1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngân sách nhà nước Mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ - gợi ý cho Việt Nam

119 781 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay nhiệm vụ phát triển KHCN là nhiệm vụ tạo ra, phổ biến và sử dụng những tri thức khoa học và công nghệ mới đã được đặt vào số những ưu tiên nhà nước chủ yếu của Mỹ trong sự phát

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- WX -

ĐỖ VŨ HIỀN ANH

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC MỸ VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ -

GỢI Ý CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ KIM CHI

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i 

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi

MỞ ĐẦU 1 

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 7 

1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN hiện đại 7

1.1.1 Tính rủi ro của nghiên cứu triển khai 7 

1.1.2 Phạm vi lĩnh vực triển khai của cuộc cách mạng KHCN đại rộng lớn và đa dạng 8 

1.1.3 Nhu cầu kết cấu hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu KHCN phải có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và ngày càng mới mẻ 9 

1.2 Những giới hạn của lực lượng thị trường 9 

1.2.1 Những khác biệt giữa thị trường và phát triển khoa học 10 

1.2.2 Mặt trái của độc quyền 10 

1.3 Cạnh tranh quyết liệt trên thị trường trong nước và thế giới, những nhu cầu về an ninh quốc gia 11 

1.3.1 KHCN đều được xem là cơ sở và động lực cho sự tiến bộ kinh tế và tiềm lực quốc gia 11 

1.3.2 Cạnh tranh ở các cấp độ ngày càng trở nên quyết liệt 12 

1.3.3 Những nhu cầu quốc phòng an ninh quốc gia 13 

1.4 Những yêu cầu của nền kinh tế rất hiện đại đã hình thành 14 

1.4.1 Chuyển đổi mô hình phát triển 14 

1.4.2 Phải có KHCN tiên tiến mới đảm bảo vị trí có lợi trong cạnh tranh quốc tế 14 

1.5 Mỹ đã có cơ sở cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao 15 

1.5.1 Sự phát triển của giáo dục và đào tạo 15 

Trang 4

1.5.2 Chính sách nhập cư và phát triển KHCN 17 

1.6 Tầm quan trọng của chính sách KHCN 17 

1.6.1 Nhận thức của xã hội và giới tinh hoa 17 

1.6.2 Chức năng của chính sách KHCN 18 

1.7 Kết luận của chương 19 

CHƯƠNG 2: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỸ 20 

2.1 Đặc điểm và nhiệm vụ chủ yếu của chính sách khoa học nghệ Mỹ 20 

2.1.1 Giai đoạn trước thập kỷ 1990 20 

2.1.2 Giai đoạn những năm 1990 22 

2.1.3 Giai đoạn sau thập kỷ 1990 25 

2.1.4 Đánh giá tổng quát về đặc điểm và nhiệm vụ chính sách KHCN qua các thời kỳ 31 

2.2 Một vài nét khái quát về đặc điểm chính sách KHCN trong ngân sách của chính phủ liên bang Mỹ 32 

2.2.1 Quy mô của chi cho R&D trong ngân sách chính phủ liên bang và trong GDP 32 

2.2.2 Đặc điểm khái quát nhà nước tài trợ cho R&D 34 

2.3 Cơ chế tài trợ ngân sách cho R&D 34 

2.3.1 Cơ chế xác định các ưu tiên của chính sách KHCN 35 

2.3.2 Cơ chế tài trợ cho R & D trong chính sách khoa học và công nghệ 41 

2.4 Đánh giá, thẩm định kết quả, sự lựa chọn ưu tiên và các chương trình, dự án 60 

2.4.1 Tầm quan trọng của vấn đề 60 

2.4.2 Tổ chức thẩm định 61 

2.5 Hoàn thiện không ngừng cơ chế hiện thực hoá chính sách KHCN – cơ chế kinh tế đổi mới công nghệ 80 

2.5.1 Đổi mới quan điểm tài trợ theo chương trình 80 

2.5.2 Hoàn thiện mối quan hệ giữa các thành viên tham gia quá trình làm R&D, những hình thức huy động vốn cho việc thực hiện chính sách KHCN 82 

2.5.3 Kích hoạt chính sách khấu hao linh hoạt vốn cố định 84 

2.6 Một số kết luận Chương 2 86 

Trang 5

CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

PHỤC VỤ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỸ VÀ MỘT

SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM 88 

3.1 Kinh nghiệm của Mỹ trong lĩnh vực sử dụng ngân sách để thực hiện chính sách KHCN Mỹ 88 

3.1.1 Về mặt quan điểm 88 

3.1.2 Về mặt thực tiễn chính sách 89 

3.2 Một số gợi ý cho VN xuất phát từ kinh nghiệm Mỹ 92 

3.2.1 Thực trạng tài trợ cho R&D của VN để thực hiện chính sách KHCN 92 

3.2.2 Một vài gợi ý cho Việt Nam xuất phát từ kinh nghiệm Mỹ về việc sử dụng ngân sách thực hiện chính sách KHCN 98 

KẾT LUẬN 100 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 103

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu

Nghĩa đầy đủ

4 FCS Federal Contract System Hệ thống hợp đồng liên bang

5 FED Federal Reserve System Hệ thống dự trữ liên bang

7 NASA National Aeronautics and

Space Administration

Cơ quan hàng không và vũ trụ quốc gia

8 NHI National Health Institute Viện sức khỏe quốc gia

9 HFS National Science Foundation Quỹ khoa học quốc gia

10 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2 Nghĩa vụ hợp đồng liên bang về nghiên cứu trong lĩnh

vực khoa học

48

Bảng 2.3 Chi R&D trong khoa học và công nghệ ở đại học và cao

đẳng theo thời giá / giá cố định (Đơn vị: triệu đô la)

49

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 230 năm độc lập (1776 thoát khỏi thống trị của đề quốc Anh) ngày nay Mỹ trở thành siêu cường quốc số một Về mặt kinh tế Mỹ ở hàng đầu về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, về GDP đầu người (43.560USD/2005)[33], có tiềm lực khoa học công nghệ (KHCN) đứng đầu trên hầu khắp các lĩnh vực quyết định của tăng trưởng, có năng suất lao động xã hội hàng đầu thế giới, có công và nông nghiệp phát triển trình độ cao, có ngành dịch vụ phát triển cao và chiếm địa vị dẫn đầu trên thị trường dịch vụ tiên tiến của thế giới (giá trị gia tăng trong GDP của công nghiệp là 22%, trong đó của công nghiệp chế biến là 14.2%, của nông nghiệp là 1.3% và của dịch vụ là 76.7%)[22] Tiến bộ KHCN là một trong những cơ sở quyết định nhất của những thành tựu vô song này Các giới xã hội Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đều thừa nhận rằng tiến bộ KHCN là

cơ sở tăng năng suất và có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao mức sống của người dân Mỹ Theo đánh giá của các nhà kinh tế Mỹ “3/4 mức tăng năng suất, trên một nửa mức tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai phục thuộc vào sự đổi mới công nghệ và những thành tựu của khoa học”[29] Lĩnh vực khoa học kỹ thuật trở thành một đối tượng tác động cực kỳ quan trọng của nhà nước Trong thực tế kể từ chiến tranh thế giới thứ hai và suốt thời kỳ sau chiến tranh nó đã được sự khuyến khích năng động và không ngừng tăng lên của nhà nước bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau Nhà nước thực sự đóng vai trò chủ yếu và quyết định sự phát triển của KHCN của nước

Mỹ, trong việc làm cho Mỹ đứng đầu thế giới trong lĩnh vực này Hiện nay nhiệm vụ phát triển KHCN là nhiệm vụ tạo ra, phổ biến và sử dụng những tri thức khoa học và công nghệ mới đã được đặt vào số những ưu tiên nhà nước chủ yếu của Mỹ trong sự phát triển kinh tế xã hội và việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược khác Việc thực hiện có kết quả nhiệm vụ này được xem là một trong những nhân tố chủ yếu nhất đảm bảo triển vọng phồn vinh của đất nước và vị thế

Trang 10

đứng đầu của Mỹ trong đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và an ninh trên quy mô quốc gia và toàn cầu Ngân sách nhà nước là một lĩnh vực then chốt được nhà nước Mỹ sử dụng nhằm tạo ra và củng cố tiềm lực khoa học và công nghệ của

Mỹ Kinh nghiệm của Mỹ trong lĩnh vực vận dụng ngân sách để thực hiện chính sách KHCN rất phong phú và được nhiều nước nghiên cứu và vận dụng

Việt Nam đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng xã hội công bằng dân chủ và văn minh Công cuộc này đang triển khai cả

về chiều rộng và chiều sâu Theo dự kiến của Chính phủ Việt Nam cũng như dự báo của nhiều cơ quan quốc tế và nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, chẳng bao lâu nữa Việt Nam sẽ đứng vào hàng các nước công nghiệp hóa có trình độ thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm trung bình (thấp) của thế giới Sự phát triển tiếp theo của Việt Nam ngày càng phải chuyển dần từ chỗ dựa vào những nhân tố phát triển theo chiều sâu ngày càng mở rộng hơn và trong tương lai sẽ phải dựa vào sự phát triển theo chiều sâu là chủ yếu như những nước tiên tiến trên thế giới Việc nghiên cứu kinh nghiệm phong phú của Mỹ trong việc vận dụng ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển KHCN thông qua việc thực hiện chính sách KHCN là một việc cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý thuyết và thực tiễn đối với nước ta Chính vì vậy, để bước đầu nghiên cứu kinh

nghiệm Mỹ, tác giả lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ mang tên “Ngân sách nhà

nước Mỹ với việc thực hiện chính sách KHCN - gợi ý cho Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dụng của đề tài luận văn ở những mức độ khác nhau Ở đây xin điểm qua một vài công trình tiêu biểu:

