Xuất phát từ thực tế trên, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệpsản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực VLXD Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phầnVật liệu xây dựng Thụy Vi
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt, em đãrút ra được rất nhiều kinh nghiệm thực tế mà khi ngồi trên ghế nhà trường em chưađược biết, qua đó tạo điều kiện cho em áp dụng kiến thức học trong trường vào côngviệc thực tế
Để có thể hoàn thành đề tài” Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phầnVật liệu xây dựng Thụy việt” trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáotrong Khoa Quản trị doanh nghiệp trường Đại học Thương mại đã giảng dạy và trang
bị cho em những kiến thức cơ bản, đồng thời hướng dẫn và định hướng cho em trongquá trình học tập tại trường
Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo và toàn thể côngnhân viên Công ty ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt đã giúp đỡ và tạo mọi điềukiện thuận lợi giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Trần Thị Hoàng Hà đã tận tình hướngdẫn và củng cố kiến thức cho em trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ, là chỗdựa tinh thần tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa học cũng như thời gian thực tậpvừa qua
Trong quá trình thực tập và làm khóa luận, mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoànthiện bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, nhưng do kiến thức còn hạn chế
và thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi những sai sót Em kính mongcác thầy cô giáo tạo điều kiện chỉ bảo thêm, giúp em hoàn thành và đạt kết quả tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, Ngày 03 tháng 05 năm 2013
Sinh viên Cao Thị Phương Thảo
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh 5
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 5
1.1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 5
1.1.1.3 Các loại hình cạnh tranh 6
1.1.2 Khái quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 7
1.1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 7
1.1.2.2 Vai trò của năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp 8
1.1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 9
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.1.4.1 Các yếu tố từ môi trường vĩ mô 12
1.1.4.2 Các yếu tố từ môi trường đặc thù 13
1.1 5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 18
1.1.5.1 Thương hiệu và thị phần 18
1.1.5.2 Chi phí sản xuất 19
1.1.5.3 Tỷ suất lợi nhuận 19
Trang 3CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRẠNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU
XÂY DỰNG THỤY VIỆT 21
2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 21
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 21
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 21
2.1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty 21
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty 22
2.2 Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt trong giai đoạn hiện nay 24
2.2.1 Phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 24
2.2.1.1 Trình độ quản lý 25
2.2.1.2 Nguồn lực của doanh nghiệp 25
2.2.1.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 28
2.2.1.4 Uy tín, thương hiệu 29
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 29
2.2.2.1 Thương hiệu và thị phần 29
2.2.2.2 Chi phí sản xuất 30
2.2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận 31
2.2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 32
2.2.3.1 Các nhân tố từ môi trường kinh doanh 32
2.2.3.2 Các nhân tố từ môi trường nội tại 34
2.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 36
2.3.1 Thành công và ý nghĩa 36
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 37
Trang 4CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG THỤY
VIỆT TRONG GIAI DOẠN HIỆN NAY 39
3.1 Xu hướng phát triển của ngành Vật liệu xây dựng Việt Nam và định hướng phát triển của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt trong thời gian tới 39
3.1.1 Xu hướng phát triển của nghành Vật liệu xây dựng Việt Nam 39
3.1.2 Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 40
3.2 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt trong thời gian tới 40
3.3 Một số đề suất, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 41
3.3.1 Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 41
3.3.1.1 Giải pháp về tài chính 41
3.3.1.2 Giải pháp về nhân lực 42
3.3.1.3 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Công ty 42
3.3.1.4 Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại 43
3.3.2 Một số kiến nghị với Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực canh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt 44 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng
Thụy Viết từ năm 2010 đến 2012.
23
Bảng 2.2 Tổng mức và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty Cổ
phần vật liệu xây dựng Thụy Việt từ năm 2010 đến 2012.
26
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng chi phí của Công ty Cổ phần Vật liệu xây
dựng Thụy Việt.
30
Bảng 2.4 Tình hình lợi nhuận của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng
Thụy Việt từ năm 2010- 2012.
31
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ cuối năm 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thếgiới (WTO) Điều này đã mở ra cho nước ta những cơ hội lớn để phát triển song cũngđặt nước ta trước những thách thức và khó khăn không nhỏ Trong những cam kết đaphương và song phương với các nước trên thế giới để gia nhập WTO, Việt Nam đã camkết mở cửa thị trường ngành sản xuất và kinh doanh VLXD Điều đó đã đặt các doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực này vào quá trình cạnh tranh gay gắtkhông chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn với các doanh nghiệp nước ngoài Khi thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế, thị trường vật liệuxây dựng Việt Nam đã nhận được không ít sự quan tâm từ nhiều phía Với mục tiêuquy hoạch tổng thể và phát triển ngành VLXD thành ngành kinh tế thế mạnh của đấtnước, đáp ứng về số lượng, chất lượng và các chủng loại VLXD cơ bản cho nhu cầutrong nước và xuất khẩu, Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện và khuyến khích cácthành phần kinh tế tham gia sản xuất và kinh doanh Điều này phần nào đã tạo nên sựcạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường VLXD nước ta trong những năm gần đây
Tuy nhiên, việc mở cửa và hội nhập nền kinh tế quốc tế cũng đặt ra những đòi hỏimới đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực VLXD của ViệtNam Đây chính là lý do tại sao các doanh nghiệp trong nước dù có được lợi thế về tiềmnăng tài nguyên khoáng sản, thị trường, lao động…nhưng các doanh nghiệp sản xuất vàkinh doanh trong lĩnh vực VLXD Việt Nam vẫn đang đứng trước những thách thứckhông nhỏ về khả năng bị thu hẹp thị phần và mất đi thế cạnh tranh trên sân nhà Mặtkhác, trước những ảnh hưởng từ thị trường bất động sản trong nước đóng băng và nềnkinh tế khó khăn, mặt hàng VLXD đang rơi vào tình trạng ế ẩm, mãi lực suy giảm, không
ít doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này rơi vào tình cảnh lao đao và đứng trướcnguy cơ phải ngừng hoạt động
Xuất phát từ thực tế trên, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệpsản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực VLXD Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phầnVật liệu xây dựng Thụy Việt nói riêng là một yêu cầu tất yếu để tồn tại và tăng trưởng,góp phần củng cố phát triển thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phầnVật liệu xây dựng Thụy Việt” là sự cần thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có một số luận văn nghiên cứu vể NLCT của doanhnghiệp trong đó có:
Trang 8Đề tài:” Nâng cao khả năng cạnh tranh của chi nhánh Công ty Cổ phần tập đoànquốc tế Năm Sao – Hà Nội trên thị trường miền Bắc” Luận văn tốt nghiệp của sinhviên Dương Thị Quỳnh – ĐH Thương Mại thực hiện năm 2010.
