1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

116 720 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii GATS: General Agreement on Trade in Services - Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATT: General Agreement on Tariff an Trade - Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GNP: G

Trang 1

i

Lời mở đầu

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO

1.1 Vài nét về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

1.1.1 Khái quát về WTO

1.1.2 Vai trò của WTO

1.2 Những quy định thương mại của WTO

1.2.1 Những nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại

1.2.2 Các chính sách thương mại trong WTO

Chương 2: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

2.1 Mở rộng quyền hoạt động thương mại và phân cấp quản lý hoạt động thương mại

2.2 Chính sách tự do hóa thương mại

2.2.1 Giảm hàng rào thuế quan

2.2.2 Giảm các hàng rào phi thuế quan

2.2.3 Chính sách quản lý nhập khẩu

2.3 Hoàn thiện công tác quản lý vĩ mô đối với ngoại thương

2.3.1 Kiện toàn hệ thống pháp luật

2.3.2 Vấn đề chống phá giá

2.3.3 Vấn đề chống độc quyền

2.3.4 Về mua sắm của Chính phủ

Chương 3: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện các cam kết với WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam

3.1 Những cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc

3.2 Những điều chỉnh trong chính sách thương mại của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO

3.2.1 Điều chỉnh thể chế luật pháp

3.2.2 Thực hiện nhiều biện pháp, chính sách thuế thúc đẩy xuất khẩu hàng có giá trị gia tăng cao và công nghệ cao

3.2.3 Hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu, khai thác thị trường nước ngoài

3.2.4 Thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao và xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

3.2.5 Chủ động đối phó với các vấn đề tranh chấp thương mại

3.3 Những kết quả to lớn và toàn diện

3.4 Những thách thức còn tồn tại

1

7

7

7

11

14

14

17

38

38

42

42

47

50

52

52

52

53

54

62

62

67

68

70

71

71

71

72

77

Trang 2

ii

trước và sau khi gia nhập WTO

3.5.1 Thống nhất quản điểm, nâng cao nhận thức về WTO

3.5.2 Sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO

3.5.3 Thực hiện cắt giảm các hàng rào thương mại theo cam kết

3.5.4 Cải cách thể chế kinh tế thị trường

3.5.5 Cải cách Chính phủ

3.5.6 Cải cách doanh nghiệp

3.5.7 Áp dụng các biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu

3.5.8 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

3.5.9 Đối phó với các sự cố phát sinh sau khi gia nhập

3.5.10 Coi trọng ổn định chính trị, xã hội

3.5.11 Giải quyết các vấn đề an sinh xã hội

3.6 Một số nhận xét, đánh giá và những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo

3.6.1 Tiếp tục đổi mới tư duy và nhận thức

3.6.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế, phát triển các ngành nghề mới

3.6.3 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

3.6.4 Tiếp tục nâng cao năng lực thể chế và vai trò của Chính phủ

3.6.5 Ổn định kinh tế vĩ mô, đối phó với những biến cố có thể xảy ra khi gia nhập WTO

3.6.6 Ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

Kết luận

Phụ lục 1: Danh sách thành viên WTO và ngày gia nhập

Phụ lục 2: Cam kết về thuế quan hạn ngạch sản phẩm nhập khẩu

Phụ lục 3: Cam kết về thủ tiêu biện pháp thuế quan chủ yếu

Phụ lục 4: Cam kết về lĩnh vực thương mại dịch vụ

Phụ lục 5: Cam kết thuế của các Thành viên WTO mới

Phụ lục 6: Cam kết về dịch vụ của các Thành viên WTO mới

Phụ lục 7: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của một số nước thành viên mới gia nhập WTO giai đoạn 1998-2006

Danh mục tài liệu tham khảo

78

78

79

79

80

81

81

82

83

83

83

83

84

84

87

90

91

91

93

97

99

103

106

107

108

110

112

113

Trang 3

iii

GATS: General Agreement on Trade in Services - Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ

GATT: General Agreement on Tariff an Trade - Hiệp định chung về Thuế

quan và Thương mại

GNP: Gross National Product - Tổng sản phẩm quốc gia

ICC: The International Chamber of Commerce - Phòng Thương mại quốc tế

IFIA: International Federation of Inspection Agencies - Liên đoàn các công ty

kiểm hóa quốc tế

IMF: International Moneytary Fund - Quỹ Tiền tệ Quốc tế

ITO: International Trade Organization - Tổ chức Thương mại Quốc tế

MFA: Multi-Fiber Arrangement- Hiệp định Đa sợi

MFN: Most Favoured Nation - Quy chế Tối huệ quốc

MOFTEC: Bộ Ngoại thương và hợp tác kinh tế (Trung Quốc)

NT: National Treatment - Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

R&D: Research & Development - Nghiên cứu và triển khai

SPS: Sanitary and Phytosanitary Standards - Hiệp định về các biện pháp kiểm

dịch động thực vật

TBT: Technical Barries to Trade - Hiệp định về những rào cản kỹ thuật đối với

thương mại

TRIMs: Agreement on Trade-Related Investment Measures - Hiệp định về các

biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

TRIPS: Agreement on Trade-Related Aspects of Interllectual Property Rights

- Hiệp định về các Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của Sở hữu Trí tuệ

WB: World Bank - Ngân hàng Thế giới

WIPO: World Intellectual Property Organization - Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế

giới

WTO: World Trade Organizition - Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 4

1 Sự cần thiết của đề tài luận văn

Vào khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, quá trình toàn cầu hóa bước vào thời

kỳ có những thay đổi mạnh mẽ Hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước lớn đều đã điều chỉnh chính sách kinh tế để phù hợp với quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng Quá trình điều chỉnh đang tiếp tục sang những năm đầu của thế kỷ XXI Việc

tổ chức lại cơ cấu kinh tế của các nước đã và đang thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển Cũng giống như các quốc gia, Trung Quốc đã có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách thương mại của mình để thích hợp với những thay đổi đó

Sự điều chính chính sách thương mại của Trung Quốc phản ánh xu thế chung của kinh tế thế giới, đó là xu thế toàn cầu hóa kinh tế Điều này chịu sự tác động của tình hình kinh tế, chính trị quốc tế và khu vực, đó là: chiến tranh lạnh kết thúc; các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính diễn ra trong những năm 1990; sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ; nhịp độ toàn cầu hóa tăng nhanh; chính trị thế giới và quan hệ quốc tế nảy sinh những vấn đề mới… Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định:

“mục tiêu cải cách thể chế ở Trung Quốc là xây dựng thể chế thị trường xã hội chủ nghĩa” và hội nhập kinh tế thế giới Có thể nói, sự điều chỉnh chính sách thương mại ở Trung Quốc từ sau năm 1986 (thời điểm Trung Quốc nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới) là sự tiếp nối công cuộc cải cách mở cửa bắt đầu từ năm 1978 Và nhờ vậy, Trung Quốc đã có những bước tiến quan trọng mang tính đột phá trong việc điều chỉnh chính sách kinh tế, bước đầu đã xây dựng được thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới năm 2001 Để phù hợp với những yêu cầu của WTO, Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách thương mại của mình để thực thi các cam kết sau khi gia nhập WTO

Sự điều chỉnh trong chính sách thương mại nhằm đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, giải quyết những thách thức của tiến trình toàn cầu hóa đem lại Chính điều này đã đem lại cho Trung Quốc những thành công ngoài dự kiến Sau 5 năm gia nhập WTO, Trung Quốc luôn là nước có mức tăng trưởng thương mại nhanh nhất thế giới Họ trở thành nước có giá trị thương mại lớn thứ 3 sau Liên minh châu Âu (EU)

và Mỹ; Kim ngạch mậu dịch từ chỗ chiếm 40% GDP trong năm 2001, đến năm 2006 chỉ tiêu này đã chiếm tới 80%

Trang 5

Như vậy, vấn đề đặt ra là Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách của họ như thế nào từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới để đạt được những thành công như vậy? Và Việt Nam học hỏi được những gì từ kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại tạo nên sự phát triển nhanh của Trung Quốc? Đặc biệt là sau khi Việt Nam

đã trở thành thành viên chính thức của WTO (11/2006) và lộ trình thực thi các cam kết

và quy định của WTO đang là vấn đề hoàn toàn mới, đặt ra các yêu cầu cấp thiết mà

chúng ta phải quan tâm Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)” có ý nghĩa hết sức quan trọng và là một hướng nghiên cứu mới

2 Tình hình nghiên cứu

Trung Quốc hiện đang được nhìn nhận như một nền kinh tế tăng trưởng năng động nhất thế giới Vì vậy, những nghiên cứu không chỉ của các tác giả Trung Quốc mà cả trên toàn thế giới về nền kinh tế Trung Quốc nói chung, về sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Trung Quốc nói riêng là hết sức phong phú Điển hình là những công trình như:

Ở nước ngoài: Supachai Panitchpakdi và Mark L.Cliford (2002) với: “Trung

Quốc và WTO - Trung Quốc đang thay đổi, thương mại thế giới đang thay đổi”; Anderson K., Huang J., and Ianchovichina E (2004): “The impacts of WTO Accession

on Chinese Agriculture an Rural Poverty” In Battasali, Li, Martin (eds) China and the WTO: Accession, Policy Reform, and Poverty Reduction Strategies; Changhong Pei (2005), “Analysis of China’s Foreign Trade Growth and Discussion of Related Policies”, China & World Economy, Vol 13, No 2, pp 26-38 v.v…

Ở Việt Nam: Cho đến nay, đã có một số công trình viết về sự điều chỉnh chính

sách kinh tế của Trung Quốc như: “Trung Quốc gia nhập WTO Kinh nghiệm với Việt Nam” (2005), của TS Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên) ;“Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - Thời cơ và thách thức” (2004), của PGS TSKH Võ Đại Lược

(Chủ biên); Dự án VIE 01/012 của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương

(CIEM) và UNDP: “Chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc”; “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992-2010)”

(2004), của TS Nguyễn Kim Bảo (Chủ biên) v.v…

Nhìn chung, các công trình trên đã phân tích về các nhân tố đòi hỏi Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách kinh tế và tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO

Trang 6

đối với bản thân Trung Quốc trên các lĩnh vực: cải cách chính sách kinh tế vĩ mô, cơ cấu ngành kinh tế chủ chốt, khu vực doanh nghiệp, các vấn đề xã hội, hoàn thiện hệ thống luật pháp và tác động đến các nền kinh tế trên thế giới Như vậy, theo sự tìm hiểu của tác giả, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về sự điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trong quá trình từ sau khi nước này nộp đơn gia nhập WTO cho đến nay một cách chi tiết, hệ thống Mặt khác, sau khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới, việc điều chỉnh chính sách thương mại của chúng ta sao cho phù hợp với tình hình mới là điều mà không chỉ giới nghiên cứu quan tâm Do đó, luận văn này được viết với mục đích tìm hiểu những nội dung chính trong việc điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình điều chỉnh chính sách thương mại mà Việt Nam có thể tham khảo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu một số nội dung cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO Thứ hai, xem xét quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc

trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Và,

Thứ ba, trên cơ sở đó, đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi ra nhập WTO

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về quá trình điều chỉnh chính

sách thương mại của Trung Quốc

Trang 7

- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ khi Trung

Quốc nộp đơn gia nhập WTO (1986) đến khi gia nhập WTO (2001); và tư khi gia nhập

WTO đến năm 2007

- Về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu về chính sách thương mại của Trung Quốc Đại

lục chứ không nghiên cứu thêm cả chính sách thương mại của Hồng Kông, Ma Cao…

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân

tích quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc

Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp được sử dụng

nhằm làm nổi bật hiệu quả của quá trình điều chỉnh chính sách thương mại ở Trung

Quốc trước và sau khi gia nhập WTO Tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh để

cho biết Trung Quốc đã thành công đến đâu trong công cuộc điều chỉnh chính sách

thương mại và vị trí của quốc gia này trên thế giới Đồng thời, luận văn sử dụng

phương pháp thống kê, thu thập, xử lý tài liệu như là một công cụ phân tích số liệu để

minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, luận văn cũng còn sử dụng phương

pháp chuyên gia tức là tham khảo các ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đặc

biệt là các chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở hệ thống hóa quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung

Quốc trước và sau khi gia nhập WTO, bước đầu đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam

7 Nội dung và kết cấu của đề tài

Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 Chương sau

đây: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO

Trọng tâm của phần này là hệ thống hóa một số vấn đề liên quan đến những quy định

về thương mại và chính sách thương mại trong khuôn khổ của WTO

Chương 2: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để gia nhập Tổ

chức Thương mại thế giới (WTO), chương này tập trung nghiên cứu những điều chỉnh

trong hệ thống các chính sách thương mại của Trung Quốc từ khi Trung Quốc nộp đơn

gia nhập WTO (1986) đến khi Trung Quốc được kết nạp vào WTO (tháng 11/2001)

Chương 3: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện

các cam kết với WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam Trong phần này,

Trang 8

luận văn sẽ tập trung phản ánh về quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc từ sau khi gia nhập WTO (2001) và đưa ra những kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình điều chỉnh chính sách thương mại mà Việt Nam có thể tham khảo

Trang 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ WTO

1.1 Vài nét về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

1.1.1 Khái quát về WTO

1.1.1.1 Giới thiệu về WTO

Nói một cách đơn giản, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là nơi đề ra những quy định điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới Trước tiên, WTO là một khuôn khổ để đàm phán WTO là diễn đàn, nơi các quốc gia thành viên thương lượng giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ Bước giải quyết tranh chấp đầu tiên là thỏa thuận WTO ra đời từ các cuộc đàm phán và tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán Các hoạt động mà WTO đang xúc tiến hiện nay chủ yếu xuất phát từ những cuộc đàm phán diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, mang tên vòng đàm phán Uruguay, và từ những cuộc đàm phán trước đó trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Đối với những nước gặp phải những rào cản trong thương mại và muốn vượt qua chúng, thì đàm phán góp phần thúc đẩy tự do hóa thương mại Tuy nhiên WTO không chỉ tập chung vào tự do hóa thương mại, trong một số trường hợp, WTO còn đề ra những quy định ủng hộ việc duy trì rào cản thương mại, ví dụ như trong trường hợp bảo vệ người tiêu dùng hay ngăn chặn sự lan tràn của một dịch bệnh nào đó

WTO là tập hợp những quy định Nòng cốt của tổ chức là các hiệp định WTO, được phần lớn các cường quốc thương mại trên thế giới đàm phán và ký kết Những văn bản này tạo thành quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế Đó chủ yếu là những hợp đồng, theo đó chính phủ các nước cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thỏa thuận Mặc dù do các chính phủ đàm phán và ký kết, song mục tiêu của những hợp đồng này là giúp đỡ các nhà sản xuất hàng hóa, dịch

vụ cũng như các nhà sản xuất, nhập khẩu triển khai các hoạt động của mình, đồng thời vẫn cho phép chính phủ các nước đáp ứng được những mục tiêu xã hội và môi trường

Mục tiêu trọng tâm của hệ thống là góp phần tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho

tự do hóa thương mại mà vẫn tránh được những tác hại không mong muốn Đó là xóa

bỏ những rào cản, thông báo những quy định thương mại hiện hành trên thế giới cho các cá nhân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, đồng thời đảm bảo với họ rằng sẽ

Trang 10

không có thay đổi đột ngột nào trong các chính sách đang được áp dụng Nói cách khác, các quy định phải “minh bạch” và dễ dự đoán…

Và cuối cùng, WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp Đây chính là hoạt động quan trọng thứ ba của WTO Quan hệ thương mại thường làm nảy sinh những lợi ích mâu thuẫn nhau Tất cả các hiệp định, kể cả những hiệp định đã được các nước thành viên WTO đàm phán một cách kỹ lưỡng, đều cần phải được giải thích Cách tốt nhất để giải quyết chanh chấp là đưa ra một thủ tục trung gian dựa trên cơ sở pháp lý

đã thỏa thuận Đây chính là mục tiêu của quá trình giải quyết chanh chấp nêu trong các hiệp định của WTO

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm

1995, tại thời điểm đó, tổng số các Bên ký kết GATT là 128 nhưng chỉ có 76 nước

trong số này trở thành Thành viên WTO Số còn lại sau thời điểm trên mới tham gia WTO (12/1995) Hiện nay đã có 152 nước và vùng lãnh thổ tham gia tổ chức này, chiếm 97% GDP và 85% giá trị thương mại hàng hóa và 90% giá trị thương mại dịch

vụ toàn cầu Khác với GATT, trước kia chỉ bao quát thương mại hàng hóa, sau khi thành lập, WTO đã mở rộng phạm vi điều tiết hoạt động thương mại toàn cầu từ lĩnh vực chủ yếu là thương mại hàng hoá sang các lĩnh vực khác như thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và thương mại liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ…WTO thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu theo các nguyên tắc như: minh bạch hóa chính sách thương mại, đối xử tối huệ quốc, thương mại không phân biệt đối xử, đối xử quốc gia và mở của thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ để thương mại toàn cầu phát triển thông qua đàm phán Mục đích của tổ chức này là thúc đẩy tự do thương mại nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, nâng cao mức sống của người dân thông qua việc cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan; xoá bỏ các loại trợ cấp làm méo mó thương mại; nới lỏng các hạn chế về đầu tư; cho phép các dòng vốn được tự do di chuyển giữa các quốc gia… cũng như các cơ quan giải quyết các tranh chấp thương mại làm cho thương mại quốc tế minh bạch hơn và công bằng hơn

Trang 11

hàng Thế giới – World Bank – WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Money Fund – IMF), một tổ chức chung về lĩnh vực thương mại cũng được đề xuất thành lập với tên gọi Tổ chức Thương mại Quốc tế (International Trade Organization - ITO)

Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại

và Việc làm tại La Havana (Cuba) tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên, do không được tất cả các quốc hội của các nước phê chuẩn nên ITO, với tư cách là một tổ chức đã không thể hình thành Mặc dầu vậy, tinh thần cơ bản của Hiến chương ITO về điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại thông qua sự hình thành định chế thương mại quốc tế Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Từ khi ra đời (1-1-1948 với 23 nước tham gia thỏa thuận ban đầu), GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm (đến hết năm 1994) Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới Tại vòng đàm phán thứ 8 của GATT khai mạc ở Punta del Este, Urugoay – Vòng đàm phán Urugoay, bắt đầu năm 1986 và kết thúc vào năm 1994, các bên tham gia GATT đã nhất trí thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT Các nguyên tắc

và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý và mở rộng

Tuy là một hiệp định có vai trò bao trùm trong đời sống thương mại quốc tế, trong đó đề ra những nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế và những nguyên tắc

đó vẫn tồn tại cho đến ngày nay, nhưng GATT lại chưa bao giờ là một tổ chức Sự điều hành GATT khiến người ta có cảm giác đây như là một tổ chức GATT điều hành các vòng đàm phán kéo dài nhiều năm, với sự tham gia của hàng chục quốc gia từ khắp các châu lục Do tầm vóc lớn lao của nó cũng như giá trị những khối lượng thương mại mà nó điều tiết, GATT có riêng một Ban Thư ký để theo dõi, giám sát việc thực hiện Hiệp định Và để điễn tả hình thức tồn tại này của GATT, có người đã gọi GATT là một “định chế” Về điểm này, WTO không giống như GATT, vì WTO thực

sự là một tổ chức, ra đời thay thế GATT, nhằm thể chế hóa GATT, biến GATT thành một tổ chức thực sự và có cơ cấu tổ chức hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 Vì thế mà các nước tham gia GATT chỉ được gọi là các “bên kí kết”, còn các nước, các bên tổ chức và vùng lãnh thổ tham gia WTO thì được gọi là “thành viên”

Trang 12

Trong lịch sử tồn tại 47 năm của mình, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán với các nội dung cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Các vòng đàm phán của GATT Vòng đàm phán Thời gian Số nước Chủ đề đàm phán

Trị giá thương mại được tính

Bình quân cắt giảm thuế quan

Bình quân thuế quan sau đó

phá giá

Không có số

Tokyo 1973 - 79 99 Thuế quan, các biện pháp phi thuế

quan, các hiệp định khung thuế quan 2,5 tỷ USD 34% 6,3% Uruguay 1986 - 94 123

Các biện pháp phi thuế quan, dịch vụ,

sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, nông nghiệp, hàng dệt may, v.v

Nguồn: Jonh H Jackson (Phạm Việt Phương và Huỳnh Văn Thanh dịch) Hệ thống thương mại thế giới – Luật và chính sách

về các quan hệ kinh tế quốc tế NXB Thanh niên, 2001; tr.114

Trang 13

1.1.2 Vai trò của WTO

Mặc dầu khó tính toán mức độ đóng góp của WTO, nhưng có thể khẳng định rằng, sau hơn 10 năm thành lập, WTO đã có những đóng góp đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng thương mại và đầu tư, giải quyết nhiều vụ tranh chấp kinh

tế căng thẳng, góp phần ổn định thế giới Gia nhập WTO đã trở thành xu thế phổ biến đối với các nước trên thế giới

1.1.2.1 Thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng của kinh tế - thương mại toàn cầu

WTO tạo ra một môi trường chung lành mạnh cho phát triển thương mại toàn cầu

và qua đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế thế giới Thông qua việc cắt giảm thuế quan, phi thuế quan, cải cách thể chế thương mại theo hướng minh bạch, không phân biệt đối xử, nhờ đó thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động trên phạm vi toàn cầu, tạo điều kiện cho sản phẩm phát triển nhanh hơn

Trải qua 52 năm phát triển từ GATT đến WTO (1948-2000), thương mại hàng hoá thế giới tăng 6%/năm, gấp 22 lần; sản xuất hàng hoá tăng 4%/năm, gấp 7 lần; GDP bình quân đầu người tăng 2%/năm, gấp 3 lần Đặc biệt từ sau khủng hoảng tài chính ở Châu Á đến nay, thế giới đã chứng kiến một thời kỳ hồi phục kinh tế mới, như nhận định của Diễn đàn kinh tế Thế giới tổ chức tại Davos (Thuỵ Sỹ) tháng 12/2006 với mức tăng trưởng kinh tế - thương mại cao và ổn định Mức tăng trưởng kinh tế thế giới bình quân giai đoạn 2002-2005 tăng 3%/năm, thương mại tăng 6,7%/năm

Ngay sau khi kết thúc vòng đàm phán Urugoay, với sự ra đời của WTO, phạm vi điều tiết của các hiệp định WTO đã được mở rộng đáng kể WTO đã đạt được các hiệp định về tự do hoá các dịch vụ tài chính, viễn thông và các sản phẩm công nghệ thông tin – những lĩnh vực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày nay

1.1.2.2 Thể chế hóa khung khổ pháp lý, điều tiết thương mại toàn cầu

Các nguyên tắc và Hiệp định của WTO là luật chơi chung đối với các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Đây là định chế thương mại quan trọng nhất và có hiệu lực nhất hiện nay Sau năm 1995, WTO đã thể chế hoá luật chơi chung của thế giới mà trước đó chưa từng có Chính vì vậy, gia nhập WTO là xu thế chung đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi

Hiện nay có trên 40 tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, WTO là tổ chức kinh tế toàn cầu lớn nhất Ngoài 152 thành viên chính thức, WTO còn có gần 30 đối tác đang đàm phán gia nhập Như vậy, tổng số thành viên chính thức và quan sát viên WTO lên

Trang 14

tới 180 nước và vùng lãnh thổ, gần bằng số thành viên của Liên Hợp quốc (Liên Hợp quốc có 192 thành viên) Thực tế qua hơn 10 năm thành lập, đến nay WTO đã mang lại cơ hội phát triển cho các nước gia nhập, đặc biệt là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Trong WTO hiện nay có 110 thành viên là các nước đang và chậm phát triển Hầu hết các nước có nền kinh tế chuyển đổi sau khi hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ đã gia nhập WTO Các nước khác như Cộng hoà Liên bang Nga, Belarus, Kazakhstan, Uzebekistan, Lào đang đàm phán gia nhập Thực tế cải cách kinh

tế của các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy, WTO đẩy nhanh quá trình chuyển nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, làm cho các nước này nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng và tăng trưởng kinh tế nhanh

1.1.2.3 Góp phần duy trì ổn định kinh tế - chính trị thế giới

Có thể đánh giá thành công lớn nhất của WTO từ khi thành lập đến nay là góp phần duy trì sự ổn định thế giới WTO thể chế hoá các quy định điều tiết kinh tế thương mại toàn cầu theo các nguyên tắc chung do đó tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác và phát triển WTO giải quyết vấn đề này thông qua việc giải quyết các xung đột về quyền lợi kinh tế giữa các thành viên làm hạn chế tối đa khả năng xung đột về quyền lợi kinh tế dẫn tới các xung đột về quân sự như đã từng xảy ra trong nửa đầu của Thế kỷ XX Để tăng cường vai trò này, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã được ra đời và không ngừng phấn đấu hoàn thiện Số lượng các vụ kiện về tranh chấp được giải quyết thông qua WTO ngày càng tăng chứng tỏ vai trò ngày càng lớn của tổ chức này trong việc giải quyết tranh chấp thương mại toàn cầu