Công trình nghiên cứu của một tập thể tác giả do A Dynkin và

L.Nochevkina đứng đầu mang tên “Khoa học và chính sách khoa học của nhà

nước: Lý luận và thực tiễn” (Science Policy: Theoretical and Practical Issues,

Moskva, 1998)[18] đã xem xét những vấn đề tác động của nhà nước đối với công tác nghiên cứu và triển khai ở các nước tư bản phát triển nhất, bao gồm các

Trang 11

nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, EU trên các mặt lý luận, phương pháp luận và thực tiễn Công trình này có những nhận định bổ ích cho tác giả về mặt phương pháp luận tiếp cận đề tài luận văn Đặc biệt những vấn đề xác định các ưu tiên trong chính sách phát triển KHCN, lựa chọn các dự án nghiên cứu triển khai cần thiết, các phương thức cung cấp nguồn lực để thực hiện và kiểm định các kết quả nghiên cứu

Đặc biệt công trình của Nhà Trắng mang tên “Khoa học cho thế kỷ 21”

(Science for the 21 st century, Washington, 2004) [30] đã đề cập một cách toàn

diện sự phát triển của KHCN Mỹ trong quá trình lịch sử tiến vào thế kỷ 21 Công trình này đã giúp ích to lớn cho tác giả trong việc xem xem các nội dung cơ bản của luận văn trên các mặt vai trò của ngân sách nhà nước trong phát triển KHCN qua các thời kỳ lịch sử, nhất là thời kỳ từ thập kỷ cuối thế kỷ 20 đến nay, cơ chế tài trợ cho KHCN dưới các góc độ khác nhau, những vấn đề hiện nay của sự phát triển KHCN Mỹ và chính sách của chính quyền Bush hiện nay

Công trình nghiên cứu của tập thể tác giả do Nguyễn Thiết Sơn đứng đầu

mang tên “Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế” (2003) [10] đã đề cập đến bối cảnh

điều chỉnh chính sách kinh tế trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến đầu thế

kỷ 21 và các xu hướng điều chỉnh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, kinh tế đối ngoại, công nghiệp, nông nghiệp, giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, KHCN Ở chương mang tên “Điều chỉnh chính sách KHCN – cơ sở của tăng trưởng kinh tế”, các tác giả đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến đề tài luận văn ở việc xem xét các nội dung điều chỉnh chính sách KHCN của Mỹ trong các thời kỳ trước những năm 1990, dưới chính quyền Clinton và chính quyền Bush (con) nhưng những nội dung này chưa đi sâu xem xét khía cạnh khác nhau của sự vận dụng ngân sách nhà nước vào phát triển KHCN của Mỹ như phương thức lựa chọn các ưu tiên KHCN và việc hiện thực hóa các ưu tiên

ấy trong phương hướng phát triển KHCN qua các dự án cụ thể, cơ chế cấp phát nguồn tài chính dưới góc độ khác nhau trong thực tiễn Mỹ Tuy nhiên công trình này rất bổ ích đối với tác giả luận văn trong việc nhận định, đánh giá một cách khái quát xu hướng và đặc trưng cơ bản của chính sách phát triển KHCN của Mỹ

Trang 12

qua hai thời kỳ lịch sử khác nhau – trước và sau chiến tranh lạnh qua các đời tổng thống Ronald Reagan và Bush (cha) nối tiếp theo là các đời tổng tống Bill Clinton và George Bush (con)

Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí ở trong và ngoài nước đề cập một cách cập nhật về sự phát triển KHCN của Mỹ mà trong

đó có đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến sự đóng góp của ngân sách nhà nước

dưới những góc độ khác nhau Xin nêu một số bài tiêu biểu sau: “Chiến lược,

chính sách về khoa học công nghệ của Mỹ để duy trì vị trí siêu cường” (2006);

“Năng lực cạnh tranh của Mỹ trong lĩnh vực khoa học công nghệ” (2008)[2];

các bài viết về điều chỉnh chính sách KHCN của Mỹ đăng trên tạp chí “Châu Mỹ

ngày nay” các số của năm 2001 và 2002[13]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều có các nội dung liên quan trực tiếp hay gián tiếp với các nội dung của đề tài luận văn dự định ở những mức

độ khác nhau chứ không tập trung xem xét riêng vấn đề ngân sách nhà nước và vai trò của nó trong sự nghiệp KHCN phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội của

Mỹ

Ngoài ra trong danh mục các đề tài luận văn thạc sỹ và tiến sỹ ở trong nước chưa thấy có đề tài nào đề cập đến những nội dung tương tự như nội dung của luận văn mà tác giả lựa chọn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu kinh nghiệm của Mỹ trong việc sử dụng ngân sách để thực hiện chính sách KHCN như một nhân tố tạo nên một trong những cơ sở quyết định tiến bộ kinh tế xã hội và duy trì vị trí chi phối của Mỹ trong nền kinh tế thế giới Trên cơ sở nghiên cứu này, luận văn nêu lên một số gợi ý đáng lưu tâm đối với Việt Nam trong việc vận dụng ngân sách nhà nước thực hiện chính sách phát triển KHCN của đất nước ngày càng đáp ứng tốt hơn cho sự nghiệp công nghiệp

Trang 13

hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng sâu rộng, xóa đói giảm nghèo và xây dựng

xã hội dân chủ công bằng và văn minh

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn tập trung nghiên cứu vị trí của chi tiêu ngân sách cho phát triển KHCN và việc nhà nước đã sử dụng ngân sách như thế nào để thực hiện chính sách KHCN thông qua việc tài trợ cho nghiên cứu triển khai phục vụ phát triển kinh tế xã hội của Mỹ Trên cơ sở nghiên cứu này rút ra những kinh nghiệm đáng lưu ý cho Việt Nam trong lĩnh vực sử dụng ngân sách thực hiện chính sách KHCN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách KHCN qua các thời kỳ lịch sử, việc vận dụng ngân sách của nhà nước trong việc thực hiện chính sách này, trước hết là vào việc nghiên cứu, triển khai và vận dụng thành tựu KHCN vào đời sống kinh tế dưới góc độ kinh tế học nghĩa là không xem xét các khía cạnh phát triển KHCN với tính cách là KHCN, cũng không xem xét cả những vấn đề kỹ thuật kinh tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ giới hạn trong việc xem xét chính sách KHCN và việc vận dụng ngân sách nhà nước vào phát triển KHCN trong hoạt động nghiên cứu, triển khai trong giai đoạn kể từ những năm 1990 đến nay Chọn đầu những năm

1990 để làm mốc thời gian tập trung phân tích, nghiên cứu vì ở thời kỳ này, chính sách KHCN và việc vận dụng chính sách nhà nước để phát triển KHCN có những thay đổi trên nhiều mặt quan trọng (các thứ tự ưu tiên được sắp xếp lại, vai trò của các chủ thể trên lĩnh vực nghiên cứu KHCN và triển khai có những thay đổi quan trọng…)

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp hệ thống, phân tích và so sánh, đối chiếu các tài liệu khác nhau của cơ quan nhà nước chính thức Mỹ cũng như của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, kế thừa những điều phù hợp với nội dung luận văn trong những tài liệu này để có cơ sở xây dựng luận văn theo quan điểm của mình

6 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những cơ sở khoa học và thực tiến của việc sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện chính sách KHCN

- Làm rõ ngân sách nước Mỹ với việc thực hiện chính sách KHCN

- Khái quát những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn của Mỹ và những gợi ý xuất phát từ những kinh nghiệm của Mỹ cho Việt Nam trong việc sử dụng ngân sách phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai (R&D) của Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các thống kê bổ sung và danh mục tài liệu tham khảo chính, luận văn gồm những chương sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc sử dụng ngân sách Nhà

nước thực hiện chính sách khoa học công nghệ

Chương 2: Ngân sách nhà nước với việc thực hiện chính sách khoa học

công nghệ Mỹ

Chương 3: Kinh nghiệm sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ chính sách

KHCN của Mỹ và một số gợi ý cho Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Lĩnh vực nghiên cứu khoa học, triển khai và đưa vào ứng dụng (lĩnh vực R&D) các thành tựu của KHCN đã trở thành một trong những đối tượng tác động cực kỳ quan trọng của nhà nước tới sự phát triển kinh tế xã hội tại các xã hội hiện đại phát triển cao, đặc biệt là tại Mỹ Ở đây, kể từ đầu chiến tranh thế giới thứ hai và toàn bộ các thời kỳ lịch sử cụ thể sau đó đều có những điều chỉnh

về phương hướng, mục tiêu, những biện pháp và cơ chế thực hiện nhất định được thể hiện rõ trong chính sách KHCN của các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau

do những người dân chủ hay cộng hòa chiếm địa vị chi phối Từ đây nhà nước trở thành một chủ thể ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển KHCN và chính sách KHCN trở thành một trong những bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế vĩ mô và nhà nước đã dành những khoản chi ngân sách to lớn, phù hợp cho việc thực hiện chính sách này Chương này sẽ xem xét một số nhân tố quan trọng nhất tạo nên cơ sở khách quan quy định việc sử dụng ngân sách nhà nước

