1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO

163 944 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính nhạy cảm của sự biến động tỷ giá hối đoái tới khả năng cạnh tranh của hàng hóa một quốc gia gây ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán cân bằng ngoại của nền kinh tế; mặt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

TRỊNH TIẾN ĐẠT

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC

TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP WTO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội - Năm 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

TRỊNH TIẾN ĐẠT

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC

TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP WTO

¬

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số : 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HỒNG SƠN

Hà Nội - Năm 2009

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt 1

Danh mục bảng 2

Danh mục biểu đồ 3

Phần mở đầu 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 11

1.1 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 11

1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 11

1.1.2 Phân loại tỷ giá 11

1.1.3 Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái 16

1.2 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 23

1.2.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái 23

1.2.2 Lựa chọn các chế độ tỷ giá hối đoái 23

1.2.3 Một số công cụ can thiệp của chính phủ lên tỷ giá hối đoái 31

1.2.4 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến các biến số kinh tế chủ yếu 35

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP WTO (1979-2008) 42 2.1 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 42

2.1.1 Quá trình cải cách chính sách tỷ giá hối đoái Trung Quốc từ 1979 đến 1994 42

2.1.2 Vượt qua khủng hoảng tài chính châu Á, Trung Quốc hoàn thiện chính sách tỷ giá trước khi gia nhập WTO (1994-2001) 50

2.1.3 Tóm lược quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc và những cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO có liên quan đến chính sách tỷ giá hối đoái 57

Trang 4

2.2 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC SAU

KHI GIA NHẬP WTO 63

2.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc từ 2001 đến 2008 64

2.2.2 Đánh giá những thay đổi chính sách tỷ giá của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO 84

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI Ý NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM TRUNG QUỐC 88

3.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TỪ 1989 ĐẾN 2008 88

3.1.1 Giai đoạn từ năm 1989 – 1996 88

3.1.2 Giai đoạn điều chỉnh tỷ giá liên tục nhằm đối phó khủng hoảng tài chính châu Á: 1997 – 1998 90

3.1.3 Giai đoạn 1999 – 2007: Giai đoạn gia nhập WTO của Việt Nam 92

3.1.4 Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, chính sách tỷ giá hối đoái tiếp tục đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính (2007 – 2008) 96

3.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 103

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM TRUNG QUỐC 104

3.3.1 Bài học kinh nghiệm từ quá trình cải cách và điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái ở Trung Quốc 105

3.3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam 106

Kết luận 117

Tài liệu tham khảo 118

Phụ lục 120

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tóm lược mô hình lựa chọn chế độ tỷ giá tối ưu trên cơ sở các biến động kinh tế nội địa 1 Bảng 1.2 Thống kê, phân loại các chế độ tỷ giá hối đoái

các quốc gia năm 1999 1 Bảng 2.1: Tỷ giá hối đoái và Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ 1978-1981 1 Bảng 2.2 Mức phá giá tiền tệ của Trung Quốc từ 1985-1990 1 Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Trung Quốc từ 1994 - 1997 1 Bảng 2.4: Diễn biến của chính sách tiền tệ của Trung Quốc từ 1990 - 1997 1 Bảng 2.5: Tình hình lãi suất và một số chỉ số của thị trường tiền tệ Trung Quốc trong năm 1998 1 Bảng 2.6: Diễn biến tỷ giá RMB/USD từ 1994-2001 1 Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Trung Quốc sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng châu Á (1998-2000) 1 Bảng 2.8: Diễn biến dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ 1994-2001 1 Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản của Trung Quốc từ 2001 –

2006 1 Bảng 2.10: Diễn biến kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ với Trung Quốc từ 1992-2008 1 Bảng 2.11: Bảng tính PPP mẫu tương đối xác định tỷ giá đồng Nhân dân tệ so với Đô la Mỹ trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng giữa hai quốc gia Trung Quốc và Mỹ 1 Bảng 2.12: Diễn biến tỷ giá hối đoái RMB/USD và dự trữ ngoại hối Trung Quốc từ 1989-2007 1 Bảng 2.13: Bảng tính chỉ số tỷ giá hối đoái thực của Trung Quốc từ 1994-

2008 1 Bảng 2.14: Diễn biến một số chỉ số kinh tế cơ bản của Trung Quốc từ năm

2001 đến 2008 1 Bảng 2.15: Diễn biến tỷ giá hối đoái của một số đồng tiền mạnh so với đồng

Đô la Mỹ từ 2005 đến 2008 1 Bảng 2.16: Bảng tính phục vụ chạy hồi quy tuyến tính tương quan bội chỉ số

tỷ giá hối đoái với các biến cung tiền, thu nhập và lãi suất 1

Trang 7

Bảng 3.1: Diễn biến tỷ giá hối đoái đồng VND/USD từ 1992-1996 1

Bảng 3.2: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa và chỉ số tỷ giá thực đa biên của đồng Việt Nam từ 1999-2008 1

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Diễn biến tỷ giá hối đoái RMB/USD từ 1984-1994 1

Biểu đồ 2.2: Diễn biến kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ với Trung Quốc từ 1992-2008 1

Biểu đồ 2.3: Diễn biến chỉ số tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá theo PPP 1

Biểu đồ 2.4: Diễn biến dự trữ ngoại hối và tỷ giá hối đoái RMB/USD từ 1989-2007 1

Biểu đồ 2.5: Diễn biến chỉ số tỷ giá hối đoái thực RMB/USD từ 1994-2008 1 Biểu đồ 2.6: Diễn biến tỷ giá đồng Nhân dân tệ so với đồng SDR và đồng USD từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2007) 1

Biểu đồ 3.1 Diễn biến tỷ giá VND/USD giai đoạn 1989 - 1992 1

Biểu đồ 3.2 Diễn biến tỷ giá VND/USD giai đoạn 1997- 1998 1

Biểu đồ 3.3 Diễn biến tỷ giá VND/USD giai đoạn 1999 - 2007 1

Biểu đồ 3.4: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa và chỉ số tỷ giá thực đa biên của đồng Việt Nam từ 1999-2008 1