Một đóng góp khác của WTO đối với ổn định thế giới là phát động được vòng đàm phán Doha, trong đó dành quan tâm đặc biệt giải quyết các quyền lợi phát triển của các nước đang và chậm phát triển Sự cần thiết phải phát động vòng đàm phán mới

là do đòi hỏi của quá trình toàn cầu hoá kinh tế với những đặc trưng mới, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính châu Á; xử lý các vấn đề mới nảy sinh trong thương mại quốc tế mà vòng đàm phán trước đó chưa giải quyết được liên quan đến lợi ích của các nước đang phát triển như vấn đề trợ cấp nông nghiệp của các nước phát triển, vấn đề thuế quan đối với hàng công nghiệp, mở cửa thị trường dịch vụ, tiêu chuẩn môi trường, sở hữu trí tuệ và đầu tư…; đối phó với nguy cơ khủng hoảng kinh tế sau vụ khủng bố 11/9/2001 và sự trì trệ của nền kinh tế thế giới

Trang 15

Theo tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng WTO tháng 9/2001 tại Doha, Quatar, Vòng đàm phán Doha đã được chính thức phát động với một chương trình đàm phán

tự do hoá thương mại nhằm đáp ứng lợi ích của các nước thành viên, đặc biệt là các nước nghèo Cho tới nay, trải qua hơn 6 năm với nhiều phiên đàm phán phức tạp, các thành viên WTO vẫn chưa nhất trí về một số vấn đề trong Tuyên bố nói trên và không thể kết thúc theo dự kiến Tuy nhiên, đã đạt được một sự nhất trí về một số vấn đề nhằm tự do hoá thương mại hơn nữa, đặc biệt quan tâm đến lợi ích của các nước đang phát triển Các hội nghị Bộ trưởng của Vòng Doha cho thấy vai trò của các nước đang phát triển ngày càng được nâng cao trong các cuộc đàm phán

1.1.2.4 Một số quan điểm khác về vai trò của WTO

Hiện nay vẫn còn một số Tổ chức (như Oxfam, Các tổ chức phi chính phủ - NGOs…) có quan điểm tương đối khác về mục tiêu và đóng góp của WTO Họ cho rằng gia nhập WTO hiện nay của các nước thành viên mới là không công bằng Nước gia nhập sau luôn ở vị thế bất lợi và trên thực tế có nhiều trường hợp các nước thành viên WTO đưa ra các yêu cầu quá cao trong quá trình đàm phán Các nước phát triển đang áp dụng một số biện pháp bảo hộ, trong một số trường hợp, trái với các nguyên tắc thương mại tự do có lợi cho mình như trợ cấp nông nghiệp, tiêu chuẩn môi trường,

áp thuế chống bán phá giá…

Một số quan điểm khác cho rằng toàn cầu hoá hiện nay làm phân hoá sâu sắc hơn chênh lệch giầu nghèo, phân chia lợi ích bất bình đẳng giữa các nước và các nhóm xã hội, làm nảy sinh các vấn đề khác như ô nhiễm môi trường, xung đột văn hoá, xã hội, toàn cầu hoá hiện nay là toàn cầu hoá TBCN, phục vụ lợi ích cho các nước phát triển

Quan điểm khác nhau về toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại là một thực tế khách quan Ngay cả trong nước Mỹ, nước được coi là thành viên sáng lập WTO, đại diện cho xu thế toàn cầu hoá, hai Đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà cũng có quan điểm khác nhau về tự do hoá thương mại Trong khi, đảng Cộng hoà ủng hộ tư tưởng tự do hoá thương mại, thì đảng Dân chủ có xu hướng ủng hộ chính sách bảo hộ

Tóm lại, mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò và đóng góp của

WTO, tuy nhiên, như Peter Gallagher, tác giả cuốn sách “The first Ten Years of WTO:

1995-2005” nhận định: “Sau 10 năm thành lập, có thể thấy rõ ràng rằng, nếu không

có WTO, thị trường thế giới sẽ trở nên nhỏ bé hơn, cơ hội thương mại sẽ trở nên ít ỏi

Trang 16

hơn, sẽ có ít hơn các quốc gia thành công từ hội nhập và những nước chậm phát triển

sẽ có ít sự lựa chọn hơn cho sự phát triển của mình”

1.2 Những quy định thương mại của WTO

1.2.1 Những nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại

Các hiệp định của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lý quy định rất nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân hàng, viễn thông, thị trường công, tiêu chuẩn công nghiệp, tính an toàn của sản phẩm, quy định liên quan đến an toàn vệ sinh của sản phẩm, sở hữu trí tuệ, và còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa… Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đơn giản và cơ bản là kim chỉ nam cho tất cả các lĩnh vực này, và trở thành nền tảng của hệ thống thương mại đa biên

1.2.1.1 Thương mại không phân biệt đối xử

Quy chế tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation): đối xử bình đẳng với các nước khác

Theo các hiệp định của WTO, về nguyên tắc, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình Nếu bạn trao cho một nước nào đó một đặc quyền thương mại (ví dụ như giảm thuế nhập khẩu đối với một số các sản phẩm của nước này) thì bạn cũng phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO Đây là nguyên tắc quan trọng vì nó được quy định ngay tại điều đầu tiên của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Nguyên tắc này dùng để chỉ sự không phân biệt đối xử Cơ chế hoạt động của nguyên tắc Tối huệ quốc là: Mỗi thành viên phải đối xử với các thành viên khác trong tổ chức một cách công bằng, như những đối tác thương mại “ưu tiên nhất” Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một số ưu đãi thì nước đó phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia đều “được ưu tiên nhất”

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – National Treatment): đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (dành cho các nước khác chế độ đãi ngộ tương tự như chế độ đãi ngộ trong nước) chỉ ra rằng: hàng nhập khẩu và hàng nội địa phải được đối xử bình đẳng, ngay sau khi hàng nhập khẩu đã thâm nhập vào thị trường Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với lĩnh vực dịch vụ, thương hiệu, bản quyền, bằng sáng chế nước ngoài cũng như trong nước Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cũng được thể

Trang 17

hiện trong cả 3 hiệp định chính của WTO (Điều 3 của GATT, Điều 17 của GATS và Điều 3 của TRIPS)

1.2.1.2 Tự do hóa thương mại: từng bước và bằng con đường đám phán

Một trong những biện pháp hiển nhiên nhất nhằm khuyến khích mậu dịch là giảm bớt các rào cản thương mại, ví dụ như hàng rào thuế quan và những chiêu bài như cấm nhập khẩu hay hạn ngạch nhập khẩu nhằm hạn chế định lượng nhập khẩu Theo định kỳ, những vấn đề khác như thủ tục hành chính rườm rà và các chính sách hối đoái cũng được đưa ra xem xét Thời kỳ đầu, các vòng đàm phán của GATT chủ yếu xoay quanh vấn đề cắt giảm thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu Sang đến thập niên 1980, phạm vi đàm phán đã được mở rộng, bao trùm cả những vấn đề liên quan tới hàng rào bảo hộ phi thuế quan cản trở thương mại hàng hóa, rồi cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ

Mở cửa thị trường có thể đem lại nhiều lợi nhuận, nhưng nó cũng đòi hỏi phải

có một số điều chỉnh nhất định Các hiệp định của WTO cho phép các quốc gia thành viên từng bước thay đổi chính sách của mình, thông qua “lộ trình tự do hóa từng bước” Các nước đang phát triển thường được hưởng một thời hạn dài hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ

1.2.1.3 Dễ dự đoán: nhờ ràng buộc cam kết cùng chính sách minh bạch

Có lẽ đôi khi lời hứa không tăng thêm rảo cản cũng quan trọng không kém lời hứa giảm rào cản thương mại, bởi vì điều này giúp doanh nghiệp thấy được rõ hơn khả năng phát triển của mình trong tương lai Chính sách ổn định và minh bạch sẽ khuyến khích đầu tư, tạo việc làm; người tiêu dùng cũng tận dụng được nhiều lợi thế từ tự do cạnh tranh, nghĩa là họ có thêm nhiều cơ hội lựa chọn và được hưởng một mức giá thấp Hệ thống thương mại đa biên cụ thể hóa những nỗ lực của chính phủ các quốc gia thành viên nhằm tạo một môi trường thương mại ổn định và dễ dự đoán

Đối với WTO, việc các quốc gia thành viên thỏa thuận mở cửa thị trường hàng hóa hay dịch vụ đồng nghĩa với việc ràng buộc các cam kết Trong lĩnh vực hàng hóa, ràng buộc cam kết thể hiện ở mức ấn định mức thuế suất tối đa Hiện nay, trong lĩnh vực nông nghiệp, tất cả hàng nông sản đều được áp dụng mức thuế ràng buộc Nhờ vậy thị trường trở nên ổn định hơn rất nhiều đối với các bên đàm phán cũng như với các nhà đầu tư

Trang 18

WTO đã rất nỗ lực trong việc sử dụng nhiều biện pháp khác nhằm tăng cường tính minh bạch và ổn định Rất nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các quốc gia thành viên công bố trên phạm vi toàn quốc hoặc thông báo cho WTO những giải pháp và biện pháp được thông qua Việc thường xuyên giám sát chính sách thương mại của từng nước thành viên thông qua Cơ chế Rà soát chính sách thương mại cũng là một biện pháp nhằm tăng cường tính minh bạch trên cả bình diện quốc gia lẫn bình diện thế giới

1.2.1.4 Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng

Một số người cho rằng WTO là một thể chế mậu dịch tự do, nhưng điều này không hoàn toàn chính xác Hệ thống này cho phép áp dụng thuế nhập khẩu, thậm chí trong một số trường hợp nhất định, nó còn cho phép áp dụng một số hình thức bảo hộ khác Như vậy sẽ là chính xác hơn nếu nói rằng đây là một hệ thống những quy định nhằm đảm bảo cạnh tranh mở, bình đẳng và không có sai phạm

Những quy định liên quan đến nguyên tắc không phân biệt đối xử cũng như quy định về việc bán phá giá và trợ cấp nhằm mục tiêu đảm bảo những điều kiện thương mại bình đẳng Đối với những vấn đề phức tạp như thế này, các quy định của WTO giúp xác định trường hợp nào là bình đẳng và trường hợp nào là không bình đẳng, cũng như biện pháp trả đũa mà chính quyền có thể sử dụng, bằng cách thu thuế nhập khẩu phụ thu để

có thể bù đắp những tổn thất do các biện pháp thương mại không lành mạnh gây ra

WTO cũng có nhiều hiệp định khác nhằm tăng cường cạnh tranh bình đẳng, như trong lĩnh vực nông nghiệp, sở hữu trí tuệ và dịch vụ Hiệp định về chi tiêu chính phủ mở rộng các quy định về cạnh tranh đối với những thị trường có sự tham gia của

hàng nghìn thực thể có tư cách “chính phủ” tồn tại trong nhiều quốc gia

1.2.1.5 Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế

Hệ thống của WTO góp phần vào quá trình phát triển của các quốc gia Tuy nhiên, các nước đang phát triển cần một thời hạn linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của hệ thống Bản thân các hiệp định của WTO ngày nay cũng đều lấy lại những điều lệ của GATT trước đây, theo đó quy định việc dành một sự trợ giúp đặc biệt và các chính sách thương mại thuận lợi cho các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển và các nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn ¾ số nước thành viên của WTO Trong suốt gần tám năm hoạt động của Vòng đàm phán Urugoay, hơn 60 nước trong số các nước này đã triển khai một cách tự chủ các chương trình tự do hóa trong lĩnh vực thương mại Cũng tại vòng đàm phán này, các nước

Trang 19

đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã giữ vai trò tích cực và có trọng lượng hơn so với những vòng đàm phán trước, và hiện nay, trong khuôn khổ Chương trình Doha về phát triển, vai trò này còn được tăng cường hơn nữa

Kết thúc Vòng đàm phán Urugoay, các nước đang phát triển đã được động viên đảm đương phần lớn những nghĩa vụ thuộc phận sự của các nước phát triển Tuy nhiên, các hiệp định cũng đề ra một số thời hạn cho các nước đang phát triển, đặc biệt

là các nước nghèo có thể dần dần thích nghi trong thời kỳ chuyển đổi với những điều khoản không mấy phổ biến, và thậm chí còn khó hơn cả Hiệp định về WTO Một quyết định cấp bộ trưởng được thông qua tại các cuộc đàm phán cũng quy định rằng các nước giầu phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết cho phép hàng hóa của các nước kém phát triển thâm nhập thị trường nước mình, ngoài ra các nước kém phát triển cũng được hưởng một sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật ngày càng tăng Mới đây, các nước phát triển đã bắt đầu đồng ý miễn thuế nhập khẩu và không áp dụng hạn ngạch đối với hầu hết các sản phẩm đến từ các nước kém phát triển