để thực hiện chính sách KHCN của Mỹ trong những điều kiện hiện đại

1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN hiện đại

1.1.1 Tính rủi ro của nghiên cứu triển khai

Giá trị kinh tế của các công trình nghiên cứu, triển khai thường khó có thể

dự báo chính xác, tính bất trắc là một thực tế khách quan trước các công trình nghiên cứu mới mẻ, sáng tạo về lý thuyết cũng như ứng dụng Những công trình nghiên cứu và triển khai càng phải huy động nhiều sức của, sức người thì rủi ro ngày càng lớn, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã và đang triển khai trên hầu khắp các lĩnh vực tri thức và ứng dụng thực tế Đã vậy những thành tựu khoa học, công nghệ không phải bao giờ cũng được hiện thực hóa nhanh và nhiều khi vì nhiều lý do khác nhau bị găm lại trong

Trang 16

một thời gian – đồng thời, không ít công trình nghiên cứu gặp rủi ro, không đạt được mục tiêu mong đợi

Thêm nữa, ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và sự vận dụng thực tiễn và thương mại mau lẹ những thành tựu của chúng đã khiến cho mối liên hệ giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng vừa là tiền đề vừa là điều kiện của nhau Chia sẻ rủi ro, bất trắc trong nghiên cứu khoa học, chế tạo thử nghiệm và ứng dụng thực tiễn rộng rãi, trở thành một tất yếu khách quan giữa các chủ thể hoạt động chính trong nền kinh tế hiện đại mà tiêu biểu là khu vực nhà nước, khu vực kinh doanh và học thuật trong lĩnh vực R&D Do vậy việc nhà nước tham gia vào lĩnh vực R&D trở thành tất yếu và nhiều trường hợp đóng vai trò động lực, tiên phong tùy theo tầm mứcquan trọng của phương hướng nghiên cứu và triển khai đối với sự phát triển của KHCN, của cạnh tranh hay an ninh quốc phòng

1.1.2 Phạm vi lĩnh vực triển khai của cuộc cách mạng KHCN đại rộng lớn và đa dạng

Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau đặc biệt là kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã tạo ra những bước nhảy vọt trong hầu hết khắp các lĩnh vực tri thức khoa học và công nghệ từ

lý thuyết đến thực tiễn nhờ vậy loài người đã ngày càng chuyển mạnh từ nền văn minh nông nghiệp và nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh hậu công nghiệp Bản thân việc nghiên cứu và triển khai cũng được thực hiện trên những nên tảng mới mà không một lực lượng kinh tế xã hội nào riêng biệt có thể tự mình đảm bảo được sự phát triển ngày càng sâu rộng trên toàn bộ lĩnh vực tri thức KHCN và ứng dụng thực tiễn, chỉ có phối hợp và phân công giữa nhà nước, giới kinh doanh và giới khoa học đại học mới có thể đảm bảo được sự phát triển của KHCN và ứng dụng thực tiễn trong điều kiện hiện nay

Trang 17

1.1.3 Nhu cầu kết cấu hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu KHCN phải có trình độ

kỹ thuật công nghệ cao và ngày càng mới mẻ

Thời của nghiên cứu khoa học được thực hiện chỉ trong các phòng thí nghiệm riêng biệt với những ống nghiệm, cân tiểu ly, những dụng cụ thủ công đã qua rồi Hoạt động KHCN ngày nay không chỉ đơn thuần là công việc của những nhà khoa học riêng rẽ với những công cụ đơn giản này Cuộc cách mạng KHCN hiện đại đòi hỏi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội phục vụ R&D phải được hiện đại hoá và ở những lĩnh vực cần thiết (như công nghệ tự động hoá, công nghệ điện – điện tử, công nghệ vật liệu, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng…) phải được trang bị công cụ hiện đại ở trình độ cao, những nguồn nhân lực tham gia thực hiện R&D phải được đào tạo bài bản và có chất lượng đảm bảo riêng cho lĩnh vực R&D cũng như cho việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu của nó vào đời sống kinh tế xã hội Không có sự tham gia của nhà nước bên cạnh các chủ thể khác của đời sống kinh tế khó có thể phát triển được đồng bộ và đưa được những thành tựu của nó vào ứng dụng thực tế một cách hiệu quả dưới góc độ kinh tế, xã hội ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả nước như Hoa Kỳ hiện đang là nước duy nhất có đủ tiềm năng tự mình triển khai cuộc cách mạng KHCN hiện đại trên hầu khắp các lĩnh vực từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng và thương mại hoá các thành tựu của R&D

1.2 Những giới hạn của lực lượng thị trường

Lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại đánh giá cao tác động của các lượng thị trường đối với cạnh tranh vốn được xem là động lực của tiến bộ KHCN và kinh tế Tuy nhiên do những đặc điểm riêng của các lực lượng thị trường, chúng cũng có những mặt giới hạn buộc nhà nước phải tham gia trong lĩnh vực R&D

để tháo tháo gỡ ách tắc

Trang 18

1.2.1 Những khác biệt giữa thị trường và phát triển khoa học

Chỉ bằng lực lượng thị trường không thể khuyến khích thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện đại

Một mặt, mục tiêu hoạt động của các lực lượng thị trường là lợi nhuận và hơn nữa là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận tối đa Vậy mà như ở trên đã đề cập,

do tính chất của hoạt động R&D, các dự án, chương trình của nó không phải bao giờ cũng đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế, kịp thời Đã thế rủi ro rất có thể xảy

ra Mặt khác, mục tiêu của các lực lượng thị trường không phải bao giờ cũng đồng nhất với mục tiêu phát triển tự thân của khoa học và công nghệ, đặc biệt những công trình nghiên cứu lý thuyết cơ bản về khoa học và công nghệ nhiều khi phải thực hiện trong thời gian dài mà kết quả mong muốn không thể đảm bảo đạt được trong ngắn hạn Trong khi đó, những thành tựu của khoa học hiện đại là

cơ sở lý thuyết và thực tiễn không thể thiếu của sự hình thành và phát triển của các ngành sản xuất (vật thể và phi vật thể) mũi nhọn

Phân tán là một đặc trưng khác của lực lượng thị trường và điều này khiến không một thành phần nào của thị trường đứng riêng rẽ có thể tự mình thoả mãn được mọi yêu cầu cần thiết về nhân lực, tài lực, vật lực đối với hoạt động R&D đồng bộ trên tất cả các hướng, dù cho chỉ là những hướng chủ yếu của tiến bộ KHCN hiện đại

1.2.2 Mặt trái của độc quyền

Tập trung và sự hình thành những công ty lớn (độc quyền và không độc quyền) là một đặc trưng của kinh tế thị trường hiện đại, một động lực khác của tiến bộ khoa học, công nghệ và kinh tế nhưng cũng có mặt hạn chế của nó cần phải vượt qua với sự tham dự của nhà nước

Những công ty lớn có địa vị chi phối giành được trên thị trường nên nhiều khi là nhân tố kìm hãm cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ KHCN Đây là lý do khiến rất nhiều phát minh, sáng chế ở Mỹ bị găm lại tại các công ty lớn

Trang 19

Những nhà tư bản riêng rẽ ngay cả những công ty lớn dù đó là những công xuyên quốc gia có tiềm lực rất lớn về nhiều mặt cũng không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển đồng bộ của khoa học, công nghệ hiện đại

1.3 Cạnh tranh quyết liệt trên thị trường trong nước và thế giới, những nhu cầu về an ninh quốc gia

Các xu hướng biến chuyển chủ đạo của nền kinh tế thế giới trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay dưới tác động của sự phân cực thế giới (từ hai cực Xô Mỹ đến phân cực sau chiến tranh lạnh), sự tiến triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN sang giai đoạn mới của nó lấy cách mạng công nghệ thông tin truyền thông làm then chốt, toàn cầu hoá đã làm cho cạnh tranh ở trong nước và trên phạm vi thế giới ngày càng trở nên sâu sắc Do đó các quốc gia đều phải ra sức chạy đua phát triển tổng lực quốc gia một cách toàn diện chứ không chỉ đơn thuần dựa vào sức mạnh quân sự (hoặc quá nhấn mạnh sức mạnh quân

sự như thời kỳ chiến tranh lạnh) Việc xây dựng sức mạnh kinh tế ngày càng nổi bật hơn được xem như nền tảng sức mạnh của đất nước được các nước coi trọng Ông B.Clintơn khi làm tổng thống đã ví sự tập trung vào chính sách kinh tế của Ông như sự tập trung của tia lade, chính sách phát triển của các nước hầu như đều tập trung vào kinh tế

1.3.1 KHCN đều được xem là cơ sở và động lực cho sự tiến bộ kinh tế và tiềm lực quốc gia

Hầu như tất cả các nước, đặc biệt là những nước phát triển và những nước mới nổi lên đã duy trì và hoặc tăng thêm chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu trên qui mô lớn Từ khoảng 1 – 2,62% GDP (2005) (Bảng 1.1) đặc biệt là Mỹ theo tạp chí Quốc phòng của chính phủ Pháp năm 1998 đã thực hiện chiến lược công nghệ chủ quyền quốc gia và được các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau từ thời B.Clintơn (sau chiến tranh lạnh) theo đuổi nhằm đạt được và duy trì thế mạnh,

sự chi phối của Mỹ trong các lĩnh vực công nghệ then chốt của tiến bộ KHCN, kinh tế cũng như quốc phòng, an ninh quốc gia như công nghệ điện tử, thông tin

Trang 20

và truyền thông, công nghệ hạt nhân, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu…)

Bảng 1.1 Tổng chi R&D một số nước G7/OECD

(%GDP, 1970 - 2006)