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 . SỰ CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Tỷ giá hối đoái là một vấn đề kinh tế phức tạp, là một trong những công cụ

cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô, là một chủ đề được tranh luận nhiều và sôi nổi vào bậc nhất của kinh tế học

Tính phức tạp và nhiều tranh cãi của tỷ giá hối đoái nằm ở chỗ chưa có hệ thống lý thuyết tỷ giá hối đoái hoàn chỉnh (phương pháp xác định, phương pháp dự báo)…

Tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước Tính nhạy cảm của sự biến động tỷ giá hối đoái tới khả năng cạnh tranh của hàng hóa một quốc gia gây ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán (cân bằng ngoại của nền kinh tế); mặt khác, tính ổn định của đồng tiền một quốc gia còn tác động tới tâm lý của nhà đầu

tư nước ngoài, của các doanh nghiệp trong nước, từ đó tác động tới sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát trong nước (cân bằng nội)

Vì tính phức tạp của tỷ giá hối đoái cũng như vai trò quan trọng của chính sách tỷ giá đối với nền kinh tế nên đã có rất nhiều nhà kinh tế học dày công nghiên cứu Đóng góp chung vào nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái, luận văn này tập trung vào nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc, chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước

và sau khi gia nhập WTO

Trung Quốc là một trong 5 nền kinh tế lớn, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, có lượng dự trữ ngoại hối lớn, có tốc độ và kim ngạch tăng trưởng thương mại hàng đầu thế giới, có thị trường nội địa rộng lớn và đầy tiềm năng…vài nét sơ qua như vậy cũng có thể đánh giá tầm quan trọng trong ảnh hưởng của Trung Quốc tới nền kinh tế toàn cầu

Trang 9

Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (năm 2001) đến nay, trên các diễn đàn nghiên cứu tỷ giá hối đoái trên thế giới, một trong những chủ đề bàn luận sôi nổi nhất có lẽ là tỷ giá hối đoái Trung Quốc Lý do là vì chính sách tỷ giá hối đoái mà Trung Quốc đã và đang thực thi gây ra những ảnh hưởng liên đới đến phần còn lại của thế giới (đặc biệt là đến Mỹ, Liên minh châu Âu): thâm hụt cán cân thương mại, thay đổi trong dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI)… Sau nhiều năm thành công trong điều hành tỷ giá hối đoái theo quan điểm duy trì mức neo tỷ giá ổn định với đồng Đô la Mỹ, gia tăng lượng dự trữ ngoại hối và kiểm soát chặt chẽ dòng vốn thì đến nay, trước áp lực từ phía cộng đồng quốc tế (Mỹ, EU, IMF,…), Trung Quốc đã bắt đầu thay đổi trong phương thức điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của mình theo hướng thực thi một chính sách tỷ giá linh hoạt hơn Nhưng, sự thay đổi này liệu có phải là chiến thuật trong ngắn hạn của Trung Quốc hay là sự thay đổi trong chiến lược hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái của mình?

Chính sách tỷ giá hối đoái Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO có

sự thay đổi như thế nào, những thay đổi đó tác động đến nền kinh tế Trung Quốc như thế nào, đó là những vấn đề nghiên cứu mà luận văn này cần phải trả lời

Việc Việt Nam vừa mới gia nhập WTO đặt ra những vấn đề trong việc sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái như một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng có tác dụng vừa đối phó với những thách thức đặt ra lại vừa tận dụng được các cơ hội do nó mang lại

Kể từ tháng 02/1999 đến nay tỷ giá chính thức ở Việt Nam được xác định

là mức bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng và áp dụng tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước Quá trình điều chỉnh tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong những năm qua đã có một số thành công đáng kể góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thương mại, Tuy nhiên, trong thời gian

Trang 10

gần đây, tốc độ lạm phát hàng năm ở Việt Nam xấp xỉ hai con số, và những thách thức đặt ra khi Việt Nam vừa chính thức trở thành thành viên của WTO

đã tạo áp lực phải thay đổi và hoàn thiện hơn nữa

Sự tương đồng nhiều mặt giữa Việt Nam và Trung Quốc trong điều hành chính sách tỷ giá hối đoái (lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi có sự quản lý của Nhà nước, có cùng mục tiêu sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái để thúc đẩy tăng trưởng thương mại…) là lý do để luận văn này nghiên cứu nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái thời gian tới

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Trung Quốc hiện đang được nhìn nhận như một nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới vì vậy, những nghiên cứu về nền kinh tế Trung Quốc nói chung cũng như về chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc nói riêng thu hút không chỉ những giới học thuật Trung Quốc mà còn thu hút cả những nhà nghiên cứu trên toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam

Những công trình nghiên cứu điển hình như: “Adjusting China’s Exchange

Rate Policies” (2004) của Moris Goldstein; “The Choice of Exchange Rate

Regime: The Relevance of International Experience to China’s Decision”

(2004) của John Williamson; “Exchange Rate and Monetary Policy in

China” (2005) của Nicholas R Lardy; “Quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam” (2004) của Lê Quốc Lý, “China’s Exchange Rate System after WTO Accession: Some Considerations” (2001) của Jian Guang

Shen; “China’s Accession to the WTO, Real Exchange Rate Changes and

their Impact on U.S Trade with Greater China” (2001) của Vincent Dropsy;

“The China Currency Exchange Rate Problem: Facts and Policy Options”

(2005) của Ủy ban tổng hợp an ninh và kinh tế Trung Mỹ; “Trung Quốc sau 4 năm tham gia WTO – Đánh giá sơ khởi vài nét chính” (2005) của Đỗ

Trang 11

Tuyết Khanh; “Kinh nghiệm đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Trung