1.2.2 Các chính sách thương mại trong WTO

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hoạt động dựa trên các luật lệ và thể hiện qua các hiệp định đã được đàm phán

1.2.2.1 Khái quát chung

Các hiệp định của WTO điều chỉnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và

sở hữu trí tuệ Chúng đề ra những nguyên tắc về tự do hóa và những ngoại lệ được phép

áp dụng; nêu lại cam kết của từng nước về giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác, về mở cửa và duy trì mở cửa thị trường dịch vụ; quy định thủ tục giải quyết tranh chấp; quy định các nước đang phát triển phải được đối xử đặc biệt; buộc các chính phủ phải đảm bảo minh bạch trong chính sách thương mại bằng cách thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các biện pháp được áp dụng trong nước, song song với các báo cáo định kỳ của Ban thư ký về chính sách thương mại của các nước

Các hiệp định này thường được gọi là các luật lệ thương mại của WTO và WTO thường được miêu tả là một hệ thống hoạt động dựa trên các luật lệ Luận văn sẽ tập trung phân tích các quy định thương mại của WTO trong các hiệp định của vòng đám phán Urugoay, nền tảng của toàn bộ hệ thống WTO hiện nay Hiện WTO đang tiến hành một số cuộc đàm phán bổ sung trên cơ sở những quyết định của các Hội nghị

Trang 20

Bộ trưởng, đặc biệt là Hội nghị Bộ trưởng Doha tháng 11-2001, hội nghị khởi động cho những cuộc đàm phán mới

Việc giải quyết tranh chấp dựa trên các hiệp định và cam kết cùng với việc xem xét một cách công khai các chính sách thương mại chính là nền tảng của WTO

Tóm lại, cấu trúc cơ bản của các hiệp định WTO nhằm mục đích kết hợp hài hòa sáu lĩnh vực chính (Hiệp định khung về WTO, hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp và đánh giá chính sách thương mại), được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.2: Cấu trúc các Hiệp định của WTO

Khuôn khổ

Chi tiết bổ sung Các hiệp định

khác và phụ lục liên quan đến hàng hóa

Các phụ lục liên quan đến dịch vụ

Các cam kết về mở cửa

thị trường

Danh mục cam kết của các nước

Danh mục cam kết của các nước (và các lĩnh vực được miễn áp dụng nguyên tắc MFN) Giải quyết tranh chấp Giải quyết tranh chấp

Đảm bảo sự minh bạch Kiểm tra chính sách thương mại của các nước thành viên

Một số hiệp định quan trọng khác không được nêu trong bảng trên: đó là hai hiệp định (liên quan đến máy bay dân sự và chi tiêu chính phủ), được “nhiều bên” (không phải là tất cả các thành viên của WTO) ký kết

Các hiệp định trên đôi khi được đàm phán lại và có thể được bổ sung bằng những hiệp định mới Hiện nay, nhiều hiệp định đang được đàm phán trong khuôn khổ Chương trình Doha về phát triển (chương trình được các Bộ trưởng Thương mại của các nước thành viên WTO phát động tại Doha (Qatar) vào tháng 11 – 2001)

1.2.2.2 Quy định về Thuế quan

Kết quả quan trọng nhất của Vòng đàm phán Urugoay chính là 22.500 trang danh mục cam kết của các nước đối với một số loại hàng hóa và dịch vụ cụ thể, nhất là các cam kết giảm thuế và “xác định mức thuế trần” đối với nhập khẩu hàng hóa Trong một số trường hợp, thuế quan được giảm xuống còn không Đồng thời có thêm rất nhiều mức thuế “trần”, tức là những mức thuế đã được cam kết tại WTO và các nước khó có thể nâng trở lại

Trang 21

Các nước phát triển chấp nhận giảm từng bước phần lớn thuế quan trong vòng năm năm kể từ ngày 1-1-1995 Kết quả là thuế nhập khẩu đối với sản phẩm công nghiệp của các nước này đã giảm 40%, từ trung bình 6,3% xuống còn 3,8% Và giá trị các sản phẩm công nghiệp được nhập khẩu vào các nước phát triển mà không phải chịu thuế sẽ tăng mạnh, từ mức 20% lên tới 44%

Đồng thời, số lượng sản phẩm phải chịu thuế suất cao sẽ giảm đi Nói chung, tỷ

lệ các sản phẩm nhập khẩu vào các nước phát triển phải chịu thuế suất cao hơn 15% sẽ giảm từ 7% xuống còn 5% Tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển sang các nước công nghiệp hóa đang phải chịu thuế suất trên 15% sẽ giảm từ 9% xuống còn 5%

Kết quả của Vòng đàm phán Urugoay đã được đẩy lên một bước Ngày

26-3-1997, 40 nước, chiếm hơn 92% giá trị buôn bán toàn cầu các sản phẩm công nghệ thông tin, đã thỏa thuận giảm thuế nhập khẩu và các loại thuế khác đánh vào các sản phẩm này từ lúc này đến năm 2000 (đến 2005 đối với một số trường hợp) Tương tự như đối với các cam kết thuế quan khác, mỗi nước tham gia thỏa thuận sẽ áp dụng đồng nhất cam kết của mình đối với hàng hóa nhập khẩu của tất cả các nước thành viên WTO, ngay cả với những nước thành viên chưa đưa ra cam kết

Các nước phát triển đã gia tăng số lượng hàng hóa nhập khẩu phải chịu mức thuế trần, từ 78% lên đến 99% các loại mặt hàng Các nước đang phát triển cũng tăng thêm không kém từ 21% lên tới 73% Mức tăng của các nước có nền kinh tế chuyển đổi, là từ 73% lên 98% Như vậy là đối với các doanh nhân và nhà đầu tư, thị trường

đã trở nên an toàn hơn rất nhiều

Thuế quan đánh vào tất cả các sản phẩm nông nghiệp hiện đều ở mức “trần” Hầu hết các biện pháp hạn chế nhập khẩu khác, như quota chẳng hạn, đều được chuyển thành thuế suất Đây còn được gọi là quá trình “thuế hóa”, giúp nâng cao rõ rệt khả năng dự báo đối với các thị trường sản phẩm nông nghiệp Những cam kết về mở cửa thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp cũng dẫn đến việc xóa bỏ cấm nhập khẩu đối với một số hàng hóa

Ngoài ra, các danh mục này cũng nêu lại cam kết của các nước giảm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp

1.2.2.3 Quy định về nông nghiệp

Trang 22

Vòng đàm phán Urugoay đã cho ra đời hiệp định đa phương đầu tiên về lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cam kết tiếp tục cải tổ trên cơ sở tiến hành các cuộc đàm phán mới Hiệp định này đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hướng tới lập lại trật

tự và cạnh tranh lành mạnh

Hiệp định về nông nghiệp có mục tiêu cải cách thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp và củng cố vai trò của thị trường trong việc định hướng thực thi các chính sách Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng phán đoán và mức độ an toàn cho các nước nhập khẩu cũng như cho các nước xuất khẩu

Hiệp định về nông nghiệp cho phép các chính phủ được hỗ trợ cho khu vực nông thôn, nhưng nên bằng những biện pháp tác động tối thiểu đến cạnh tranh Hiệp định cũng tỏ ra mềm dẻo đối với việc triển khai các cam kết Các nước đang phát triển không bị buộc phải giảm trợ cấp hoặc thuế suất bằng với mức của các nước phát triển

và lại có thêm thời gian để thực hiện các cam kết của mình Tại vòng đàm phán Urugoay, các nước đã thỏa thuận được về mức độ giảm trợ cấp và bảo hộ đối với sản phẩm nông nghiệp như sau:

Bảng 1.3: Mức độ giảm trợ cấp và bảo hộ sản phẩm nông nghiệp

với toàn bộ lĩnh vực (giai

đoạn được tính làm cơ sở:

1986-1990)

Xuất khẩu

Khối lượng được trợ cấp

(giai đoạn được tính làm cơ

sở: 1986-1990)

Các nước kém phát triển không phải đưa ra cam kết nào về giảm thuế hoặc giảm trợ cấp Cơ sở để tính mức độ giảm thuế là thuế suất trần trước ngày 1-1-1995, hoặc đối với những mức thuế chưa được cam kết, thì là thuế suất được áp dụng thực tế vào tháng 9-1986, khi bắt đầu vòng đàm phán Urugoay

Trang 23

Nguyên tắc mới đối với mở cửa thị trường nông nghiệp là “chỉ áp dụng thuế quan mà thôi” Trước Vòng đàm phán Urugoay, việc nhập khẩu một số hàng nông sản

bị hạn chế bởi các hạn ngạch và các biện pháp phi thuế quan khác Tuy nhiên, các biện pháp này đã được thay thế bằng thuế quan Thuế quan cho phép bảo đảm một mức bảo

hộ tương đương: nếu biện pháp trước đây sẽ làm tăng 75% giá hàng hóa trên thị trường nội địa so với giá trên thị trường thế giới, thì thuế suất mới áp dụng có thể lên đến 75% Hiệp định cũng quy định rằng những hàng hóa đã được nhập khẩu trước khi Hiệp định có hiệu lực có thể vẫn tiếp tục được nhập khẩu và, nhờ vào một hệ thống

“hạn ngạch thuế quan”, hiệp định bảo đảm sẽ không áp dụng mức thuế quá cao đối với một lượng hàng hóa nhập khẩu bổ sung nào đó

Những cam kết mới về thuế quan và hạn ngạch thuế quan được áp dụng cho tất

cả các sản phẩm nông nghiệp và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1995 Các nước tham gia Vòng đàm phán Urugoay đã thỏa thuận rằng các nước phát triển sẽ giảm trung bình 36% thuế (còn đối với thường hợp sử dụng hạn ngạch thuế quan, thì phải giảm mức thuế suất cao nhất đánh vào lượng hàng hóa vượt quá hạn ngạch) chia đều trong các năm Các nước đang phát triển sẽ giảm thuế 24% trong 10 năm

Đối với những sản phẩm trước kia bị hạn chế bằng hạn ngạch nay bị đánh thuế, các nước được phép áp dụng những biện pháp khẩn cấp đặc biệt nhằm bảo về nông dân trước việc giá cả sụt giảm đột ngột hay việc hàng nhập khẩu tăng mạnh Tuy nhiên, hiệp định cũng nêu rõ khi nào và như thế nào thì các biện pháp khẩn cấp này có thể được áp dụng (ví dụ như các biện pháp này không được áp dụng đối với hàng nhập khẩu theo chế độ hạn ngạch thuế quan)

Mặt khác, các nước buộc phải giảm bớt những biện pháp có tác động trực tiếp tới sản xuất và trao đổi hàng hóa Các nước phát triển đã chấp nhận giảm 20% trong vòng sáu năm kể từ năm 1995 Các nước đang phát triển thì cam kết giảm 13% trong vòng 10 năm Các nước kém phát triển không bị bắt buộc phải giảm

Về trợ cấp xuất khẩu, Hiệp định về nông nghiệp cấm việc trợ cấp cho xuất khẩu nông sản, trừ phi chúng được nêu rõ trong các danh mục cam kết của các nước thành viên Trong trường hợp đó, các nước sẽ bị buộc phải giảm đồng thời mức trợ cấp và khối lượng hàng hóa xuất khẩu được trợ cấp Với cơ sở là mức trợ cấp trung bình của giai đoạn 1986-

1990, các nước phát triển chấp nhận giảm 36% giá trị các khoản trợ cấp xuất khẩu trong vòng 6 năm kể từ năm 1995 (24% trong vòng 10 năm đối với các nước đang phát triển)

Trang 24

Các nước phát triển cũng thỏa thuận giảm 21% khối lượng hàng hóa xuất khẩu được trợ cấp trong vòng 6 năm (14% trong vòng 10 năm đối với các nước đang phát triển) Còn các nước kém phát triển không cần phải có bất cứ cam kết gì về vấn đề này