Năm Tổng chi R&D R&D ngoài quốc phòng

Mỹ Nhật Đức Pháp Anh Italia Canada Nga OECD

Nguồn: Quỹ Khoa học Quốc gia, Tình hình Quốc gia về các nguồn lực R&D, báo cáo thường niên 2009

1.3.2 Cạnh tranh ở các cấp độ ngày càng trở nên quyết liệt

Sự tập trung hơn của các nước lớn phát triển kinh tế trong nước, giai đoạn mới của cách mạng KHCN và những vấn đề xã hội ở trong nước kể từ sau chiến tranh lạnh đã bộc lộ ngày càng sâu sắc… đã thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường trong nước lên cấp độ mới

Toàn cầu hoá gắn liền với sự phổ biến rộng khắp kinh tế thị trường hiện đại khiến cho các nước kinh tế có trình độ mở cửa ngày càng cao Mỹ vốn có một nền kinh tế nội địa là chính đã trở thành nền kinh tế toàn cầu hoá ở trình độ cao hàng đầu: kim ngạch ngoại hướng lên đến giành 29% GDP năm 2007, vượt qua mức kỷ lục đầu tiên lịch sử Mỹ là 25% năm 2005, thiếu hụt ngoại thương lên đến mức cao và thập kỷ đầu thế kỷ 21 không ngừng tăng từ trên 37 tỷ / năm 2000 lên đến trên 700 tỷ đô la năm 2007; số người làm việc trong những ngành xuất khẩu lên đến trên 57 triệu người tức là trên 42% tổng số người làm việc trong nước

Tư bản nước ngoài trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế Mỹ từ thập kỷ 1990 đến nay, đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Mỹ luôn tăng lên, từ trên 48 tỷ năm 1990 lên đến 237 tỷ đô la năm 2007 (có nhiều năm Mỹ trở thành nước nhập FDI trực tiếp thuần tuý) và tổng đầu tư trực

Trang 21

tiếp của nước ngoài vào nền kinh tế Mỹ đã tăng mạnh từ gần 1257 tỷ lên 2093 tỷ năm 2007, trong số này gần 710 tỷ đầu tư vào công nghiệp chế biến, trên 5 triệu người làm việc trong các chi nhánh của nước ngoài ở Mỹ Mặt khác sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn tài nguyên thiên nhiên nước ngoài rất lớn (Bauxit, Fluorspar, Managnese, Mica, Strontium, Tantalum, Vanadium phụ thuộc 100%, Platin, Barite, Potash, Titanium, Thiếc, Cobalt, Kẽm, Tungsten, Crom, Bạc, Nikel, từ 50 đến 90%, dầu lửa 50%

Nhiều đối thủ cạnh tranh mới hùng mạnh xuất hiện trong nền kinh tế thế giới Hiện nay không chỉ có những nước đối thủ cạnh tranh cổ điển của Mỹ (Nhật, Tây Âu) đã và đang tăng cường thế lực cạnh tranh của họ bằng nhiều cách, trong đó có việc thúc đẩy mạnh mẽ cách mạng KHCN

Đặc biệt từ cuối thế kỷ 20 đến nay đã xuất hiện những đối thủ cạnh tranh mới tạo nên một khối đối thủ mạnh gồm những nền kinh tế mới nổi lên được các nhà nghiên cứu mệnh danh là BRIC (Bzadin, Nga, Ấn Độ, Trung quốc) và không ít những nền kinh tế mạnh nhỏ hơn khác (Hàn Quốc, Đài Loan, Mêhicô, Singapo, Archentina…) Sự kiện đáng chủ ý này khiến Mỹ và các nước G7 và

“nhóm 20" phải đồng thuận nâng cao vị thế của các nền kinh tế gần đây mới nổi trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng của nền kinh tế toàn cầu: khắc phục khủng hoảng môi trường, các định chế toàn cầu (cuộc họp của G20 tháng 9/2009 tại Pitsburg Hoa Kỳ)

1.3.3 Những nhu cầu quốc phòng an ninh quốc gia

KHCN từ lâu đã là một cơ sở thiết yếu để xây dựng tiềm lực vật chất cho

an ninh, quốc phòng trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2, trong những năm chiến tranh lạnh Sau chiến tranh lạnh, vai trò cơ sở thiết yếu này của

nó càng trở nên quan trọng hơn nhiều do tác động của cuộc cách mạng KHCN mới mà cách mạng công nghệ thông in truyền thông là then chốt Hầu như tất cả các quốc gia hàng đầu thế giới đều tiến hành đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật của lĩnh vực quân sự, các thủ đoạn thực hiện chiến tranh, cố gắng khai thác các thành tựu KHCN ưu tiên cho mục tiêu kinh tế nhưng cũng tìm cách phục vụ thích hợp

Trang 22

cho nhu cầu quân sự và an ninh Chiến lược công nghệ chủ quyền của Mỹ đã được đề cập ở trên, chiến lược xây dựng tiềm lực khoa học kỹ thuật của Nga, của Trung quốc, của Tây Âu… là những minh chứng điển hình

1.4 Những yêu cầu của nền kinh tế rất hiện đại đã hình thành

1.4.1 Chuyển đổi mô hình phát triển

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay nền sản xuất hiện đại ngày càng dựa trên nền tảng tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng, đặc biệt là kể từ những năm 1970 trở đi, khi hầu như tất cả các nước đều chuyển đổi từ mô hình phát triển theo chiều rộng là chính sang mô hình phát triển theo chiều sâu là chính và từ những năm 1990trở đi chính mô hình phát triển theo chiều sâu này lại chuyển sang mô hình phát triển kinh tế tri thức đang triển khai ngày càng sâu rộng hơn Hoa Kỳ là nước tiên phong trong xu hướng chuyển đổi này và nhờ vậy

đã đạt được những thành tựu quan trọng khiến cho ta có thể khẳng định được nền sản xuất hiện đại của Hoa kỳ cũng như toàn bộ nền kinh tế Hoa kỳ đã đặt trên đường ray KHCN hiện đại KHCN và sản xuất gắn liền với nhau thành một thể thống nhất, vừa là điều kiện tiền đề tất yếu vừa là cái thể hiện thực tế của nhau Những phương hướng chủ yếu của những thay đổi kết cấu và xu thế nâng cao hiệu quả trong nền kinh tế Mỹ trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và vẫn tiếp diễn ở trình độ cao hơn trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 đồng thời vẫn có ảnh hưởng ngày càng mạnh đối với nhịp độ phát triển cũng như chất lượng tăng trưởng kinh tế là một minh chứng cụ thể

1.4.2 Phải có KHCN tiên tiến mới đảm bảo vị trí có lợi trong cạnh tranh quốc tế

Như ở trên (1.3.2) đã cho thấy cạnh tranh rất gay gắt trên nhiều cấp độ ở trong nước và trên qui mô toàn cầu, vốn nước ngoài trở thành một nguồn lực tăng trưởng lớn của Mỹ, sự phục thuộc của Mỹ vào nguồn lực nước ngoài rất lớn Đẩy mạnh hoạt động R&D và hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới

Trang 23

là một trong những biện pháp cơ bản hoá giải những mặt rắc rối do tác động có thể có của tình trạng này

1.5 Mỹ đã có cơ sở cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao

Cung cấp nguồn nhân lục chất lượng cao đã được đảm bảo vững chắc ở Mỹ cho việc thực hiện R&D và áp dụng thực tế rộng rãi và có kết quả những thành tựu của nó

Ở Mỹ ngay từ những năm 1950 và 1960 những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao với tư cách là vốn con người (human capital) đã được xây dựng và đưa vào áp dụng Vốn người được xem là tổng thể những tri thức, thói quen, trình độ tinh thông nghề nghiệp và khả năng thể lực sẵn sàng cho lao động (tức là trạng thái sức khoẻ và toàn bộ những hình thức động viên) Từ giữa thế kỷ 20 trở đi đầu tư vào giáo dục và đạo tạo cán bộ

và chỉ tiêu cho bảo vệ sức khoẻ đã được xem là chi phí tất yếu của quá trình sản xuất xã hội và là đầu tư quan trọng nhất cho sự phát triển tương lai

1.5.1 Sự phát triển của giáo dục và đào tạo

Mỹ là nước đi tiên phong trong lĩnh vực này Ngay từ đầu thế kỷ 20 giáo dục trung học công lập không phải trả tiền (đã bắt đầu được thực hiện từ đầu thế

kỷ 19) và mạng lưới các trường đại học cao đẳng công và tư đã được thiết lập Nguồn giáo dục chính quy, hệ thống các trường dạy nghề công đào tạo và đào tạo lại, trong đó có thanh niên và người thất nghiệp đã được xây dựng, việc đào tạo cán bộ trong khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong những công ty lớn phát triển nhanh trong thế kỷ 20

1.5.1.1 Nguồn tài chính khổng lồ chi cho giáo dục

Chi tiêu của nhà nước (cấp liên bang, các bang và địa phương) và của tư nhân cho giáo dục (không kể chi đào tạo những người lớn tuổi / đào tạo nghề tách khỏi sản xuất) chỉ trong 2 thập kỷ cuối thế kỷ 20 đã tăng 70% và năm 2007

Trang 24

lên đến 972 tỷ (trên 7,2%GDP) Nếu kể cả đào tạo những người lớn tuổi trong khuôn khổ nhiều chương trình khác nhau, kể cả các chương trình đào tạo và đào tạo lại (cho những người thất nghiệp và đào tạo tại nơi làm việc) thì tổng số chi cho giáo dục của Mỹ lên tới trên dưới 1100 tỷ đô la/năm (gần 8% GDP) [32, tr