Quốc trong quá trình gia nhập WTO và quá trình đổi mới cơ chế quản lý

ngoại hối của Việt Nam hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Thị

Nhung…

Hầu hết các nghiên cứu trên tập trung vào các vấn đề sau:

Thứ nhất, về vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái: Trong khi các bài viết

của tác giả Việt Nam đồng tình với chính phủ Trung ương Trung Quốc khẳng định chế độ tỷ giá hối đoái của Trung Quốc là chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt

có sự quản lý của nhà nước thì các nhà nghiên cứu nước ngoài một mực cho rằng đây là chế độ tỷ giá hối đoái nghiêng hẳn về cố định và hà khắc Điều này có thể được giải thích vì sự khác nhau trong quan điểm của các tác giả về thế nào là chế độ tỷ giá cố định và thế nào là chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của nhà nước Trên quan điểm đó, các nghiên cứu trên cũng có sự khác biệt trong các khuyến nghị được đưa ra Có những quan điểm khuyến khích Trung Quốc tiếp tục thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái như hiện nay nhưng nới lỏng dần dần (như Jian Guang Shen, Lê Quốc Lý, Nguyễn Thị Nhung), cũng có quan điểm cho rằng Trung Quốc nên ngay lập tức thả nổi tỷ giá hối đoái (Vincent Dropsy, Moris Goldstein, John Williamson và đặc biệt

là từ bài viết của Ủy ban tổng hợp an ninh và kinh tế Trung Mỹ)

Thứ hai, về quá trình điều chỉnh tỷ giá hối đoái của Trung Quốc: Xung

quanh chủ đề định giá lại đồng Nhân dân tệ, các nghiên cứu đều đưa ra lập luận, mô hình để chứng minh rằng đồng Nhân dân tệ hiện thấp hơn giá trị thực của nó từ 15-20 % (Moris Goldstein); những khuyến nghị dành cho phía Trung Quốc là mở rộng biên độ dao động cho tỷ giá hối đoái từ 1% lên 5-7% đồng thời thay đổi từ chỉ neo giá đồng Nhân dân tệ vào đồng USD sang neo giá với rổ tiền tệ mạnh

Trang 12

Thứ ba, liên quan đến các cam kết gia nhập WTO tác động thế nào tới

chính sách tỷ giá hối đoái Trung Quốc, Vincent Dropsy cho rằng việc Trung

Quốc cam kết giảm mức thuế quan trung bình theo lộ trình tự do hóa thương mại cũng đồng nghĩa với một sự tăng giá thực của đồng Nhân dân tệ

Tuy nhiên, do mục đích và yêu cầu khác nhau mà các nghiên cứu trên chỉ

đề cập về i) một hoặc một số khía cạnh của chính sách tỷ giá hối đoái Trung

Quốc; ii) Chỉ nghiên cứu trước hoặc sau khi Trung Quốc gia nhập WTO chứ chưa nghiên cứu sâu chuỗi thành một quá trình cả trước và sau khi gia nhập

WTO của Trung Quốc; iii) các tác giả cũng có những quan điểm khác nhau

trong vấn đề điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc Luận văn này được viết với mục đích cố gắng lấp được các khoảng trống trong những nghiên cứu trên đồng thời đưa ra quan điểm của người viết về điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc cũng như những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc để hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Mục đích nghiên cứu: Rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chính sách tỷ giá hối đoái và phân tích thực trạng chính sách

tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Thứ nhất: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về tỷ giá hối đoái và chính

sách tỷ giá hối đoái cũng như những tác động của nó tới nền kinh tế (vai trò của chính sách tỷ giá hối đoái)

Thứ hai: Trả lời câu hỏi: Trung Quốc đã lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái

nào và có những điều chỉnh nào trong chính sách tỷ giá hối đoái trước và sau khi gia nhập WTO

Trang 13

Thứ ba: Trả lời câu hỏi: những bài học kinh nghiệm nào có thể được rút ra

và vận dụng được ở Việt Nam để hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái trong thời gian tới?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu là Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Chính sách tỷ giá hối đoái là một công

cụ quản lý vĩ mô quan trọng và liên hệ chặt chẽ với các chính sách khác như: chính sách ngoại hối, chính sách tiền tệ…Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về việc Trung Quốc đã lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái như thế nào và tiến hành điều chỉnh tỷ giá hối đoái ra sao trong quá trình trước và sau khi gia nhập WTO

Phạm vi về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu về chính sách tỷ giá hối

đoái của Trung Quốc từ 1981-2008 vì từ 1/1/1981 Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách tỷ giá lần đầu tiên với việc áp dụng một tỷ giá cho các giao dịch thương mại nội bộ (Trung Quốc chính thức thừa nhận mức tỷ giá hối đoái duy nhất gắn cố định đồng Nhân dân tệ với Đô la Mỹ trước đó còn không phù hợp, cao so với thực tế) bên cạnh tỷ giá hối đoái chính thức Năm 1981 cũng

là năm mà thị trường trao đổi ngoại hối của Trung Quốc ra đời thúc đẩy mạng lưới thanh toán dựa vào thị trường ngoại hối chính thức trên phạm vi toàn quốc Cũng kể từ thời điểm này trở đi Trung Quốc tiến hành hàng loạt các biện pháp phá giá đồng Nhân dân tệ và những cải cách trong điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế

Phạm vi về không gian nghiên cứu: Luận văn này chỉ giới hạn nghiên

cứu chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc Đại lục chứ không nghiên cứu

cả chính sách tỷ giá hối đoái của Hồng Kông, Ma Cao…

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trang 14

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, so sánh, duy vật biện chứng và duy vật lịch sử…

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:

Nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận về chính sách tỷ giá hối đoái

Phân tích và đánh giá quá trình điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO (trọng tâm từ 1981 đến 2008) Rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ quá trình điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:

Phần mở đầu

Các ký hiệu viết tắt

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ

giá hối đoái

Chương 2 Phân tích chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau

khi gia nhập WTO (1979-2008)

