liệu Hội thảo Chiến lược hội nhập khu vực: Thách
thức thương mại và tài chính đối với Việt Nam, tháng 8/2005
Trang 11Do yêu cầu và mục đích nghiên cứu khác nhau nên các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào từng lĩnh vực cụ thể của hợp tác kinh tế Đông Á mà chưa đề cập, làm rõ quan hệ hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á Một số công trình có đề cập đến hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á nhưng việc đề cập còn chưa sâu, chủ yếu là liệt kê các hình thức hợp tác trong lĩnh vực này ở Đông Á Bên cạnh đó, một số công trình hoặc chủ yếu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-1998 đối với hệ thống tài chính - tiền tệ khu vực để từ đó làm nổi bật vai trò của hợp tác tài chính - tiền
tệ giữa các nước trong khu vực hoặc chủ yếu phân tích về một hình thức hợp tác
cụ thể giữa các nước trong khu vực (như Sáng kiến Chiang Mai) Việc phân tích, đánh giá cụ thể từng hình thức để từ đó đề xuất một số giải pháp còn xuất hiện rời rạc, chưa tập trung cụ thể trong một công trình nào Ngoài ra, các công trình nghiên cứu còn chưa đề cập tới vai trò của từng nước trong quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á Có thể khẳng định cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào trình bày một cách tổng quát từ lý luận và thực tiễn đến thực trạng và triển vọng của quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á
Hơn thế nữa, ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu và các bài viết về hợp tác tài chính và tiền tệ ở Đông Á Các bài viết này chưa nêu bật được tính tổng thể của quá trình hợp tác đặc biệt là từ sự hợp tác này đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chính vì vậy, công trình nghiên cứu “Hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á:
thực trạng, triển vọng và một số gợi ý cho Việt Nam” sẽ cố gắng hoàn thiện các
vấn đề còn bỏ ngỏ trong các công trình nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á, đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả của quá trình này đồng thời đưa ra một số gợi ý nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập tài chính nói riêng của Việt Nam vào khu vực và thế giới
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở các nước Đông
Á hay còn gọi là ASEAN + 3 (gồm các nước thuộc khối ASEAN và Nhật
Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc)
Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á từ sau khủng hoảng Châu Á năm 1997- 1998 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu; thống kê kinh tế…
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Khái quát hóa một số vấn đề lý luận về hợp tác tài chính và tiền tệ
- Chứng minh sự cần thiết của hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á
- Phân tích các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ cơ bản để từ đó đưa ra một
số đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á
- Đưa ra một số gợi ý nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập tài chính nói riêng của Việt Nam vào khu vực và
thế giới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp tác tài chính - tiền tệ
- Chương 2: Thực trạng quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á
- Chương 3: Triển vọng hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á và một số gợi ý
cho Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC
TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
1.1 Lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu
Lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu được nhà kinh tế học người Mỹ là Robert Mundell đưa ra lần đầu tiên vào năm 1961 Từ đó đến nay, lý thuyết này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, phát triển và được coi là lý thuyết cơ bản, làm nền tảng lý luận cho quan hệ hợp tác tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia
Theo lý thuyết này, khu vực tiền tệ tối ưu (OCA) là khu vực gồm những quốc gia có cùng chung các điều kiện để sử dụng một đồng tiền thống nhất Các điều kiện đó là: các quốc gia có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, phản ứng đồng đều với các cú sốc, các yếu tố sản xuất linh hoạt và có sự hội tụ của các chính sách vĩ mô Cụ thể như sau:
1.1.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại
Do có sự liên kết chặt chẽ về thương mại, việc hình thành OCA sẽ làm giảm các chi phí giao dịch cũng như hạn chế những rủi ro của việc sử dụng các đồng tiền khác nhau trong khu vực Việc ra đời một đồng tiền chung sẽ làm giảm bớt sự phân biệt giá giữa các thị trường, đem lại lợi ích cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đồng thời thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia, làm tăn g độ
mở và kim ngạch thương mại trong nội bộ khu vực Nếu hai quốc gia cùng sử dụng một đồng tiền thì họ sẽ trao đổi buôn bán nhiều gấp 3 lần so với khi họ sử dụng các đồng tiền khác nhau (Rose, 1999) và trong vòng 20 năm, cứ mỗi 1% tăng lên trong thương mại (trong tương quan với GDP) sẽ làm tăng thu nhập trên đầu người khoảng 0,33% (Frankel và Rose, 2000) Thương mại song phương còn tăng hoặc giảm khoảng 100% khi hai nước thiết lập hay giải tán một liên minh tiền tệ (các điều kiện khác không đổi) (Glick và Rose, 2001)
Trang 14Bên cạnh đó, do có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, các nước tham gia thương mại trong khu vực có xu hướng hình thành các chu kỳ kinh doanh giống nhau (điều kiện để các nước có phản ứng đồng đều với các cú sốc) Chính vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại là một tiền đề quan trọng để thiết lập OCA
1.1.2 Phản ứng đồng đều đối với các cú sốc