1.5.1.3 Các trường đại học cao đẳng là một trong những khâu trung tâm và quan trọng nhất của nền giáo dục Mỹ

Năm 2005 ở Mỹ có 4.300 trường đại học cao đẳng trong đó có 1.800 là công lập

và 2.450 ngàn tư thục, đặc biệt là 235 trường đại học nghiên cứu (công và tư) Những trường đại học nghiên cứu là hạt nhân của hệ thống giáo dục đại học cao đẳng của Mỹ Chúng là những trung tâm chủ yếu tiến hành nghiên cứu khoa học

cơ bản và đào tạo chuyên gia và các cán bộ khoa học trình độ cao và các cán bộ khoa học trình độ cao đào tạo 2,8 triệu sinh viên (chiếm 19% tổng số), chúng sử dụng phần lớn chi của nhà nước cho nghiên cứu cơ bản và là những trường đại học uy tín hàng đầu Mỹ và trên thế giới Năm 2006 Mỹ đào tạo được 1,6 triệu cử nhân (5% dân cư ở lứa tuổi đi học), 614 ngàn thạc sĩ (2%) và trên 55 ngàn tiến

sĩ (khoảng 2%) trong các lĩnh vực tri thức khác nhau [32, tr 141–160]

Trang 25

1.5.1.4 Nền giáo dục Mỹ là một trong những nhân tố quyết định góp phần thay đổi kết cấu kinh tế tiến bộ

Vì nó đã đào tạo được lực lượng lao động rất cơ động và có chất lượng cao đáp ứng được những thay đổi ấy

Nhờ vậy đến thế kỷ 21, 60% lao động ở Mỹ là lao động trí óc Năm 2006 khoảng 86% dân cư trưởng thành của Mỹ ở lứa tuổi từ 25 trở lên tốt nghiệp giáo dục trung học, 28% – tốt nghiệp đại học Năm học tập trung bình của nhân khẩu

có khả năng lao động năm 2006 là 13 năm (cao hơn trình độ trung học) Nền giáo dục Mỹ đã cung cấp 7,5 triệu người làm công tác KHCN ở những trình độ khác nhau, chiếm 5,5% trong số 135,5 triệu người có khả năng lao động [32]

6 năm Từ 1901 đến 2005 một phần ba người được giải Nobel ở Mỹ trong lĩnh vực y học và tâm lý học là những người nhập cư [25]

1.6 Tầm quan trọng của chính sách KHCN

1.6.1 Nhận thức của xã hội và giới tinh hoa

Các giới xã hội và giới tinh hoa cầm quyền ở Mỹ đều đồng thuận với việc nhà nước đảm nhận vai trò có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng tiềm lực KHCN của đất nước vì tiến bộ kinh tế

Trang 26

Đầu thế kỷ 21 những ưu tiên kinh tế quốc gia thể hiện trong nhiều văn kiện chính thức của Mỹ có thể khái quát như sau:

- Ổn định tăng trưởng kinh tế, vạch ra chính sách kinh tế cân bằng vĩ mô nhằm mục tiêu phát triển ổn định đáp ứng được yêu cầu về môi trường và

- Đảm bảo tốt chức năng xã hội của nhà nước thông qua việc tối ưu hoá các chương trình bảo hiểm hưu trí và y tế, hỗ trợ xã hội, củng cố các giá trị gia đình

- Hiện thực hoá được những hiệu quả tích cực do toàn cầu hoá nền kinh tế

Mỹ mang lại

- Cải thiện môi trường tự nhiên, hoàn thiện bộ máy điều tiết môi trường, vạch ra những chính sách tương ứng đối phó với những biến đổi khí hậu Phân tích những ưu tiên trên có thể khẳng định vai trò có tầm quan trọng quyết định của KHCN trong mỗi hướng ưu tiên cũng như trên toàn bộ các hướng ưu tiên Đây là lý do khiến cho chính sách KHCN là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong tổng thể chính sách kinh tế xã hội Mỹ

1.6.2 Chức năng của chính sách KHCN

Sự phân tích các văn kiện chính thức cũng như thực tiễn hoạt động nghiên cứu triển khai của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, đặc biệt là kể từ đầu thế kỷ 21, cho thấy, chính sách KHCN của Mỹ đã và đang thực hiện những chức năng chủ yếu sau đây:

- Góp phần quan trọng vào việc xây dựng tiềm lực KHCN của đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nền tảng của tiến bộ KHCN cũng như kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo an ninh của

Trang 27

đất nước, một lĩnh vực mà những lực lượng thị trường do bản chất của nó không thể thực hiện

- Với chức năng một công cụ điều tiết kinh tế quan trọng hàng đầu của nhà nước chính sách KHCN tham gia vào việc huy động, định hướng sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các thành phần khác trong xã hội vào những hướng nghiên cứu và triển khai phù hợp với những ưu tiên quốc gia, chiến lược trong các thời kỳ lịch sử

- Chính sách KHCN vận dụng cơ chế chi tiêu nhà nước đã hình thành một cách có hiệu quả để tài trợ cho R&D dưới các hình thức khác nhau khá đa dạng (sẽ trình bày ở chương tiếp theo)

1.7 Kết luận của chương

Những phân tích ở trên cho thấy những nhân tố khách quan và chủ quan khiến Mỹ có thể và phải sử dụng ngân sách nhà nước tài trợ cho công tác R&D: các lực lượng thị trường tự bản thân nó không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của KHCN hiện đại; nền kinh tế hiện đại tư bản thân nó đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của KHCN; sự thiếu hụt nhiều loại tài nguyên tự nhiên cần thiết; toàn cầu hoá và những tác động của nó đến nền kinh tế Mỹ, sự ra đời của những trung tâm cạnh tranh hùng mạnh mới, những khả năng nội tại của Mỹ đảm bảo nhu cầu nhân lực chất lượng cao, tầm quan trọng của chính sách công nghệ trong tổng thể chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và những chức năng cơ bản của chính sách học công nghệ Mỹ

Chương thứ 2 là sự tiếp tục logic của chương này sẽ tập trung xem xét việc

sử dụng ngân sách của nhà nước để thực hiện chính sách KHCN đã diễn ra như thế nào và những kinh nghiệm của Mỹ trong vấn đề này

Trang 28

CHƯƠNG 2: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỸ

Chương này là nội dung chủ yếu của luận văn Tác giả sẽ đề cập một cách khái quát đặc điểm nhiệm vụ chủ yếu của chính sách KHCN Mỹ qua thời kỳ và trên cơ sở này xem xét việc sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện chính sách KHCN Mỹ, đặc biệt trong thời kỳ kể từ những thập kỷ cuối thế kỷ thứ 20 đến những năm đầu thế kỷ 21

2.1 Đặc điểm và nhiệm vụ chủ yếu của chính sách khoa học nghệ Mỹ

Chính sách KHCN không hoàn toàn giống nhau trong các giai đoạn lịch sử

Mỹ do những điều kiện cụ thể ở trong nước Mỹ và trên thế giới của từng thời kỳ

và người đứng dầu Nhà trắng song mục tiêu xuyên suốt của nó vẫn là phục vụ tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của người dân và góp phần đảm bảo an ninh quốc gia và vị thế đứng đầu của Mỹ trong nền kinh tế và chính trị thế giới

2.1.1 Giai đoạn trước thập kỷ 1990

Đầu thế kỷ 20 nhà nước Mỹ đã hỗ trợ phát triển công nghiệp thông qua các hợp đồng ký kết giữa nhà nước và tổ chức kinh tế tư nhân Nhưng kể từ chiến tranh thế giới thứ hai chính sách KHCN của Mỹ có những thay đổi về chất Lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, nhà nước đóng vai trò người chủ yếu tổ chức và tài trợ, đầu tư và quản lý việc nghiên cứu, triển khai KHCN, cũng như sản xuất đáp ứng nhu cầu quân sự trong đó có việc sản xuất vũ khí nguyên tử

2.1.1.1 Quan điểm

Nhằm sử dụng tối ưu ngân sách nhà nước và nguồn lực của đất nước, trong những năm 1950, vấn đề lựa chọn các ưu tiên phát triển KHCN được đặt ra một cách cấp bách Quan điểm phân chia trách nhiệm trong lĩnh vực KHCN được đề xuất Theo quan điểm này nhà nước và tư nhân đều có trách nhiệm tham gia phát

Trang 29

triển KHCN Tuy nhiên chỉ từ thời kỳ tổng thống Carter (1976–1980) quan điểm này mới trở thành một trong những nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của chính phủ, chiến tranh lạnh lúc này lên đến đỉnh điểm khi mà Liên Xô đã giành được thế cân bằng chiến lược quân sự đối với Mỹ và cạnh tranh kinh tế trở nên gay gắt ở trong nước và trên thị trường thế giới

2.1.1.2 Phương hướng chính sách KHCN

Từ khi Reagan và sau đó là Bush (cha) lên cầm quyền kế tiếp nhau, chính quyền Mỹ đã có những thay đổi căn bản chính sách KHCN của nhà nước

ƒ Mục tiêu cơ bản của chính sách mới:

- Phục hồi địa vị lãnh đạo của Mỹ trong KHCN thế giới

- Giành được ưu thế cạnh tranh trên thị trường thế giới

- Nhà nước và tư nhân đều có nghĩa vụ như nhau tài trợ cho việc chế tạo kỹ thuật và công nghệ mới nhất đạt tiêu chuẩn quốc gia và cạnh tranh được với Nhật bản và Tây Âu cả trên thị trường trong và ngoài nước

