1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

141 831 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đánh giá, thị trường bán lẻ của Việt Nam là một trong những thị trường hấp dẫn nhất thế giới, đặc biệt khi gia nhập WTO Việt Nam đã có những cam kết cụ thể về lộ trình mở cửa thị tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trần Thị Mai Hồng

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội, 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN HỒNG SƠN

Hà Nội, 2012

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG i

DANH MỤC CÁC HÌNH ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ 10

1.1 Khái niệm về FDI và phân phối bán lẻ 10

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của FDI 10

1.1.1.1 Khái niệm về FDI 10

1.1.1.2 Đặc điểm của FDI 13

1.1.2 Khái niệm về phân phối bán lẻ 15

1.1.2.1 Khái niệm 15

1.1.2.2 Đặc trƣng của ngành bán lẻ 16

1.1.2.3 Vai trò của hoạt động phân phối bán lẻ 20

1.1.2.4 Những kiểu hình tổ chức bán lẻ chính 23

1.2 Đặc trưng của FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và tác động của chúng đối với nước tiếp nhận 27

1.3 Kinh nghiệm đối với hoạt động FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ của một số nước 28

1.3.1 Thái Lan 28

1.3.2 Trung Quốc 30

1.4 Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối bán lẻ 37

Chương 2 Thực trạng FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO 41

2.1 Tổng quan về FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO 41

Trang 4

41

49

49

51

52

2.2 Những tác động của FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam 53

2.2.1 Tác động đến thị trường phân phối bán lẻ của Việt Nam 53

2.2.2 Tác động đến người tiêu dùng 57

2.2.3 Tác động đến doanh nghiệp phân phối bán lẻ nội địa 64

2.2.4 Tác động đến nhà cung cấp trong nước 69

2.2.5 Tác động việc làm 73

2.3 Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam 76

2.4 Đánh giá chung 88

Chương 3 Một số giải pháp quản lý hoạt động FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và phát triển ngành bán lẻ trong nước 92

3.1 Giải pháp về phía Nhà nước 94

3.1.1 Về khâu quản lý, giám sát 94

3.1.2 Về việc thu hút FDI cho lĩnh vực bán lẻ trong nước 100

3.2 Giải pháp về phía khu vực bán lẻ trong nước 109

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC 01

PHỤ LỤC 02

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Hạn chế đối với doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài

theo từng ngành ở Trung Quốc

33

2 Bảng 1.2 Tự do hóa ngành bán lẻ ở Trung Quốc 35

3 Bảng 2.1 FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

xét theo thời gian nhận vốn đầu tư

42

4 Bảng 2.2 Chỉ số GRDI của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009 46

5 Bảng 2.3 FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2008

50

6 Bảng 2.4 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

tiêu dùng theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế

53

7 Bảng 2.5 Các nhà bán lẻ tạp hóa hàng đầu năm 2009 54

8 Bảng 2.6 Lao động trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam 2005 -

2010

75

Trang 6

2 Hình 1.2 Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối 17

3 Hình 2.1 Phân tích chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu -2011 49

5 Hình 2.3 Vị thế của Việt Nam trong bản đồ bán lẻ toàn cầu 56

6 Hình 2.4 Các đại siêu thị và cửa hàng cao cấp hàng đầu

Việt Nam

57

7 Hình 2.5 Mức độ yêu thích hàng khuyến mãi tại Việt Nam 58

8 Hình 2.6 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

tiêu dùng theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế

67

9 Hình 2.7 Các nhà bán lẻ hàng đầu theo doanh thu bán hàng 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bán lẻ là một khái niệm quen thuộc và là hoạt động thường trực, không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia Dịch vụ phân phối nói chung và dịch vụ phân phối bán lẻ nói riêng được xem là một trong những thước đo cơ bản phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân Trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh

tế toàn cầu vừa qua, nhiều quốc gia đã sử dụng thành công hệ thống bán lẻ làm đòn bẩy cho các chính sách kích thích tiêu dùng để phục hồi tăng trưởng Đối với Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, khu vực dịch vụ phân phối nói chung và dịch vụ bán lẻ nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế

Theo đánh giá, thị trường bán lẻ của Việt Nam là một trong những thị trường hấp dẫn nhất thế giới, đặc biệt khi gia nhập WTO Việt Nam đã có những cam kết cụ thể về lộ trình mở cửa thị trường bán lẻ, thị trường trong nước sẽ đón nhận sự tham gia của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài

Khi các dự án đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực phân phối bán lẻ (kể cả 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh) được cấp phép, các chủ đầu tư thường nhấn mạnh việc hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cho nông dân, thúc đẩy phát triển xuất khẩu, cung cấp công nghệ chế biến hiện đại Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một đánh giá nào chính thức về tính hiệu quả và sự đóng góp của các doanh nghiệp nước ngoài trong các nội dung trên Trong khi đó, có thể nhận thấy với những ưu thế vượt trội

về phương thức kinh doanh, vốn, trình độ quản lý, công nghệ, nhiều tập đoàn bán lẻ quốc tế xâm nhập thị trường Việt Nam tạo sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các Doanh nghiệp bán lẻ trong nước

Trang 8

Vì vậy, cần phải có những tổng kết đánh giá cụ thể về tác động của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực phân phối bán lẻ để cơ quan quản lý nhà nước đưa ra được những chính sách phù hợp vừa đảm bảo thực hiện đúng cam kết gia nhập WTO, vừa sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI trong lĩnh vực này, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước tham gia thị trường, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Xuất phát từ thực tế nêu trên và là một trong những người quan tâm đến

vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Tổ chức thương mại thế giới (WTO)” làm luận văn thạc sỹ ngành kinh tế đối

ngoại chuyên ngành kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Về tình hình nghiên cứu FDI, cho đến thời điểm hiện tại, có thể nói trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về FDI Đó

là các công trình nghiên cứu tổng thể về thực trạng của FDI trên thế giới, trong phạm vi một quốc gia hoặc FDI vào một ngành cụ thể Các công trình nghiên cứu này hầu hết đều làm rõ các vấn đề về lý thuyết FDI như khái niệm, đặc điểm, hình thức, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến dòng FDI

Từ việc làm rõ các vấn đề lý thuyết nêu trên, nghiên cứu đã đi vào phân tích

FDI trong phạm vi nghiên cứu đã được xác định

Về thực tiễn nghiên cứu lĩnh vực phân phối bán lẻ, như đã nói ở trên, bán lẻ là một khái niệm hiện hữu hàng ngày trong đời sống kinh tế xã hội từ xưa đến nay Tuy nhiên, theo thời gian và theo mức độ hội nhập kinh tế thế giới, Bán lẻ xuất hiện dưới các hình thức đa dạng và luôn mang tính đổi mới

Vì vậy, bán lẻ ở Việt Nam vẫn được coi là một vấn đề khá mới mẻ, và chỉ thực sự được quan tâm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO

Trang 9

Theo tìm hiểu, có thể đánh giá rằng việc nghiên cứu về lĩnh vực bán lẻ nói chung và FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam là còn hạn chế Trên thực tế, chưa thực sự có những nghiên cứu đầy đủ, hệ thống và chuyên sâu về FDI trong lĩnh vực này

Tuy nhiên, cũng đã có những nghiên cứu nhất định liên quan đến một

số khía cạnh của đề tài nghiên cứu

Trên thế giới, có vô số những tổ chức nghiên cứu về lý thuyết bán lẻ và thị trường bán lẻ Tuy nhiên, những nghiên cứu về thị trường bán lẻ Việt Nam cũng không nhiều, điển hình là hai nghiên cứu mới là “Vietnam Retail Analysis (2008-2012)” xuất bản tháng 9/2010 bởi RNCOS và “Vietnam Retail Market Forecast to 2014” xuất bản tháng 6/2011 bởi RNCOS Tuy nhiên, việc tiếp cận được với những tài liệu như thế này bị hạn chế vì chi phí cao Nghiên cứu chuyên sâu về FDI trong ngành bán lẻ Việt Nam thì gần như

Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu liên quan đến đề tài này, tiêu biểu như:

- Báo cáo “Rà soát khuôn khổ pháp lý về dịch vụ phân phối ở Việt Nam

và những khuyến nghị về sự phù hợp của các quy định chuyên ngành với cam kết WTO” của nhóm chuyên gia Ông Andras Lakatos, Bà Eugenia Laurenza,

Ông Trương Đình Tuyển, Ông Hoàng Xuân Thọ, Bà Hoàng Thị Tuyết Mai, Ông Ngô Chung Khanh Báo cáo này chỉ tập chung về khía cạnh pháp lý và phạm vi của báo cáo là ngành phân phối Tất nhiên báo cáo có đề cập đến vấn

Trang 10

đề pháp lý trong ngành bán lẻ, nhưng mức độ tập trung chưa cao, và chưa sát với nội dung về FDI trong lĩnh vực bán lẻ