Phản ứng đồng đều với các cú sốc là một điều kiện quan trọng cho việc thiết lập khu vực tiền tệ tối ưu Bởi vì khi một quốc gia từ bỏ đồng tiền của nó và tham gia vào khu vực tiền tệ tối ưu có nghĩa là nó đang từ bỏ quyền tự chủ của mình về chính sách tiền tệ Do vậy, nếu một nước thành viên trong OCA không
có phản ứng giống như các nước thành viên khác khi phải đối mặt với các cú sốc thì quốc gia đó không thể sử dụng chính sách tiền tệ của riêng mình để điều tiết nền kinh tế Chẳng hạn, khi có một cú sốc cầu xẩy ra, khách hàng thích hàng hóa của Đức hơn hàng hóa của Pháp Điều này sẽ làm cho tổng cầu giảm và thất nghiệp tăng ở Pháp đồng thời tổng cầu tăng và thất nghiệp giảm nhưng có áp lực lên giá (rủi ro lạm phát) ở Đức Nếu hai quốc gia này không cùng nằm trong một OCA thì Pháp có thể sử dụng các biện pháp là tự động giảm giá hoặc phá giá còn Đức có thể tự động tăng giá hoặc nâng giá để điều tiết nền kinh tế của mình Tuy nhiên, nếu hai quốc gia này cùng nằm trong một OCA thì họ không thể sử dụng các chính sách tiền tệ riêng của mình để điều tiết nền kinh tế Chính vì vậy, việc thiết lập một OCA giữa Pháp và Đức sẽ gặp phải khó khăn và nếu như không có các công cụ điều chỉnh khác thì OCA giữa Pháp và Đức sẽ không tồn tại được
Phản ứng đồng đều với các cú sốc đồng nghĩa với việc các nước thành viên của khu vực tiền tệ tối ưu có những chu kỳ kinh doanh giống nhau Theo Kenen (1969) mức độ đa dạng hoá của công nghiệp hay sản phẩm quyết định mức độ phản ứng đồng đều đối với các cú sốc Hai khu vực có cùng một cấu trúc công nghiệp và sản xuất ra các sản phẩm giống nhau sẽ có những phản ứng giống nhau đối với các cú sốc Tuy nhiên, trên thực tế, các quốc gia lại có sự khác biệt về tỷ lệ tăng trưởng, thị trường lao động và các sản phẩm hàng hóa mà
Trang 15chúng tạo ra Do vậy, rất khó tìm thấy một khu vực nào mà các quốc gia thành viên của nó lại có phản ứng đồng đều với các cú sốc một cách tuyệt đối Chính vì vậy, để có thể thiết lập một OCA, trong điều kiện các nước chỉ có phản ứng tương đối đồng đều với các cú sốc, cần bổ sung thêm điều kiện là các nước phải
có các yếu tố sản xuất linh hoạt (xem thêm phụ lục 1)
1.1.3 Sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất
Khi tham gia khu vực tiền tệ tối ưu, các nước trong khu vực sẽ không thể
sử dụng chính sách tiền tệ riêng để phản ứng lại với các cú sốc Vì vậy, để có thể thiết lập một OCA, các quốc gia thành viên cần tạo điều kiện để các yếu tố sản xuất (lao động, vốn) được tự do di chuyển trong khu vực
Trở lại ví dụ ở phần trên, do không thể sử dụng chính sách tiền tệ riêng để đối phó với cú sốc cầu nên nếu muốn tiếp tục duy trì liên minh, Pháp và Đức buộc phải cho phép lao động được tự do di chuyển trong phạm vi hai nước Cụ thể là các công nhân bị thất nghiệp ở Pháp sẽ chuyển sang tìm và làm việc ở Đức, nơi có tiền lương cao hơn Điều này sẽ làm cho thất nghiệp ở Pháp giảm và
áp lực lạm phát ở Đức mất đi, nền kinh tế của cả hai nước được điều tiết lại
Việc tự do di chuyển lao động giữa các nước thành viên trong khu vực có thể được thay thế bằng sự linh hoạt của tiền lương ở các nước thành viên Chẳng hạn như, khi phải đối mặt với cú sốc cầu không đối xứng (ví dụ trên), nếu tiền lương có thể được điều chỉnh linh hoạt (lương giảm) thì giá hàng hóa của Pháp
sẽ giảm xuống, các sản phẩm của Pháp có tính cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế và do đó sản lượng của Pháp sẽ tăng trở lại Ngược lại, quá trình điều chỉnh lương ở Đức sẽ khiến cho sản lượng của Đức giảm và áp lực tăng giá giảm Thông qua tiền lương, nền kinh tế của cả hai quốc gia được điều tiết một cách tự động
Bên cạnh sự tự do di chuyển lao động, việc chuyển khoản tài chính (dịch chuyển vốn) cũng là một yếu tố cần thiết để chống lại tác động tiêu cực của các
cú sốc không đối xứng Chuyển khoản tài chính có thể được thực hiện từ nước
Trang 16này sang nước khác hoặc từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc thông qua thị trường tài sản của các nước trong khu vực Tuy nhiên, việc chuyển khoản này không được các quốc gia trong khu vực ủng hộ bởi vì nó không giải quyết được triệt để các vấn đề mà đôi khi còn gây ra hiện tượng nợ kéo dài hoặc gây ra sự mất ổn định của tỷ giá hối đoái do có sự dịch chuyển vốn đột ngột
Tóm lại, khi các nước chỉ có phản ứng tương đối đồng đều với các cú sốc thì sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất chính là một điều kiện bổ sung cần thiết để các nước có thể thiết lập một OCA Tuy nhiên, theo Mundell, thì sự di chuyển của lao động không phải là yếu tố quan trọng nhất đối với OCA Còn theo McKinnon (1963) thì chính OCA đã thúc đẩy sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất
1.1.4 Sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô
Bên cạnh việc phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, phản ứng đồng đều với các cú sốc và có sự linh hoạt giữa các yếu tố sản xuất, nếu các nước có những mục tiêu chính sách khác nhau thì lãi suất của họ sẽ phản ứng lại rất khác nhau đối với các cú sốc như nhau từ bên ngoài và điều này sẽ khiến cho việc ổn định tỷ giá không thể thực hiện được Khi tỷ giá không thể ổn định giữa các quốc gia, các nước thành viên sẽ khó có thể xây dựng một OCA Do vậy, để thiết lập một liên minh, một điều kiện quan trọng là các nước trong khu vực phải có sự hội tụ các chính sách vĩ mô Mục tiêu chính sách của các quốc gia phải được thống nhất và các chính sách phải được phối hợp hiệu quả