Kết quả đạt được: Đề tài đã hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết có liên quan đếncạnh tranh và NLCT Đồng thời đề tài đã đi sâu vào phân tích khả năng cạnh tranh củasản phẩm phân bón trên thị trường miền Bắc thông qua:
Phân tích khả năng cạnh tranh của chi nhánh thông qua các nhân tố nội lực: nhânlực, tài chính, công nghệ, quản trị…
Phân tích khả năng cạnh tranh của chi nhánh thông qua các công cụ cạnh trạnhnhư: chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, hệ thông kênh phân phối, hoạt động xúctiến bán
Phân tích khả năng cạnh tranh của chi nhánh thông qua các chỉ tiêu như thị phần,lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận
Và luận văn đã đưa ra một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh trạnh cho công ty
cổ phần tập đoàn quốc tế Năm Sao – Hà Nội trên thị trường miền Bắc như:
Nâng cao năng lực quản trị
Định giá có sức cạnh tranh
Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đề tài: “Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần cơ khí Hồng Nam”.Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Trinh – ĐH Thương Mại 2010
Kết quả đạt được: luận văn đã nêu ra được những khái niệm và các vấn đề liênquan dến cạnh tranh và khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp, đã phân tích được thựctrạng hoạt động và năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần cơ khí Hồng Nam qua cácchỉ tiêu:
Doanh số bán và sự gia tăng doanh số
Thị phần
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Chi phí và tỷ suất chi phí
Đưa ra các giải pháp, các kiến nghị giúp cho công ty nâng cao được khả năng cạnhtranh trên thị trường ngành cơ khí
Nâng cao chất lượng sản phẩm
Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại
Duy trì củng cố mối quan hệ với khách hàng
Tăng cường nguồn lực vật chất
Trang 9Và có kiến nghị với Nhà Nước về chính sách thuế, chính sách tạo vốn cho ngành
cơ khí
Nhìn chung những luận văn nghiên cứu đề tài “nâng cao năng lực cạnh tranh ”trong những năm trước cũng đã đánh giá và đưa ra những giải pháp tốt cho vấn đềnghiên cứu ở thời điểm hiện tại Tuy nhiên, nền kinh tế luôn phát triển và biến độngkhông ngừng cho nên vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp cũng gặpphải những khó khăn mới cần được khắc phục
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là: Hệ thống hóa những cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Hai là: Khảo sát các điều kiện về nguồn lực và hoạt động kinh doanh, các nhân tố
cấu thành và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty từ đó làm rõnăng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt, đánh giá thànhcông, hạn chế, nguyên nhân thực trạng đó
Ba là: Đưa ra các định hướng, tìm kiếm và đề xuất giải pháp hữu hiệu để nâng cao
năng lực cạnh tranh của Công ty
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây
dựng Thụy Việt
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: NLCT là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng
được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lựccạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ…
Trong phạm vi đề tài này, khóa luận đi sâu nghiên cứu năng lực cạnh tranh củaCông ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt về sản phẩm chính là gạch ngói đất sétnung trên thị trường tỉnh Thái Bình và các vùng lân cận
Các số liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài được thu thập trong vòng 3năm từ nam 2010 đến năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh tế làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp giữa lôgíc và lịch sử, phântích và tổng hợp Ngoài ra bài viết còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh
Trang 10định lượng nhằm tạo một phương pháp tiếp cận phù hợp với đối tượng và mục tiêunghiên cứu.
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục khoa luận đi sâu vào nghiên cứu 3 nộidung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra với việc nâng cao năng lực cạnhtranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt trong giai đoạn hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh.
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Là việc đấu tranh hoặc giành giật của các chủ thể về khách hàng, thị trường haynguồn lực Cạnh tranh là hoạt động khách quan nó diễn ra mọi lúc mọi nơi trong nềnkinh tế thị trường, mức độ và phạm vi khác nhau: giữa các cá nhân, tổ chức, thậm chígiữa các quốc gia
Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coi cạnh tranh
là một tất yếu khách quan Ở Việt Nam, cùng với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường, cạnh tranh đã từng bước được tiếp nhận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chứcquản lý và điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung, trong tổ chức và điều hành kinhdoanh trong các doanh nghiệp nói riêng Cạnh tranh không những là môi trường và độnglực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã
hội, tạo động lực cho sự phát triển Do đó quan điểm đầy đủ về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển Cạnh tranh trong kinh tế là cuộc chạy đua “Marathon kinh tế” nhưng không có đích cuối cùng,
ai cảm nhận thấy thì người đó sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khác vươn lên phía trước.