- Hội thảo “Tác động của mở cửa thị trường đến mạng lưới phân phối hàng hóa thời kỳ hậu gia nhập WTO” ngày 05/08/2010 Do Sở Công Thương

Thành phố Đà Nẵng và Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III) phối hợp tổ chức Các nội dung của hội thảo tập trung vào việc phân tích những cơ hội thách thức đối với ngành dịch vụ phân phối khi Việt Nam gia nhập WTO, hội thảo trình bày thực trạng năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này đồng thời gợi ý một số giải pháp củng cố phát triển mạng lưới phân phối (bán buôn bán lẻ) của Doanh nghiệp trong nước

- Báo cáo đánh giá tác động “Thị trường phân phối Việt Nam sau 03 năm gia nhập WTO” ngày 16/07/2010 của Bộ Công Thương Bài báo cáo nêu

lên những sự thay đổi của thị trường phân phối Việt Nam sau khi gia nhập WTO Từ đó, nêu lên những thách thức và giải pháp phát triển thị trường phân phối của Việt Nam

- Bài thuyết trình chủ đề “Việt Nam gia nhập WTO và xu hướng phát triển thị trường bán lẻ” tháng 11/2008 của Tiến sỹ Đinh Thị Mỹ Loan – Phó

chủ tịch thường trực, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam Bài thuyết trình đề cập đến những cam kết mở cửa thị trường bán lẻ và đánh giá

xu hướng phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam

- Hội thảo “Các cam kết WTO về dịch vụ phân phối, Những vấn đề đặt

ra đối với Việt Nam” ngày 29/06/2010 Do Ủy Ban Kinh tế và Trường Đại học

Thương mại và Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III) phối hợp tổ chức Các nội dung của hội thảo cũng tập trung vào các cam kết của Việt Nam trong ngành phân phối khi gia nhập WTO và tác động của

Trang 11

chúng đối với ngành phân phối nhưng chưa đề cập sâu tới những cam kết cụ thể trong ngành bán lẻ nói chung và FDI trong ngành bán lẻ nói riêng cũng như những tác động của những cam kết đó đối với FDI trong lĩnh vực này

- Báo cáo “Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020

và tầm nhìn tới năm 2025”, tháng 12 năm 2009 của nhóm chuyên gia: Ông

Andras Lakatos, Ông Michel Kostecki, Bà Andrea Spear, Ông Daniel Linotte, Ông Nguyễn Hồng Sơn, Ông Nguyễn Đức Kiên, Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Ông Lê Triệu Dũng, Bà Phạm Thị Phượng, Ông Nguyễn Sơn Ông Trần Minh Tuấn, Ông Đoàn Thái Sơn Đây là báo cáo tổng hợp kết hợp với việc phân tích các nội dung chủ yếu để thúc đẩy việc tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ phân phối Mục tiêu cụ thể của báo cáo là hỗ trợ Bộ Kế hoạch và Đầu tư

(MPI) và Tổ công tác liên ngành trong việc hoàn tất dự thảo “Chiến lược Tổng thể phát triển ngành dịch vụ”(CSSSD) để trình Chính phủ phê duyệt

Các nội dung của báo cáo rất hữu ích tuy nhiên lại vẫn chưa phải là một nghiên cứu cụ thể tập trung vào FDI trong lĩnh vực bán lẻ

- Báo cáo “Đánh giá tác động tổng thể của tự do hóa thương mại dịch

vụ đối với nền kinh tế Việt Nam”, Tháng 2/2011 của nhóm chuyên gia: Joseph

Francois, Miriam Manchin, Lương Văn Tự, Lê Triệu Dũng, Hoàng Mạnh Phương, Hoàng Minh Chiến Trọng tâm của bài báo cáo là đánh giá tác động tổng thể của tự do hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam trong

4 khuôn khổ khác nhau: trong đó một khuôn khổ là việc gia nhập WTO, 2 khuôn khổ tăng cường tự do hóa Việc đánh giá bao gồm cả xác định các rào cản đối với dịch vụ Việt Nam, sử dụng mô hình định lượng cho các tình huống chính sách Nội dung này chỉ có liên hệ với một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu về FDI trong ngành phân phối bán lẻ

Trang 12

- Bài nghiên cứu “Xu hướng phát triển ngành dịch vụ trên thế giới hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam”

của PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn và TS Nguyễn Mạnh Hùng Nghiên cứu đã làm rõ 7 xu hướng phát triển của ngành dịch vụ của nền kinh tế thế giới hiện đại, trong đó có một nội dung về xu hướng FDI ngành dịch vụ Do nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ tổng quát chưa chi tiết nên những nội dung về xu hướng FDI trong ngành dịch vụ chưa được phân tích cụ thể

- Bài nghiên cứu “Phát triển thương hiệu nhà phân phối - định hướng chiến lược khác biệt hoá của các siêu thị bán lẻ và con đường phát triển hợp tác với các nhà sản xuất” của Đặng Văn Mỹ - Trường Đại học Kinh tế - Đại

học Đà Nẵng được đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng

số 6 (41).2010 Bài nghiên cứu đã tổng hợp về lý thuyết và thực tiễn thương hiệu nhà phân phối nói chung và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thương hiệu của nhà phân phối nói riêng Với góc độ tiếp cận thiên về marketing và vấn đề thương hiệu, bài viết không thực sự liên quan đến khía cạnh FDI mà chỉ cung cấp những nội dung hữu ích về ngành phân phối nói chung

- Bài viết “Thị trường bán lẻ Việt Nam: Cơ hội vẫn còn rộng mở” của

Tác giả Trường Sơn, được đăng ở Chuyên đề Công thương – Nông nghiệp, Tạp

số Tổng quan kinh tế - xã hội việt Nam Số 2-2010 (Số 10) thuộc Tạp chí kinh

tế và Dự báo Tạp chí có đề cập đến hoạt động của thị trường bán lẻ Việt Nam, phân tích vai trò của người tiêu dùng và khái quát về xu hướng thị trường bán

lẻ của Việt Nam Nhưng nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức độ tổng quan, vấn đề FDI trong lĩnh vực bán lẻ còn mờ nhạt

Ngoài ra, còn có một số các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các bài báo điện tử cập nhật tin tức, số liệu về ngành bán lẻ, FDI trong

Trang 13

lĩnh vực bán lẻ nhưng tất cả chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin, nội dung chưa xuyên suốt, bài viết chưa phân tích cụ thể, sâu sắc về vấn đề cần được nghiên cứu ở đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá những mặt tích cực và mặt tiêu cực của hoạt động FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam và đưa ra một số gợi ý để quản lý hiệu quả hoạt động FDI và phát triển ngành bán lẻ trong nước

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn như đã nêu ở trên, nhiệm

vụ của Luận văn là:

- Trên cơ sở làm rõ lý luận chung về FDI, ngành bán lẻ tiến tới phân tích thực tiễn tình hình FDI vào ngành phân phối bán lẻ của Việt Nam

- Đánh giá, lý giải thực trạng và phân tích tác động FDI đối với dịch vụ phân phối bán lẻ Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp để quản lý hiệu quả hoạt động FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và phát triển ngành bán lẻ trong nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: tiếp cận lĩnh vực bán lẻ dưới khía cạnh vốn FDI vào lĩnh vực này Trong đó trọng tâm nghiên cứu là quy mô vốn FDI, cơ cấu vốn FDI

và những tác động của dòng vốn FDI đối với lĩnh vực này Bên cạnh đó, luận

Trang 14

văn cũng nghiên cứu một số kinh nghiệm nước ngoài về FDI trong lĩnh vực bán lẻ

- Về thời gian: tập trung vào khoảng thời gian kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến thời điểm hiện tại (2011)

- Về địa điểm: Quốc gia Việt Nam

- Về lĩnh vực: Phân ngành bán lẻ thuộc ngành dịch vụ phân phối

Phạm vi nghiên cứu như trên có thể mang lại một sự phân tích chuyên sâu mang tính tập trung và cập nhật về dòng vốn FDI trong lĩnh vực bán lẻ, đồng thời làm rõ được những tác động của việc gia nhập WTO đối với lĩnh vực bán lẻ của Việt Nam nói chung và dòng vốn FDI trong lĩnh vực này ở Việt

Nam nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng để phân tích FDI trong lĩnh vực phân phối bán qua các tiêu chí khác nhau và trong mối liên hệ, tương tác với của các nhân tố kinh tế xã hội khác

- Phương pháp duy vật lịch sử để chọn lọc, tổng hợp phân tích những nét chung, khái quát và trở thành xu hướng chung của dòng FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ trong một quá trình nhất định

- Phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp được sử dụng nhằm phân tích chuyên sâu, tổng hợp đánh giá các số liệu để rút ra bản chất vấn đề được nghiên cứu và minh chứng cho các luận điểm đó