Tóm lại, để thiết lập một khu vực tiền tệ tối ưu, bên cạnh sự gần gũi về mặt địa lý, các quốc gia thành viên trong khu vực phải có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, phản ứng đồng đều với các cú sốc, sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất và sự hội tụ các chính sách kinh tế vĩ mô Các điều kiện này vừa là tiền đề phát triển lẫn nhau (sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại là tiền đề quan trọng để các nước có phản ứng đồng đều với các cú sốc) vừa là yếu tố bổ sung cho nhau (điều kiện phản ứng đồng đều với các cú sốc và điều kiện về sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất) Chính vì vậy, các quốc gia không thể bỏ qua bất cứ điều kiện nào khi xem xét khả năng xây dựng một OCA trong khu vực
Trang 171.2 Các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ cơ bản
Căn cứ vào mức độ hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực, có thể chia các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ thành 4 hình thức cơ bản sau:
- Chia sẻ thông tin; đối thoại chính sách; tư vấn; theo dõi và giám sát tài chính;
- Thiết lập các cơ chế chung cho hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực;
- Tối ưu hoá chính sách kinh tế với nội dung cơ bản là phối hợp chính sách nhằm tối đa hoá tổng phúc lợi kinh tế của những nước tham gia;
- Thành lập liên minh tiền tệ khu vực
Các hình thức này có sự phát triển, kế thừa lẫn nhau và bổ sung cho nhau nhằm hướng tới một mục tiêu cuối cùng là thành lập liên minh tiền tệ khu vực
đề kinh tế vĩ mô và cơ cấu; các mục tiêu chính sách cũng như các lựa chọn chính sách Từ đó, mỗi nước sẽ có thể sử dụng được những thông tin chính xác về các nước khác trong việc hoạch định chính sách của nước mình
Trong giám sát và theo dõi tài chính, việc theo dõi và giám sát sự di chuyển của dòng vốn tư nhân nước ngoài, đặc biệt là vốn ngắn hạn ở mức độ khu vực đóng vai trò rất quan trọng Với cơ chế giám sát hiệu quả, mỗi nước trong khu vực sẽ liên tục được đặt trong tình trạng bị áp lực ngang nhau nhằm đảm bảo tính kỷ luật trong việc thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô cũng như
Trang 18các chính sách cơ cấu như đảm bảo sự ổn định của cán cân thanh toán cũng như
tỷ giá hối đoái Ngoài ra, việc thiết lập và phát triển một hệ thống cảnh báo sớm đáng tin cậy sẽ giúp cho các nước trong khu vực tránh được sự bất ổn kinh tế vĩ
mô cũng như sự bất ổn của khu vực tài chính và cán cân thanh toán và do vậy ngăn chặn được khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong tương lai
1.2.2 Thiết lập các cơ chế chung cho hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực
Để tăng cường hợp tác tài chính - tiền tệ nhằm hướng tới một liên minh tiền tệ trong tương lai, các nước trong khu vực cần thiết lập các cơ chế chung cho quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực Các cơ chế này bao gồm những thoả thuận về thương mại và đầu tư khu vực; về chế độ tỷ giá hối đoái khu vực (phối hợp chính sách ổn định tỷ giá khu vực); về cơ chế tài trợ khu vực (thị trường trái phiếu khu vực); về cơ sở hạ tầng tài chính khu vực (cơ chế thanh toán
bù trừ, cơ chế thanh toán và thể chế đánh giá tín dụng) cũng như về những khuôn khổ hợp tác khu vực khác nhằm phản ứng kịp thời một khi khủng hoảng xảy ra (quỹ dự trữ khu vực)
Trên cơ sở các cơ chế chung này, các nước trong khu vực sẽ tăng cường
sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại và đầu tư đồng thời có sự ổn định về tỷ giá hối đoái và xây dựng được các cơ chế phòng và chống khủng hoảng trong khu vực Bên cạnh đó, mỗi nước riêng biệt cũng có thể hoạch định những chính sách độc lập nhằm đạt được lợi ích của riêng mình mà không làm ảnh hưởng tới tiến trình hợp tác trong khu vực
1.2.3 Tối ưu hoá chính sách kinh tế với nội dung cơ bản là phối hợp chính sách
nhằm tối đa hoá tổng phúc lợi kinh tế của những nước tham gia
Ngoài việc thiết lập các cơ chế chung cho hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực, các nước trong khu vực cần có sự phối hợp chính sách nhằm tối đa hóa tổng phúc lợi kinh tế của những nước tham gia
Trang 19Hình thức này thường được thực hiện dưới dạng: trong khi một nước áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng thì nước khác áp dụng chính sách tiền tệ thắt
chặt nhằm tạo ra sự phát triển cân bằng và ổn định giữa các nước
1.2.4 Thành lập liên minh tiền tệ khu vực
Đây là hình thức cao nhất của hợp tác tài chính - tiền tệ với những đặc trưng cơ bản sau: i) Các nước trong khu vực sẽ từ bỏ chính sách tiền tệ của mình
để thiết lập một đồng tiền chung thống nhất; ii) Một cơ quan tiền tệ chung, thống nhất được thiết lập nhằm quản lý một quỹ dự trữ ngoại hối chung và thực hiện một chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái chung, thống nhất; iii) Liên minh tiền tệ không hàm ý sự liên kết về chính trị Ngoài ra, liên minh tiền tệ còn có thể có những đặc trưng khác như mở cửa tài khoản vốn bên ngoài; mở cửa tài khoản vốn bên trong và liên kết kinh tế như khu vực mậu dịch tự do (Liên minh tiền tệ châu Âu)
Liên minh tiền tệ khu vực mang lại các lợi ích như: giảm chi phí giao dịch, loại bỏ được sự bất ổn và rủi ro tỷ giá và đảm bảo sự ổn định của giá cả
Cụ thể như sau:
Giảm chi phí giao dịch
Với một đồng tiền chung, những chi phí liên quan đến chuyển đổi tiền trong nội bộ khu vực sẽ không còn Chẳng hạn, theo Uỷ ban cộng đồng kinh tế châu Âu (1999) đối với Liên minh châu Âu, chi phí trung bình để chuyển đổi tiền tệ trong phạm vi cộng đồng là 2,5% Chi phí này sẽ mất đi khi đồng tiền chung ra đời Với một đồng tiền chung, lợi ích thu được của những nước lớn trong cộng đồng là 0,1%-0,2% GDP; của những nước nhỏ là khoảng 1% GDP; tổng cộng chi phí tiết kiệm được của toàn cộng đồng là gần 0,4% GDP
Quan trọng hơn, việc giảm chi phí giao dịch có thể làm giảm sự phân biệt giá giữa các thị trường quốc gia Với các đồng tiền riêng lẻ, thị trường sẽ bị phân đoạn và chi phí giao dịch của việc mua hàng hóa từ một quốc gia khác sẽ cao