Chương 3 Một số gợi ý về giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá hối

đoái ở Việt Nam từ kinh nghiệm Trung Quốc

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI

ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau Nó là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia

Theo Nghị định của Chính phủ số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối thì “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt nam”.1

Tất cả các quốc gia đều quan tâm tới vấn đề tỷ giá bởi lẽ vai trò của nó như là một bộ phận quan trọng trong hệ thống công cụ kinh tế vĩ mô Thật vậy, vai trò của tỷ giá chủ yếu được thể hiện ở hai điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: Tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu

Thứ hai: Tỷ giá sẽ có tác động gián tiếp đến các khía cạnh khác của nền

kinh tế như: mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm, đầu tư nước ngoài, nợ nước ngoài…

Có thể nói, tỷ giá hối đoái là một loại giá cả, có vai trò quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế, bởi lẽ bất cứ sự thay đổi dù là nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng sẽ tác động ngay đến hai nhóm mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô là: mục tiêu cân bằng bên trong (đó là công ăn việc làm đầy đủ và giá cả ổn định) và mục tiêu cân bằng bên ngoài (đó là sự cân bằng cán cân vãng lai)

1.1.2 Phân loại tỷ giá

1

Trích khoản 1, Điều 3 Giải thích từ ngữ

Trang 16

Có nhiều loại tỷ giá, dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau Cụ thể:

1.1.2.1 Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

đồng tiền yết giá

tiền yết giá

 Tỷ giá giao ngay: Là tỷ giá được thoả thuận hôm nay nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thoả thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai)

toán xảy ra sau đó (từ ba ngày làm việc trở lên)

 Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày

trong ngày

(còn gọi là đồng tiền trung gian)

1.1.2.2 Căn cứ vào cơ chế điều hành chính sách tỷ giá

giá trị đối ngoại của đồng nội tệ

do quan hệ cung - cầu trên thị trường chợ đen quyết định

động nhất định hoặc không có biên độ

 Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung - cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp

Trang 17

can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế

1.1.2.3 Căn cứ vào tính chất tác động đến thương mại quốc tế

a) Tỷ giá danh nghĩa song phương: Bilateral Nominal Exchange Rate - NER

Tỷ giá danh nghĩa song phương là tỷ giá phổ biến được sử dụng hàng ngày trong các giao dịch trên thị trường ngoại hối Nói cách khác, nó chính là

tỷ lệ trao đổi số lượng tuyệt đối giữa hai đồng tiền Như vậy, NER là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá và dịch vụ giữa chúng Những thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa song phương thường được biểu diễn dưới dạng chỉ số:

Trong đó: e: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương

Et: Tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t

Eo: Tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm gốc

Chính vì tỷ giá danh nghĩa chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa 2 đồng tiền, do đó đối với mỗi quốc gia, tỷ giá danh nghĩa thay đổi chưa hẳn đã

tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Cho nên, khi nghiên cứu

ảnh hưởng của tỷ giá đến xuất nhập khẩu người ta sử dụng khái niệm “Tỷ giá thực”

b) Tỷ giá thực song phương: Bilateral Real Exchange Rate – RER

Tỷ giá thực song phương là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa song phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và

nước ngoài Do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và

Trang 18

ngoại tệ

 Tỷ giá thực dạng tuyệt đối: (Tỷ giá thực trạng thái tĩnh – tại 1 thời điểm)

Tỷ giá thực trạng thái tĩnh được xác định theo công thức:

Trong đó: ER : Tỷ giá thực song phương (dạng chỉ số)

E: Tỷ giá danh nghĩa song phương

P: Giá cả của rổ hàng hoá trong nước tính bằng nội tệ

P*: Giá cả của rổ hàng hoá nước ngoài tính bằng ngoại tệ

 Tỷ giá thực dạng tương đối: (Tỷ giá thực trạng thái động – từ thời điểm này sang thời điểm khác)

Công thức (PT 1.2) là dạng tuyệt đối của tỷ giá thực (hay còn gọi là trạng

thái tĩnh), nghĩa là ta chỉ quan sát và tính toán được tỷ giá thực tại một thời điểm Hơn nữa, công thức trạng thái tĩnh chỉ tồn tại và có ý nghĩa về mặt lý thuyết, bởi vì hiện nay các quốc gia không tính toán và không công bố mức giá của một rổ hàng hoá nào (P, P*) Thay vào đó, họ công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chính vì vậy, để tính toán và quan sát được sự thay đổi của tỷ giá thực từ thời gian này sang thời gian khác, người ta sử dụng Tỷ giá thực dạng tương đối

0 Rt

e = 0

t

e  0*t

0 t

Trang 19

đặc trưng) và được biểu diễn dưới dạng chỉ số Ta có công thức tính NEER như sau:

NEERi =

n

ij j j=1

e w 

Trong đó: NEER : Tỷ giá danh nghĩa đa phương

e : Chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương

w : Tỷ trọng của thương mại song phương

i : kỳ tính toán

j : Số thứ tự của các tỷ giá song phương

Vì NEER là số trung bình của các chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương, cho nên NEER cũng thuộc loại tỷ giá danh nghĩa, tức chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa nội tệ với các đồng tiền còn lại

d) Tỷ giá thực đa phương: Real Effective Exchange Rate – REER

Tỷ giá thực đa phương (REER) được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại Do đó, nó phản ánh được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại và được tính theo công thức sau:

REERi = NEERi  Wi

VN i

i j j=1

CPI : Chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ

- GDPj: Tỷ trọng Tổng sản phẩm quốc dân của quốc gia j so với các quốc gia có quan hệ thương mại