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn dự kiến có những đóng góp mới sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về FDI, ngành bán lẻ, cụ thể hóa những đặc điểm về FDI trong ngành bán lẻ

Trang 15

- Phân tích thực trạng FDI trong lĩnh vực bán lẻ qua các khía cạnh khác nhau, và đánh giá tác động của FDI trong lĩnh vực bán lẻ, đánh giá chung về những mặt làm được và những tồn tại, lý giải nguyên nhân những tồn tại

Đề xuất một số giải pháp để quản lý hiệu quả hoạt động FDI trong lĩnh vực bán lẻ và phát triển ngành bán lẻ trong nước trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ FDI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ

Chương 2: THỰC TRẠNG FDI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ

KỂ TỪ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG FDI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH BÁN LẺ TRONG NƯỚC

Trang 16

Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ

1.1 Khái niệm về FDI và phân phối bán lẻ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của FDI

1.1.1.1 Khái niệm về FDI

- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra khái niệm vào năm 1977, được chấp nhận khá rộng rãi: “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư Mục đích của nhà đầu

tư là giành được quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.[26, tr9]

Phân tích: Lợi ích lâu dài (hay mối quan tâm lâu dài – lasting interest) : khi tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nhà đầu tư thường đặt ra các mục tiêu lợi ích dài hạn Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp đồng thời có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này

Quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (effective voice in management) ở đây chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp Quyền kiểm soát doanh nghiệp là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động của công ty, phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sống còn của doanh nghiệp

- Khái niệm của OECD: FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là

Trang 17

những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: [26, tr9]

+ Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư;

+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có;

+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới;

+ Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)

Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên

Phân tích khái niệm: Khái niệm của OECD về cơ bản cũng giống với khái niệm của IMF về FDI, đó cũng là thiết lập các mối quan hệ lâu dài (tương tự với việc theo đuổi lợi ích lâu dài trong khái niệm của IMF) và tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, khái niệm này chỉ

ra cụ thể hơn cách thức để nhà đầu tư tạo ảnh hưởng đối với hoạt động quản

lý doanh nghiệp đó là:

Hoặc thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hay một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư (GI) : 100%

Hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có (M&A): 100%

Hoặc tham gia vào một doanh nghiệp mới (liên doanh) > OR = 10% Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm): hoạt động cấp tín dụng của công ty mẹ dành cho công ty con với thời hạn lớn hơn 5 năm cũng được coi là hoạt động FDI

Về quyền kiểm soát doanh nghiệp FDI, OECD quy định rõ là 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên

- WTO đưa ra định nghĩa như sau về FDI: FDI xảy ra khi một nhà đầu

tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ

để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp,

Trang 18

cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.[66]

- Theo định nghĩa của chính phủ Mỹ, ngoài những nội dung tương tự khái niệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh nghiệp hoặc lợi ích tương đương trong các đơn vị kinh doanh không có tư cách pháp nhân”

Bên cạnh việc có một lượng cổ phần trong doanh nghiệp, có nhiều cách khác để các nhà đầu tư nước ngoài có thể dành được một mức độ ảnh hưởng hiệu quả như: hợp đồng quản lý, hợp đồng thầu phụ, thỏa thuận chìa khóa trao tay, franchising, thuê mua, licensing… Đây không phải là FDI vì nó không đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI

- Theo quan niệm của Việt Nam: Luật đầu tư năm 2005 mà quốc hội khóa XI đã thông qua có các khái niệm về đầu tư, đầu tư trực tiếp, đầu tư nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài nhưng không có khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI Tuy nhiên, có thể gộp các khái niệm trên lại và hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoat động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Kết luận: FDI là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ảnh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát (control) của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế

Trang 19

của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài)

FDI chỉ ra rằng Chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI

1.1.1.2 Đặc điểm của FDI

- Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội ở nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20% Việt Nam theo luật hiện hành thì Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn với tỷ lệ không quá 49% Còn theo quy định của OECD thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường (OR) hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp – mức được công nhận cho phép nhà đầu

tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp

- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này

Trang 20

- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức

- Chủ đầu tư quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư và cũng như công nghệ cho mình do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ

Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho các nền kinh

tế nước nhận đầu tư

FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý Ví dụ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông của Việt Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này có được nhờ chuyển giao công nghệ từ nước ngoài

Tóm lại, điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức đầu tư khác là quyền kiểm soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư

Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì ưu điểm của hình thức này là tính ổn định và hiệu quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác Nhà đầu

tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang các hình thức đầu tư khác nếu thấy

sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư Do đó, mức độ ổn định của dòng vốn đầu tư đối với host country cao hơn Nhược điểm là host country bị phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI

Đối với nhà đầu tư: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, lợi nhuận thu về cao hơn Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, khai thác nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác của nước nhận đầu tư, tranh thủ những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư

Trang 21

Tuy nhiên, hình thức này mang tính rủi ro cao vì anh ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án đầu tư Hoạt động đầu tư chịu sự điều chỉnh từ phía nước nhận đầu tư Không dễ dàng thu hồi và chuyển nhượng vốn

1.1.2 Khái niệm về phân phối bán lẻ

và xử lý hàng hóa theo hình thái phù hợp với khách hàng [44, tr3]

Ngoài ra còn có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ

- Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ như sau: Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này, cho dù là người sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ, đều là làm công việc bán lẻ, bất kể là hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện, qua điện thoại hay máy tự động bán hàng) hay chúng được bán ở đâu (tại cửa hàng, ngoài phố hoặc tại nhà người tiêu dùng) Một cách ngắn gọn: bán lẻ là những trung gian thương mại bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng [8]

- Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan [67]

Trang 22

Như vậy, bán lẻ là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình

Ranh giới giữa sản xuất, bán buôn và bán lẻ liên tục thay đổi, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế tại từng thời điểm, các quyết định của cá nhân hay chiến lược của công ty Các công ty liên tục hợp nhất hoặc “phân tách” một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hợp đồng, dẫn đến tình trạng “bán hợp nhất” rất phức tạp Vì thế, việc định nghĩa chính xác bán buôn và bán lẻ khó thực hiện được Thực tế là ranh giới giữa hai ngành này ngày càng mờ nhạt

1.1.2.2 Đặc trưng của ngành bán lẻ

- Vị trí của ngành bán lẻ trong lĩnh vực dịch vụ phân phối:

Theo bảng phân ngành dịch vụ của WTO/tài liệu mã số MTN.GNS/W/120, dịch vụ phân phối được chia thành 5 tiểu ngành, phân phối bán lẻ là một trong 5 tiểu ngành đó (5 tiểu ngành đó gồm có: Dịch vụ đại lý hoa hồng; Dịch vụ bán buôn; Dịch vụ bán lẻ; Cấp phép; Các dịch vụ khác) [45, tr4]

Tuy nhiên, cũng theo tài liệu này/cột corresponding - CPC thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối

Hình 1.1 – Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối

Nguồn: Bảng phân ngành dịch vụ của WTO

Dịch vụ phân phối

Dịch vụ đại

lý ủy quyền Dịch vụ bán buôn

Dịch vụ bán

lẻ Nhượng quyền

Trang 23

Khi hàng hóa được sản xuất ra, sẽ được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối Dù sử dụng kênh phân phối nào đi chăng nữa thì bán lẻ cũng luôn nằm ở vị trí cuối cùng của kênh phân phối đó Nói cách

khác, người bán lẻ là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng

Hình 1.2 – Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối

Nguồn: Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing

Như vậy, người bán lẻ sẽ trực tiếp nhận hàng hóa từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi chuyển tới người tiêu dùng Nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng trong chuỗi giá trị Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán lẻ người tiêu dùng có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng Người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán lẻ cũng chính là người

Người tiêu dùng

Người tiêu dùng

Người tiêu dùng Nhà bán

lẻ

Trang 24

nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng

- Về sản phẩm của ngành: chủ yếu là hàng hóa (hữu hình) và thường là các sản phẩm tiêu dùng

- Khách hàng: Ngành bán lẻ chủ yếu phục vụ người tiêu dùng từ các cửa hàng tạp hóa nhỏ cho đến những cửa hiệu bách hóa lớn Do đó, ngành này phụ thuộc trực tiếp vào sự tiêu dùng của người dân Sự tin tưởng của người tiêu dùng là chìa khóa cho hiệu quả hoạt động của ngành Một đặc trưng để phân biệt ngành bán lẻ với các ngành kinh doanh khác là khách hàng (người tiêu dùng cuối cùng) ít khi lên kế hoạch cho việc mua hàng hoặc hay mua hàng tùy theo hứng thú Một cuộc điều tra cho thấy phần lớn người tiêu dùng không xem quảng cáo trước khi đi mua sắm hoặc họ không chuẩn bị list mua sắm (hoặc họ mua chệch đi so với list chuẩn bị) Hành vi này cho thấy giá trị của việc trưng bầy, sự bố trí và sắp xếp trong cửa hàng, trên catalogue hay website Kẹo, trang phục, đồ ăn, tạp chí hoặc một số mặt hàng khác được mua tùy hứng khi được đặt ở vị trí dễ nhìn thấy và hay được để ý trong cửa hàng, trên catalogue hoặc website Vì phần lớn việc mua hàng là không lên kế hoạch nên nhà bán lẻ phải có khả năng dự đoán, ngân sách và đặt hàng cũng như phải bố trí nhân viên hợp lý tại nơi bán hàng