1.1.1.2 Vai trò của cạnh tranh.
- Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường Đồng thời cạnhtranh cũng thúc đẩy sự đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xãhội, làm nảy sinh nhu cầu mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tạo sựphân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc hơn
- Đối với doanh nghiệp: Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Do đó các doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, cạnh tranh để giành thị phần, tăng lợi nhuận bằng cách tối ưu hóa các yếu tốđầu vào sản xuất kinh doanh, nhanh chóng tiếp cận với cơ hội kinh doanh mới
- Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh giúp đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng,
giúp họ có cơ hội được những sản phẩm ngày càng phong phú đa dạng với chất lượngtốt và giá cả phù hợp với khả năng của họ
Trang 121.1.1.3 Các loại hình cạnh tranh.
a Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh hoàn hảo.
Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người mua và nhiều người bánnhỏ độc lập với nhau, không ai trong số họ có ưu thế để cung ứng một số lượng hànghóa, dịch vụ đủ quan trọng để ảnh hưởng tới giá cả thị trường
Cạnh tranh không hoàn hảo.
Là cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất vớinhau Mỗi loại nhãn hiệu lại có uy tín , hình ảnh khác nhau Người bán lôi kéo khách
về phía mình bằng nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phương thức bán hàng, cungcấp dịch vụ trước , trong, sau khi bán hàng…
Cạnh tranh độc quyền.
Thị trường độc quyền là thị trường mà ở đó chỉ có duy nhất một người mua (Độc
quyền mua) hoặc một người bán (Độc quyền bán) Chính sách của thị trường này làđịnh giá cao và sản lượng hàng hoá ít Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việcnhà độc quyền định giá bao nhiêu cũng được Tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng của sảnphẩm và cơ chế quản lý giá của Nhà nước mà nhà độc quyền định giá cao hay thấp đểthu được lợi nhuận tối đa Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức cạnh tranh phi giánhư quảng cáo để thu hút thêm khách hàng
Độc quyền tập đoàn là trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể
giống nhau hoặc khác nhau và chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hay hầu hếttoàn bộ tổng sản lượng.Tính phụ thuộc giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanhnghiệp này ảnh hưởng tới doanh nghiệp khác Nếu một doanh nghiệp giảm giá sẽ dẫn đếntình trạng phá giá do các doanh nghiệp dễ kết cấu với nhau Nhưng vì cạnh tranh bằng giákhông có lợi do vậy người ta chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, đa dạnghoá sản phẩm Trong thị trường độc quyền tập đoàn, một số hoặc tất cả các doanh nghiệpđều thu hút được lợi nhuận đáng kể trong dài hạn thì có các hàng rào ra nhập làm cho cácdoanh nghiệp mới không thể hoặc khó mà ra nhập thị trường Trong độc quyền tập đoàn,các nhà sản xuất cũng sử dụng nhiều hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo hoặc phânbiệt sản phẩm giống như trong cạnh tranh độc quyền
b Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường.
Cạnh tranh giữa người bán và người mua.
Là cuộc cạnh tranh giữa người bán và người mua diễn ra theo quy luật mua rẻ bánđắt trên thị trường Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngượclại người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cuối cùng là giá thống nhất giữa người
Trang 13mua và người bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động mua bánđược thực hiện.
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau.
Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu Khi lượng cung một loại hànghoá, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa nhữngngười mua sẽ trở nên quyết liệt Lúc đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng dohàng hoá khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng trả giá cao cho hàng hoá mình cần.Kết qủa là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua thì bị thiệt
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau.
Đây là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường, mang tính gay go quyết liệt nhất và có ýnghĩa quyết định sống còn đối với doanh nghiệp Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra trongtrường hợp cung lớn hơn cầu, khi đó người bán sẽ cạnh tranh với nhau, thủ tiêu lẫn nhau đểgiành khách hàng và thị trường Khi ấy giá cả giảm và người mua được lợi
c Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế.
Cạnh tranh giữa các ngành.
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu đượclợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra đầu tư vào ngành khác Sựcạnh tranh giữa các ngành dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành có tỷ suất lợinhuận thấp chuyển sang kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn
Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoáhoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau,doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường,doanh nghiệp thua sẽ sẽ thu hẹp phạm vi kinh doanh thậm chí phá sản
1.1.2 Khái quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia nhưsau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vựctrong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: (1) Năng lực cạnh tranh cấp
độ quốc gia, (2) Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/sản phẩm, (3) Năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Ba cấp độ này có mối liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Mộtmặt, tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnhtranh của nền kinh tế quốc gia đó Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi nănglực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Mặt khác, năng lựccạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước
Trang 14(đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế) Trong đó, các cam kết quốc tế, các chính sáchkinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp và của ngành/sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, em xin tập trung nghiên cứu và làm rõ vàokhái niêm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học[NXB Từ điển Bách khoa, HN 2001 Tr42]:”Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trênthị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”
Theo TS.Nguyễn Hữu Thắng[Tài liệu tham khảo 5]” Năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sảnphẩm, mở rộng thị mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sảnxuất nhằm đạt tới lợi ích kinh tế cao và bền vững”
Như vậy, có thể hiểu rằng NLCT của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợithế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực
và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ hấp dẫn ngườitiêu dùng để tồn tại và phát triển thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí sovới các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
1.1.2.2 Vai trò của năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làyếu tố đóng vai trò quyết định sự thành bại không chỉ của doanh nghiệp, mà còn củaquốc gia dân tộc Riêng đối với mỗi doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh lại mang một
ý nghĩa cực kì to lớn và được thể hiện rõ nét trong các vai trò sau:
a Năng lực cạnh tranh có vai trò quan trọng với sự tồn tại của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu, nó luôn luôn tồn tại cho dù con người có muốnhay không Các doanh nghiệp muốn trụ vững trên thị trường thì đều phải cạnh tranhgay gắt với nhau để giành lấy khách hàng, để bán được hàng hóa Muốn vậy họ phảitạo ra được những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm mọi cách
để khách hàng tin tưởng vào sản phẩm của doanh nghiệp, yêu thích và tiêu dùng nó.Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt sẽ có khả năng đáp ứng tốt các nhu cầucủa khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện với mức giá phù hợp Cónhư vậy các doanh nghiệp mới có thể tồn tại lâu dài được
b Năng lực cạnh tranh là động lực để các doanh nghiệp phát triển.