- i : Kỳ tính toán

- j : Số thứ tự của các đồng tiền trong rổ

Trang 20

Tác động của REER đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng tương tự như tỷ giá thực song phương (ER), nhưng REER thể hiện tương quan sức mua của nội tệ so với tất cả các đồng tiền còn lại trong rổ Do đó, nó phản ánh vị thế tổng hợp về sức cạnh tranh thương mại quốc tế của một nước với tất cả các nước còn lại Trong khi đó, tỷ giá thực song phương, đơn thuần chỉ đề cập đến sức cạnh tranh thương mại quốc tế giữa hai quốc gia mà thôi Vì có ý nghĩa quan trọng như vậy, nên hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố REER hàng năm

1.1.3 Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái

Sự tăng hay giảm của tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ bản sau:

1.1.3.1 Các nhân tố dài hạn

Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền

Theo lý thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động

để phản ánh tương quan lạm phát giữa chúng theo công thức sau đây:

Trong đó: ΔE : Tỷ lệ % thay đổi tỷ giá sau 1 năm

ΔP : Tỷ lệ lạm phát/ năm ở trong nước (thường được biểu hiện bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI nội địa)

ΔP* : Tỷ lệ lạm phát/ năm ở nước ngoài (thường được biểu hiện bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI của nước ngoài)

Vì ΔP và ΔP*

là tỷ lệ lạm phát nên thường ít thay đổi trong ngắn hạn, và chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn Chính vì vậy, tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn

Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu

Nếu giá thế giới của hàng hoá xuất khẩu tăng hoặc giá thế giới của hàng hoá nhập khẩu giảm đều có tác dụng cải thiện cán cân thương mại, từ đó tăng cung và giảm cầu ngoại tệ, khiến cho tỷ giá giảm tức nội tệ lên giá

Ngược lại, nếu giá thế giới của hàng hoá xuất khẩu giảm hoặc giá thế giới

Trang 21

của hàng hóa nhập khẩu tăng đều có tác dụng xấu đến cán cân thương mại, từ

đó giảm cung và tăng cầu ngoại tệ, khiến cho tỷ giá tăng tức nội tệ giảm giá

Thu nhập (thực) của người cư trú và người không cư trú

Nếu thu nhập của người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú thì kích thích tăng nhập khẩu ròng, làm tăng cầu ngoại tệ, khiến cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá

Ngược lại, nếu thu nhập của người không cư trú tăng tương đối so với người cư trú thì kích thích tăng xuất khẩu ròng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá

Thuế quan và hạn ngạch trong nước

Nếu một quốc gia tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch quota đối hàng nhập khẩu thì sẽ làm cho cầu hàng hoá nhập khẩu giảm, cầu hàng nội tăng (giảm cầu ngoại tệ), có tác dụng làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá Ngược lại, nếu một quốc gia giảm mức thuế quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu thì sẽ làm cho cầu hàng hoá nhập khẩu tăng (tăng cầu ngoại tệ), có tác dụng làm cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá

Thuế quan và hạn ngạch ở nước ngoài

Nếu phía nước ngoài tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu tức khi đó hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá ở nước ngoài cũng như kìm hãm hoạt động xuất khẩu của nước ta, từ đó làm giảm cung ngoại tệ, có tác dụng làm cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá

Ngược lại, nếu phía nước ngoài giảm mức thuế quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, từ đó khuyến khích hoạt động xuất khẩu của nước ta, làm tăng cung ngoại tệ, có tác dụng làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá

Năng suất lao động

Nếu năng suất lao động của một nước tăng nhanh hơn nước khác sẽ làm cho mức giá cả hàng hoá của nước này có xu hướng giảm, có tác dụng làm cho đồng tiên nước này lên giá

Ngược lại, nếu năng suất lao động của một nước giảm nhanh hơn nước khác sẽ làm cho mức giá cả hàng hoá của nước này có xu hướng tăng, có tác dụng làm cho đồng tiền nước này giảm giá

Trang 22

Tâm lý ưa thích hàng ngoại so với hàng nội

Nếu người dân của một nước ưa thích hàng ngoại hơn hàng nội, sẽ kích thích nhập khẩu, làm tăng cầu ngoại tệ, khiến cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá

Ngược lại, nếu người dân của một nước không ưu thích hàng ngoại bằng hàng nội, sẽ hạn chế nhập khẩu, làm cho cầu ngoại tệ giảm, khiến cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá

Mối quan hệ giữa các quốc gia

Nếu một nước nhận tiếp nhận khoản thu từ viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu; các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật dùng cho mục đích tiêu dùng lớn hơn so với chi ra thì sẽ làm tăng cung ngoại tệ trên Forex,

có tác dụng làm cho tỷ giá giảm, tức làm cho nội tệ lên giá

Ngược lại, nếu một nước có khoản chi từ viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu; các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật dùng cho mục đích tiêu dùng lớn hơn thu về thì sẽ làm tăng cầu ngoại tệ trên Forex, có tác dụng làm cho tỷ giá tăng, tức làm cho nội tệ giảm giá

Nhân tố khác

số lượng, mức lương, tỷ lệ tiết kiệm của họ

 Nhân tố quyết định đến thu nhập từ đầu tư nước ngoài như: giá trị đầu

tư ở nước ngoài trước đó và tỷ lệ sinh lời của đầu tư

Cho nên, nếu cán cân thu nhập ròng dương (thu > chi) sẽ làm tăng cung ngoại tệ trên Forex, có tác dụng làm cho tỷ giá giảm, tức làm cho nội tệ lên giá Ngược lại, nếu cán cân thu nhập ròng âm (thu < chi) sẽ làm tăng cầu ngoại tệ trên Forex, có tác dụng làm cho tỷ giá tăng, tức làm cho nội tệ giảm giá

1.1.4.2 Các nhân tố ngắn hạn

Tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền

Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động

để phản ánh tương quan mức lãi suất giữa chúng theo công thức sau đây:

Trang 23

ΔE = R - R** 100%

1 + R  (PT 1.8)