Người tiêu dùng có thể ghé thăm, tham khảo, xem hàng, chọn hàng trong các kênh bán lẻ mà không mất chi phí, không bị hạn chế Chính vì vậy,

họ vẫn thường xuyên ghé thăm các cửa hàng mặc dù mail, điện thoại hay các web bán hàng ngày một gia tăng Bất chấp sự xâm nhập thị trường của hình thức bán lẻ không qua cửa hàng, phần lớn việc giao dịch mua bán vẫn diễn ra tại các cửa hàng và vẫn tiếp tục như vậy trong tương lại Nhiều người thích đi mua hàng tận nơi, thích đụng, ngửi, nếm hay thử các sản phẩm, thích đi mua

Trang 25

sắm mà không định trước, cảm thấy tiện hơn khi tự mang hàng về nhà hơn là đợi chờ người giao hàng và thích sự riêng tư khi ở nhà

- Về tiêu chí để cạnh tranh: việc cạnh tranh trong ngành bán lẻ được dựa trên một số tiêu chí đặc thù: thứ nhất là giá cả, thứ hai là vị trí địa điểm của cửa hàng (hoặc trung tâm, siêu thị…), thứ ba là số lượng, chất lượng sản phẩm, và cuối cùng là các dịch vụ của nhà bán lẻ

Đây là những tiêu chí quan trọng trong việc xây dựng các chiến lượng cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ

Dưới đây là những điểm mới trong xu hướng phát triển của ngành bán lẻ:

- Sự giảm sút của các cửa hàng nhỏ: Những cửa hàng sở hữu độc lập đang ngày càng mất vị trí của mình trên thị trường bán lẻ Loại hình bán lẻ này có nhược điểm là hạn chế về số lượng cũng như loại hàng hóa Chúng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các cửa hàng bách hóa lớn hoặc các cửa hàng lớn Các cửa hàng này có xu hướng bị đóng cửa Ở một số nơi, sự có mặt của các cửa hàng lớn gây sức ép thoái lui khỏi thị trường của các cửa hàng nhỏ Đây là xu hướng phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, vẫn có một số những đại lý nhỏ độc lập vẫn làm ăn phát đạt do hiểu rõ tâm lý người tiêu dùng và cung cấp cho khách hàng những dịch vụ ngày càng tốt

- Internet và thương mại điện tử: Internet, một phương tiện trung gian phổ biến mở ra con đường rộng mở cho các nhà bán lẻ Nó mang đến cho người tiêu dùng cơ hội mua sắm tại nhà Mặc dù việc mua sắm qua internet chưa trở thành xu hướng chủ yếu nhưng nó ngày càng được phổ biến hơn Amazon.com là một thành công trong lĩnh vực thương mại điện tử

- Sự gia tăng của các cửa hàng giảm giá: sự chiếm ưu thế của các cửa hàng giảm giá là một đặc điểm dễ nhận thấy của ngành bán lẻ ngày nay Cửa hàng giảm giá còn hỗ trợ giá thấp nhất và việc tiếp cận với các mặt hàng dễ

Trang 26

dàng nhất cho người tiêu dùng Wal-Mart, nhà bán lẻ lớn nhất thế giới cũng thuộc loại hình bán lẻ này

- Chiếm lĩnh thị trường: đó là các hãng bán lẻ mà hiện nay họ tập trung vào một mặt hàng đặc thù và chiếm lĩnh thị phần và hoạt động tốt hơn các đối thủ khác Họ được gọi là Category Killers Toys R Us (thị trường đồ gỗ), Home Depot (Nhà), Staples (văn phòng phẩm) là những ví dụ về việc nhà bán

lẻ thâu tóm phần lớn thị trường của một loại sản phẩm và gây ra việc giảm số lượng các doanh nghiệp trong đoạn thị trường đó Đây là xu hướng dễ nhận biết trên thị trường bán lẻ hiện tại

- Mua lại và sáp nhập (M&A): Các nhà bán lẻ muốn chiếm ưu thế trên thị trường đều chấp thuận chiến lược M&A Đây là xu hướng của ngành bán

lẻ toàn cầu ngày nay Thay vì phải rất nỗ lực để việc kinh doanh tăng trưởng, những nhà bán lẻ có thể đạt được mức tăng đáng kể nhờ việc M&A Nó giúp các hãng bán lẻ chiếm lĩnh được nhiều không gian thị trường hơn Với dung lượng thị trường gia tăng, họ có thể thiết lập tốt hơn việc kiểm soát đối với các nhà cung cấp và giảm giá mua hàng, việc này mang lại lợi nhuận cao hơn M&A được vận hành phụ thuộc vào các yếu tố tăng trưởng của nền kinh tế, quy mô thu nhập và nhu cầu của người tiêu dùng Một ví dụ đó là việc Nikes

sở hữu Hurley, một hãng lướt ván Việc này giúp Nike thâm nhập một đoạn thị trường mới

1.1.2.3 Vai trò của hoạt động phân phối bán lẻ

- Cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Khi phát sinh nhu cầu thì người ta mới có mong muốn về hàng hóa nhưng không phải lúc nào người tiêu dùng có thể đến mua hàng hóa trực tiếp

từ các nhà sản xuất, nhà bán buôn được Nhà bán lẻ mới thực sự có vai trò nhu cầu và mong muốn đó của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho họ đúng thời gian, đúng địa điểm và ở mức giá họ có thể trả Đây không phải

Trang 27

công việc dễ dàng, đặc biệt trong điều kiện hàng hóa và dịch vụ sản xuất ngày càng đa dạng và nhu cầu của khách hàng luôn biến đổi Nhà bán lẻ phải luôn luôn thu thập những thông tin cần thiết về nhu cầu về thị hiếu của khách hàng… để rồi từ đó làm thỏa mãn khách hàng bằng những sản phẩm và dịch

vụ của mình Như thế bản thân hoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc tạo ra sự đa dạng về hàng hóa cung ứng, tạo thuận tiện về địa điểm mua, bán, thuận tiện về các dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin Khi có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực phân phối hàng hóa thì chi phí trong khâu phân phối được chuyển vào giá bán cho người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối và việc giảm giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng

- Thu thập thông tin thị trường, phản ánh trở lại nhà sản xuất

Quá trình chuyển dịch hàng hóa tới tay người tiêu dùng thông qua dịch

vụ phân phối bán lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên có thể chuyển tải những thông tin cần thiết

về nhu cầu thị trường cho những người sản xuất và người cung ứng hàng hóa

để điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường, vì thế tạo lập những cầu nối để dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở

đó mà tăng cường thương mại hóa và phát triển thị trường cho những sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế đất nước

- Thúc đẩy sản xuất phát triển

Khi hàng hóa được sản xuất ra thì việc tiếp theo là chúng cần được tiêu thụ Và ngược lại thì khi hàng hóa được tiêu thụ các doanh nghiệp mới có thể tiếp tục sản xuất Các nhà bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích

Trang 28

tiêu thụ và truyền bá những thông tin về hàng hóa về nhà sản xuất cũng là do

họ tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng và hiểu được nhu cầu của người tiêu dùng Các nhà bán lẻ sẽ có thể tiếp tục những biện pháp kích thích tiêu thụ của nhà sản xuất, hoặc có thể có phương pháp kích thích tiêu thụ của riêng mình Các nhà bán lẻ có thể nhận hàng hóa đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hoặc nhà bán buôn, nhưng với nhiều mặt hàng nhà bán lẻ cũng đảm nhiệm vai trò phân loại, sắp xếp, sơ chế, đóng gói…để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và dưới hình thức phù hợp nhất từ đó

sẽ thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm Hơn nữa, nhà bán lẻ còn có chức năng thiết lập mối liên hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với người mua tiềm

ẩn Các doanh nghiệp có thể lôi kéo thêm được khách hàng cũng một phần không nhỏ là dựa vào nhà bán lẻ Sản xuất là cái gốc của phân phối bán lẻ và bán lẻ tự nó có thể kích thích sản xuất mở rộng và phát triển Một doanh nghiệp thành công không chỉ làm tốt nhiệm vụ sản xuất mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ hàng hóa của mình và ai nắm được khâu phân phối bán lẻ thì qua đó sẽ điều phối cả sản xuất

- Tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp

Khi quyết định liên kết với các nhà bán buôn, bán lẻ, các nhà sản xuất

đã có chiến lược kinh doanh của mình với các quyết định về sản phẩm như về giá bán, xúc tiến, quảng bá sản phẩm, họ đã chủ động xây dựng mối liên kết với các nhà bán buôn, bán lẻ trong hệ thống phân phối tạo nên sự phân công chuyên môn hóa và hợp tác hóa trong dây chuyền tạo giá trị gia tăng, điều đó

đã giúp các nhà sản xuất và các nhà bán buôn, bán lẻ tập trung được mọi nỗ lực vào những hoạt động mà mình có lợi thế, vì vậy đảm bảo được năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn và nhờ vậy mà nâng cao hơn sức cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Trang 29

Nhờ tham gia vào các liên kết như vậy, mỗi doanh nghiệp đều được hưởng những lợi ích kinh tế nhờ hoạt động phối hợp, khi mà mối liên kết giữa nhà sản xuất và nhà bán buôn, bán lẻ ổn định nhà sản xuất sẽ tiếp cận tốt hơn

và rẻ hơn thông tin về thị trường, bảo đảm nguồn cung ứng hoặc nhu cầu ổn định, nâng cao quyền thương lượng đáng kể, tạo hình ảnh, tăng cường khả năng khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh nhờ vậy có được lợi thế cạnh tranh hơn so với những doanh nghiệp khác

Các nhà bán buôn, bán lẻ khi liên kết có hiệu quả với nhà sản xuất đã tạo lập được lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho lợi ích của mình trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khi Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, vì họ phải mất thời gian và tiền của để tạo lập được mối liên kết này Mặt khác cùng với các cam kết tự do hóa thương mại và đầu tư để hội nhập kinh tế quốc tế, nhà nước sẽ dỡ bỏ dần các rào cản thuế và phi thuế bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước, khi đó liên kết hiệu quả giữa các nhà bán buôn, bán lẻ và nhà sản xuất sẽ là các rào cản hiệu lực nhất của doanh nghiệp Việt Nam để bảo vệ mình trước đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài

Nhà bán lẻ cung cấp dịch vụ hạn chế: là các cửa hàng bán lẻ tự phục

vụ, cung cấp rất ít dịch vụ khách hàng do vậy hàng hóa được bán với mức giá thấp Ở nước ngoài, các nhà ăn tự phục vụ đặt tại các trường đại học, các cơ quan lớn đông cán bộ công nhân viên Khách hàng tự lấy mâm bát thức ăn

Trang 30

theo các món chế biến sẵn với định lượng nhất định Hiện nay, loại cửa hàng này cũng đã xuất hiện nhiều tại Việt Nam

- Theo mặt hàng kinh doanh, gồm có:

Cửa hàng chuyên doanh: chuyên bán các dòng sản phẩm hẹp và chuyên sâu như cửa hàng bán vòng bi, cửa hàng quần áo ngoại cỡ, cửa hàng đồ chơi trẻ em, quần áo lót phụ nữ… Đối với lĩnh vực bưu chính viễn thông đó là các điểm cung cấp dịch vụ internet bán lẻ, các cửa hàng chuyên bán tem….;

Cửa hàng bách hóa: bày bán nhiều mặt hàng khác nhau, chia ra thành nhiều chủng loại, mỗi quầy là một mặt hàng riêng;

Siêu thị: cũng như bách hóa, bán nhiều loại hàng hóa, nhưng khách hàng tự phục vụ cho nên giá hạ hơn Trong những năm gần đây, siêu thị phát triển nhanh ở các đô thị lớn Việt Nam và trở thành hình thức mua sắm văn minh lịch sự với giá cả chấp nhận được;

Cửa hàng tiện dụng: những cửa hàng bán lẻ nhỏ, phân tán ở các khu dân cứ, bán các mặt hàng phục vụ nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng,

mở cửa vào tất cả các ngày trong tuần từ sáng sớm đến tối Giá bán có thể cao hơn một ít;

Cửa hàng cao cấp: là một số ít cửa hàng bán các hàng hóa chất lượng cao phục vụ các khách hàng nhiều tiền và yêu cầu cao Cửa hàng cao cấp thường được đặt ở các khu phố sang trọng, trung tâm

- Theo giá bán lẻ, gồm có:

Cửa hàng giảm giá: các cửa hàng: bán giá rẻ: chất lượng ngoại – giá nội, mua lẻ - giá bán buôn, sale off…;

Cửa hàng một giá;

Cửa hàng kho: Metro…;

Cửa hàng bán bằng catalog: ở Việt Nam hình thức này chưa phổ biến, thường được áp dụng khi nhu cầu của khách hàng khá đặc biệt, sản phẩm tại

Trang 31

cửa hàng chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, hoặc khi hàng hóa chưa có trong cửa hàng: đặt trang phục thời trang qua catalog; khi nhân viên bán hàng trực tiếp không mang theo sản phẩm để giới thiệu với khách hạng: bán bếp ga, mỹ phẩm….; khách hàng mua bánh, đặt đồ uống thông qua catalog các nhà bán lẻ đã cung cấp…

- Theo hình thức bán, gồm có:

Bán tại cửa hàng;

Bán lẻ không qua cửa hàng: có nhiều hình thức như đặt hàng qua thư, qua điện thoại; máy bán hàng tự động; mua hàng trực tuyến; bán hàng trực tiếp; bán hàng mạng lưới (đa cấp): điện hoa; bán sách, điện thoại, quần áo, mỹ phẩm…qua mạng; mua nước đóng chai qua máy bán hàng tự động; gọi cơm hộp qua điện thoại… Các máy bán hàng tự động cung cấp nhiều loại hàng hóa thông thường như tem thư, thuốc la, nước ngọt, báo, kẹo, vé tàu điện, kem đánh giầy… Hình thức bán lẻ tại nhà rất phát triển tại Việt Nam do chi phí lao động, chi phí bán hàng thấp Bán hàng qua mạng dần trở nên phổ biến tại Việt Nam Bưu điện các nước có dịch vụ “Lĩnh hóa gia ngân” (Cash on delivery – COD) là hình thức mua hàng qua bưu điện Bưu điện Việt Nam cũng mới thử nghiệm dịch vụ này vào năm 2006 Hình thức bán hàng của bưu điện có thể bao gồm: bán buôn cho các nhà bán lại (Reseller), bán lẻ tại các bưu cục các cấp, qua các đại lý và điểm bưu điện văn hóa xã, bán qua mạng (điện thoại), bán tại nhà Bán hàng tại nhà là hình thức bán hàng cần áp dụng đối với các khách hàng lớn của bưu điện đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gia tăng trên thị trường

- Theo hình thức sở hữu, gồm có:

Bán lẻ độc lập: do một cá nhân làm chủ và tự quản lý [phổ biến tại Việt Nam];

Trang 32

Mạng lưới của công ty: Các cửa hàng của mạng lưới là hai hay nhiều cửa hàng cùng thuộc một quyền sở hữu và kiểm soát, có chung một bộ phận thu mua và tiêu thụ tập trung, và bán những chủng loại hàng hóa tương tự nhau Mạng lưới công ty xuất hiện trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng phát triển mạnh nhất là ở cửa hàng bách hóa tổng hợp, các cửa hàng tạp hóa, các cửa hàng thực phẩm, cửa hàng dược phẩm, cửa hàng giày dép và cửa hàng trang phục phụ nữ;

Hợp tác xã bán lẻ: Mạng lưới tự nguyện gồm một nhóm những người bán lẻ độc lập được người bán sỉ bảo trợ thu xếp để mua số lượng lớn hàng hóa và cùng bán Hợp tác xã bán lẻ, gồm những người bán lẻ độc lập đứng ra thành lập một tổ chức mua hàng tập trung và cùng hợp lực để thực hiện công việc kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh;

Đại lý độc quyền (nhượng quyền thương mại) : Tổ chức đặc quyền là một sự liên kết theo hợp đồng giữa người cấp đặc quyền (nhà sản xuất, người bán sỉ hay tổ chức dịch vụ) và người hưởng đặc quyền (những người kinh doanh độc lập mua quyền sở hữu hay khai thác một hay nhiều đơn vị trong hệ thống đặc quyền) Các tổ chức đặc quyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ đặc sắc nào đó hay phương pháp kinh doanh hay trên

cơ sở tên thượng mại bằng sáng chế hay uy tín mà người đặc quyền đã tạo ra Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biến đối với thức ăn nhanh, cửa hàng video, trung tâm phục hồi sức khỏe, hiệu hớt tóc, cửa hiệu cho thuê ô tô, motel, công ty du lịch, bất động sản và hàng chục các sản phẩm cùng lĩnh vực dịch vụ khác;