Sản xuất ngày càng phát triển, hàng hóa bán ra ngày càng nhiều, số lượng người cungứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả của cạnh tranh là loại bỏ cácdoanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của các doanh nghiệp làm ăn tốt Do vậymuốn tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao
Trang 15khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, từ
đó tăng doanh thu, lợi nhuận, giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển về cả quy mô và vị thế.Mặt khác, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và sự phát triển của doanh nghiệp
có sự tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau Việc nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệpphát triển và hội nhập, thúc đẩy tiến trình phát triển của doanh nghiệp bởi năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp hộinhập kinh tế thuận lợi cả về chiều rộng và chiều sâu một cách chủ động Đồng thời, khi doanhnghiệp đứng vững và phát triển sẽ tạo điều kiện ngược lại để doanh nghiệp nâng cao hơn nữanăng lực cạnh tranh của mình Bởi những thành tựu của sự phát triển sẽ giúp doanh nghiệp cóthêm nhiều cơ hội kinh doanh, có đủ khả năng về nguồn lực để tiếp cận những tiến bộ về kĩthuật, công nghệ mới, về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
Như vậy, có thể thấy năng lực cạnh tranh có một vai trò quyết định đối với sựphát triển của doanh nghiệp Và việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một yêu cầu tấtyếu trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững của doanh nghiệp
c Năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp thực hiện những mục tiêu.
Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định.Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà doanh nghiệp đặt mục tiêu nào lên hàngđầu Quá trình cạnh tranh để sinh tồn và phát triển sẽ giúp doanh nghiệp có thể tự đánhgiá được năng lực cạnh tranh của chính mình, của đối thủ cạnh tranh và tìm ra đượcnhững cơ hội kinh doanh, đó chính là những nấc thang đưa doanh nghiệp đạt tới mụctiêu của mình
1.1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
a Trình độ quản lý
Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã đượcdoanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản lýtheo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theochất lượng như ISO 9000, ISO 1400 Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm vàđào tạo cán bộ quản lý cho chính mình Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi
và trung thành, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lýdùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổchức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi
b Nguồn lực của doanh nghiệp.
Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độkhoa học công nghệ Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồnsáng tạo trong mọi tổ chức Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý củacác cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tưtưởng văn hoá của mọi thành viên trong doanh nghiệp Trình độ nguồn nhân lực cao
Trang 16sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kĩ thuậtcủa sản phảm, mẫu mã, chất lượng và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trên thươngtrường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững.
Bên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao
là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong nhữngđiều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệuquả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệuquả chính xác Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế việc đàotạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng Trong thực tế không có doanh nghiệp nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả cácmặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vì vậy, điều quan trọng nhất làdoanh nghiệp có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạnghóa nguồn cung vốn
Một nguồn lực nữa thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là trình độcông nghệ Công nghệ là phương pháp là bí mật, là công thức tạo ra sản phẩm Để
có năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải được trang bị bằng công nghệ hiện đại.Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phẩm ngắn,tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao, chấtlượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường Sử dụng công nghệ hiện đại giúpdoanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phẩm, do đólàm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng Doanh nghiệp cần lựa chọn côngnghệ thích hợp, nắm bắt được chu kì sống của công nghệ, thời gian hoàn vốn của côngnghệ phải ngắn, đào tạo đội ngũ nhân viên có đủ trình độ để điều khiển và kiểm soátcông nghệ nhằm phát huy tối đa năng suất thiết kế của công nghệ
c Năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó bán được nhiều
và nhanh chóng trên thị trường có sản phẩm tương tự Nó bị ảnh hưởng bởi các yếutố: chất lượng, giá cả sản phẩm,thời gian cung cấp, dịch vụ đi kèm, điều kiện muabán, danh tiếng và uy tín Khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, doanhnghiệp cần nhận định đầy đủ về các mức độ của sản phẩm Mức cơ bản nhất làlợi ích cốt lõi, chính là dịch vụ hay lợi ích cơ bản mà khách hàng thực sự mua.Doanh nghiệp phải biến lợi ích cốt lõi thành sản phẩm chung Ở mức độ tiếp theo,doanh nghiệp chuẩn bị một sản phẩm mong đợi, tức là tập hợp những thuộc tính vàđiều kiện mà người mua thường mong đợi và chấp thuận khi họ mua sản phẩm đó Sau
Trang 17đó doanh nghiệp chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiện thêm với những dịch vụ và ích lợiphụ thêm làm cho sản phẩm khác với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
d Khả năng liên doanh liên kết.