Trong đó: ΔE : Tỷ lệ % thay đổi tỷ giá sau 1 năm

R : Mức lãi suất danh nghĩa/năm của nội tệ

R* : Mức lãi suất danh nghĩa/năm của ngoại tệ

Vì R và R* là mức lãi suất, cho nên tần số thay đổi chúng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHTW Và trong nền kinh tế tiền tệ, NHTW thường xuyên thay đổi lãi suất để tác động tích cực lên nền kinh tế, đến lượt nó tần số thay đổi lãi suất càng nhiều lại làm cho tỷ giá biến động càng nhanh Chính vì vậy, tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của

E

 =

- Mức tỷ giá giao ngay dự tính sau 1 năm

Từ phương trình (PT 1.9) cho thấy: với các mức lãi suất nội tệ và ngoại tệ

đã cho, thì vế phải là một hằng số Do đó Khi tỷ giá dự tính là tăng trong tương lai, sẽ tạo áp lực tăng tỷ giá ngay ngày hôm nay Điều này xảy ra là vì, khi tỷ giá dự tính là tăng (tức Ee

tăng), nghĩa là ngoại tệ dự tính lên giá, còn nội tệ dự tính giảm giá, làm cho các luồng vốn đầu cơ đổ ra ngoài để đầu tư vào ngoại tệ, dẫn đến cầu ngoại tệ tăng trên thị trường giao ngay, làm cho tỷ giá giao ngay hiện hành tăng lên

Như vậy, những dự tính về tỷ giá giao ngay đã trở thành lực lượng thị trường ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá ngày hôm nay

Những cú sốc về chính trị, kinh tế, xã hội, thiên tai

Ngày nay, thế giới đang sống trong một môi trường đầy rẫy những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội, thiên tai…Và mỗi cú sốc diễn ra lại tác động ngay lập tức đến tỷ giá Cho nên, nếu như các cú sốc xuất hiện với tần

Trang 24

số càng nhanh và cường độ càng mạnh sẽ làm cho tỷ giá biến động khó lường

Sự can thiệp của NHTW trên Forex

Khi NHTW mua ngoại tệ vào lập tức làm tăng cầu ngoại tệ trên Forex, khiến cho tỷ giá tăng Ngược lại, khi NHTW bán ngoại tệ lập tức làm tăng cung ngoại tệ trên Forex, khiến cho tỷ giá giảm Ngày nay, các NHTW không thờ ơ trước sự biến động thất thường của tỷ giá, nên đã thường xuyên can thiệp trên Forex để tỷ giá biến động có lợi cho nền kinh tế Song tần số và cường độ can thiệp càng mạnh, càng khiến cho tỷ giá biến động nhanh và mạnh trong ngắn hạn Hơn nữa, tín hiệu can thiệp của NHTW có tác dụng tâm

lý rất mạnh đến các thành viên của thị trường, khiến cho tỷ giá thay đổi nhanh chóng

Bảng 1.1: Tóm lược các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái

(Đồng nội tệ giảm giá: +; Đồng nội tệ tăng giá: -)

Các nhân tố tác động

đến tỷ giá

Ảnh hưởng đến tỷ giá

Lý giải

Mức cung tiền danh

nghĩa nội địa

vọng sinh lời đồng nội tệ giảm khiến giá trị đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ nên tỷ giá tăng (và ngược lại)

Sản lượng/tốc độ tăng

trưởng kinh tế nội địa

(GDP)

tiêu tăng, nhu cầu đồng nội tệ tăng kéo theo đồng nội tệ tăng giá so với đồng ngoại tệ khiến tỷ giá giảm (và ngược lại)

Lạm phát (dự báo) nội

địa

phát đồng nội tệ sẽ khiến cho lãi suất thực nội tệ giảm, kỳ vọng lợi

Trang 25

nhuận đồng nội tệ giảm so với nước ngoài khiến cho nội tệ giảm giá so với ngoại tệ hay tỷ giá tăng (và ngược lại)

Lãi suất danh nghĩa nội

địa (thị trường vốn tự

do)

kỳ vọng lợi tức đồng nội tệ tăng, nếu giá cứng thì đồng nội tệ sẽ chưa thể tăng giá, mặt khác lãi suất tăng khiến cầu tiền giảm, nội tệ giảm giá so với ngoại tệ kéo tỷ giá tăng (và ngược lại)

kỳ vọng lợi tức đồng nội tệ tăng, nếu giá linh hoạt thì giá nội tệ sẽ tăng ngay để đáp ứng nhu cầu đầu

cơ đồng nội tệ khiến tỷ giá giảm (và ngược lại)

Rủi ro tài sản nội địa2

khiến cầu tài sản nội địa giảm, giá nội tệ sẽ giảm dẫn đến tỷ giá tăng (và ngược lại)

Trạng thái cán cân thanh

Trang 26

- Thặng dư - Cung ngoại tệ lớn dẫn tới nội tệ có

giá hơn ngoại tệ, làm giảm tỷ giá

có giá hơn nội tệ, làm tăng tỷ giá Biện pháp bảo hộ mậu

dịch hàng hóa của nước

chủ nhà (Quota, thuế,…)

nước ngoài nên giảm cầu ngoại tệ chi trả nước ngoài, vậy ngoại tệ giảm giá so với nội tệ, tỷ giá giảm Năng suất lao động trong

nước

giá hàng hóa nội địa rẻ hơn, sức mua của đồng nội tệ tăng nên tỷ giá có xu hướng giảm

Thị hiếu tiêu dùng (ưa

chuộng hàng nội địa)

nhu cầu nội tệ tăng, nội tệ lên giá

và tỷ giá sẽ giảm

Biện pháp can thiệp của

chính phủ (các nghiệp vụ

OMO, FXO, SFXO)