Trang 20hơn (các nhà sản xuất có thể tận dụng quá trình phân biệt giá để giảm bớt liên kết kinh tế) Vì vậy, một đồng tiền chung sẽ chắc chắn làm giảm bớt sự phân biệt giá, dẫn tới sự tăng lên trong phúc lợi của cả người tiêu dùng và nhà sản xuất
Loại bỏ được sự bất ổn và rủi ro tỷ giá
Việc sử dụng một đồng tiền chung sẽ loại bỏ được sự bất ổn và rủi ro tỷ giá đồng thời thúc đẩy thương mại tăng trưởng và khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trong nước Nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy tác động thực sự của Liên minh Tiền tệ tới thương mại: Glick và Rose (2001) ước tính rằng thương mại song phương sẽ tăng (giảm) khoảng 100% khi hai nước thiết lập (phá bỏ) Liên minh Tiền tệ (các điều kiện khác được giữ nguyên); Frankel và Rose (2000) ước tính rằng cứ 1% GDP tăng thêm của thương mại (trong tương quan với GDP) sẽ làm tăng thu nhập bình quân đầu người 0,333% trong vòng 20 năm Frankel và Romer (1999) còn cho rằng mức lợi ích thu được còn lớn hơn: 1,5-2% tăng thêm trong thu nhập bình quân đầu người
Đảm bảo sự ổn định của giá cả
Việc tham gia Liên minh Tiền tệ sẽ làm xuất hiện một thể chế điều tiết tiền tệ chung (ngân hàng trung ương của liên minh) và do đó mỗi một nước thành viên sẽ không thể sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng quá mức hay quá thắt chặt với những tác động tiêu cực tới sự ổn định của giá cả Nói cách khác, các nước thành viên sẽ tránh được những cú sốc tiêu cực có liên quan đến tiền tệ
Đồng thời với những lợi ích, việc thiết lập một Liên minh Tiền tệ còn phải chịu những chi phí sau
Ngân hàng trung ương các nước thành viên mất đi chức năng tự chủ và độc
lập về tiền tệ cũng như chức năng người cho vay cuối cùng
Do tham gia liên minh tiền tệ nên khi các nước thành viên gặp phải những
cú sốc không đối xứng thì họ không thể sử dụng chính sách tiền tệ riêng để điều tiết kinh tế Các ngân hàng trung ương của các nước thành viên cũng không thể
Trang 21in thêm tiền để cung cấp cho ngân hàng thương mại trong trường hợp những ngân hàng này rơi vào tình trạng thiếu phương tiện thanh khoản Chính vì vậy, việc tham gia liên minh đã khiến ngân hàng trung ương của các nước thành viên mất đi chức năng tự chủ và độc lập về tiền tệ cũng như chức năng người cho vay
Rất nhiều quốc gia đang phát triển tài trợ cho thâm hụt của nó bằng việc tăng cung tiền (doanh thu “thuế đúc tiền”) Kết quả là họ làm gia tăng lạm phát Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu lại cho thấy, đối với EU, thuế lạm phát là không lớn: cuối những năm 1980 những nước có nguồn thu thuế lạm phát lớn cũng chỉ thu được một lượng tương đương với 0,5% GDP (Ủy ban châu Âu, 1990)
Tuy các nước tuy mất đi nguồn lợi của thuế phát hành tiền quốc gia khi tham gia vào liên minh nhưng các nước này lại có thể thu được thuế phát hành tiền quốc tế khi đồng tiền chung của họ trở nên vững mạnh và lưu chuyển như một đồng tiền quốc tế (như Euro chẳng hạn)
1.3 Đông Á có phải là một khu vực tiền tệ tối ƣu?
Dựa vào sự phân tích về lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu đặc biệt là các tiêu chuẩn để hình thành OCA, trên cơ sở nghiên cứu về Liên minh tiền tệ cụ thể
là Liên minh tiền tệ Châu Âu, chúng ta cùng xem xét khả năng hình thành khu vực tiền tệ tối ưu ở Đông Á Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu các nét tương đồng và khác biệt giữa Châu Âu và Đông Á, sau đó, đối chiếu các tiêu chuẩn của OCA đối với khu vực Đông Á
Trang 221.3.1 Sự tương đồng và khác biệt giữa Châu Âu và Đông Á
Để xây dựng một liên minh tiền tệ, các nước Châu Âu đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Do vậy, nếu muốn thiết lập một khu vực tiền tệ tối ưu ở Đông Á, các quốc gia Đông Á không thể bỏ qua một số kinh nghiệm của Châu Âu Trước hết, chúng ta cùng xem xét những nét tương đồng giữa Châu Âu và Đông Á
Thứ nhất, các nước thành viên của các hai khu vực này đều không có
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Họ chỉ có lợi ích chung và lớn nhất là
mở cửa nền thương mại và tài chính quốc tế Thứ hai, cả hai khu vực này đều bị
thiệt hại nặng nề từ các cuộc khủng hoảng kinh tế, tiền tệ và ngân hàng trong thập kỷ 1990 Họ cùng chung nguyện vọng là kiểm soát tốt hơn các lực lượng toàn cầu hóa kinh tế, tài chính nhằm tạo ra một hệ thống kinh tế, tài chính ổn định, có khả năng thúc đẩy tăng trưởng cao và bền vững, đồng thời cải thiện
phúc lợi Cuối cùng, cả hai khu vực đều có những mô hình xã hội phức tạp, đòi
hỏi nhiều chi phí cho việc kiểm soát các lực lượng toàn cầu hóa Họ tìm kiếm những giải pháp và công cụ để duy trì những điểm tích cực của các mô hình kinh
tế, xã hội phức tạp, đồng thời vẫn duy trì được khả năng thay đổi trong những tình huống diễn tiến nhanh chóng
Bên cạnh các điểm tương đồng trên, chúng ta cần lưu ý tới một số khác biệt giữa Châu Âu và Đông Á để từ đó quyết định con đường hợp tác tài chính - tiền tệ của khu vực Các khác biệt đó là:
- Sự khác biệt trong trật tự liên kết: Đông Á đặt mục tiêu liên kết tiền tệ trước khi hoàn thành việc liên kết thương mại Trong khi đó ở Châu Âu liên kết tiền tệ
là kết quả cuối cùng của liên kết thương mại Thêm vào đó, mặc dù đang tìm kiếm phương thức ổn định tỷ giá nhưng những khuôn khổ hợp tác hiện hành (như Sáng kiến Chiang Mai) lại hầu như không đề cập đến vấn đề này
- Sự ổn định của tỷ giá hối đoái giữa 3 đồng tiền chủ chốt: USD; Euro và Yên Nhật Bản cũng có ý nghĩa quan trọng tương tự như sự ổn định tỷ giá giữa các đồng tiền trong khu vực ở Đông Á
Trang 23- Các nước Đông Á không muốn có một thể chế chung để thúc đẩy quá trình liên kết trong khu vực Chính vì vậy, Đông Á cần phải có những thoả thuận tổng hợp ngoài những thoả thuận đa phương đã và đang được ký kết
- Tự do tài khoản vốn được thực hiện trước khi tỷ giá được ổn định hoá ở Đông Á