Một doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữuquan trong môi trường kinh doanh Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liênkết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh Khả năngliên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanhmới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh một cách có kếtquả và đạt hiệu quả cao,đạt được các mục tiêu đặt ra Khả năng liên kết và hợp táccũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt các cơ hộikinh doanh trên thương trường Nếu doanh nghiệp không thể hoặc ít có khả năng liênminh hợp tác với các đối tác khác thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh và nếu cơ hội
đó được đối thủ cạnh tranh nắm được thì nó sẽ trở thành nguy cơ với doanh nghiệp
e Năng suất kinh doanh
Năng suất có liên quan đến việc sử dụng toàn bộ tài nguyên không chỉ baogồm vấn đề chất lượng, chi phí giao hàng mà còn bao gồm cả những vấn đề rộng hơnnhư là vấn đề môi trường, xã hội…
f Uy tín, thương hiệu
Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp được hình thành trong cả một quá trìnhphấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu và chiến lược đúng đắn Thương hiệutrước hết được xây dựng bằng con đường chất lượng: chất lượng của hệ thống quản lý,của từng con người trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuấtcung cấp cho thị trường Thương hiệu của doanh nghiệp còn được xây dựng bằng sựđóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội, của cácdịch vụ đi kèm với sản phẩm, của hoạt động Marketing và quảng cáo trung thực Nếusản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người muanhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp giatăng Nhưng đánh giá thương hiệu không chỉ ở số lượng các thương hiệu mạnhdoanh nghiệp đang có mà quan trọng phải đánh giá được khả năng phát triển củathương hiệu Khả năng đó cho thấy sự thành công của doanh nghiệp trong tươnglai Các chỉ tiêu như chi phí cho hoạt động phát triển thương hiệu, số lượng thươnghiệu mạnh hiện có, mức độ nổi tiếng và được ưa chuộng của thương hiệu so sánhvới các chỉ tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng để phân tích khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 181.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.4.1 Các yếu tố từ môi trường vĩ mô
a Các yếu tố từ môi trường kinh tế
Đây là yếu tố có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu Các yếu tố kinh tế cầnphải được nghiên cứu, phân tích và dự báo bao gồm:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nếu tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế caolàm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn đến sức muatăng Đây là cơ hôi tốt cho các doanh nghiệp biết nắm bắt cơ hội và có khả năng đápứng được nhu cầu khách hàng(về mặt số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã) trongviệc nâng cao lợi nhuận, mở rộng thị phần cũng như nâng cao NLCT trên thị trường
- Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng nội tệ: Có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngcủa doanh nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế mở như hiện nay Khi giá đồng nội tệtăng, giá cả trong nước giảm, năng lực cạnh tranh ở nước ngoài kém do giá bán củahàng hóa tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn của các đối thủ cạnh tranh…
- Lãi suất cho vay ngân hàng: Hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình kinhdoanh ít nhiều đều sử dụng vốn vay từ ngân hàng, do vậy tỷ lệ lãi suất vay ngân hàng
có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Khi tỷ lệ lãisuất vay cao, các chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh tăng lên do trả lãi tiền vay lớn,đồng nghĩa với việc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là so vớicác đối thủ có tiềm lực mạnh về vốn
b Các yếu tố về chính trị- pháp luật
Các nhân tố chính trị pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp, bao gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách củaNhà Nước, tổ chức bộ máy điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội
Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Nhà nước sẽ có tác dụng tạo điềukiện hoặc kìm hãm sự phát triển của các doanh nhiệp Trong nền kinh tế thị trường,Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường cạnh tranh
Nhà nước thúc đẩy và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua các chínhsách như:
- Nhà nước đầu tư nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực Hỗ trợ nghiên cứu pháttriển khoa học công nghệ, đầu tư cho cơ sở hạ tầng Tạo điều kiện về cơ sở vật chất vàcác yếu tố đầu vào
- Thực hiện các chính sách kích cầu để mở rộng và tăng dung lượng thị trườngđẩu ra cho doanh nghiệp Đồng thời với công cụ chi tiêu Chính Phủ, Nhà nước cũng làngười mua với nhu cầu đa dạng
Trang 19- Nhà nước quy hoạch và tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ giúpdoanh nghiệp có điều kiện chuyên môn hóa cao từ đó tăng năng lực cạnh tranh
Ngoài ra, phải kể đến một trong những bộ phận của yếu tố chính trị có ảnh hưởngđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp Mức độ ổn định củahành lang pháp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, Ngược lại doanhnghiệp sẽ gặp khó khăn khi phải đối diện liên tục với những thay đổi làm suy yếuNLCT Nhà nước cần tạo khuôn khổ pháp luật đồng bộ, phù hợp các nguyên tắc kinhdoanh thương mại quốc tế, đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng Nhữngchính sách đó phải giữ đúng vai trò là môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, tránhcan thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh, giảm tính tự chủ của doanh nghiệ, đảm bảo sựcạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp
c Các yếu tố từ môi trường xã hội:
Một quốc gia có nền chính trị xã hội ổn định sẽ giúp doanh nghiệp phát triển thuậnlợi, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tin tưởng, yên tâm đầu tư cho sản xuất kinhdoanh Các nhân tố về xã hội như phong tục tập quán, mức sống, dân số…quyết địnhthái độ tiêu dùng và khả năng thanh toán của khách hàng mục tiêu Khoảng cách giàunghèo, trình độ dân số là một trong những cản trở đến trình độ văn hóa và chất lượngnguồn nhân lực, ảnh hưởng trực tiếp đến NLCT của doanh nghiệp
d Các yếu tố về khoa học-công nghệ:
Hầu như ngành công nghiệp nào, doanh nghiệp nào cũng phụ thuộc vào khoa họccông nghệ Các công nghệ tiên tiến liên tục ra đời tạo ra cơ hội cũng như nguy cơ đốivới các ngành, các doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hàngđầu đang lao vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn
đề còn tồn tại và xác định các công nghệ có thể khai thác trên thị trường
Cũng như các sản phẩm hàng hoá, công nghệ cũng có chu kỳ sống Muốn đạt đượckết quả tốt hơn, doanh nghiệp phải nghiên cứu, xem xét thời điểm nào cần phải cải tiếncông nghệ hay thay thế công nghệ tiên tiến hơn Yếu tố công nghệ ngày càng biểu hiệnảnh hưởng to lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: quá trình
tự động hoá, sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ nó gắn liền với quá trình hìnhthành sản phẩm, đồng thời tạo nên khả năng cạnh tranh cho mỗi loại sản phẩm Đóngvai trò quan trọng với NLCT của mỗi doanh nghiệp và sự phát triển mạnh mẽ củadoanh nghiệp