- Bán trái phiếu nội địa - Dẫn đến cung tiền giảm, tỷ giá

giảm

- Mua trái phiếu nước

ngoài

nước ngoài tăng dẫn đến tăng tỷ giá

Yếu tố tâm lý (quan

điểm đầu tư, sự nhạy

Trang 27

(xem thêm phần Phụ lục: Hộp 1 Một số lý thuyết cơ bản về tỷ giá hối đoái)

1.2 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.2.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái

Theo nghĩa rộng, chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chính phủ (mà

đại diện thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia

Theo nghĩa hẹp, chính sách tỷ giá là những hoạt động của NHTW thông

qua cơ chế điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một mức tỷ giá nhất định, để tỷ giá tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của quốc gia

Luận văn xác định chính sách tỷ giá hối đoái cần được hiểu và phân tích

theo nghĩa rộng, tức là quá trình mà chính phủ lựa chọn chế độ tỷ giá hối

đoái nhất định và sử dụng các công cụ (hành chính, thị trường…) để điều

chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt được tôn chỉ (mục tiêu) của chính sách tỷ giá hối đoái từng thời kỳ

1.2.2 Lựa chọn các chế độ tỷ giá hối đoái

Mỗi quốc gia đều có một chế độ, một khung pháp lý riêng dành cho các giao

dịch tài chính quốc tế của quốc gia đó Chế độ tỷ giá hối đoái bao gồm các

quy tắc xác định phương thức mua bán ngoại hối đối với các thể nhân và pháp nhân là người cư trú và người không cư trú

Tùy vào từng thời kỳ khác nhau, mục tiêu và quan điểm phát triển kinh

tế khác nhau mà quốc gia đó sử dụng các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau Ví

dụ những quốc gia đang phát triển thì hệ thống các quy tắc giao dịch ngoại

hối thường có “bàn tay” can thiệp của chính phủ một cách trực tiếp Ở các

Trang 28

quốc gia phát triển thì hệ thống các quy tắc giao dịch ngoại hối được tự do

hơn và chính phủ sẽ điều tiết các cú sốc, các bất ổn gây ra từ các giao dịch ngoại hối trên thông qua các công cụ thị trường mang tính gián tiếp

Thông thường có 3 chế độ tỷ giá hối đoái cơ bản mà các quốc gia trên thế giới đã và đang sử dụng: chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn, chế độ

tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết

a) Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn (A freely floating exchange rate regime)

Đây là chế độ tỷ giá hối đoái trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của Ngân hàng Trung ương Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn,

sự biến động của tỷ giá luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối Chính phủ tham gia thị trường ngoại hối với tư cách

là một thành viên bình thường, nghĩa là chính phủ có thể mua vào hay bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho mục đích hoạt động của chính phủ chứ không nhằm mục đích can thiệp ảnh hưởng lên tỷ giá hay để cố định tỷ giá

Bản chất của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn là việc tỷ giá tự điều chỉnh để phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối và vai trò của Ngân hàng Trung ương trên thị trường ngoại hối là hoàn toàn trung lập

b) Chế độ tỷ giá hối đoái cố định (A pegged exchange rate regime)

Đây là chế độ tỷ giá hối đoái, trong đó Ngân hàng Trung ương buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá biến động xung quanh

tỷ giá cố định (gọi là tỷ giá trung tâm/tỷ giá mục tiêu) trong một biên độ hẹp

đã được xác định trước Để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối, đòi hỏi Ngân hàng Trung ương phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối nhất định

Trang 29

Bản chất của chế độ tỷ giá hối đoái cố định là khi các lực lượng thị trường làm cho cung và cầu ngoại hối thay đổi sẽ tác động làm cho dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương thay đổi

c) Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết (A managed floating exchange rate regime)

Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết là chế độ tỷ giá mà Ngân hàng Trung ương có thể tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng đến tỷ giá nhưng Ngân hàng Trung ương không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá trung tâm Như vậy, với chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, một mặt tỷ giá được tự do biến động không theo khuôn khổ định sẵn, nhưng mặt khác, bất cứ khi nào Ngân hàng Trung ương cũng có thể dùng các công cụ nghiệp vụ để điều tiết tỷ giá theo một mục tiêu nhất định từng thời kỳ

Bản chất của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết là những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối là tín hiệu khởi đầu cho hoạt động can thiệp của Ngân hàng Trung ương, kết quả là cả tỷ giá và dự trữ ngoại hối đều đồng thời thay đổi

Như vậy, chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết được xem như chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn

Do mỗi đồng tiền quốc gia đều có tỷ giá với các đồng tiền khác nên tỷ giá của một đồng tiền có thể được thả nổi với đồng tiền này nhưng lại được neo

cố định với một đồng tiền khác Điều đó nói lên rằng chế độ tỷ giá có thể được áp dụng đa dạng theo từng đồng tiền chứ không bắt buộc duy nhất hoặc

là chế độ tỷ giá cố định hoặc là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn cho tất cả các

tỷ giá giữa đồng nội tệ với các đồng ngoại tệ

Việc lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái phù hợp với quốc gia mình là nhiệm vụ mang tính cơ bản nhưng khó khăn nhất của mỗi chính phủ Với hai

Trang 30

đầu cực là chế độ tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn, các quốc gia sẽ chọn cho mình hoặc là chế độ tỷ giá tại hai đầu cực hoặc là chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai đầu cực Việc lựa chọn các chế độ

tỷ giá thường hướng vào các mục tiêu: i) đảm bảo cân bằng cán cân bên trong (tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ - lạm phát hợp lý, giá trị đồng tiền được duy trì ổn định trong tương quan các đồng tiền, tỷ lệ thất nghiệp chấp nhận được và ii) đảm bảo cán cân cân đối bên ngoài như duy trì cán cân thanh toán