ƒ Đã thông qua hàng loạt văn bản pháp luật mới hay các điều khoản bổ sung vào các văn bản pháp luật hiện hành theo hướng: bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ và khuyến khích chuyển giao công nghệ mới cho lĩnh vực công nghiệp Đặc biệt điều luật ban hành năm 1988 về buôn bán và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Mỹ và mở rộng khả năng Mỹ tiếp cận thị trường công nghệ nước ngoài do chính quyền Reagan đề ra dã đặt cơ sở cho hàng loạt luật mới điều tiết hoạt động KHCN

ƒ Ưu tiên phục vụ quân sự: các chương trình phục vụ quân sự được nhấn mạnh bên cạnh định hướng phục vụ công nghiệp vẫn được duy trì Tỷ lệ chi cho đầu tư vào KHCN dân dụng chỉ ở mức thấp (khoảng từ 30 – 40% còn đầu tư vào công nghệ phục vụ quân sự lên đến 60–70% tổng đầu tư cho KHCN (trong khoảng từ 1982 – 1990) Đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến cho nhiều ngành công nghiệp dân dụng Mỹ ở thế yếu trong cạnh tranh với các đối thủ Nhật và Tây Âu, khoảng cách về công

Trang 30

nghệ của nhiều ngành công nghệ dân dụng Mỹ so với Nhật và Tây Âu chưa được thu hẹp hoàn toàn có lợi cho Mỹ

2.1.2 Giai đoạn những năm 1990

Đây là giai đoạn của chính quyền Clinton Bước vào những năm 1990 những thay đổi quan trọng trong nền kinh tế và chính trị thế giới và trong nước buộc Mỹ phải điều chỉnh lại một cách cơ bản chính sách KHCN

Liên Xô sụp đổ, chiến tranh lạnh tan rã, Mỹ không có đối thủ chạy đua vũ trang

Chương trình cải cách kinh tế của Reagan được thực hiện và đạt được thành tựu nhất định trong những năm 1980 nhưng nền kinh tế lại nhanh chóng rơi vào suy thoái đầu những năm 1990, khả năng cạnh tranh suy yếu của các ngành công nghiệp lại nổi lên gay gắt Chính quyền Clinton nhận định [31] chính sách KHCN truyền thống chỉ là chiến lược thích hợp cho thế hệ trước chứ không đối phó được với những thách thức mới Cần phải thay thế chính sách này theo hướng tạo ra những công nghệ mới cần thiết cho các doanh nghiệp ngày nay và cho tăng trưởng kinh tế chứ không tập trung chủ yếu vào khoa học cơ bản và phục vụ quân sự, chương trình vũ trụ… Chính phủ chỉ đóng vai trò hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và thu lợi từ những thay đổi này

2.1.2.1 Mục tiêu của những chuyển hướng này là:

- Chuyển trọng tâm chiến lược từ công nghệ quân sự sang công nghệ dân dụng tạo dựng khả năng cạnh tranh của công nghiệp Mỹ

- “Công nghệ lưỡng dụng” được chú trọng nhằm tạo ra được những công nghệ sử dụng cho cả quân sự và dân sự

- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho thế kỷ 21, đặc biệt là kết cấu hạ tầng thông tin

- Tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo của Mỹ trong lĩnh vực khoa học cơ bản

Trang 31

- Thiết lập và tăng cường các hình thái hợp tác giữa chính phủ và các nhà công nghiệp và các hình thái liên kết giữa các nhà công nghiệp trong lĩnh vực thực hiện R&D

- Tăng ưu đãi thuế và tăng tín dụng cho các hoạt động R&D của các nhà kinh doanh công nghiệp

- Tăng cường nguồn nhân lực thông qua triển khai tốt hơn các chương trình giáo dục đào tạo và chăm lo sức khoẻ người dân

2.1.2.2 Phương hướng trọng tâm chủ yếu của chính sách khoa học công nghệ mới bao gồm:

- Tập trung vào những vấn đề KHCN cấp bách ngắn hạn có tầm quan trọng đối với việc phục hồi sức mạnh các ngành công nghiệp xương sống của Mỹ tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc sử dụng các công nghệ tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả, tạo việc làm có thu nhập cao, bảo vệ môi trường

- Tập trung nghiên cứu để tìm ra những công nghệ mới làm cơ sở cho những ngành kinh tế mũi nhọn, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông Công nghệ thông tin truyền thông thuộc loại “công nghệ chủ quyền", có tác dụng cải tạo toàn bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và an ninh quốc gia, đóng một trong những vai trò quyết định của Mỹ tiến vào kinh tế tri thức và đảm bảo

Mỹ cải tạo tiềm lực quân sự và các phương tiện bảo vệ đất nước và tiến hành chiến tranh trong điều kiện mới, khuyến khích phát triển công nghệ thông tin đi liền với những phương hướng phát triển những ngành công nghệ cao mới, công nghệ sinh học, công nghệ gien, công nghệ y học, công nghệ nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, công nghệ vật liệu mới, công nghệ bảo vệ môi trường

2.1.2.3 Các biện pháp hỗ trợ KHCN cũng được đề ra và thực hiện

ƒ Tăng cường khả năng quản lý nhà nước đối với các nguồn ngân sách các cấp dành cho R&D Chính quyền Clinton đã thiết lập được sự hợp tác có

Trang 32

hiệu quả giữa chính quyền liên bang và chính quyền các bang trong việc tổ chức các chương trình nghiên cứu và đánh giá lại thường xuyên các chương trình này, kiểm tra các tiêu chí và mục tiêu đã lựa chọn đảm bảo phù hợp với các chương trình công nghệ quốc gia

ƒ Khuyến khích các nhà công nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng, triển khai, bằng cách sử dụng các biện pháp nhằm tăng cường các nguồn lực tài chính của các nhà công nghiệp Mỹ và nước ngoài tại Mỹ đầu

tư vào lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, theo những hướng sau:

- Khuyến khích hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu của chính phủ với các nhà công nghiệp tư nhân thông qua chính sách “công nghệ lưỡng dụng”, các quy định nghiên cứu của chính phủ và các nhà công nghiệp phát triển các công nghệ thích dụng cho cả mục đích quân sự và mục đích dân sự Bộ quốc phòng được phép kết hợp với các tổ chức tư nhân đầu tư vào công nghệ có thể tăng hiệu quả chi tiêu và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế

- Khuyến khích hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh Chính phủ Clinton đề xuất sửa đổi luật chống trust, cho phép lập các liên doanh trong lĩnh vực nghiên cứu Nó cho phép các công ty hợp tác với nhau và do vậy

có điều kiện đầu tư vào những thiết bị chế tạo tinh xảo hơn, sử dụng những lợi thế và bổ sung lẫn nhau, chia sẻ rủi ro và sử dụng nguồn lực chung

- Khuyến khích đầu tư vào công nghệ thông qua các chính sách thuế Chính quyền Clinton đã gia hạn luật tín dụng thuế đối với nghiên cứu và thực nghiệm Theo luật này các doanh nghiệp được hưởng tới 20% tín dụng thuế cho các đầu tư vào nghiên cứu và thử nghiệm Luật này được gia hạn đến

2004

- Khuyến khích thương mại hoá các công nghệ mới

- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Chính quyền Mỹ đã thông qua Luật sở hữu trí tuệ, chặt chẽ hơn so với luật châu Âu và Nhật Các phần thưởng cho những sáng kiến, sản phẩm và dịch vụ đều được xác lập, quyền lợi của những người đầu tiên đưa sản phẩm ra thị trường được bảo vệ

Trang 33

2.1.2.4 Tiến hành xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:

- Triển khai chương trình chế tạo máy tính tốc độ cao;

- Xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin quốc giao (NII);

- Cung cấp vốn để triển khai các dự án mạng thông tin;

- Thành lập chính phủ điện tử

Đây là một trong những biện pháp căn bản để đưa nền kinh tế Mỹ bước sang giai đoạn phát triển mới, đến giai đoạn phát triển kinh tế tri thức và cũng là biện pháp căn bản có tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, an ninh và quốc phòng Mỹ Biện pháp này đã căn bản đem lại những thành quả rực rỡ của chính quyền Clinton về kinh tế và tạo điều kiện cho Mỹ đối phó được với những thay đổi cả trong nước và trên trường quốc tế

2.1.3 Giai đoạn sau thập kỷ 1990

Thực chất đây là giai đoạn chính quyền Bush (con) ở Mỹ bởi chính quyền mới của Barak Obama chỉ bắt đầu tư 1/2009 Khi lên cầm quyền Bush (con) đã tiếp nhận một cơ chế mạnh quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới kỹ thuật đồng thời cũng đã được cải tổ để hoạt động trong điều kiện chiến tranh lạnh tan

rã, sự đối chọi quân sự giữa hai hệ thống không còn là nhân tố khuyến khích chủ yếu phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới kỹ thuật Tổ hợp KHCN Mỹ gần như là trung tâm khoa học thế giới duy nhất Những thành tựu của Mỹ đạt được trong những năm cuối thế kỷ 20 vừa là những thuận lợi lại vừa là những thách thức đối với chính quyền Bush con Bên cạnh đó lại có những thách thức mới xuất hiện, đáng chú ý nhất là:

2.1.3.1 Những thách thức mới

- Chính sách KHCN của chính quyền Bush vừa phải kết hợp tính truyền thống của Đảng cộng hoà và giảm thuế và tăng cường sức mạnh quân đội với mối quan tâm mới về vai trò của chính phủ trong giáo dục và dịch vụ xã hội

Trang 34

- Tình trạng thiếu hụt năng lượng trầm trọng và những yêu cầu về môi trường là những thách thức lớn đối với chính sách KHCN