1.1.4.2 Các yếu tố từ môi trường đặc thù.
a Các nhân tố khách quan
Khách hàng
Khách hàng là nơi bắt đầu và cũng là nơi kết thúc quá trình tái sản xuất của doanhnghiệp Căn cứ vào nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp đưa ra các quyết định sản xuất và
Trang 20khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm của doanh nghiệp lại được đưa ra thị trường đểđáp ứng các nhu cầu đó Số lượng khách hàng quyết định quy mô thị trường hàng hóa củadoanh nghiệp Nếu quy mô thị trường lớn, doanh nghiệp có thể tăng đầu tư, chiếm lĩnh thịtrường, tăng sản lượng bán qua đó nâng cao NLCT của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, khả năng thanh toán của khách hàng cũng là yếu tố quyết định sứcmua hàng hóa cuả doanh nghiệp Để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, mỗidoanh nghiệp luôn phải căn cứ vào nhu cầu và sức mua của thị trường Do đó nếukhách hàng có khả năng thanh toán cao, đó là một thị trường có nhiều tiềm năng,doanh nghiệp có thể tăng cường cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, mởrộng thị trường giúp doanh nghiệp ngày một đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng,mang lại sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp Vì vậy, đặc tính của nhu cầu có vaitrò quyết định trong việc hình thành lên đặc tính của sản phẩm, đồng thời đặt ra những
áp lực để phát triển sản phẩm nói riêng và của toàn doanh nghiệp nói chung
Hơn nữa không chỉ đơn giản là đáp ứng tốt mọi nhu cầu khi khách hàng cần.Doanh nghiệp cần xây dựng được mối quan hệ bền vững với khách hàng, nhất lànhững khách hàng lớn, những khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm của doanhnghiệp một cách ổn định và lâu dài Việc doanh nghiệp sử dụng linh hoạt các chính sách
ưu đãi về giá cả, thời gian giao hàng, phương tiện vận chuyển, khuyến mại…với nhữngkhách hàng lớn, khách hàng truyền thống sẽ giúp tăng sức hấp dẫn với khách hàng vàcủng cố sự tin cậy lẫn nhau Nhờ vậy mà doanh nghiệp không những duy trì được thịphần hiện có mà còn tăng khả năng mở rộng thị phần của doanh nghiệp mình Có thể nói,giữ chân được khách hàng chính là một yếu tố thể hiện NLCT của doanh nghiệp
Nhà cung cấp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không thể thiếu được cácyếu tố đầu vào, đó là vật tư, máy móc thiết bị, vốn…Vai trò của nhà cung cấp đối vớidoanh nghiệp thể hiện ở áp lực về giá và các yếu tố đầu vào Giữa nhà cung cấp vàdoanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời giangiao hàng Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động đến khả năng thu lợi nhuận củadoanh nghiệp như nâng giá, giảm chất lượng vật tư kĩ thuật mà họ cung ứng, khôngđảm bảo tiến độ giao hàng theo yêu cầu, hay gây ra khan hiếm giả tạo
Nếu trên thị trường có nhiều nhà cung cấp thì doanh nghiệp có thể lựa chọn nhàcung cấp, điều đó tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường yếu tố đầu vào, có tác dụng làmgiảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp Mặt khác, thế mạnh của nhà cung cấp sẽ tănglên trong các trường hợp như số lượng nhà cung cấp ít, không có hàng thay thế, doanhnghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp hoặc loại vật tư đượccung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm hoặc hiệu quả
Trang 21sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, nhà cung cấp nói chung có ảnh hưởngkhông nhỏ đến NLCT của doanh nghiệp.
Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp.Trong một ngành nào đó mà tồn tại một hoặc một số doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường thì cường độ cạnh tranh sẽ ít hơn và doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉđạo giá Trong trường hợp nếu doanh nghiệp không ở vị trí thống lĩnh thì sức cạnhtranh là rất kém Nhưng nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp có thế lực và quy mô tươngđương nhau thì cường độ cạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt Các doanh nghiệp cầnphải coi trọng lơị thế so sánh của mình và biến nó thành lợi thế cạnh tranh, doanhnghiệp nào có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn thì doanh nghiệp đó có NLCT cao hơn.Trong thị trường cạnh tranh tự do, gần như không có rào cản gia nhập thị trường,
do vậy luôn tồn tại các đối thủ tiềm ẩn, sẵn sàng tham gia thị trường bất cứ lúc nào Sựxuất hiện của đối thủ mới có thể gây ra những cú sốc mạnh cho các doanh nghiệp hiệntại bởi thông thường những người đi sau thường có nhiều căn cứ trong việc ra quyếtđịnh hơn và các chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ
Như vậy, để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cốNLCT bằng cách không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, bổ sung những đặc tính mới
ưu việt hơn cho sản phẩm, luôn phấn đấu giảm chi phí để sẵn sàng tham gia cuộc cạnhtranh về giá, và nhờ đó tạo cho doanh nghiệp một vị thế vững chắc trên thị trường
b Các nhân tố chủ quan
Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không nhắc đến bởi nó có vai trò quyếtđịnh đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp Trước hết, nguồn lực tài chính đượcthể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ sản xuất kinhdoanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Quy mô vốn tự có phụ thuộc quá trìnhtích lũy của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàngnăm cao, phần lợi nhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy môvốn tự có sẽ tăng Doanh nghiệp có quy mô vốn tự có lớn cho thấy khả năng tự chủ vềtài chính và chiếm được lòng tin từ nhà cung cấp, chủ đầu tư và khách hàng…Doanhnghiệp nên phấn đấu tăng vốn tự có lên một mức nhất định đủ để đảm bảo khả năngthanh toán nhưng vẫn đủ kích thích để doanh nghiệp tận dụng đòn bẩy tài chính làmtăng lợi nhuận
Để đáp ứng các yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể huyđộng vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụthuộc vào mối quan hệ của doanh nghiệp với bên cung ứng vốn và sự phát triển của thị
Trang 22trường tài chính Lựa chọn phương thức huy động vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện chodoanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài chính.