- Ngoài các khác biệt trên, Đông Á là khu vực có các nền kinh tế đa dạng, bao gồm từ những nước có nền kinh tế hiện đại đến những nước nghèo với cơ cấu kinh tế nông nghiệp hay cơ cấu kinh tế truyền thống Ngược lại, Liên minh Châu
Âu (EU) là một nhóm kinh tế đồng nhất hơn Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 1999, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tính theo đầu người của nước giàu nhất EU (Lucxambua: 38247USD) cao hơn 262% so với nước nghèo nhất (Hy Lạp: 14595USD) Ở Đông Á, con số này lên tới 2111% giữa nước giàu nhất là Singapore (27024USD) và nước nghèo nhất là Camphuchia (1280USD) Khoảng cách lớn hơn như vậy ở Đông Á so với Châu Âu vẫn tồn tại từ trước và sau cuộc khủng hoảng 1997 (xem bảng 1.1) Tương tự, khoảng cách giữa các nước Đông Á với nhau cũng lớn hơn khoảng cách này giữa các nước EU về mức
độ mở cửa thương mại hay tỷ trọng ngoại thương trên GDP (bảng 1.2) Ngoài ra, các nước Đông Á cũng chặt chẽ hơn các nước Châu Âu trong kiểm soát vốn (bảng 1.3)
Chính vì Đông Á có sự đa dạng hơn về hệ thống kinh tế, phương thức thương mại và mức độ phát triển kinh tế so với Châu Âu nên có thể hiểu được rằng, các chính phủ Đông Á sẽ có những ưu tiên khác nhau về tốc độ, phạm vi
và định hướng trong hành động chính sách và hợp tác
Bảng 1.1 Quy mô nền kinh tế khu vực Châu Âu và Đông Á thời kỳ 1995 -99
Nước
GDP (trung bình thời kỳ 1995-99,
tỷ USD)
GNP bình quân đầu người thời kỳ 1995-99 (tính theo PPP, USD)
Quy mô tương đối tính theo GNP bình quân đầu người Khu vực đồng Euro (12)
Trang 24Khoảng biến thiến 12,1-100,0
Bảng 1.2 Độ mở thương mại = (Xuất khẩu + Nhập khẩu)/GDP, 1995-99(%)
Các nước thuộc EMU Các nước Đông Á
Trang 25Các nước thuộc EMU Các nước Đông Á
Khoảng biến thiên 46,4-203,0 Khoảng biến thiên 19,3-317,0
Bảng 1.3 Chỉ số kiểm soát vốn và Tự do hóa tài khoản vốn
- Thứ nhất, những bước tiến tới hội nhập khu vực phải hoàn toàn phù hợp với các hiệp định quốc tế hay các hiệp định đa phương
Trang 26- Thứ hai, các nước cần hết sức thận trọng khi neo đồng tiền nước mình vào một đồng ngoại tệ Một ví dụ điển hình là thời kỳ trước năm 1997, khi đó đồng tiền của nhiều nước Châu Á được gắn cố định vào đồng đôla Mỹ
- Thứ ba, hợp tác tài chính là vấn đề thiết yếu Như chúng ta đã thấy trong cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS) năm 1992-1993, mặc dù các nước EU đều có nguyện vọng được thống nhất thành một nền kinh tế lớn mạnh
và ổn định hơn, nhưng những thỏa thuận trong lĩnh vực tiền tệ (trong bối cảnh sự chu chuyển vốn ngày càng tự do) đã không hữu hiệu do không được hỗ trợ bằng phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô và các cải cách cơ cấu đầy đủ
- Thứ tư, các nước cần thiết lập một cơ quan trung ương để chỉ đạo và bảo đảm cho việc thực thi các biện pháp chính sách đã được nhất trí Các biện pháp chính sách này bao gồm toàn bộ các lĩnh vực như chính sách kinh tế vĩ mô, khu vực tài chính, các quy định về ngoại thương và sự di chuyển vốn Mục tiêu chính của sự giám sát và hợp tác chính sách này là giảm tính dễ tổn thương của khu vực tài chính và đạt được sự ổn định tài chính vĩ mô lâu dài Do giữa các nước thành viên ASEAN+3 còn tồn tại những khác biệt lớn nên bốn bài học nói trên hàm ý rằng dù con đường duy nhất để các nước Đông Á hội nhập là chủ nghĩa tiệm tiến thì họ không thể né tránh việc thực hiện nghiêm ngặt các quy định hay các hiệp định chung
1.3.2 Các tiêu chuẩn của OCA đối với Đông Á
1.3.2.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại
Xét trên khía cạnh thương mại, Đông Á đáp ứng được tiêu chuẩn về sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại của OCA Kể từ đầu những năm 1990, cùng với quá trình mở cửa và tự do hoá thương mại, thương mại trong nội bộ khu vực Đông Á ngày càng gia tăng Thương mại Đông Á hiện nay chiếm hơn 1/4 thương mại thế giới (hình 1.1)
Từ năm 1980 đến 2003, xuất khẩu của khu vực Đông Á tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 9,2% (so với tốc độ tăng trưởng trung bình của các khu vực khác là 5,9%) và nhập khẩu tăng khoảng 8,2%
Trang 27Hình 1.1 Thương mại khu vực tính theo % xuất khẩu và nhập khẩu thế giới
Nguồn: Shamshad Akhtar, “Economic Integration in East Asia: Trends, Challenges and Opportunities” 2004
Bên cạnh đó, xuất khẩu nội bộ khu vực của Đông Á đã tăng từ 33,4% (86
tỷ USD) năm 1980 tới 49,3% (970 tỷ USD) trong năm 2003 (hình 1.2) Tuy con
số này vẫn thấp hơn phần trăm xuất khẩu nội bộ khu vực ở NAFTA và EU (55,5%
và 61,4% tương ứng) nhưng xuất khẩu nội bộ khu vực Đông Á đã có mức tăng trưởng hơn 11 lần trong 23 năm qua, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 11% Nhập khẩu nội bộ khu vực cũng đạt mức cao (tăng trưởng trung bình 11% một năm) và tăng từ gần 30% năm 1980 lên 55% trong năm 2003
Nguồn: Shamshad Akhtar, “Economic Integration in East Asia: Trends, Challenges
Hình 1.2 Thương mại nội bộ khu vực
Trang 28Bên cạnh sự tăng trưởng nhanh chóng trong thương mại nội bộ khối, cơ cấu thương mại của các nước Đông Á ngày càng trở nên giống nhau, hàm ý rằng các nước Đông Á có nhiều tiềm năng để thiết lập một liên minh tiền tệ bởi vì cơ cấu thương mại giống nhau có nghĩa là các quốc gia đang ngày càng hình thành các chu kỳ kinh doanh giống nhau Trong năm 1980, 10 nước Đông Á có chỉ số giống nhau trung bình là 0,45, khác xa so với mức độ trung bình của 15 nước Châu Âu là 0,63 Nhưng, chỉ số giống nhau ở Đông Á đã tăng từ 0,56 năm 1990 lên 0,64 năm 2000 Điều này cho thấy Đông Á ngày càng có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại
Bảng 1.4: Xu hướng của Chỉ số giống nhau thương mại
giữa các nền kinh tế Đông Á và Châu Âu
Châu Âu 1980 1990 2000 Đông Á 1980 1990 2000
Đan Mạch 0,613 0,622 0,643 Indonesia 0,379 0,442 0,512 Phần Lan 0,697 0,572 0,559 Nhật Bản 0,357 0,480 0,606