- Giai đoạn tăng trưởng kéo dài nhất trong lịch sử Mỹ chấm dứt tháng 3/2001

và chương trình giảm thuế của chính quyền Bush (con), bắt đầu có hiệu lực

từ tháng 6 đã chấm dứt thời kỳ thặng dư ngân sách bắt đầu từ 1998

- Chủ nghĩa khủng bố tấn công nước Mỹ 11/9/2001 đã trở thành một nhân tố mới tác động mạnh đến hoạt động của chính phủ liên bang và đời sống chính trị xã hội Mỹ Đặc biệt Bộ An ninh nội địa được thành lập Đây là nơi chịu trách nhiệm hoạch định những chương trình KHCN liên bộ về đảm bảo an ninh giảm thiểu tổn thất do tấn công khủng bố

- Mở rộng bằng mọi cách sự hợp tác của nhà nước và kinh doanh tư nhân trong khuôn khổ những liên doanh (Consortium) giữa tư nhân và nhà nước được thành lập và những hình thức, tổ chức thương mại khác

- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ những phòng thí nghiệm và những trung tâm nghiên cứu của nhà nước cho khu vực tư nhân

- Đặc biệt dựa vào những đầu tư vào công nghệ mới và công nghệ mũi nhọn, cũng như các quá trình tạo nên toàn bộ các chính sách quốc gia về tiến bộ KHCN, đặc biệt là để chế tạo những hệ thống vận tải mới, những nguồn năng lượng và phát triển chương trình vũ trụ quốc gia

- Tạo ra nhưng nhân tố kích thích để thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực R&D, bao gồm cả việc sử dụng tín dụng thuế cho hoạt động R&D

- Luật về phát minh được soạn thảo kỹ và chi tiết để có thể xác định chặt chẽ quyền sở hữu của các công ty tư nhân đối với sản phẩm trí tuệ do họ tạo ra

Trang 35

- Kiểm tra và điều tiết các quá trình sáp nhập và thu hút của các công ty lớn được xem là cần thiết đối với việc củng cố khả năng cạnh tranh của nền kinh tế (các quá trình này được gắn với việc lẩn tránh luật chống độc quyền

và luật pháp về kiểm soát các vụ sáp nhập)

- Chính sách nhập cư khôn ngoan cho phép thu hút những người ưu tú nhất của thế giới vào hoạt động R&D tại Mỹ

2.1.3.3 Những thay đổi của chính quyền Bush (con)

Những thay đổi quan trọng nhất trong chính sách KHCN của chính quyền mới thể hiện rõ việc đem áp dụng quan điểm của Bush (con) được đề cập trong Sáng kiến của tổng thống (President Management Agenda)

Những định hướng sau đây đã được chính thức lưu ý trong quá trình hoạch định ngân sách (năm 2004)

- Giữ vững ổn định và đảm bảo mọi nhu cầu của tổ hợp KHCN của đất nước nhằm đạt được những mục tiêu riêng của các cơ quan (cấp bộ) phục vụ cho những lĩnh vực sống còn của nghiên cứu và kết cấu hạ tầng tương ứng

- Củng cố hệ thống giáo dục khoa học tự nhiên, toán học, và các bộ môn kỹ thuật công nghệ, bằng cách mở rộng khả năng tiếp cận các chương trình dạy nghề ở những cấp học đầu tiên và hỗ trợ các phương pháp giảng dạy hiện đại

- Tập trung vào các loại hoạt động dài hạn có hiệu quả cao cần có sự tham gia của nhà nước và đang tiến hành nhằm đạt được những mục tiêu quốc gia chung bao gồm cả an ninh nội địa, chất lượng môi trường, tăng trưởng kinh tế, sự phồn vinh của đất nước và sức khoẻ của người dân

- Đạt đến mức tối đa hiệu quả kinh tế và kết quả đầu tư của liên bang cho các chương trình nghiên cứu khoa học nhờ sử dụng các phương pháp cạnh tranh, đánh giá của chuyên gia về ý nghĩa KHCN của các kết quả đề ra, chấm dứt các chương trình không hiệu quả hoặc không phù hợp mục tiêu của cơ quan bộ liên bang liên quan

Trang 36

- Có thể sử dụng sự hợp tác giữa các cơ quan bộ liên bang, các hãng công nghiệp, các trường đại học và những cơ quan khác

Nhữnh định hướng nêu trên áp dụng vào tổ hợp KHCN vốn sử dụng các phương pháp kinh tế để quản lý cũng được để xuất áp dụng vào hoạt động của các công ty

Những mục tiêu nghiên cứu của các chương trình liên bang phải gắn với những mục tiêu chính trị, của các cơ quan bộ liên quan chứ không phải với những qui luật phát triển của bản thân khoa học và công nghệ Thậm chí ngay cả định hướng đầu tiên nhằm đảm bảo khả năng làm việc của tổ hợp KHCN, được xem là cơ sở của chính sách KHCN suốt nửa sau thế kỷ 20 của bất kỳ chính phủ

do đảng nào cầm đầu cũng bổ sung thêm quan điểm “phải tính đến những mục tiêu đặc thù” của các cơ quan chính phủ liên bang Quan điểm này cũng được vận dụng vào phân bổ ngân sách và do đó lĩnh vực nghiên cứu khoa học tự do bằng ngân sách của liên bang bị thu hẹp, nhà nước sẽ hỗ trợ chủ yếu cho những chương trình có căn cứ kinh tế

Các chương trình, dự án của tổ hợp KHCN phải tuân thủ những tiêu chí nhất định

Quản lý nghiên cứu cơ bản được đặc biệt quan tâm Đó là vì tính rủi ro quá cao so với kết quả mong đợi và các cơ quan bộ đã kiến nghị lựa chọn những chương trình nghiên cứu cơ bản ít bất trắc và rủi ro từ bên ngoài (ở đây hiểu không phải là rủi ro về mặt KHCN mà là những rủi ro kinh tế, tổ chức)

Những ưu tiên của Tổng thống Bush con trong KHCN

Trong “Sáng kiến quản lý của Tổng Thống”, một trong những hướng then chốt là nâng cao hiệu quả công tác của chính phủ bằng việc giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác của các bộ liên bang Cộng đồng KHCN cũng đề xuất một số lĩnh vực hợp tác này và giao cho Hội đồng quốc gia về khoa học và công nghệ, các cơ quan chuyên trách được thành lập bên cạnh tổng thống để vạch ra chính sách khoa học và công nghê Sáu hướng ưu tiên trong KHCN đã được lưu ý:

- Nghiên cứu những vấn đề an ninh nội địa và đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố Công tác trong lĩnh vực này phải hướng vào việc tạo ra các hệ

Trang 37

thống và phương pháp phát hiện sớm hậu quả của các hoạt động của bọn khủng bố, phản ứng, nhanh và xoá bỏ tác động của chủ nghĩa khủng bố, phòng ngừa và khôi phục các mục tiêu bị tấn công

- Nghiên cứu và triển khai công nghệ mạng và công nghệ thông tin Đây là hướng ngay từ đầu chính quyền Bush (con) thích thú nhất vì theo họ ưu thế của Mỹ trong lĩnh vực này cho phép Mỹ duy trì và củng cố vị trí lãnh đạo của Mỹ trong nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21

- Sáng kiến quốc gia về công nghệ nano

- Tìm hiểu về các quá trình sống ở cấp độ phân tử

- Khoa học và công nghệ trong lĩnh vực biến đổi khí hậu

- Nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục, nâng cao trình độ dạy toán và khoa học tự nhiên trong trường trung học và đặc biệt ở lớp ra trường (K12) Chương trình này được thực hiện chung với Quỹ khoa học quốc gia, Bộ giáo dục, Bộ y tế và dự chi hàng năm 200 triệu đô la trong vòng 5 năm Bên cạnh những ưu tiên trên cần tính đến cả những ưu tiên của mỗi bộ liên bang thực hiện các chương trình trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Tuy nhiên cần lưu ý những hướng ưu tiên trên đã được điều chỉnh trong quá trình ngân sách Ngay từ tài khoá 2004, ba hướng đầu tiên hầu như được ủng

hộ không có tranh cãi và tài trợ được tăng lên

Hai trong lĩnh vực ưu tiên nêu ra ban đầu là khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nghiên cứu khí hậu và nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục, không được

sự ủng hộ đặc biệt hoặc phát triển trong các đề nghị của các bộ, của chính phủ liên bang

Tổng thống Bush (con) còn có những tham vọng lớn trong lĩnh vực thám hiểm vũ trụ Những phương hướng ưu tiên khoa học, kỹ thuật này còn được tiếp tục thảo luận, xem xét bổ sung Đặc biệt khi làm việc tại NASA (1/2004), tổng thông Bush (con) đã nêu chương trình vũ trụ mà ông định thực hiện trong năm năm tiếp theo [21, 23, 30]:

Trang 38

Đến 2010 Mỹ sẽ hoàn thành công việc tại trạm vũ trụ quốc tế và nghĩa vụ của Mỹ trước 15 đối tác quốc tế trong chương trình này

Mỹ sẽ bắt đầu chế tạo tàu vũ trụ quỹ đạo thế hệ mới, có khả năng thực hiện các chuyến bay đến các hành tinh khác của hệ mặt trời