Tập đoàn bán lẻ: Các tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do, kết hợp với một số hướng và hình thức bán lẻ khác nhau dưới quyền sở hữu tập trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản

lý của mình

Trang 33

1.2 Đặc trưng của FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và tác động của chúng đối với nước tiếp nhận

Ngoài những đặc điểm chung của FDI, FDI trong lĩnh vực bán lẻ còn

có mang điểm đặc trưng như sau:

- Nguồn vốn FDI trong lĩnh vực bán lẻ chủ yếu bắt nguồn từ các nước phát triển Đặc trưng của nhà bán lẻ là việc đầu tư đáng kể vào tài sản bao gồm việc đầu tư vào các đại lý bán lẻ, nhà kho và mạng lưới phân phối… chính vì vậy, lượng vốn đầu tư vào ngành thường là khá lớn Mặt khác, Logistic chặt chẽ và việc áp dụng những tiêu chuẩn cao là chìa khóa của thành công: một nhà bán lẻ thành công sẽ phải chứng minh những khả năng của họ trong việc cung cấp một cách hiệu quả cho khách hàng với tiêu chí đúng sản phẩm tại đúng thời điểm với giá cả hợp lý Sự cạnh tranh là khốc liệt

và lòng trung thành của khách hàng có thể dao động nhanh chóng nếu giá trị mang lại từ nhà bán lẻ thay đổi Vì vậy, một nhà bán lẻ mà không thể mang lại và gìn giữ sự hài lòng của khách hàng sẽ bị ảnh hưởng hoặc dần dần hoặc nhanh hơn đến tình hình hoạt động của công ty Việc đáp ứng được các trên khi là điều cốt lõi cho sự thành công của các nhà bán lẻ nhất là khi họ thâm nhập một thị trường mới Do đó, hoạt động FDI trong ngành chủ yếu được thực hiện bởi các nhà bán lẻ lớn, có kinh nghiệm, tiềm lực tài chính Những nhà bán lẻ này thường đến các quốc gia phát triển

- FDI chủ yếu tập trung vào những thị trường đông người tiêu dùng, với mức sống cao Khi đầu tư nước ngoài, bất cứ nhà đầu tư nào cũng ưu tiên lựa chọn những quốc gia có thị trường tiềm năng mà dân số lớn là tiêu chí quan trọng để đánh giá Đây cũng là đặc điểm của FDI bán lẻ Tuy nhiên, việc lựa chọn địa điểm cụ thể để thực hiện việc đầu tư có thể có sự khác nhau giữa các ngành Các ngành sản xuất có thể tìm những địa điểm xa khu dân cư hay ở trong các khu công nghiệp khu chế xuất để thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng

Trang 34

nhưng các nhà bán lẻ thì thường muốn đầu tư xây dựng tại các trung tâm của các thành phố lớn, nơi không những chỉ thuận lợi về các tiêu chí giao thông, điện nước và điều cần thiết hơn cả là mật độ dân số và mức sống cao

- Yêu cầu cao về môi trường đầu tư đặc biệt là môi trường văn hóa Trước khi đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư không chỉ chú trọng nghiên cứu môi trường kinh tế mà còn tìm hiểu về những điều kiện môi trường khác như pháp lý hay văn hóa tập quán tại nước sở tại Với đặc điểm khách hàng là chính là người tiêu dùng, trong ngành bán lẻ, việc nghiên cứu môi trường văn hóa như phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng, lối sống…của người dân địa phương thực sự quan trọng

1.3 Kinh nghiệm đối với hoạt động FDI trong lĩnh vực phân phối bán lẻ của một số nước

1.3.1 Thái Lan

Về Khái niệm bán lẻ, hiện nay không có điều luật cụ thể nào quy định dịch vụ phân phối, bán lẻ bán buôn, nhượng quyền thương mại hay kinh doanh dịch vụ trung gian tại Thái Lan Mối quan hệ của các bên (ví dụ như nhà phân phối và nhà cung cấp) thường được điều chỉnh bởi bộ luật dân sự và thương mại đối với hợp đồng, việc bán hàng và đại lý (nếu có), cũng như một

số pháp luật cụ thể khác về các vấn đề như Luật Thương hiệu, Luật Bệnh nhân, Luật Bản quyền, Luật Bí mật thương mại và Luật Hợp đồng

Ở Thái Lan, Vụ Thương mại trong nước (Department of Internal Trade - DIT) thuộc Bộ Thương mại có trách nhiệm giám sát khu vực bán buôn và bán

lẻ Vụ còn có chức năng xúc tiến cạnh tranh công bằng và chống các hành vi độc quyền của các doanh nghiệp trong nước Đồng thời với việc ban hành Đạo luật Cạnh tranh vào năm 1999, Thái Lan cũng thành lập Ủy ban Cạnh tranh Thương mại (Trade Competition Commission - TCC) (tham khảo mục 5) với

Trang 35

trách nhiệm đảm bảo, giám sát thực thi Đạo luật Cạnh tranh và tham mưu cho

Bộ trưởng Thương mại về việc ban hành các quy định quản lý cấp bộ Trong việc thực thi pháp luật, TCC tiến hành theo từng trường hợp cụ thể TCC bao gồm: Bộ trưởng Thương mại làm Chủ tịch, Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại làm Phó Chủ tịch, Thứ trường thường trực Bộ Tài chính làm thành viên và 8-12 thành viên khác được Hội đồng Bộ Thương mại và Tổng thư ký của Ủy ban đề cử Luật pháp quy định các cá nhân trong Ủy ban không được liên quan đến các vấn đề chính trị và ít nhất ½ tổng số thành viên phải xuất thân từ khu vực tư nhân Mỗi thành viên Ủy ban có nhiệm kỳ hai năm Ngoài ra, Vụ Công chính và Quy hoạch (Department of Public Works and Town and Country Planning - DPT) thuộc Bộ Nội vụ có trách nhiệm thực thi các luật về quy hoạch phân vùng trong cả nước cũng như các quy định về quy hoạch phân vùng ban hành vào năm 2003 có ảnh hưởng đến các cơ sở bán lẻ quy mô lớn

Vào tháng 9 năm 2009, chính quyền A-bi-sit Ve-gia-di-va đã nhắc lại

kế hoạch thông qua Đạo luật bán lẻ và bán buôn (đề xuất năm 2005 và vẫn đang treo) Nội các đã Thái Lan quyết định trả lại dự thảo Luật cho Hội đồng Nhà nước Thái Lan, Đại diện Thương mại Thái Lan và Bộ Thương mại để tiến hành nghiên cứu thêm Vào tháng 4 năm 2010, có thông tin cho biết Hội đồng Nhà nước từ trước tới nay chỉ xem xét 10 phần trong tổng số 60 phần của dự thảo Luật và cần nhiều tháng nữa để thảo luận thêm

Trang 36

phí bảo hiểm miễn phí Tuy nhiên sản phẩm thuốc lá có sẵn trong các cửa hàng bán lẻ hiện đại

Rượu, nước giải khát: kể từ của tháng 11 năm 2006, luật quy định thời gian cho phép bán rượu là từ 11 giờ sáng đến 2 giờ chiều và 5 giờ chiều đến

12 giờ tối Trong một số ngày (ngày lễ tôn giáo và quốc gia, ngày bầu cử) việc bán rượu bị cấm hoàn toàn, và không được phục vụ ngay cả trong các nhà hàng và quán bar Độ tuổi tối thiểu được phép uống và mua rượu là 18

Dược phẩm: Dược sĩ cần một giấy phép đặc biệt do Tiểu ban cấp phép của nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối và hiệu thuốc, Bộ Y tế Bác sĩ không còn được phép tự pha chế thuốc cho bệnh nhân của họ

Bán hàng trực tiếp: Luật về Bán hàng trực tiếp và marketing trực tiếp

2545 (2002) quy định chi tiết về bán trực tiếp và marketing trực tiếp ở Thái Lan

Hiện quy định về lĩnh vực bán lẻ vẫn còn thiếu Hầu hết các nhà bán lẻ nước ngoài có thể mở doanh nghiệp mới ở Thái Lan mà không có trở ngại, mặc dù có một số quy định như Luật Kế hoạch Đô thị và Luật Cạnh tranh Thương mại Theo Luật Cạnh tranh thương mại, nếu doanh nghiệp nào có thị phần hơn 75% trong một ngành, nó phải tách ra thành các công ty con để ngăn chặn sự độc quyền quá mức Tuy nhiên, trong thực tế, những công ty con vẫn thuộc về công ty mẹ, vốn có toàn quyền để ra lệnh các công ty con theo chính sách của mình