Hy Lạp 0,488 0,438 0,490 Philippines 0,438 0,586 0,659
Ai Len 0,581 0,583 0,518 Singapore 0,453 0,523 0,623
Nguồn: Sun Eae Chun, “East Asia’s Financial Cooperation and its Prospects of Monetary Union”, 2004
Trang 29Tóm lại, khi đối chiếu tiêu chuẩn đầu tiên của OCA - sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại với khu vực Đông Á, chúng ta thấy Đông Á hoàn toàn có khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn này Thương mại nội khối ngày càng tăng, cơ cấu thương mại ngày càng giống nhau thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại ngày càng tăng giữa các nước trong khu vực Đây chính là một điểm khởi đầu thuận lợi cho Đông Á khi thiết lập một khu vực tiền tệ tối ưu hay một liên minh tiền tệ trong tương lai
1.3.2.2 Phản ứng đồng đều với các cú sốc
Trong số 4 điều kiện kể trên, điều kiện phản ứng đồng đều đối với các cú sốc được các công trình nghiên cứu thực nghiệm tập trung chú ý nhiều nhất Đối với Đông Á kết quả nghiên cứu rất khác nhau
Theo Bayoumin và Eichengree (1994), Bayoumi và Mauro (1999), mặc dù Đông Á có các phản ứng không cân xứng đối với các cú sốc nhiều hơn so với Châu Âu nhưng các nền kinh tế Đông Á lại có phản ứng nhanh hơn khi điều chỉnh các cú sốc so các nước Châu Âu Vì vậy, Đông Á hoàn toàn có thể có đủ điều kiện
để trở thành một OCA với những khác biệt không nhiều so với Châu Âu
Gần đây, trong công trình nghiên cứu của mình, Baek và Song (2002); Lee, Park và Shin (2002) cũng khẳng định Đông Á là một khu vực có khả năng hình thành một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung như khu vực Euro Năm 2003, công trình nghiên cứu của Kwack cũng chứng tỏ Đông Á có phản ứng đồng đều hơn với các cú sốc khi ông chỉ ra sự tương quan của 2 loại cú sốc cung và cầu trong giai đoạn 1990-2001 cao hơn trong giai đoạn 1975-1989
Ngoài ra, khi xem xét chu kỳ kinh doanh ở Đông Á (hình 1.3), chúng ta nhận thấy các quốc gia của khu vực này ngày càng có chu kỳ kinh doanh giống nhau Điều đó có nghĩa là các nước Đông Á ngày càng có khả năng phản ứng đồng đều với các cú sốc hơn
Trang 30Nguồn: Shamshad Akhtar, “Economic Integration in East Asia: Trends, Challenges and Opportunities” 2004
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chứng tỏ Đông Á ngày càng có các phản ứng đồng đều với các cú sốc thì các công trình nghiên cứu của Wyplosz (2001); Chow và Kim (2000) lại cho thấy Đông Á không đủ các điều kiện để trở thành OCA Đó là vì, Đông Á còn thiếu các thể chế để xây dựng một Liên minh tiền tệ như thiếu hệ thống tài chính vững mạnh; sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia thành viên; mạng lưới chính sách và truyền thống liên kết kinh
tế lâu đời và thiếu một nhà lãnh đạo chính trị cho quá trình liên kết
Chính vì vậy, để đáp ứng tốt hơn tiêu chuẩn phản ứng đồng đều với các cú sốc của OCA, Đông Á cần nỗ lực vượt qua các cản trở chính cho sự phát triển của mình
1.3.2.3 Sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất
Sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất là một điều kiện bổ sung quan trọng cho việc thiết lập một khu vực tiền tệ tối ưu vì nó giúp các nước thành viên trong
Hình 1.3 Các chu kỳ kinh doanh ở Đông Á
Trang 31khu vực điều chỉnh các cú sốc không cân xứng thông qua việc cho phép các nguồn lực được tự do dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác Trước hết chúng ta cùng xem xét sự linh hoạt về lao động ở Đông Á
Các số liệu về sự dịch chuyển lao động ở Đông Á là khá sơ sài và không đầy đủ Tuy nhiên, qua quan sát, chúng ta có thể thấy một số thực tế như sau: Thứ nhất, mức độ liên kết thị trường lao động ở Đông Á không lớn như ở Bắc
Mỹ hay Châu Âu nhưng nó đã có sự phát triển nhanh trong những năm 1990 Số lượng người nước ngoài cư trú tại các nước Đông/Đông Nam Á là khoảng 1,2%, thấp hơn nhiều so với khu vực Bắc Mỹ (8,6%) và Châu Âu (5,0%) (loại trừ một
số nước như Hồng Kông và Singapore có số lượng người nước ngoài cư trú nhiều Hồng Kông là 40,0% và Singapore là 15,5%) Thứ hai, trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính Đông Á, lao động nhập cư trong nội bộ Đông Á đã tăng
từ 1 triệu người vào đầu năm 1980 đến 6,5 triệu người vào năm 1997 (theo ILO, 1998) Điều này được thể hiện ở sự dịch chuyển lao động ở những nước nhận và xuất khẩu lao động (bảng 1.5, 1.6, 1.7) Tuy nhiên, sau khủng hoảng tài chính Châu Á, do phải đối mặt với nạn thất nghiệp tăng và tăng trưởng giảm, rất nhiều nước trong khu vực đã có sự thay đổi trong chính sách nhập cư chẳng hạn như áp dụng chặt chẽ luật đối với lao động nhập cư, áp dụng thuế hoặc tăng thuế đối với những người nhập cư Điều này đã khiến những người lao động nhập cư phải rời khỏi các quốc gia Đông Á Kết quả là, từ năm 1997 đến giữa năm 1998, số lượng lao động nhập cư giảm nhanh chóng ở Hàn Quốc (43,8%), Thái Lan (36,5%), Malaysia (23,5%) và Singapore (11,1%) so với trước đó một năm (bảng 1.8) Bên cạnh việc hạn chế số lượng lao động nhập cư vào trong nước, các quốc gia Đông Á còn thực hiện các biện pháp nhằm đưa lao động trong nước ra nước ngoài như Indonesia, Philippin và Thái Lan Tất cả các nỗ lực trên đã khiến cho việc dịch chuyển lao động ở Đông Á không bị giảm xuống sau khủng hoảng và góp phần giảm bớt tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực
Trang 32Bảng 1.5 Lao động từ Indonesia tới các nước/khu vực
Source: Scalabrini migration Center
Bảng 1.6 Lao động từ Philippin tới các nước/khu vực
Tổng cộng 334,9 100 484,7 100 559,2 174,1 526,4 100
Nguồn: Philippines Overseas Administration Office; Philippines Overseas Employment
Administration
Trang 33Bảng 1.7 Lao động từ Thái Lan tới các nước/khu vực
Nguồn: Thai Government
Bảng 1.8 Lao động nhập cư và khủng hoảng tài chính Đông Á