Để đánh giá NLCT của doanh nghiệp cũng cần xem xét kết cấu vốn cố định vàvồn lưu động của doanh nghiệp Kết cấu vốn hợp lý sẽ có tác dụng đòn bẩy góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhiều doanh nghiệp do kết cấu tài sản và nguồn vốnkhông phù hợp với quy mô và đặc điểm sản xuất kinh doanh, chưa biết cách khai thác
và sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình dẫn đến quy mô vốn lớn nhưng không mạnh.Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có điều kiện thuận lợi trong đổi mới côngnghệ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, giữ vững đượcsức cạnh tranh và củng cố vị thế của mình trên thị trường
Máy móc thiết bị và công nghệ
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định, nó
là những cơ sở vật chất kĩ thuật chủ yếu quyết định năng lực sản xuất của doanhnghiệp, là nhân tố đảm bảo NLCT Nếu máy móc thiết bị và trình độ công nghệ thấpkém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng chi phí sảnxuất, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ không đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn hóa và thốngnhất hóa Đặc biệt với những doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vựcVLXD, thì yếu tố máy móc thiết bị càng có một vai trò quan trọng hơn cả, bởi hầu hếtcác hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này đều gắn liền với các hoạt độngcủa hệ thống mày móc và các thiết bị công nghệ
Để đánh giá về năng lực máy móc và công nghệ có thể dựa vào các đặc tính như:
- Tính hiện đại của thiết bị công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như hãng sản xuất,
năm sản xuất, công suất thiết kế, giá trị còn lại của thiết bị
- Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị,
công nghệ với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm docông nghệ đó sản xuất ra
- Tính hiệu quả: thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị sẵn có để phục vụ mục
tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp
- Tính đổi mới: Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động, máy móc
thiết bị phải thích ứng được với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng giai đoạn, từngphương án kinh doanh, nếu máy móc không thể sử dụng linh hoạt và chậm đổi mới thì
sẽ không đảm NLCT cho doanh nghiệp
Cùng với máy móc thiết bị, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến NLCTcủa doanh nghiệp Theo M Porter mỗi doanh nghiệp phải làm chủ hoặc ít ra là có khảnăng tiếp thu các công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Khôngđơn giản là việc có được công nghệ mà điều quan trọng hơn là khả năng áp dụng côngnghệ, đó mới là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh[tài liệu tham khảo 6]
Trang 23Như vậy có thể khẳng định một doanh nghiệp với hệ thống máy móc thiết bị vàcông nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượngcao, giá thành hạ, và đảm bảo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực
Nhân tố con người là vô cùng quan trọng đố với hoạt động của mỗi doanh nghiệp,
để quản lý tốt động quản lý kinh trước hết phải làm tốt công tác về quản lý nguồn lực.Nguồn nhân lực không đảm bảo về số lượng và chất lượng là nguyên nhân giảm sútnăng suất và chất lượng sản phẩm Làm tốt công tác quản lý nguồn nhân lưc là conđường dẫn tới thành công của các doanh nghiệp bởi quản lý nguồn nhân lực giúpdoanh nghiệp khai thác được mọi tiềm năng của người lao động đóng góp vào sự pháttriển, sử dụng chi phí tiền lương một cách hiệu quả nhất, ngăn chặn mọi sự di chuyển laođộng ra khỏi doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy tổ chức
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn,nghiệp vụ, trình độ đối với từng vị trí làm việc, yêu cầu đối với giám đốc và quản trị viêncác cấp không chỉ đòi hỏi trình độ về nghiệp vụ mà còn phải có khả năng sáng tạo, tinh thầntrách nhiệm, sự nhanh nhẹn, linh hoạt trong thu thập và xử lý thông tin, sáng suốt dự báo vàđối phó với các biến động của thị trường Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh và NLCT của doanh nghiệp:
- Ban giám đốc doanh nghiệp: Là những người vạch ra cá chiến lược kinh doanh,
trực tiếp điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, quyết định sự thành công hay thấtbại của một doanh nghiệp Những thành viên của ban giám đốc cần có kinh nghiệmlãnh đạo, trình độ và hiểu biết về các hoạt động của doanh nghiệp, biết cách động viênsức mạnh tập thể cùng phấn đấu cho sự nghiệp chung của doanh nghiệp
- Cán bộ cấp trung gian và cấp cơ sở: là những người trực tiếp điều hành và thực
hiện các kế hoạch, phương án kinh doanh do ban giám đốc đề ra Họ góp phần tạo nênsức mạnh tổng hợp của daonh nghiệp Họ cần thành thạo chuyên môn và có kinhnghiệm quản lý, năng động, có khả năng ra quyết định và tham mưu cho ban giám đốc,
- Đội ngũ công nhân: Để đứng vững trên thị trường không chỉ cần cán bộ lãnh đạo
giỏi mà còn cần đội ngũ công nhân lành nghề, trung thực, sáng tạo Họ là những ngườitrực tiếp tạo nên chất lượng sản phẩm, lòng hăng say nhiệt tình làm việc của họ là yếu
tố tác động mạnh mẽ đến NLCT của doanh nghiệp
Khả năng liên doanh liên kết của doanh nghiệp
Liên doanh liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế để tạo ra mộtpháp nhân kinh tế mới có sức mạnh tổng hợp về kinh nghiệm và khả năng tài chính.Đây là một trong những yếu tố đánh giá NLCT của doanh nghiệp, nhất là đối với cácdoanh nghiệp thường tham gia các dự án với quy mô lớn, những yêu cầu đôi khi vượtlên trên năng lực một doanh nghiệp đơn lẻ trong cạnh tranh Để tăng NLCT trên thị
Trang 24trường vấn đề mở rộng các quan hệ liên doanh liên kết dưới nhiều hình thức thích hợp
là giải pháp quan trọng cần thiết Qua đó doanh nghiệp có thể đáp ứng một cách toàndiện những yêu cầu của dự án có quy mô lớn và độ phức tạp cao
Liên doanh liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang, tức là doanh nghiệp sẽ liênkết với các doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận các dự án lớn Liên kết theo chiềudọc là hình thức liên kết với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu hoặc trangthiết bị nhờ đó có thể giảm giá thành sản phẩm Dù liên doanh liên kết dưới hình thứcnào cũng đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, và cùng có lợi