1.3.2 Trung Quốc

Khái niệm về bán lẻ: Bán hàng và cung cấp dịch vụ phụ trợ liên quan cho người tiêu dùng cá nhân hoặc tập thể tại một địa điểm cố định hoặc qua truyền hình, điện thoại, đặt hàng qua thư, internet hoặc máy bán hàng tự động

Trung Quốc bắt đầu mở cửa thị trường phân phối một thời gian dài trước khi gia nhập WTO Các nhà bán lẻ nước ngoài được phép gia nhập thị

Trang 37

trường Trung Quốc trong chương trình thử nghiệm từ năm 1992 Tuy nhiên, trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001, Trung Quốc đặt những hạn chế cao về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán

lẻ, những cửa hàng đầu tiên của người nước ngoài chỉ thực sự mở cửa vào năm 1995 bởi thời gian trước đó Trung Quốc đặt ra hàng loạt hạn chế mà các nhà phân phối của các thành viên GATT/WTO chưa từng gặp bao giờ Bên cạnh việc hạn chế hoạt động bán lẻ của nước ngoài dưới hình thức liên doanh, chính phủ Trung Quốc còn áp dụng chiến lược phân bố quy hoạch vùng quốc gia hết sức khắt khe, hạn chế chương trình thí nghiệm trong 11 tỉnh ở vùng duyên hải phía đông

Đến năm 2001, sau 15 năm thương lượng kéo dài, Trung Quốc trở thành thành viên của WTO Sự kiện này buộc Trung Quốc phải dỡ bỏ toàn bộ các rào cản thương mại và mở cửa thị trường bán lẻ trong vòng 3 năm Trong năm 2004 Chính phủ Trung Quốc đã ban hành các biện pháp đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại, trong đó cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp bán lẻ ở Trung Quốc mà không có giới hạn địa

lý (trước đây, các nhà bán lẻ nước ngoài có thể hoạt động trong các thành phố lớn, khu kinh tế đặc biệt) Các biện pháp cũng cho phép các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp dịch vụ bán lẻ thông qua liên doanh (JVs), doanh nghiệp hoàn toàn vốn nước ngoài (WFOEs) Chính phủ Trung Quốc cũng đã ban hành những sửa đổi chính sách mới nhất liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành thương mại, bao gồm bán lẻ, chấm dứt cuộc thử nghiệm kéo dài 12 năm

Những chính sách mới nhất ra đời năm 2004 đã dỡ bỏ toàn bộ các hạn chế, hứa hẹn một thị trường mở cửa và bình đẳng đối với các nhà bán lẻ quốc

tế Việc dỡ bỏ này cho phép các nhà bán lẻ nước ngoài được “khai thác nền kinh tế địa phương ở các miền khác nhau.” Mặc dù những chính sách mở cửa

Trang 38

này đã đem lại cho các nhà bán lẻ xuyên quốc gia nhiều sự tự do hơn trước, Chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục can thiệp vào ngành bán lẻ thực phẩm Trong khi chính quyền trung ương đã cắt giảm vai trò quản lý của mình thì việc phân cấp tài chính lại làm gia tăng quyền hạn của các cơ quan địa phương Để đối phó với thách thức của việc mở cửa thị trường bán lẻ và cho phép cạnh tranh toàn cầu sau khi gia nhập WTO Chính quyền Thượng Hải đã sáp nhập 4 doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, tạo ra một tập đoàn có đủ tiềm lực cần thiết cả về quy mô và phạm vi để cạnh tranh với sự gia nhập và

mở rộng của các nhà bán lẻ xuyên quốc gia

Năm 2009 Danh mục Biện pháp quản lý đối với doanh nghiệp nước ngoài hoặc các doanh nghiệp do cá nhân thành lập ở Trung Quốc cho phép các cá nhân hoặc nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp đối tác bán lẻ bắt đầu từ tháng 3 năm 2010

Mặc dù loại bỏ các hạn chế về địa lý và quyền sở hữu, Trung Quốc vẫn còn một số hạn chế đối với nhà bán lẻ nước ngoài Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ bán lẻ đối với một số sản phẩm, bao gồm cả hóa chất nông nghiệp, bông, ngũ cốc, dầu, đường, và thuốc lá, phải đối mặt với các quy định thị trường Ví dụ, chỉ có liên doanh với quyền sở hữu đa số của Trung Quốc

có thể bán các loại hàng khác nhau với các nhãn hàng đến từ các nhà cung cấp khác nhau trong chuỗi 30 cửa hàng trở lên Theo các hạn chế đó, các nhà bán

lẻ nước ngoài phải có những nhượng bộ về quy mô và tính độc lập của doanh nghiệp để tiếp cận thị trường Trung Quốc

Trung Quốc cũng đạt được tiến bộ tích cực trong ngành công nghiệp dịch vụ bán lẻ với quyết định chuyển giao quyền phê duyệt cấp giấy phép bán

lẻ cho các cơ quan cấp tỉnh Đây là bước quan trọng nhằm tăng tốc độ và đơn giản hóa khả năng các nhà bán lẻ nước ngoài trong việc thiết lập cửa hàng mới qua đó mở rộng hoạt động ở thị trường Trung Quốc Tuy nhiên, Trung

Trang 39

Quốc duy trì các hạn chế về các loại hàng hóa mà các nhà bán lẻ nước ngoài

có thể bán, bao gồm cả thuốc lá, đường và các ấn phẩm in ấn, và yêu cầu vốn đăng ký bổ sung cho mỗi cửa hàng bán lẻ mới sẽ mở ra - thường ở mức cao hơn mức được quy định trong Luật Công ty của Trung Quốc Những hạn chế này cản trở sự phát triển kinh doanh cũng như nỗ lực của Trung Quốc trong việc thúc đẩy tiêu dùng trong nước Trung Quốc cần phải xây dựng tiến trình của mình trong lĩnh vực này và thực hiện các nghĩa vụ WTO bằng cách sửa đổi các quy định sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế”

Bảng 1.1- Hạn chế đối với doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài theo từng

Các biện pháp quản lý doanh nghiệp liên doanh phân phối sản phẩm nghe nhìn giữa Trung Quốc và nước ngoài (2004)

Các biện pháp quản lí Đầu

tư nước ngoài trong các ngành thương mại (2004)

Dầu thô Tỉ lệ vốn góp nước ngoài

không vượt quá 49% nếu hoạt

Các biện pháp quản lí Thị trường dầu thô (2007), Danh

Trang 40

động bán lẻ có nhiều hơn 30 cửa hàng với các loại sản phẩm khác nhau và các nhãn hiệu cung cấp khác nhau

mục hướng dẫn đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp (2007)

Dầu tinh chế

Tỉ lệ vốn góp nước ngoài ít hơn 50% nếu hoạt động bán

lẻ có nhiều hơn 30 cửa hàng với các loại sản phẩm khác nhau và các nhãn hiệu cung cấp khác nhau

Các biện pháp quản lí Dầu tinh chế (2007)

*Lưu ý: Theo quy định bổ sung năm 2009, nhà cung cấp dịch vụ đến từ Hồng Kông và Macao có thể thiết lập các doanh nghiệp phân phối sản phẩm nghe nhìn với hình thức sở hữu 100% vốn nước ngoài tại Trung Quốc

Nguồn: Báo cáo so sánh khuôn khổ pháp lý về dịch vụ phân phối và quy định Nhà nước trong ngành bán lẻ ở một số quốc gia, Kinh nghiệm đối với Việt Nam, Dự án MUTRAP III

Kinh nghiệm mở cửa thị trường bán lẻ của Trung Quốc cho thấy các nhà bán lẻ trong nước đã khuyếch trương những nguy cơ của cạnh tranh với nước ngoài Thực tế là dù Trung Quốc phải tự do hóa thị trường bán lẻ theo cam kết WTO, các nhà bán lẻ trong nước vẫn giữ vai trò như trước ở thị trường trong nước Mặc dù các TNC bán lẻ bắt đầu chiếm dần thị phần thông qua khai thác lợi thế cạnh tranh về công nghệ thông tin, hậu cần hay kỹ năng quản lý chuỗi cung cấp, bí quyết kinh doanh, v.v… các nhà bán lẻ trong nước vẫn giữ vị thế quan trọng trên thị trường bán lẻ thực phẩm ở Trung Quốc Tuy