Năm 1997 Giữa 1998 Mức thay đổi
Các nước nhận Số lượng (1000) Số lượng (1000) Số lượng (1000) %
Bên cạnh việc quan sát sự dịch chuyển lao động ở các quốc gia Đông Á,
có một cách tiếp cận khác để đo lường sự linh hoạt của lao động ở Đông Á Theo công trình nghiên cứu của Masson và Taylor (2003), nếu những người nhập cư
là để tìm việc và việc di chuyển lao động sẽ tạo ra tỷ lệ thất nghiệp khác nhau giữa các vùng trong từng thời điểm thì có thể so sánh độ phân tán tỷ lệ thất nghiệp để đo lường sự linh hoạt của lao động Cụ thể là, ở những nơi có độ phân tán tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ có sự linh hoạt lao động lớn và ngược lại
Trang 34Bảng 1.9 cho thấy độ phân tán tỷ lệ thất nghiệp giữa các khu vực trong giai đoạn 1980-2000 Độ phân tán trung bình nhỏ nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á (1,23) và lớn nhất là ở Châu Âu (2,06) Điều này có nghĩa là Đông Á có
sự linh hoạt về lao động lớn hơn so với Châu Âu và các khu vực khác
Bảng 1.9: Độ phân tán tỷ lệ thất nghiệp ở các khu vực
Châu Âu NAFTA Châu Á
2,06
Mexico Canada
Mỹ
Trung bình
0,99 1,57 1,54
1,37
Trung Quốc Indonesia Nhật Bản Hàn Quốc Malaysia Philippin Singapore Thái Lan
Trung bình
SAARC
Pakistan Sri Lanka
Trung bình
0,72 0,99 0,81 1,36 1,97 1,61 1,11 1,25
1,23
1,18 2,52
1,85
Data source is World Development Indicators CD-ROM, World Bank, 2002
Data for all countries is from 1980-2000, except for Germany (1991-2000), Sri Lanka 2000), Mexico (1988-99) and Indonesia (1996-2000)
(1990-Nguồn: Sweta Chaman Saxena, Are Optimal Currency Areas Optimal for All? A Reassessment of the Case for Asian Monetary Union 2003
Ngoài việc dịch chuyển lao động, hiện nay ở Đông Á không có bất kỳ sự chuyển khoản tài chính (dịch chuyển vốn) nào từ quốc gia này sang quốc gia khác Sáng kiến Chiang Mai là một bước đi đúng hướng của khu vực nhưng nó vẫn chưa đủ mạnh để có thể cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính khi khu vực
Trang 35phải đối phó với các cú sốc từ bên ngoài Vì vậy, nếu xem xét trên khía cạnh tự
do lưu chuyển vốn, Đông Á vẫn chưa đáp ứng tốt tiêu chuẩn này của OCA
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên cho thấy Đông Á có khả năng điều chỉnh sự di chuyển lao động trong khu vực khi phải đối phó với các cú sốc
từ bên ngoài Điều này hàm ý rằng, Đông Á đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của OCA về sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần phải lưu ý rằng, để thỏa mãn tốt hơn nữa các điều kiện của OCA, Đông Á cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa đặc biệt là trong hợp tác tài chính - tiền tệ
1.3.2.4 Sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô
Để xem xét sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô ở khu vực Đông Á, chúng ta cần xem xét mức độ phụ thuộc và đồng bộ lẫn nhau của các biến số kinh tế vĩ mô ở các nước Đông Á Đó là các biến thể hiện sự thay đổi trong cung tiền, tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát, sự thay đổi trong giá hàng hóa, tốc độ tăng trưởng kinh tế và hoạt động xuất khẩu
Dựa trên cách phân tích bộ phận chính (Principal Component Analysis), Junichi Goto (2002), Đại học Kobe (Nhật Bản), trong công trình nghiên cứu của mình đã chứng minh là có sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô trong khu vực Đông Á Theo ông, mức độ hội tụ trong cung tiền, tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ thay đổi chỉ số giá, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế ở Đông Á về cơ bản đã tăng lên trong những năm 1990 và ngày càng tăng sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông
Á Tuy nhiên, mức độ hội tụ trong tỷ lệ lạm phát giữa các nền kinh tế Đông Á lại giảm do sự thay đổi thất thường của lạm phát trong những năm 1990 Mức độ hội tụ của tỷ giá hối đoái đối với Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Singaporevà Thái Lan đã tăng lên trong những năm
1990 nhưng mức độ đồng bộ hóa thì bị giảm đi một phần sau khủng hoảng do tỷ giá hối đoái của khu vực đã trở nên linh hoạt hơn sau khủng hoảng Mức độ hội
tụ trong hoạt động xuất khẩu ở Đông Á cũng đã tăng lên trong những năm 1990
và sau khủng hoảng tài chính Châu Á, tuy nhiên mức tăng này là không lớn
Trang 36Cùng với cách tiếp cận trên, Masahiro Kawai (2004) cũng khẳng định mức độ hội tụ các biến số kinh tế vĩ mô ngày càng tăng ở khu vực Đông Á Các hoạt động kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế Đông Á đã có sự tương quan chặt chẽ với các nước khác (ngoại trừ Trung Quốc) Bảng 1.10 cho thấy mức độ phụ thuộc các biến số kinh tế vĩ của các nền kinh tế mới nổi của Đông Á với Nhật Bản lớn hơn với Mỹ trong khi đó, mức độ phụ thuộc lẫn nhau của Mỹ và Nhật Bản là khá lớn
Bảng 1.10: Hệ số tương quan giữa các biến số kinh tế vĩ mô ở Đông Á
Nguồn: Masahiro Kawai, Regional Economic Integration and Coopration in East Asia, 2004, http://www.oecd.org/dataoecd/43/7/33628756.pdf
Tất cả các kết quả nghiên cứu trên cho thấy các chính sách kinh tế vĩ mô ở Đông Á đang ngày càng được thống nhất và đồng bộ Các biến số kinh tế vĩ mô đang ngày càng có sự phụ thuộc lẫn nhau ở Đông Á
Sau khi đối chiếu các tiêu chuẩn của OCA với khu vực Đông Á, chúng ta thấy rằng Đông Á có khả năng thiết lập một khu vực tiền tệ tối ưu Tuy nhiên,
Trang 37con đường đi tới một liên minh tiền tệ thì còn rất xa, đòi hỏi Đông Á phải nỗ lực nhiều hơn nữa Đông Á cần có sự hợp tác tài chính - tiền tệ chặt chẽ hơn nữa, tạo nền tảng cho liên kết sâu hơn về thương mại và đầu tư
tố sản xuất và sự hội tụ các chính sách kinh tế vĩ mô Các điều kiện này vừa là tiền