Tàu này sẽ chế tạo xong năm 2008 và thực hiện chuyến bay đầu tiên có các nhà du hành vũ trụ vào năm 2014 Nó sẽ thay thế tàu con thoi vũ trụ như những

bộ máy có lái

Các nhà du hành vũ trụ sẽ lại đổ bộ lên mặt trăng vào khoảng 2015-2020

và thực hiện các dự án nhiều tham vọng lớn

Sau phát biểu của tổng thống Bush (con), dư luận được thăm dò nói chung ủng hộ tổng thống nhưng cũng có ý kiến của nhiều người không muốn chi thêm

gì và mong tăng tài trợ cho nhiều vấn đề xã hội bức xúc nâng cao đời sống người dân Tính đến tình hình này và kinh nghiệm của Bush (cha) không thành công khi đề nghị dự án thám hiểm sao Hỏa dự chi 400 – 500 triệu đô la thất bại, Bush (con) không đi xa hơn sau tuyên bố mục tiêu chung của chương trình vũ trụ bởi không thấy ông dự kiến hỗ trợ tài chính cho các dự án, chương trình này Tổng

dự toán tài trợ ba chương trình này trong 5 năm được xác định là 12 tỷ Nhưng phần lớn khoảng 11 tỷ phải lấy từ ngân sách cả các chương trình khác của NASA và chỉ còn 1 tỷ đôla tức 200 triệu một năm là bổ sung Nhiều chuyên gia độc lập cho rằng với tài trợ này không thể đạt được mục tiêu của chương trình và nếu cứ như vậy phải 40 năm nữa mới thực hiện xong

Như vậy từ sự hoạch định những ưu tiên trong chính sách KHCN của Mỹ cho thấy có hai loại ưu tiên phải được tính đến:

- Loại ưu tiên bắt nguồn từ những quy luật phát triển nội tại của khoa học và công nghệ, những hình thức tổ chức của chúng

- Loại ưu tiên phục vụ cho những lợi ích chính trị của cơ quan chỉ đạo trong chính quyền

Trong các ưu tiên được nêu ở trên, khi đề cập ngân sách 2004, việc nâng cao chất lượng dạy toán và khoa học tự nhiên, sáng kiến quốc gia về công nghệ nano, sáng kiến bị bác bỏ về tìm hiểu các quá trình của sự sống là loại ưu tiên

Trang 39

thứ nhất và còn đấu tranh chống khủng bố, chương trình vũ trụ, thám hiểm mặt trăng và sao hỏa thuộc loại 2

Trong thời kỳ chính quyền Clinton những ưu tiên chỉnh trị của chính sách phát triển KHCN trước hết gắn với sự nâng cao mức độ và chất lượng sống của người dân, khả năng cạnh tranh của nền công nghiệp Mỹ Với chính quyền Bush (con), những ưu tiên chính trị của chính sách phát triển KHCN là quốc phòng, an ninh quốc gia, an ninh nội địa và nghiên cứu vũ trụ ít gắn với những vấn đề về mức sống của người dân

2.1.4 Đánh giá tổng quát về đặc điểm và nhiệm vụ chính sách KHCN qua các thời kỳ

Chính sách KHCN vừa là công cụ điều tiết kinh tế vừa là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế, gắn liền chặt chẽ với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế dựa trên những tiến bộ KHCN thể hiện trên các mặt sau đây bất kể những tác động của các nhân tố tạm thời như suy thoái kinh tế, tình hình chính trị qua các đời tổng thống khác nhau:

- Thúc đẩy phát triển KHCN là xu hướng xuyên suốt qua các thời kỳ tổng thống Đặc biệt là những lĩnh vực mũi nhọn của tiến bộ KHCN, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ sức khoẻ người dân và an ninh quốc phòng Đây là nhân

tố đảm bảo 70% mức tăng trưởng của nền kinh tế (theo GDP)

- Xác định những công nghệ mũi nhọn mang tính đột phá và có tác động lan toả trên nhiều bình diên kinh tế, xã hội và an ninh để có chính sách đầu tư phù hợp Nổi bật trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 hiện nay là những chương trình, sáng kiến ưu tiên trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ siêu nhỏ (nantotechnology) và công nghệ sinh học vận dụng vào y học và công nghiệp

- Khuyến khích các doanh nghiệp trong những ngành truyền thống áp dụng công nghệ cao Chủ trương này được thực hiện từ đầu những năm 1990 và ngày càng được đẩy mạnh và đã trở thành một trong những nhân tố đóng góp vào tăng năng suất lao động ở Mỹ

Trang 40

- Đổi mới quản lý kịp thời nhậy bén dựa trên sự ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ, chấp nhận rủi ro, mạnh dạn đầu tư, đặc biệt đầu tư cho R&D Sự chuyển giao thành tựu R&D từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân đóng một vai trò quan trọng

- Phát triển nguồn nhân lực, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ động cao, đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực cho R&D và cho toàn bộ nền kinh

tế

- Tạo quan hệ đối tác hiệu quả giữa chính phủ, các Đại học và doanh nghiệp Đạo luật Bayli–Dole năm 1980 đã tạo khả năng cho các Đại học nhận bằng sáng chế mới nhờ sự trợ giúp của chính phủ và do vậy tạo khuyến khích cho các trung tâm nghiên cứu của các Đại học chuyển giao kết quả R&D cho khu vực tư nhân

- Tạo môi trường pháp lý thúc đẩy phát triển KHCN, luật sở hữu trí tuệ được quán triệt sâu sắc, hệ thống cấp patent hữu hiệu

- Nhà nước nhìn chung luôn chú ý gắn ưu tiên của các lĩnh vực KHCN bắt nguồn từ quy luật của phát triển khoa học với các mục tiêu ngắn hạn và nhất thời khác tương đối hài hòa Gọi là tương đối vì luôn có nguy cơ gây mất cân đối giữa hai loại ưu tiên (một vì bản thân khoa học, một vì những lợi ích chính trị) và do đó tác động không lợi cho phát triển KHCN [21]

2.2 Một vài nét khái quát về đặc điểm chính sách KHCN trong ngân sách của chính phủ liên bang Mỹ

2.2.1 Quy mô của chi cho R&D trong ngân sách chính phủ liên bang và trong GDP

Phân tích các dữ liệu trong các Bảng 1.1 và Bảng 2.1 cho ta thấy

- Thu chi ngân sách chiếm khoảng từ 16 – 20% GDP trong khoảng thời gian

từ 1970–2008, riêng những năm đầu thế kỷ 21 (từ 2000/2008) chi ngân sách chiếm đại bộ phận các năm trên 20% chỉ có một vài năm ở mức 18– 19% GDP

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), Tạp chí Tia sáng, Số 21 (05/11/2009), Hà Nội 2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tia sáng
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2009
3. Đỗ Lộc Diệp (2003), Chủ nghĩa tư bản ngày nay – Mâu thuẫn nội tại, xu thế và triển vọng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản ngày nay – Mâu thuẫn nội tại, xu thế và triển "vọng
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
4. Drucker P. (2002), Những thách thức quản lý thế kỷ 21, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức quản lý thế kỷ 21
Tác giả: Drucker P
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
5. Vũ Đăng Hinh và tập thể (2005), Cấu trúc lại nền kinh tế Mỹ từ thập 70 của thế kỷ XX đến nay, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc lại nền kinh tế Mỹ từ thập 70 của thế kỷ XX "đến nay
Tác giả: Vũ Đăng Hinh và tập thể
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005
6. Đặng Hữu (2001), Phát triển kinh tế tri thức – rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức – rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, "hiện đại hóa
Tác giả: Đặng Hữu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
7. Lannkh A., Toinet F. (1994), Thực trạng Mỹ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng Mỹ
Tác giả: Lannkh A., Toinet F
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1994
8. Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi – BC về tình hình phát triển thế giới năm 1997, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi – BC về "tình hình phát triển thế giới năm 1997
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 1998
9. Stightz J. E. (1995), Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học công cộng
Tác giả: Stightz J. E
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
10. Nguyễn Thiết Sơn (2003), Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế, NXB Khoa học Xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thiết Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
11. Ngô Quý Tùng (1998), Kinh tế tri thức – xu thế mới của xã hội thế kỷ 21, Ban khoa giáo T.W Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức – xu thế mới của xã hội thế kỷ 21
Tác giả: Ngô Quý Tùng
Năm: 1998
12. USIA (2005), Khái quát về lịch sử nước Mỹ, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử nước Mỹ
Tác giả: USIA
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2005
13. Viện Nghiên cứu Châu Mỹ (2001,2002), Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Châu Mỹ ngày nay
14. Zakaria F. (2009), Thế giới hậu Mỹ, NXB Tri thức, Hà Nội. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới hậu Mỹ
Tác giả: Zakaria F
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Tổng chi R&D một số nước G7/OECD  12 - Ngân sách nhà nước Mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ - gợi ý cho Việt Nam
Bảng 1.1 Tổng chi R&D một số nước G7/OECD 12 (Trang 7)
Hình 2.1 - Cơ chế tổ chức tài trợ cho R&D - Ngân sách nhà nước Mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ - gợi ý cho Việt Nam
Hình 2.1 Cơ chế tổ chức tài trợ cho R&D (Trang 44)
Bảng 2.2. Nghĩa vụ hợp đồng liên bang về nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học - Ngân sách nhà nước Mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ - gợi ý cho Việt Nam
Bảng 2.2. Nghĩa vụ hợp đồng liên bang về nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học (Trang 56)
Bảng 2.3. Chi R&D trong khoa học và công nghệ ở đại học và cao đẳng theo  thời giá / giá cố định (Đơn vị: triệu đô la) - Ngân sách nhà nước Mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ - gợi ý cho Việt Nam
Bảng 2.3. Chi R&D trong khoa học và công nghệ ở đại học và cao đẳng theo thời giá / giá cố định (Đơn vị: triệu đô la) (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w