Liên doanh liên kết tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đi sâu chuyên môn hóa,khai thác được những thế mạnh, khắc phục những điểm yếu, thích ứng với cơ chế thịtrường, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, từ đó nâng cao NLCT chodoanh nghiệp
1.1 5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.5.1 Thương hiệu và thị phần
Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketting Hoa Kỳ “thương hiệu là một cái tên, một
từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hoặc tổng hợp tất cả các yếu tố trênnhằm xác định một sản phẩm hoặc dịch vụ của một (hoặc một nhóm người) và phânbiệt sản phẩm dịch vụ đó với các đối thủ cạnh tranh” [ Tài liệu tham khảo ] Có thể nóithương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong chosản phẩm hoặc doanh nghiệp Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêudùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng Giá trị của một thươnghiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà sản xuất trongtương lai Nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp
Xây dựng thương hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tài chính và ý chíkhông ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Một doanh nghiệp có năng lựccạnh tranh cao cũng có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương hiệu
đó luôn được khách hàng nhớ và nhận biết rõ ràng
Qua việc xây dựng thành công một thương hiệu người ta có thể đánh giá vềnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó vì:
- Thương hiệu làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hàokhi sử dụng thương hiệu
- Thương hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty, thu hút khách hàng mới, vốnđầu tư, thu hút nhân tài
- Thương hiệu tốt giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn, tạo thuận lợi khi tìmthị trường mới
- Uy tín cao của thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sảnphẩm, đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp cho việc triển khai khuếch
Trang 25trương sản phẩm dễ dàng hơn, đòng thời giảm chi phí tiếp thị, giúp doanh nghiệp cóđiều kiện phòng thủ, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá.
- Thương hiệu của người bán khi đã đăng ký bao hàm sự bảo hộ của pháp luậtđối với những tính chất độc đáo của sản phẩm trước những sản phẩm bị đối thủ cạnhtranh bắt chước
Cùng với thương hiệu, thị phần cũng là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp là tỷ trọng giữa số hàng hóa củadoanh nghiệp so với tổng số hàng hóa được bán trên thị trường Thị phần tương đối là
tỷ lệ so sánh giữa doanh thu của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Nócho biết vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranhcao sẽ chiếm được thị phần tương ứng với năng lực cạnh tranh đó và có nhiều khảnăng tăng thị phần Thị phần là một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, để giành vàgiữ vững được thị phần đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nỗ lực không ngừng trongviệc sản xuất các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, làn tốt công tác marketting
và đảm bảo chất lượng sản phẩm như đã hứa
1.1.5.2 Chi phí sản xuất
Cạnh tranh thắng lợi trên thị trường, nói cách khác là có năng lực cạnh tranhcao được thể hiện ở kết quả tuyệt đối là tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong điềukiện hiện nay, khi giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống, để tăng lợi nhuận doanhnghiệp phải tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất Chi phí sản xuất cho đơn vị sản phẩm
là toàn bộ các chi phí về nguyên vật liệu, lao động, máy móc thiết bị và các chi phíkhác doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Một loại sản phẩm
có chất lượng tương đương, doanh nghiệp nào sản xuất với chi phí thấp hơn có thể bánvới giá thấp mà vẫn đảm bảo mục tiêu lợi nhuận Trong trường hợp phải cạnh tranhgay gắt về giá thì doanh nghiệp nào có chi phí thấp sẽ có lợi thế, nhất là đối với nhữngsản phẩm nhạy cảm về giá
Để đạt được hiệu quả bền vững các doanh nghiệp phải đảm bảo các mối quan
hệ tốc độ tăng năng lực sản xuất luôn luôn lớn hơn tốc độ tăng chi phí đầu tư hoặc đảmbảo được mối tương quan mức biến động doanh thu phải luôn lớn hơn mức biến độngchi phí
1.1.5.3 Tỷ suất lợi nhuận
Để lượng hóa hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta thường sử dụng các chỉtiêu tỷ suất lợi nhuận
- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn kinh doanh = Lợi nhuận trước (hoặc sauthuế) / Vốn kinh doanh cho biết mức sinh lời của một đồng vốn bỏ ra từ đó đánh giáhiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Tỷ suất lợi nhuận cần bù đắp được chi phí cơ hộicủa việc sử dụng vốn Thông thường một đồng vốn được coi là sử dụng có hiệu quả
Trang 26nếu tỷ lệ nói trên cao hơn mức sinh lời khi đầu tư vào các cơ hội khác, hoặc ít nhấtphải cao lãi suất tín dụng ngân hàng
- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn lưu động = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế) /Vốn lưu động cho thấy mức sinh lời của vốn lưu động
- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn cố định = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế) /Vốn cố định cho thấy mức sinh lời của vốn cố định
- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Doanh thu = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế) /Doanh thu giúp doanh nghiệp biết được trong một đồng doanh thu của doanh nghiệp
có bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ
sở hữu cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Tuỳ thuộc yêu cầu phân tích có thể lựa chọn sử dụng các chỉ tiêu thích hợp đểđánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Đồng thời có thể so sánh tỷ suất lợi nhuận giữa các năm để thấy được sự giatăng lợi nhuận một cách tổng quát Nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp tươngđương hoặc cao hơn tỷ suất lợi nhuận của ngành thì doanh nghiệp đó được coi là cónăng lực cạnh tranh cao