đề phát triển lẫn nhau (sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại là tiền đề quan trọng để các nước có phản ứng đồng đều với các cú sốc) vừa là yếu tố bổ sung cho nhau (điều kiện phản ứng đồng đều với các cú sốc và điều kiện về sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất) Chính vì vậy, các quốc gia không thể bỏ qua bất
cứ điều kiện nào khi xem xét khả năng xây dựng một OCA trong khu vực
Thứ hai, căn cứ vào mức độ hợp tác giữa các nước trong khu vực, có thể chia các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ thành 4 hình thức cơ bản như sau: 1) Chia sẻ thông tin; đối thoại chính sách; tư vấn; theo dõi và giám sát tài chính; 2) Thiết lập các cơ chế chung cho hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực; 3) Tối ưu hoá chính sách kinh tế với nội dung cơ bản là phối hợp chính sách nhằm tối đa hoá tổng phúc lợi kinh tế của những nước tham gia; 4) Thành lập liên minh tiền tệ khu vực Các hình thức này có sự phát triển, kế thừa lẫn nhau và bổ sung cho nhau nhằm hướng tới một mục tiêu cuối cùng là thành lập Liên minh tiền tệ khu vực, hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ cao nhất giữa các quốc gia trong khu vực
Thứ ba, trên cơ sở so sánh các nét tương đồng và khác biệt giữa Châu Âu
và Đông Á, đối chiếu các tiêu chuẩn của OCA vào khu vực Đông Á, ta thấy,
Trang 38Đông Á có khả năng thiết lập một khu vực tiền tệ tối ưu Tuy nhiên, con đường
đi tới một liên minh còn rất xa, đòi hỏi Đông Á phải nỗ lực nhiều hơn nữa Đông
Á cần có sự hợp tác tài chính - tiền tệ chặt chẽ hơn, tạo nền tảng cho liên kết sâu hơn về thương mại và đầu tư
Đông Á đã nhận thấy sự cần thiết phải tăng cường mối quan hệ hợp tác tài chính - tiền tệ ở khu vực và đã có những động thái để thúc đẩy hoạt động này
Cụ thể của quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á sẽ được trình bày trong chương 2
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HỢP TÁC TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ Ở ĐÔNG Á
2.1 Sự cần thiết phải hợp tác về tài chính và tiền tệ Đông Á
Hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á là một nhu cầu cần thiết trong khu vực hiện nay Nó giúp các nước trong khu vực hấp thụ được những lợi ích của toàn cầu hoá tài chính và giảm thiểu những tác động tiêu cực của chúng Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á năm 1997-1998 còn cho thấy, việc hợp tác trong lĩnh vực tài chính và tiền tệ là một nhu cầu cấp thiết Hợp tác tài chính - tiền tệ sẽ giúp các nước trong khu vực phòng và chống được khủng hoảng tài chính - tiền tệ cũng như quản lý tốt khủng hoảng khi nó xảy ra Hơn nữa, quá trình hợp tác này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình liên kết thương mại và đầu tư trong khu vực; giúp khu vực giảm thiểu sự phụ thuộc vào dòng vốn tư nhân nước ngoài ngắn hạn và bù đắp lại được những thiệt hại về phúc lợi do việc hình thành đồng tiền chung châu Âu (Euro) gây nên Cụ thể như sau:
2.1.1 Hấp thụ tối đa những lợi ích và giảm thiểu những tác động tiêu cực của
toàn cầu hoá tài chính
Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, đã khiến cho các nước phụ thuộc vào nhau nhiều hơn và nhiều vấn đề trở nên mang tính toàn cầu và khu vực (điều tiết sự di chuyển của các dòng vốn quốc tế: quản
lý nợ nước ngoài; sự bất ổn trong giá trị giữa các đồng tiền chủ chốt ) Điều này, đến lượt nó, lại khiến cho “cầu về hàng hoá công cộng quốc tế” (international public goods) gia tăng trong khi “cung” về nó lại giảm sút với việc quá trình cải tổ hệ thống tài chính - tiền tệ quốc tế diễn ra khá chậm chạp [43]
Do đó, hợp tác tài chính - tiền tệ khu vực sẽ khiến cho các chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia phù hợp hơn với những phản ứng chính sách quốc tế và bổ sung
Trang 40tích cực cho những chính sách này nhằm hấp thụ được ở mức cao nhất những lợi ích của toàn cầu hoá và giảm thiểu những tác động tiêu cực của chúng
2.1.2 Phòng, chống được khủng hoảng tài chính - tiền tệ cũng như quản lý tốt
khủng hoảng khi nó xảy ra
Mặc dù còn có nhiều tranh cãi nhưng phần lớn các nhà kinh tế đều cho rằng khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-98 nổ ra do sự đảo ngược mạnh của các dòng vốn và hiệu ứng lây lan Tuy những nguyên nhân mang tính cơ cấu của khủng hoảng là rất khác nhau nhưng có rất nhiều yếu tố chung gây ra khủng hoảng ở các nước như: hệ thống tài chính - ngân hàng yếu kém (cho vay quá mức, nợ khó đòi cao; nợ nước ngoài lớn; sai lệch tiền tệ và tỷ giá…); quản lý công ty yếu và những sai lầm trong việc quản lý dòng vốn tư nhân nước ngoài
Có thể nói, về bản chất, khủng hoảng là kết quả của sự tương tác giữa quá trình toàn cầu hóa tài chính và những yếu kém cơ cấu nội địa
Điều này cho thấy, việc phòng, chống khủng hoảng đòi hỏi những giải pháp mang tính khu vực Đó là, chia sẻ thông tin, đối thoại chính sách, tham khảo, giám sát và kiểm soát khu vực Bên cạnh đó, khu vực cần phát triển hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện các dấu hiệu bất thường trong khu vực kinh tế
vĩ mô, đối ngoại và tài chính Với một cơ chế giám sát hiệu quả, mỗi nền kinh tế trong khu vực sẽ phải chịu các sức ép kiểm điểm ngang hàng khi theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách cơ cấu đã được thông qua nhằm tạo sự ổn định trong cán cân bên ngoài và tiền tệ
Ngoài ra, khu vực cần tham khảo chính sách nhằm hướng tới ổn định tỷ giá hối đoái trong khu vực đối với các nền kinh tế có mức độ liên kết cao hoặc
hỗ trợ cho một nước khác thông qua thương mại và FDI Để duy trì sự ổn định tài chính cho các nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, khu vực cần tránh việc cạnh tranh giảm giá đồng tiền Điều này góp phần ổn định tỷ giá hối đoái, mở đầu một
cơ chế chính thức cho ổn định tỷ giá hối đoái trong khu vực hay thiết lập một đồng tiền chung khu vực