1.2.2.4 Các quy định về tiêu chuẩn, kỹ thuật và an toàn

Điều 20 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) cho phép các nước được can thiệp vào trao đổi hàng hóa nhằm bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người và động vật hoặc bảo tồn các loài thực vật, với điều kiện các nước không được phân biệt đối xử và không được lạm dụng nhằm bảo hộ trá hình Ngoài ra, WTO có riêng hai hiệp định điều chỉnh mức độ an toàn của lương thực, sức khỏe và sự an toàn cho các loài động thực vật, cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật đối với một số sản phẩm

Thứ nhất, các quy tắc nền tảng về vấn đề này đã được nêu trong Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS - Sanitary and Phytosanitary Standards) - một hiệp định chuyên biệt về an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ đối với động thực vật Hiệp định cho phép các nước xây dựng cho mình những tiêu chuẩn riêng song cũng quy định các tiêu chuẩn này phải có căn cứ khoa học Các quy định về

vệ sinh dịch tễ chỉ có thể được áp dụng trong chừng mực cần thiết để bảo vệ sức khỏe của con người và các loài động thực vật Hiệp định còn có các điều khoản về thủ tục kiểm tra, giám định và công nhận độ an toàn Chính phủ các nước phải thông báo trước những quy định mới hoặc được sửa đổi về vệ sinh dịch tễ mà mình sẽ áp dụng và thiết lập một cơ sở thông tin quốc gia

Thứ hai, Hiệp định về những rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT - Technical Barries to Trade) có mục đích làm sao để các quy định pháp luật, tiêu chuẩn

và quy trình thử nghiệm không gây ra những trở ngại không cần thiết

Hiệp định thừa nhận quyền của các nước được đưa ra những chuẩn mực mà họ cho

là thích hợp, chẳng hạn để bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người và động vật, để bảo tồn các loài thực vật, bảo vệ môi trường hay các quyền lợi khác của người tiêu dùng

Hiệp định cũng bao gồm một bộ luật ứng xử quy định việc soạn thảo, thông qua

và áp dụng các tiêu chuẩn của các cơ quan trung ương của các nước thành viên Trong hiệp định này còn có các quy định về cách thức các cơ quan địa phương và các tổ chức phi chính phủ được áp dụng các quy định riêng của mình: nói một cách tổng quát thì

họ phải tuân thủ các nguyên tắc được áp dụng cho các cơ quan trung ương

Trang 25

Hiệp định quy định rằng các quy trình đánh giá liệu một sản phẩm có tuân thủ các tiêu chuẩn của một nước hay không phải được tiến hành một cách công bằng và thỏa đáng Hiệp định quy định không áp dụng các phương pháp thiên vị đối với các sản phẩm trong nước Hiệp định cũng khuyến khích các nước công nhận các quy trình thử nghiệm của nhau Như thế thì một sản phẩm có thể được đưa ra thử nghiệm ngay trong nước sản xuất nhằm đánh giá xem liệu nó có tuân thủ các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu hay không

Các nhà sản xuất và xuất khẩu cần phải được biết về các tiêu chuẩn mới được ban hành tại những thị trường mà họ đang tìm cách thâm nhập Để việc tiếp cận các thông tin này được dễ dàng, các nước thành viên WTO phải thiết lập các cơ sở thông tin quốc gia

1.2.2.5 Về dệt may

Cũng giống như nông sản, hàng dệt may là một trong những nội dung đàm phán gay gắt nhất tại WTO cũng như trong hệ thống GATT trước kia Hiện nay, hàng dệt may đang ở trong giai đoạn thay đổi căn bản, trải dài trong 10 năm theo một lịch trình đã được đặt ra tại Vòng đàm phán Urugoay Hệ thống các hạn ngạch nhập khẩu, từng thống trị buôn bán trong lĩnh vực này từ đầu những năm 1960, nay đang dần được xóa bỏ

Từ năm 1974 đến cuối Vòng đàm phán Urugoay, thương mại sản phẩm dệt chịu

sự điều chỉnh của Hiệp định Đa sợi (MFA) Hiệp định này tạo khung pháp lý cho việc thiết lập các hạn ngạch nhập khẩu trên cơ sở các thỏa thuận song phương hoặc bằng các biện pháp đơn phương, nhằm hạn chế nhập khẩu vào các nước mà ngành sản xuất

có nguy cơ bị đình đốn do sự lan tràn của hàng nhập khẩu

Các hạn ngạch là phần nổi nhất của hệ thống này Chúng đi ngược lại nguyên tắc chung của GATT – đó là khuyến khích áp dụng thuế quan hơn là các biện pháp hạn chế định lượng Chúng cũng tạo nên một ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa tất cả các đối tác thương mại trong hệ thống của GATT, bởi chúng quy định rõ khối lượng hàng hóa mà nước nhập khẩu có thể chấp nhận đối với từng nước xuất khẩu

Các nước đã xây dựng một lịch trình xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu đánh vào hàng dệt may thành bốn giai đoạn trong vòng 10 năm (và đưa ngành này hòa nhập vào hệ thống các quy định của GATT), cũng như tiến trình nới rộng những hạn ngạch hiện nay

Trang 26

Bảng 1.4: Lịch trình xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với dệt may

Giai đoạn

Tỷ lệ hàng hóa phải đưa vào hệ thống GATT (kể

cả những hàng hóa mà hạn ngạch nhập khẩu bị xóa bỏ)

Hệ số gia tưng của các hạn ngạch còn lại, nếu

49% (tối đa) Xóa bỏ hoàn toàn

Công thức áp dụng trên thực tế đối với việc tăng hàng nhập khẩu chịu hạn ngạch là như sau: 0,1 x hệ số gia tăng trước năm 1995 đối với giai đoạn đầu; 0,25 x hệ số gia tăng giai đoạn 1, đối với giai đoạn 2; và 0,27 x hệ số gia tăng giai đoạn 2, đối với giai đoạn 3

1.2.2.6 Về dịch vụ

Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) là tập hợp đầu tiên và duy nhất những quy định đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ thế giới Được đàm phán trong Vòng đàm phán Urugoay, hiệp định được soạn thảo trong bối cảnh ngành dịch

vụ đạt mức tăng trưởng nhanh chóng trong vòng 30 năm qua và đang có thêm nhiều tiềm năng phát triển nhờ cuộc cách mạng thông tin

Dịch vụ là lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế thế giới; chiếm 60% sản xuất trên toàn thế giới, tạo ra 30% việc làm và chiếm gần 20% giá trị thương mại

Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) bao gồm ba phần: Văn bản

chính của hiệp định nêu ra những nghĩa vụ và quy định chung; Phần phụ lục bao gồm các quy định được áp dụng cho các lĩnh vực khác nhau; và Cam kết cụ thể của các nước nhằm đảm bảo mở cửa thị trường nội địa, kể cả những chỉ dẫn đối với trường hợp các nước tạm thời từ bỏ nguyên tắc không phân biệt đối xử, nền tảng của nguyên tắc tối huệ quốc

Trang 27

Hiệp định chung về Thương mại và dịch vụ (GATS) được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ được trao đổi trên thế giới, chẳng hạn như các dịch vụ ngân hàng, viễn thông, du lịch, các dịch vụ chuyên nghiệp…

Theo nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN), trong khuôn khổ của GATS, nếu một nước mở cửa một lĩnh vực cho cạnh tranh nước ngoài thì nước đó sẽ phải dành cơ hội đồng đều cho các nhà cung ứng dịch vụ của tất cả các nước thành viên WTO (Nguyên tắc này được áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam kết cụ thể nào về mở cửa thị trường của mình cho các công ty nước ngoài trong khuôn khổ WTO)

Cam kết của các nước về mở cửa thị trường nội địa và mức độ mở cửa trong các lĩnh vực cụ thể chính là kết quả của các cuộc đàm phán Các cam kết này được liệt

kê lại trong các “danh mục” các ngành mở cửa, mức độ mở cửa đối với mỗi ngành (những hạn chế đối với sự tham gia của đối tác nước ngoài được nêu rõ nếu cần) và các hạn chế có thể có đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia Những cam kết này được quy định rõ ràng và được “ràng buộc”: cũng giống như các mức thuế quan “trần” trong thương mại hàng hóa, các cam kết trong thương mại dịch vụ chỉ có thể được thay đổi sau khi đã thương lượng với các nước liên quan Do rất khó bị phá vỡ, các cam kết này chính là sự đảm bảo đối với điều kiện hoạt động của các nhà xuất khẩu nước ngoài, các nhà nhập khẩu dịch vụ trong nước cũng như các nhà đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ

Các dịch vụ công được loại ra khỏi hiệp định và không có quy định nào của GATS buộc các cơ quan công quyền phải tư nhân hóa các ngành công nghiệp dịch vụ GATS cũng không cấm độc quyền của Nhà nước và độc quyền của tư nhân

Ngoại lệ này tạo thành một cam kết rõ ràng từ phía các chính phủ thành viên WTO cho phép dùng công quỹ tài trợ cho các dịch vụ trong những lĩnh vực cơ bản thuộc trách nhiệm của các chính phủ Trong hiệp định, các dịch vụ công được định nghĩa là các dịch vụ được cung ứng không mang tính thương mại hay cạnh tranh với các nhà cung ứng dịch vụ khác Các dịch vụ này không chịu sự điều chỉnh của GATS, chúng không được đưa ra đàm phán, và các cam kết về mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia không được áp dụng cho các loại dịch vụ này

Theo cách tiếp cận của GATS đối với các cam kết, các nước thành viên không buộc phải đưa ra cam kết về tất cả các ngành dịch vụ Một chính phủ có thể không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh nước ngoài trong một ngành nhất định, bởi họ cho rằng đó là một chức năng cơ bản của chính phủ hoặc vì bất cứ lý do gì khác

Trang 28

Trong trường hợp này, các chính phủ chỉ tuân thủ những nghĩa vụ tối thiểu như bảo đảm sự minh bạch trong cách thức điều tiết ngành dịch vụ này và không được phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau

Theo GATS, các chính phủ phải công bố tất cả các luật, quy định phù hợp và thiết lập các điểm thông tin trong các cơ quan hành chính của mình Từ các điểm thông tin này, các công ty và chính phủ nước ngoài có thể lấy thông tin liên quan đến các quy định điều chỉnh ngành dịch vụ này hay ngành dịch vụ khác Các nước thành viên cũng phải thông báo cho WTO tất cả những thay đổi về quy định điều chỉnh các ngành dịch vụ là đối tượng của các cam kết cụ thể

1.2.2.7 Về sở hữu trí tuệ

Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền

sở hữu trí tuệ (TRIPS) được đàm phán trong Vòng đàm phán Urugoay từ năm 1986

đến năm 1994 Với hiệp định này, lần đầu tiên những quy định về sở hữu trí tuệ được đưa vào hệ thống thương mại đa biên

Các ý tưởng và tri thức đang chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong hệ thống thương mại Giá trị của các loại dược phẩm mới và các sản phẩm công nghệ cao khác nằm ở nỗ lực phát minh, cải tiến, tìm tòi, chế tạo và thử nghiệm cho phép sản xuất chúng Phim ảnh, băng đĩa nhạc, sách báo, phần mềm tin học và các dịch vụ trên mạng được mua bán nhờ vào khối lượng thông tin và tính sáng tạo đã được đưa vào các sản phẩm này, chứ không phải là nhờ các chất liệu nhựa, giấy, hay kim loại được sử dụng để sản xuất ra chúng Nhiều sản phẩm trước kia còn được xếp vào loại hàng hóa có hàm lượng công nghệ thấp thì nay lại có giá trị cao nhờ vào những phát minh và thiết kế

Các nhà phát minh sáng chế có thể có quyền không cho người khác sử dụng các sáng chế, bản vẽ, mẫu mã hay bất cứ sáng tạo nào khác của mình Họ có thể dùng quyền đó để thương lượng khoản thù lao mà họ được hưởng trong trường hợp người thứ ba muốn sử dụng các phát minh, sáng chế của họ Các quyền này được gọi là

“quyền sở hữu trí tuệ” Chúng có nhiều hình thức: bản quyền, chẳng hạn đối với các ấn phẩm sách báo, phim và tranh ảnh; bằng sáng chế; nhãn hiệu hàng hóa hoặc thương phẩm đối với tên hiệu và logo sản phẩm, v.v Chính phủ và quốc hội các nước đã trao quyền này cho các nhà phát minh sáng chế để khuyến khích họ đưa ra nhiều ý tưởng phục vụ lợi ích của toàn xã hội

Trang 29

Cũng như trong các hiệp định GATT và GATS, hiệp định TRIPS dựa trên một

số nguyên tắc cơ bản Và cũng giống như trong hai hiệp định trên, TRIPS nhấn mạnh tới nguyên tắc không phân biệt đối xử: đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc Đối xử quốc gia cũng là một nguyên tắc mấu chốt đối với các hiệp định khác về sở hữu trí tuệ được ký kết ngoài khuôn khổ WTO