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Công thương (2009), Tọa đàm mở cửa dịch vụ phân phối theo cam kết WTO và phát triển hệ thống phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam – Kinh nghiệm quốc tế, Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tọa đàm mở cửa dịch vụ phân phối theo cam kết WTO và phát triển hệ thống phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam – Kinh nghiệm quốc tế
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
4. Bộ Công Thương (2010), Báo cáo đánh giá tác động “Thị trường phân phối Việt Nam sau 03 năm gia nhập WTO” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động “Thị trường phân phối Việt Nam sau 03 năm gia nhập WTO
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2010
5. Phương Diệp (2010), “Thị trường bán lẻ Việt Nam: Đa dạng tiềm năng”, Báo Kinh doanh số 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bán lẻ Việt Nam: Đa dạng tiềm năng”
Tác giả: Phương Diệp
Năm: 2010
6. Nguyễn Hòa (2010), “FDI vào lĩnh vực phân phối còn khiêm tốn”, Trang điện tử Báo đối ngoại Việt Nam – VEN Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI vào lĩnh vực phân phối còn khiêm tốn”
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2010
7. Nguyễn Hữu Khải (2007), Các ngành dịch vụ Việt Nam, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ngành dịch vụ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2007
8. Philip Kotler (2003), “Quản trị Marketing”, NXB Thống kê, Hà Nội 9. Đinh Thị Mỹ Loan (2008), Việt Nam gia nhập WTO và xu hướng pháttriển thị trường bán lẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Marketing”, "NXB Thống kê, Hà Nội 9. Đinh Thị Mỹ Loan (2008), V"iệt Nam gia nhập WTO và xu hướng phát
Tác giả: Philip Kotler (2003), “Quản trị Marketing”, NXB Thống kê, Hà Nội 9. Đinh Thị Mỹ Loan
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
10. Hàn Nguyên (2012), “Thị trường phân phối, bán lẻ: Hội đủ mặt “anh tài”, Báo đầu tư điện tử, bản quyền thuộc Báo đầu tư – Cơ quan của Bộ kế hoạch và đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thị trường phân phối, bán lẻ: Hội đủ mặt “anh tài
Tác giả: Hàn Nguyên
Năm: 2012
15. Nhóm tác giả thuộc Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng (Ciem – Nguyễn Thị Tuệ Anh làm trưởng nhóm) (2006),“Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Dự án SIDA Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”
Tác giả: Nhóm tác giả thuộc Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng (Ciem – Nguyễn Thị Tuệ Anh làm trưởng nhóm)
Năm: 2006
16. Nguyễn Hồng Sơn (đồng tác giả) (2009), Phát triển ngành dịch vụ ở Mỹ: Những thay đổi của nền kinh tế và điều chỉnh chính sách. Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngành dịch vụ ở Mỹ: Những thay đổi của nền kinh tế và điều chỉnh chính sách
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn (đồng tác giả)
Năm: 2009
17. Nguyễn Hồng Sơn (đồng tác giả) (2009), Công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy: Chiến lược phát triển mới của Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO. Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy: Chiến lược phát triển mới của Trung Quốc sau 5 năm gia nhập WTO
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn (đồng tác giả)
Năm: 2009
20. Saigon Times (2011), “Thị trường bán lẻ đang nóng dần lên”, Báo điện tử thế giới & Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bán lẻ đang nóng dần lên”
Tác giả: Saigon Times
Năm: 2011
21. Sở Công Thương Thành phố Đà Nẵng và Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III) (2010), Tác động của mở cửa thị trường đến mạng lưới phân phối hàng hóa thời kỳ hậu gia nhập WTO” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của mở cửa thị trường đến mạng lưới phân phối hàng hóa thời kỳ hậu gia nhập WTO
Tác giả: Sở Công Thương Thành phố Đà Nẵng và Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III)
Năm: 2010
23. Trường Sơn (2010), “Thị trường bán lẻ Việt Nam: Cơ hội vẫn còn rộng mở”, Chuyên đề Công thương – Nông nghiệp, Tạp số Tổng quan kinh tế - xã hội việt Nam Số 2-2010 (Số 10) thuộc Tạp chí kinh tế và Dự báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bán lẻ Việt Nam: Cơ hội vẫn còn rộng mở”
Tác giả: Trường Sơn
Năm: 2010
24. Nguyễn Thành Trung (2010), “Thị trường phân phối Việt Nam: Thách thức sau 3 năm hội nhập WTO”, Báo điện tử của Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường phân phối Việt Nam: Thách thức sau 3 năm hội nhập WTO”
Tác giả: Nguyễn Thành Trung
Năm: 2010
25. Ủy Ban Kinh tế và Trường Đại học Thương mại và Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III) (2010), Báo cáo thuộc Hội thảo với chủ đề “Các cam kết WTO về dịch vụ phân phối, Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuộc Hội thảo với chủ đề “Các cam kết WTO về dịch vụ phân phối, Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Tác giả: Ủy Ban Kinh tế và Trường Đại học Thương mại và Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU- Việt Nam MUTRAP III)
Năm: 2010
26. Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài Nguyên và Môi trường – Bộ kế hoạch và đầu tƣ (2011), Báo cáo tổng hợp “Hỗ trợ nghiên cứu cơ chế chính sách thu hút vốn FDI vào đầu tư bảo vệ môi trường góp phần thay thế vốn ODA sau này” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp “Hỗ trợ nghiên cứu cơ chế chính sách thu hút vốn FDI vào đầu tư bảo vệ môi trường góp phần thay thế vốn ODA sau này
Tác giả: Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài Nguyên và Môi trường – Bộ kế hoạch và đầu tƣ
Năm: 2011
27. Vụ Thị trường trong nước và Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (EU- VIETNAM MUTRAP III) (2010), Báo cáo thuộc Hội thảo với chủ đề“Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ phân phối và kiến nghị chính sách cho Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuộc Hội thảo với chủ đề "“Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ phân phối và kiến nghị chính sách cho Việt Nam
Tác giả: Vụ Thị trường trong nước và Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (EU- VIETNAM MUTRAP III)
Năm: 2010
28. Vụ Thị trường trong nước và Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (EU- VIETNAM MUTRAP III) (2010), Báo cáo thuộc Hội thảo với chủ đề“Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ phân phối và định hướng hoàn thiện pháp luật của Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuộc Hội thảo với chủ đề "“Kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ phân phối và định hướng hoàn thiện pháp luật của Việt Nam
Tác giả: Vụ Thị trường trong nước và Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (EU- VIETNAM MUTRAP III)
Năm: 2010
29. Nhƣ Ý (2012), “Bán lẻ tăng tốc”, Báo Người lao động điện tử - Tiếng nói của Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh.…Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bán lẻ tăng tốc”," Báo Người lao động điện tử - Tiếng nói của Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nhƣ Ý
Năm: 2012
1. Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam (2007), Biểu cam kết dịch vụ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1   Hạn chế đối với doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài  theo từng ngành ở Trung Quốc - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
1 Bảng 1.1 Hạn chế đối với doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài theo từng ngành ở Trung Quốc (Trang 5)
1  Hình 1.1  Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ   phân phối - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
1 Hình 1.1 Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối (Trang 6)
Hình 1.1 – Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Hình 1.1 – Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối (Trang 22)
Hình 1.2 – Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Hình 1.2 – Vị trí của nhà bán lẻ trong kênh phân phối (Trang 23)
Bảng 1.1- Hạn chế đối với doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài theo từng  ngành ở Trung Quốc - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 1.1 Hạn chế đối với doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài theo từng ngành ở Trung Quốc (Trang 39)
Bảng 1.2 - Tự do hóa ngành bán lẻ ở Trung Quốc  Các giai đoạn - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 1.2 Tự do hóa ngành bán lẻ ở Trung Quốc Các giai đoạn (Trang 41)
Hình  thức  doanh  nghiệp  100%  vốn  đầu  tư  nước  ngoài  hoặc  liên  doanh;  và  (3)  bán  hàng  thông  qua  các  kênh,  bao  gồm  truyền  hình,  điện  thoại,  thƣ  từ,  mạng  Internet,  và  máy  bán  hàng tự động - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
nh thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh; và (3) bán hàng thông qua các kênh, bao gồm truyền hình, điện thoại, thƣ từ, mạng Internet, và máy bán hàng tự động (Trang 42)
Bảng 2.1 - FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo thời  gian nhận vốn đầu tư - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 2.1 FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo thời gian nhận vốn đầu tư (Trang 48)
Bảng 2.2 - Chỉ số GRDI của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 2.2 Chỉ số GRDI của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009 (Trang 52)
Hình 2.1 - Phân tích chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu -2011 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Hình 2.1 Phân tích chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu -2011 (Trang 55)
Bảng 2.3 - FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối  tác đầu tư tính đến tháng 3/2008 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 2.3 FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2008 (Trang 56)
Bảng 2.4 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng   theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 2.4 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế (Trang 59)
Bảng 2.5 - Các nhà bán lẻ tạp hóa hàng đầu năm 2009 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bảng 2.5 Các nhà bán lẻ tạp hóa hàng đầu năm 2009 (Trang 60)
Hình 2.2 - Top 5 nhà phân phối, 2010 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Hình 2.2 Top 5 nhà phân phối, 2010 (Trang 61)
Hình 2.3 - Vị thế của Việt Nam trong bản đồ bán lẻ toàn cầu - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Hình 2.3 Vị thế của Việt Nam trong bản đồ bán lẻ toàn cầu (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w