Hiệp định TRIPS còn đưa ra một số nguyên tắc quan trọng khác, đó là bảo hộ

sở hữu trí tuệ phải góp phần cải tiến kỹ thuật và chuyển giao công nghệ Bảo hộ sở hữu trí tuệ phải đem lại lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, góp phần gia tăng sự no ấm về kinh tế và xã hội

Nền tảng của Hiệp định là những nghĩa vụ được nêu trong các hiệp định quốc tế

ký kết trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) trước khi WTO ra đời:

Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (văn bằng, bản vẽ công nghiệp, v.v ) Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật (quyền tác giả) Một số lĩnh vực không thuộc phạm vi điều chỉnh của hai công ước này Trong một số trường hợp, các quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ bị coi là chưa đầy đủ Hiệp định TRIPS cho phép bổ sung thêm một số lượng lớn các quy định mới, chặt chẽ hơn

Về quyền tác giả

Hiệp định TRIPS quy định các chương trình máy tính sẽ được bảo vệ như các tác phẩm văn học theo đúng Công ước Berne và nêu rõ cách thức các cơ sở dữ liệu cần phải được bảo hộ như thế nào

Hiệp định cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh của các quy định quốc tế về bản quyền tác giả đối với quyền thuê lại Tác giả của các chương trình máy tính và các nhà thu âm phải có quyền cấm cho công chúng thuê các tác phẩm của họ Độc quyền tương tự cũng được dành cho các tác phẩm điện ảnh Việc kinh doanh, cho thuê đã khiến cho các tác phẩm điện ảnh bị sao chép rất nhiều, khiến người nắm giữ quyền tác giả không thu được hết lợi nhuận mà mình đáng được hưởng

Hiệp định cũng quy định rằng người phiên dịch hoặc người biểu diễn phải có quyền ngăn không cho thu âm, sao chép và phổ biến rộng rãi các hoạt động của họ nếu không được phép ít nhất là trong vòng 50 năm Các nhà sản xuất băng đĩa cũng phải có quyền ngăn không cho sao lại các sản phẩm của họ nếu không được phép trong vòng 50 năm

Về nhãn hiệu hàng hóa hoặc thương hiệu

Trang 30

Hiệp định chỉ ra đâu là các loại dấu hiệu cần được bảo hộ như là nhãn hiệu hàng hóa hoặc thương hiệu và đâu là quyền tối thiểu cần phải dành cho chủ sở hữu Hiệp định quy định rằng các nhãn hiệu dịch vụ phải được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa Các nhãn hiệu nổi tiếng ở nước này hay nước khác cần được bảo hộ thêm

Về chỉ dẫn địa lý

Tên một địa danh đôi khi được sử dụng để nhận dạng một sản phẩm “Chỉ dẫn địa lý” này không những chỉ ra nơi sản phẩm được sản xuất, mà đặc biệt nó còn chỉ ra các đặc tính của sản phẩm có được từ nguồn gốc của nó

Việc sử dụng tên một địa danh khi sản phẩm được sản xuất ở nơi khác hoặc không có được những tính năng vốn có của sản phẩm sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh Hiệp định TRIPS quy định rằng các nước thành viên phải ngăn cấm việc sử dụng bừa bãi các tên địa danh

Đối với rượu vang và rượu mạnh, Hiệp định quy định mức độ bảo hộ cao hơn, tức là ngay cả khi không có nguy cơ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng

Bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp

Theo Hiệp định TRIPS, các bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp phải được bảo hộ

ít nhất trong vòng 10 năm Chủ sở hữu các bản vẽ được bảo hộ phải có quyền ngăn cấm việc sản xuất, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm mang hoặc có chứa hình vẽ giống với hình vẽ đã được bảo hộ

Bằng phát minh sáng chế

Hiệp định quy định các sáng chế có thể được bảo hộ thông qua bằng sáng chế trong vòng ít nhất 20 năm Cả sản phẩm lẫn phương thức sản xuất được bảo hộ trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ Chính phủ các nước có thể từ chối cấp bằng sáng chế nếu việc khai thác kinh doanh chúng bị cấm vì vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức Họ cũng có thể không cấp bằng cho các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật, các loại thực vật và động vật (không phải là các vi sinh vật), các phương pháp sinh học sản xuất giống cây trồng và vật nuôi (không phải là các phương pháp vi sinh)

Hiệp định đề ra các quyền tối thiểu dành cho người sở hữu bằng sáng chế Tuy nhiên, Hiệp định cũng quy định một số ngoại lệ Có thể xảy ra trường hợp người sở hữu bằng sáng chế lạm dụng các quyền của mình, như không cung ứng sản phẩm cho thị trường Trong trường hợp đó, theo Hiệp định, chính phủ các nước có thể cấp “giấy phép bắt buộc” cho phép một đối thủ cạnh tranh được sản xuất sản phẩm này hoặc

Trang 31

được phép sử dụng quy trình sản xuất đã được bảo hộ Tuy nhiên, chính phủ các nước cũng đồng thời phải đáp ứng một số điều kiện; quy định này nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chính đáng của người giữ bằng sáng chế

Sơ đồ bố trí mạch tích hợp

Hiệp định TRIPS quy định việc bảo hộ sơ đồ bố trí mạch tích hợp trên cơ sở Hiệp định Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp Hiệp định được thông qua trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO Tuy nhiên, dù đã được thông qua vào năm 1989 nhưng hiệp định này vẫn chưa có hiệu lực Hiệp định TRIPS

bổ sung thêm một số điều khoản, chẳng hạn như mạch tích hợp phải được bảo hộ ít nhất là 10 năm

Thông tin mật và bí quyết thương mại

Bí quyết thương mại và các loại “thông tin mật khác có giá trị thương mại” phải được bảo vệ nhằm ngăn chặn việc lạm dụng lòng tin và các hành vi khác trái với nguyên tắc làm ăn trung thực Tuy vậy, cũng cần phải đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm bảo

vệ bí mật của các thông tin này Nếu được cung cấp các kết quả thử nghiệm trong quá trình cấp phép dược phẩm hoặc sản phẩm hóa học phục vụ nông nghiệp thì chính phủ phải bảo vệ các kết quả này nhằm ngăn ngừa việc khai thác thương mại bất hợp pháp

Cuộc chiến chống cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ

Chủ sở hữu bản quyền tác giả, văn bằng hoặc bất cứ quyền sở hữu trí tuệ nào khác đều có thể cho phép một người khác sản xuất hay sao chép nhãn hiệu hàng hóa hoặc thương hiệu, tác phẩm, sáng chế, bản vẽ hoặc các mẫu mã được bảo hộ Hiệp định công nhận rằng trong số các điều kiện của hợp đồng chuyển giao, người chủ sở hữu có thể hạn chế cạnh tranh hoặc cản trở việc chuyển giao công nghệ Hiệp định quy định chính phủ các nước, trong một số điều kiện nhất định, có quyền áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa hành vi phản cạnh tranh và lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực nhượng bản quyền Hiệp định cũng quy định chính phủ các nước phải sẵn sàng tham khảo nhau nhằm chống lại các hành vi này

1.2.2.8 Về các biện pháp chống phá giá, trợ cấp, tự vệ

Xác định mức thuế quan trần và áp dụng chúng một cách bình đẳng giữa tất cả các đối tác thương mại giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của thương mại hàng hóa Các hiệp định của WTO khẳng định những nguyên tắc này, nhưng cũng đồng thời cho phép

có một số ngoại lệ trong hoàn cảnh nhất định, đặc biệt là trong ba trường hợp sau:

Trang 32

Các biện pháp chống bán phá giá

Trợ cấp và thuế “đối kháng” đặc biệt nhằm vô hiệu hóa tác dụng của trợ cấp Các biện pháp khẩn cấp tạm thời hạn chế nhập khẩu nhằm “cứu vãn” các ngành sản xuất trong nước

Thứ nhất, các biện pháp chống bán phá giá

Nếu một doanh nghiệp xuất khẩu một sản phẩm với mức giá thấp hơn mức giá

mà doanh nghiệp áp dụng trên thị trường nội địa thì người ta gọi đó là phương thức bán “phá giá” Liệu đó có phải là một kiểu cạnh tranh không lành mạnh hay không? Quan điểm của các nước rất khác nhau về vấn đề này, nhưng chính phủ nhiều nước đang đưa ra những biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ các ngành sản xuất trong nước của mình Hiệp định của WTO về chống phá giá không nêu quan điểm về vấn đề này Hiệp định chủ yếu nhằm xác định khi nào thì các nước có thể và không thể có biện pháp trả đũa hành vi phá giá; hiệp định đề ra các quy định điều chỉnh các biện

pháp chống phá giá; hiệp định thường được gọi là “Hiệp định chống phá giá”

Hiệp định của WTO về chống phá giá cho phép chính phủ các nước có biện pháp chống phá giá khi ngành sản xuất trong nước thực sự bị thiệt hại do việc bán phá giá Muốn vậy, chính phủ các nước có liên quan phải chứng minh được là có hành vi bán phá giá, tính được quy mô bán phá giá (giá xuất khẩu thấp hơn giá lưu hành thị trường nội địa của nước xuất khẩu như thế nào) và chứng minh được rằng việc bán phá giá đang gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại

Các nước có thể áp dụng nhiều phương pháp tính toán khác nhau để biết liệu một sản phẩm bị phá giá nhiều hay ít Hiệp định chỉ cho phép ba phương pháp tính toán “giá trị thông thường” của một sản phẩm, phương pháp chính dựa trên mức giá được áp dụng trên thị trường của nước xuất khẩu Nếu phương pháp này không áp dụng được thì có thể sử dụng hai cách sau: hoặc dựa trên mức giá mà nhà xuất khẩu áp dụng tại một nước khác; hoặc tính mức giá theo chi phí sản xuất, các chi phí khác và mức lợi nhuận thông thường của nhà xuất khẩu Hiệp định cũng quy định rõ làm thế nào để so sánh một cách công bằng mức giá của nhà xuất khẩu với mức giá có thể được coi là bình thường Hiệp định quy định chi tiết các thủ tục liên quan tới việc khởi kiện việc bán phá giá, cách thức tiến hành điều tra và những điều kiện phải tuân thủ nhằm bảo đảm cho tất

cả các bên liên quan quyền được đưa ra các bằng chứng có lợi cho mình Các biện pháp

Trang 33

chống phá giá phải chấm dứt sau năm năm kể từ ngày đưa vào áp dụng, trừ phi có một cuộc điều tra khác chứng minh rằng việc bãi bỏ biện pháp này có thể gây ra thiệt hại Hiệp định còn quy định rằng các nước thành viên phải báo cáo nhanh chóng và chi tiết tất cả các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hoặc lâu dài lên Ủy ban về các hành vi bán phá giá Các nước cũng phải gửi báo cáo mỗi năm hai lần về tất cả các cuộc điều tra chống phá giá Trong trường hợp có tranh chấp, các nước thành viên được khuyến khích tiến hành tham vấn lẫn nhau Họ cũng có thể sử dụng quy trình giải quyết tranh chấp của WTO

Thứ hai, trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Hiệp định này có chức năng kép: thiết lập kỷ cương đối với trợ cấp của các quốc gia, và quy định các biện pháp mà các nước có thể áp dụng nhằm bù đắp các hậu quả của trợ cấp Hiệp định quy định rằng: một nước có thể sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO để đòi nước khác phải chấm dứt trợ cấp hoặc loại bỏ những hệ quả bất lợi của trợ cấp Nước này cũng có thể tự mở điều tra và trên cơ sở đó, có thể áp đặt một mức thuế bổ sung (được gọi là “thuế đối kháng”) đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp mà nước nhập khẩu cho rằng đã gây thiệt hại cho ngành sản xuất nước mình Hiệp định quy định một số biện pháp chế tài giống với Hiệp định chống phá giá Nếu nước nhập khẩu đã tiến hành một cuộc điều tra chi tiết tương tự như điều tra đối với các biện pháp chống phá giá, thì nước đó có thể áp dụng thuế đối kháng Hiệp định

có các quy định chi tiết giúp xác định liệu có tồn tại hoạt động trợ cấp hay không Các tiêu chí được áp dụng nhằm xác định liệu việc nhập khẩu hàng được trợ cấp có gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, các thủ tục cần tuân thủ nhằm mở và tiến hành các cuộc điều tra cũng như việc áp dụng và thời gian áp dụng (thường tối đa là năm năm) các biện pháp đối kháng Nhà xuất khẩu được trợ cấp cũng có thể thỏa thuận tăng giá xuất khẩu để tránh bị đánh thuế đối kháng

Trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển và trong quá trình chuyển đổi của các nước từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường Những nước kém phát triển và đang phát triển mà tổng hợp thu nhập quốc dân (GNP) trên đầu người thấp hơn 1000 USD một năm không phải chịu chế tài khi áp dụng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu bị cấm Các nước đang phát triển khác có thời hạn đến năm

2003 để chấm dứt trợ cấp xuất khẩu Cho tới năm 2003, các nước kém phát triển sẽ phải chấm dứt các khoản trợ cấp nhằm thay thế hàng nhập khẩu (tức trợ cấp để giúp ngành

Trang 34

sản xuất trong nước và để tránh phải nhập khẩu); các nước đang phát triển khác phải thực hiện việc này muộn nhất là năm 2000 Các nước đang phát triển vẫn được hưởng đối xử ưu đãi khi hàng xuất khẩu của họ đang bị điều tra để áp dụng thuế đối kháng

Thứ ba, các biện pháp tự vệ

Hiệp định về các biện pháp tự vệ của WTO quy định rằng các nước thành viên sẽ không tìm cách áp dụng, sẽ không áp dụng và cũng không duy trì các biện pháp tự hạn chế xuất khẩu, các thỏa thuận thương mại hóa được sắp đặt hay tất cả các biện pháp tương tự khác đánh vào thuế nhập khẩu

Để có thể lý giải cho việc áp dụng biện pháp tự vệ, hàng nhập khẩu phải tăng mạnh thực sự (tăng tuyệt đối), hoặc đơn thuần là tăng thị phần trên một thị trường đang giảm sút, ngay cả khi khối lượng nhập khẩu không tăng (tăng tương đối)

Các ngành sản xuất hoặc các doanh nghiệp có thể yêu cầu chính phủ nước mình

áp dụng biện pháp tự vệ Hiệp định tự vệ đề ra các quy định liên quan tới quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ Hiệp định nhấn mạnh tới tính minh bạch và sự tuân thủ luật lệ và các thực tiễn sẵn có, cũng như sự cần thiết phải tránh các phương pháp tùy tiện Cơ quan điều tra phải thông báo công khai

sẽ tổ chức các cuộc điều trần vào thời điểm nào và tạo cho các bên liên quan những điều kiện cần thiết cho phép họ đưa ra bằng chứng, nhất là các lập luận cho thấy việc

áp dụng các biện pháp tự vệ có phù hợp với lợi ích chung hay không

Hiệp định đề ra các tiêu chí phải tuân theo khi xác định có tồn tại hay không thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng và chỉ rõ các yếu tố cần tính đến khi đánh giá tác động của nhập khẩu đối với sản xuất trong nước Một biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng trong phạm vi cần thiết để ngăn ngừa, khăc phục thiệt hại nghiêm trọng và tạo điều kiện cho ngành sản xuất trong nước điều chỉnh cơ cấu Khi các hạn chế định lượng được áp dụng thì về nguyên tắc chúng không được phép kéo lượng hàng nhập khẩu xuống dưới mức trung bình của ba năm tiêu biểu gần nhất (và cũng là ba năm có đầy đủ số liệu thống kê), trừ phi nước nhập khẩu chứng minh được

rõ ràng rằng điều đó là cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng

Về nguyên tắc, các biện pháp tự vệ không được đánh vào hàng xuất khẩu của một nước cụ thể Tuy nhiên, Hiệp định chỉ rõ phương thức phân chia hạn ngạch giữa các nước xuất khẩu, kể cả trong trường hợp đặc biệt, khi hàng hóa nhập khẩu từ một số nước tăng với tốc độ quá nhanh Một biện pháp tự vệ không được áp dụng quá bốn năm Tuy nhiên, thời hạn này có thể được kéo dài tới tám năm, nếu cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xác định rằng biện pháp này vẫn cần thiết và họ có bằng chứng cho

Trang 35

thấy ngành sản xuất trong nước đang tiến hành điều chỉnh cơ cấu Các biện pháp tự vệ dài hơn một năm phải được nới lỏng dần dần Hiệp định còn quy định rằng nước hoặc các nước xuất khẩu có thể yêu cầu được bồi thường thông qua con đường tham vấn Nếu các bên không đi đến thỏa thuận thì nước xuất khẩu có thể áp dụng các biện pháp trả đũa tương đương

Xuất khẩu của các nước đang phát triển được hưởng một mức bảo vệ nhất định khỏi các biện pháp tự vệ Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa của nước đang phát triển nào chiếm hơn 3% thị trường nhập khẩu mặt hàng đó của nước đó hoặc của các nước đang phát triển thành viên của WTO chiếm tổng cộng hơn 9% thị trường nhập khẩu hàng hóa đó, cho dù bản thân mỗi nước chỉ chiếm chưa đầy 3%

Ủy ban về tự vệ của WTO giảm sát việc triển khai hiệp định cũng như sự tôn trọng cam kết của các nước thành viên Các nước thành viên phải thông báo để Ủy ban xem xét tất cả các giai đoạn điều tra cũng như các quy định về việc áp dụng biện pháp tự vệ

1.2.2.9 Về các rào cản phi thuế quan

Có nhiều Hiệp định điều chỉnh những vấn đề kỹ thuật, hành chính hoặc pháp lý gây trở ngại cho thương mại:

Cơ chế giấy phép nhập khẩu

Các quy định về định giá hải quan đối với hàng hóa

Kiểm hóa trước khi xuất

Một số loại giấy phép khác không phải mặc nhiên được cấp Hiệp định nhằm mục tiêu giảm thiểu gánh nặng mà các thủ tục xin cấp phép gây ra đối với nhà nhập khẩu, làm sao để việc quản lý cơ chế cấp phép không tự nó góp phần hạn chế hoặc gây sai

Trang 36

lệch cho hoạt động nhập khẩu Các cơ quan hữu quan không được xem xét một đơn xin cấp phép quá 30 ngày hoặc 60 ngày nếu tất cả các đơn được xét cùng một lúc

Thứ hai, các quy chế về xác định giá trị hải quan đối với hàng hóa

Đối với nhà nhập khẩu, quy trình xác định giá trị hải quan đối với một sản phẩm

có thể gây nhiều rắc rối tương tự như quy trình thu thuế Hiệp định WTO về định giá hải quan nhằm mục đích xây dựng một hệ thống xác định giá trị hải quan của hàng hóa một cách công bằng, thống nhất và khách quan, phù hợp với các thực tiễn thương mại

và ngăn cấm việc sử dụng những mức giá tùy tiện hay giả định Hiệp định đưa ra một loại các quy định về giá, đồng thời mở rộng và làm rõ những điều khoản tương đương

có trong Hiệp định GATT ban đầu

Theo một quyết định cấp Bộ trưởng được thông qua tại Vòng đàm phán Urugoay về vấn đề này, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu cung cấp thêm thông tin nếu họ có lý do

để nghi ngờ về tính chính xác của giá trị hàng hóa nhập khẩu được khai báo Sau khi nhận được hóa đơn chứng từ bổ sung, nếu có lý do nghi ngờ, thì cơ quan hải quan có thể cho rằng giá trị của hàng hóa nhập khẩu không thể được xác định trên cơ sở giá trị khai báo

Thứ ba, kiểm hóa trước khi xuất

Kiểm hóa trước khi xuất là một thực tiễn thương mại, trong đó nước nhập khẩu yêu cầu các công ty chuyên môn tư nhân kiểm định hàng hóa được nước ngoài đặt hàng, chủ yếu là về giá cả, chất lượng và số lượng, trước khi xuất Hệ thống này thường được chính phủ các nước đang phát triển sử dụng Nó nhằm mục đích bảo vệ lợi ích tài chính quốc gia (chẳng hạn, nhằm ngăn chặn chảy vốn ra nước ngoài, gian lận thương mại và trốn thuế) và bù đắp cho những lỗ hổng trong cơ cấu hành chính

Hiệp định về kiểm hóa trước khi xuất thừa nhận rằng các nguyên tắc và nghĩa vụ

của GATT được áp dụng cả cho hoạt động của các cơ quan kiểm hóa được các chính phủ ủy quyền Các chính phủ (được gọi là “người sử dụng dịch vụ kiểm hóa”) phải làm sao để các cơ quan này tiến hành kiểm hóa một cách không phân biệt đối xử và minh bạch, bảo vệ được thông tin mật về thương mại, tránh những chậm chễ không đáng có, tuân thủ những chỉ thị cụ thể về kiểm tra giá cả và tránh xung đột lợi ích Đặc biệt, các nước xuất khẩu là thành viên của WTO phải có nghĩa vụ không được áp dụng một cách phân biệt đối xử luật và quy định trong nước đối với những “người sử dụng”, công bố không chậm chễ các luật và quy định này và hỗ trợ về mặt kỹ thuật khi được yêu cầu Hiệp định đề ra một cơ chế xem xét độc lập các tranh chấp Cơ chế này do Liên đoàn các công ty kiểm hóa quốc tế (IFIA), đại diện cho các công ty kiểm hóa, và

Trang 37

Phòng Thương mại quốc tế (ICC), đại diện cho các nhà xuất khẩu, phối hợp điều hành

Cơ chế có mục đích giải quyết tranh chấp giữa nhà xuất khẩu và công ty kiểm định

Thứ tư, các “quy tắc xuất xứ” là các tiêu chí được áp dụng để xác định nơi mà

sản phẩm được sản xuất Chúng là một yếu tố cơ bản đối với các luật lệ thương mại bởi vì có một số biện pháp dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu: hạn ngạch, thuế quan ưu đãi, biện pháp chống bán phá giá, thuế đối kháng (được thu để bù đắp những thiệt hại do trợ cấp xuất khẩu gây ra) Các quy tắc xuất xứ cũng được dùng

để thống kê thương mại và tạo các nhãn mác dán trên sản phẩm

Hiệp định về các quy tắc xuất xứ buộc các nước thành viên WTO phải làm sao để

các quy tắc xuất xứ của họ bảo đảm được tính minh bạch; để các quy định này không hạn chế, bóp méo hoặc làm rối loạn hoạt động thương mại quốc tế; để chúng được triển khai một cách đồng bộ, thống nhất, công bằng và thỏa đáng; và để chúng được xây dựng trên nền tảng là một tiêu chí tích cực (nói một cách khác, các quy định này

nhằm xác định khi nào thì xuất xứ của một sản phẩm được công nhận, chứ không phải

để xác định khi nào thì nó không được công nhận)

Thứ năm, các biện pháp liên quan tới đầu tư

Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) chỉ được

áp dụng cho các biện pháp gây ảnh hưởng đến trao đổi hàng hóa Hiệp định thừa nhận một số biện pháp có thể gây hạn chế hoặc bóp méo thương mại Hiệp định quy định rằng không một thành viên nào được phép áp dụng những biện pháp phân biệt đối xử đối với người hoặc hàng hóa nước ngoài (tức là vi phạm nguyên tắc “đối xử quốc gia” của GATT) Hiệp định cũng cấm áp dụng các biện pháp đầu tư làm hạn chế khối lượng trao đổi Theo đó, các nước thành viên phải thông báo cho các nước khác, thông qua WTO, tất cả các biện pháp đầu tư nào không phù hợp với hiệp định Các biện pháp này cần bị loại bỏ trong thời hạn hai năm đối với các nước phát triển (tức tới cuối năm 1996), năm năm đối với các nước đang phát triển (tới cuối năm 1999) và bảy năm đối với các nước kém phát triển Tháng 7-2001, Hội đồng về thương mại hàng hóa đã nhất trí kéo dài giai đoạn chuyển tiếp này đối với một số nước đang phát triển có yêu cầu

1.2.2.10 Các hiệp định nhiều bên: dành cho một nhóm nhỏ các nước

Về nguyên tắc, các nước thành viên của WTO đều phải tuân thủ các hiệp định của WTO Tuy nhiên, sau khi kết thúc Vòng đàm phán Urugoay, vẫn còn bốn hiệp định được đàm phán từ Vòng đàm phán Tokyo chỉ áp dụng cho một nhóm nhỏ những nước ký kết và được biết đến dưới cái tên “các hiệp định nhiều bên” Những hiệp định

Trang 38

khác của Vòng đàm phán Tokyo đều trở thành các công cụ pháp lý đa phương có tính ràng khi Tổ chức Thương mại thế giới được thành lập vào năm 1995 Bốn hiệp định nhiều bên đề cập các vấn đề sau:

Mua bán máy bay dân sự

Chi tiêu chính phủ

Sản phẩm sữa

Thịt bò

(Hai hiệp định cuối cùng đã bị hủy bỏ vào năm 1997)

Thứ nhất, hiệp định về mua bán máy bay dân sự có hiệu lực từ ngày 1-1-1980

Hiệp định quy định xóa bỏ thuế nhập khẩu đánh vào tất cả các loại máy bay không phải là máy bay quân sự cũng như vào các sản phẩm liên quan khác: động cơ máy bay dân sự, linh kiện và phụ tùng của động cơ, tất cả các bộ phận và linh kiện của máy bay dân sự cũng như các thiết bị dạy bay, bộ phận, phụ tùng và linh kiện của thiết bị Hiệp định đề ra các quy định liên quan đến việc mua sắm máy bay dân sự của các cơ quan công quyền, các ưu đãi mua cũng như hỗ trợ tài chính mà các chính phủ dành cho ngành sản xuất máy bay dân sự

Thứ hai, chi tiêu chính phủ: mở cửa cho cạnh tranh

Hiệp định về chi tiêu chính phủ ban đầu được đàm phán tại Vòng đàm phán

Tokyo và có hiệu lực vào ngày 1-1-1981 Mục tiêu của Hiệp định là mở cửa nhiều nhất (có thể được) thị trường chi tiêu chính phủ cho cạnh tranh quốc tế Hiệp định nhằm mục đích làm sao để các luật, quy định, thủ tục và thực tiễn trong chi tiêu chính phủ trở nên minh bạch hơn, không bảo hộ cho các sản phẩm hoặc nhà cung ứng trong nước hoặc dẫn tới sự phân biệt đối xử đối với các sản phẩm và nhà cung ứng nước ngoài Một mặt, Hiệp định chứa đựng những quy định và nghĩa vụ chung, mặt khác, bao gồm danh sách các thực thể nhà nước của tất cả các nước thành viên chịu trách nhiệm chi tiêu chính phủ trong những lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Phần lớn các quy định và nghĩa vụ chung có liên quan tới các thủ tục gọi thầu

Hiệp định này và các cam kết liên quan đã được đàm phán tại Vòng đàm phán Urugoay Sau các cuộc đàm phán, phạm vi điều chỉnh của Hiệp định đã tăng lên gấp bội với việc mở cửa thị trường chi tiêu của trung ương và địa phương cho cạnh tranh quốc tế Hiệp định mới cũng mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ (kể cả các dịch vụ xây

Trang 39

dựng), các khoản chi tiêu của các chính quyền dưới cấp trung ương và các khoản chi tiêu phục vụ cho các dịch vụ công ích Hiệp định mới đã có hiệu lực từ ngày 1-1-1996 Ngoài ra, Hiệp định còn tăng cường các quy định bảo đảm không phân biệt đối

xử và cạnh tranh quốc tế lành mạnh Ví dụ, các chính phủ thành viên phải xây dựng các thủ tục trong nước cho phép những nhà bỏ thầu tư nhân nào cho rằng mình bị thiệt thòi được đâm kiện các quyết định giao thầu và được bồi thường nếu như các quyết định này trái với các quy định của hiệp định

Tóm lại, kể từ khi ra đời, WTO đã cho thấy vai trò to lớn của mình Tôn chỉ của WTO là “nâng cao mức sống, đảm bảo đầy đủ việc làm, nâng cao mạnh mẽ và chắc chắn thu nhập thực tế và nhu cầu hiệu quả, mở rộng sản xuất, thương mại và dịch vụ, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu, tăng cường sử dụng đầy đủ các nguồn lực của thế giới, bảo vệ và giữ gìn môi trường và dùng mọi phương thức cần thiết để phù hợp với những trình độ phát triển kinh tế khác nhau, tăng cường áp dụng hàng loạt biện pháp tương ứng Đồng thời, phải tích cực nỗ lực để đảm bảo cho các nước đang phát triển, nhất là các nước chậm phát triển nhất giành được phần tương ứng với nền kinh tế của mình trong tăng trưởng thương mại quốc tế” Lịch sử của GATT/WTO là lịch sử của sự cam kết tự do hóa của các bên ký kết/thành viên của GATT/WTO GATT từ chỗ chỉ là một “định chế” với phạm vi điều chỉnh là lĩnh vực thương mại hàng hóa, đến sự ra đời của WTO với các hiệp định không chỉ có lĩnh vực thương mại hàng hóa

mà còn bao gồm cả các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ v.v… Giờ đây, WTO là khung khổ chưng, mọi thành viên tuân theo quy chế của WTO theo tinh thần

“có đi có lại” Những nước gia nhập sau ngày càng phải nỗ lực hòa hợp các luật pháp, chính sách của mình cho phù hợp với WTO Sau đây, luận văn nghiên cứu trường hợp Trung Quốc điều chỉnh chính sách thương mại trước và sau khi gia nhập WTO cho phù hợp với nguyên tắc và luật lệ của WTO

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC ĐỂ GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

Có thể nói, cuộc đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc là khó khăn nhất và cũng đặc biệt nhất trong lịch sử đàm phán thế giới

Trung Quốc được coi là một trong những thành viên sáng lập ra Tổ chức thương mại thế giới khi tham gia ký kết văn kiện cuối cùng về Hiệp định chung thương mại thuế quan (GATT) năm 1947 Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, năm 1950, Trung Quốc xin rút khỏi danh sách thành viên của GATT

Từ năm 1981, Trung Quốc trở thành quan sát viên của GATT Tháng 7 năm 1986, Trung Quốc chính thức yêu cầu khôi phục lại địa vị nước ký kết của Trung Quốc trong GATT Từ đây, bắt đầu những nỗ lực nhằm khôi phục vị trí của Trung Quốc ở GATT Bắt đầu từ năm 1992, công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc bước vào giai đoạn lịch sử mới, xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN thay thế cho thể chế cũ và chuẩn bị cho việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trong bối cảnh như vậy, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại cho phù hợp với tình hình mới

Cải cách chính sách thương mại của Trung Quốc nhằm hai mục đích Một là,

làm cho thương mại của Trung Quốc đáp ứng những yêu cầu của WTO (điều này được thể hiện ngay trong giai đoạn đầu đàm phán gia nhập như minh bạch hoá quy chế định giá hải quan, các thủ tục hải quan, các tiêu chuẩn về nhãn hiệu xuất xứ hàng hoá, các

văn bản tài liệu nội bộ liên quan đến hoạt động thương mại…) Hai là, làm cho nền

kinh tế Trung Quốc thích ứng và tận dụng những lợi thế của quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu Những phân tích dưới đây cho thấy, Trung Quốc đã có những cải cách hết sức mạnh mẽ trong chính sách thương mại nhằm đáp ứng những yêu cầu mở cửa nền kinh tế nói chung gia nhập WTO nói riêng

2.1 Mở rộng quyền hoạt động thương mại và phân cấp quản lý hoạt động thương mại

Cũng như bất kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nào, hoạt động thương mại quốc tế của Trung Quốc trước đây dựa trên nguyên tắc độc quyền Nhà nước Trước khi tiến hành chính sách mở cừa, Chính phủ kiểm soát tất cả các hoạt động ngoại thương Theo đó, Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động ngoại thương thông qua các doanh nghiệp Nhà nước, chỉ có các công ty được chỉ định mới có quyền tiến hành các hoạt động ngoại thương Năm 1979, cả nước chỉ có 12 công ty xuất nhập khẩu cấp

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Kim Bảo (chủ biên): “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992-2010)”. NXB. KHXH, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992-2010)”
Nhà XB: NXB. KHXH
2. Hồ An Cương (Chủ biên): “Trung Quốc – Những chiến lược lớn”. NXB Thông tấn, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc – Những chiến lược lớn”
Nhà XB: NXB Thông tấn
3. GS. Cốc Nguyên Dương (2006), “Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI: Phát triển và hợp tác”. Nghiên cứu Trung Quốc, số 1 (65) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI: Phát triển và hợp tác
Tác giả: GS. Cốc Nguyên Dương
Năm: 2006
4. Jonh H. Jackson: “Hệ thống thương mại thế giới – Luật và chính sách về các quan hệ kinh tế quốc tế”. NXB Thanh niên, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống thương mại thế giới – Luật và chính sách về các quan hệ kinh tế quốc tế”
Nhà XB: NXB Thanh niên
5. Lý Thành Huân (Chủ biên): “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc 1996-2050”. NXB Bắc Kinh 1997. Bản dịch của Viện nghiên cứu Tài chính, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc 1996-2050”
Nhà XB: NXB Bắc Kinh 1997. Bản dịch của Viện nghiên cứu Tài chính
6. Lưu Lực (chủ biên): “Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc”. NXB. KHXH, tháng 1-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc”
Nhà XB: NXB. KHXH
7. Lưu Lực: “Toàn cầu hóa kinh tế - Lối thoát của Trung Quốc là ở đâu?” NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế - Lối thoát của Trung Quốc là ở đâu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
8. TSKH. Võ Đại Lược (chủ biên): “Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – Thời cơ và thách thức”. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – Thời cơ và thách thức”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
9. Nguyễn Anh Minh: “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu sau gia nhập WTO của Trung Quốc”. Tạp chí Những vấn đề KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI, Số 7 (123) – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu sau gia nhập WTO của Trung Quốc”
10. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa XV Đảng Cộng sản Trung Quốc. Về một số vấn đề quan trọng của cải cách và phát triển doanh nghiệp quốc hữu. Bản dịch của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số vấn đề quan trọng của cải cách và phát triển doanh nghiệp quốc hữu
11. An Nguyên: “Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO”. Tạp chí Ngoại thương, Số 35 ngày 11-20/12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO”
13. Đỗ Tiến Sâm, Lê Văn Sang (chủ biên): “Trung Quốc gia nhập WTO và tác động đối với Đông Nam Á”, NXB. Khoa học xã hội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc gia nhập WTO và tác động đối với Đông Nam Á
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
14. PGS.TS. Lê Văn Sang: “Phân tích tình hình kinh tế Trung Quốc 2001-2004 và dự báo khả năng phát triển 2005-2010. Những gợi ý đối với Việt Nam”. Nghiên cứu Trung Quốc, số 4 (62) – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tình hình kinh tế Trung Quốc 2001-2004 và dự báo khả năng phát triển 2005-2010. Những gợi ý đối với Việt Nam
15. Phạm Ngọc Thạch: “Trung Quốc với việc thực thi các cam kết với WTO – Một số thách thức đối với hệ thống pháp luật”. Nghiên cứu Trung Quốc, Số 1 (47) – 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc với việc thực thi các cam kết với WTO – Một số thách thức đối với hệ thống pháp luật”
16. PGS. TS. Bùi Tất Thắng: “WTO thường thức”. NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “WTO thường thức”
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
17. Supachai Panitchpakdi & Mark L.Cliford: “Trung Quốc và WTO - Trung Quốc đang thay đổi, thương mại thế giới đang thay đổi”. NXB Thế giới, Hà Nội – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Quốc và WTO - Trung Quốc đang thay đổi, thương mại thế giới đang thay đổi”
Nhà XB: NXB Thế giới
18. TS. Lê Kim Sa: “Tác động kinh tế - xã hội của việc Trung Quốc gia nhập WTO: Tổng quan một số nghiên cứu”. Tạp chí Những vấn đề KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI, Số 8 (124) – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động kinh tế - xã hội của việc Trung Quốc gia nhập WTO: "Tổng quan một số nghiên cứu”
19. Lý Kinh Văn: “Kinh tế Trung Quốc bước vào thế kỷ XXI”. NXB. Chính trị quốc gia, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế Trung Quốc bước vào thế kỷ XXI”
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
20. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế: “Tìm hiểu Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)”. NXB Chính trị quốc gia, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)”
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
21. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương và UNDP: “Chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc”. Bộ 3 tập, NXB Giao thông vận tải, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc”
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các vòng đàm phán của GATT  Vòng đàm phán  Thời gian  Số nước  Chủ đề đàm phán - Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Bảng 1.1 Các vòng đàm phán của GATT Vòng đàm phán Thời gian Số nước Chủ đề đàm phán (Trang 12)
Bảng 1.4: Lịch trình xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với dệt may - Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Bảng 1.4 Lịch trình xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với dệt may (Trang 26)
Bảng 2.1: Thuế quan bình quân đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc giai đoạn  1985-2001 - Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Bảng 2.1 Thuế quan bình quân đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc giai đoạn 1985-2001 (Trang 45)
Bảng 3.1: Cam kết về giảm nhượng thuế quan - Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Bảng 3.1 Cam kết về giảm nhượng thuế quan (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w