Các kinh nghiệm và lý luận chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa mức độ mở

cửa của nền kinh tế với việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái Một nền kinh

tế tương đối đóng sẽ thường lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái cố định còn một nền kinh tế mở sẽ hướng dần đến việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái tương đối thả nổi Một nền kinh tế mở sẽ chịu những áp lực mạnh mẽ từ các quốc gia có quan hệ kinh tế, nếu áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định sẽ khiến cho chi phí để quốc gia đó thực hiện được cam kết cố định tỷ giá trở nên đắt hơn và vì vậy những quốc gia đó thường ưu tiên lựa chọn chế độ tỷ giá tương đối thả nổi

Một nền kinh tế đóng, mối quan hệ với thế giới bên ngoài bị hạn chế tối đa Những cân bằng nội bên trong nền kinh tế thường được quốc gia đó ưu tiên đặc biệt Một sự ổn định danh nghĩa về tỷ giá hối đoái khi áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định sẽ tạo điều kiện cho chính phủ thiết lập sự cân bằng lên các chỉ số kinh tế khác

Bên cạnh đó, việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái còn phải căn cứ vào các tiêu chuẩn khác như đặc điểm của các biến động kinh tế nội địa, đặc thù sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào các nguồn lực sản xuất và các mục tiêu theo đuổi…

Nếu nền kinh tế thường gặp các biến động xuất phát từ thị trường tiền tệ (biến động danh nghĩa) thì việc áp dụng một chế độ tỷ giá cố định danh nghĩa

Trang 31

là hợp lý vì nó tạo điều kiện để cân bằng trực tiếp các nhân tố tiền tệ Ngược lại, nếu các biến động xuất phát từ thị trường hàng hóa (biến động thực tế) thì lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi sẽ tạo điều kiện đảm bảo sự cân bằng tỷ giá hối đoái thực

Bảng 1.2: Tóm lƣợc mô hình lựa chọn chế độ tỷ giá tối ƣu trên cơ sở các

biến động kinh tế nội địa Sốc tạm thời xảy

ra

Chế độ tỷ giá thả nổi Chế độ tỷ giá cố định

Ổn định giá

Ổn định thu nhập

Ổn định giá

Ổn định thu nhập

Với nền kinh tế nguồn lực sản xuất lớn cho phép quốc gia đó tiếp tục

mở rộng sản xuất một cách tương đối dễ dàng, ít phụ thuộc vào thế giới bên ngoài thì việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái cố định là hợp lý Ngược lại, với những quốc gia mà sự phụ thuộc vào nguồn lực sản xuất từ các quốc gia bên ngoài lớn thì một chế độ tỷ giá thả nổi sẽ ít gây tốn kém cho ngân sách quốc gia hơn là việc duy trì một tỷ giá cố định

Với mục tiêu duy trì tính độc lập trong chính sách tiền tệ thì lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi là tối ưu, còn với mục tiêu thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế thì lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái cố định là lựa chọn hợp

Trang 32

lý khi quốc gia đó muốn sử dụng tỷ giá để trợ giá cho hàng xuất khẩu của quốc gia mình

Như vậy, việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái là kết quả sự cân nhắc, ra quyết định dựa trên việc định vị nền kinh tế, xác định mục tiêu hướng tới, đánh giá các cú sốc phổ biến của nền kinh tế…để nhằm tối thiểu hóa chi phí

và tối đa hóa lợi ích của quốc gia

Những bằng chứng và những lý lẽ truyền thống cũng như các mô hình

tỷ giá hối đoái hiện đại đều không chứng minh rõ ràng được rằng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hay chế độ tỷ giá hối đoái cố định là ưu việt hơn Chính vì thế, nhiều chính phủ có lý do để lựa chọn sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết để điều chỉnh tỷ giá nằm giữa hai cực chế độ tỷ giá thả nổi và

cố định Việc sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết có thể tận dụng những ưu điểm của hai chế độ tỷ giá nêu trên đồng thời hạn chế những nhược điểm khi áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc cố định hoàn toàn Tuy nhiên, chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết cũng gây những khó khăn nhất định cho chính phủ trong việc xác định nguyên nhân bất ổn tỷ giá, lựa chọn công cụ can thiệp, thời điểm can thiệp, đánh giá mức độ can thiệp…

Tóm lại, chỉ riêng việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái là chưa đủ để đảm bảo có được một chính sách tỷ giá hối đoái tối ưu mà các chính phủ còn cần phải sử dụng một cách hợp lý các công cụ can thiệp mới có thể đảm bảo duy trì được mục tiêu chính sách tỷ giá hối đoái đặt ra trong từng thời kỳ

Theo một phân tích, tính toán của Hélène Poirson trong tác phẩm

“How Do Countries Choose Their Exchange Rate Regime?” xuất bản tháng 4/2001, tác giả đã phân loại mức độ thả nổi của các chế độ tỷ giá hối đoái

các quốc gia trên thế giới theo thứ tự như Bảng dưới đây Mức “0” là cố

định hoàn toàn (perfect peg)

Trong đó, các ký hiệu sau được cho điểm như sau:

Trang 33

EXR: 1 (cố định - peg), 2 (trung gian - intermediate), 3 (thả nổi - independent float)

FLEX: 1(Hội đồng tiền tệ - currency union or currency board), 2 (Các kiểu

cố định khác - other pegs), 3 (Cố định bò trườn - crawling peg, target zone or band, crawling band), 4 (Thả nổi có điều tiết nhưng không thông báo trước - managed float without preannounced path), 5 (Thả nổi hoàn toàn - independent float)

PEG: 1(Liên minh tiền tệ - currency union), 2 (Hội đồng tiền tệ - currency board), 3 (Cố định với một đồng tiền duy nhất hoặc với đồng SDR - single currency or SDR peg), 4 (Cố định với rổ tiền tệ - basket peg), 5 (Cố định bò trườn - crawling peg, target zone or band, crawling band), 6 (Thả nổi có điều tiết nhưng không thông báo trước - managed float without preannounced path), 7 (Thả nổi hoàn toàn - independent float)

FLT: Tổng hợp chỉ số thả nổi tỷ giá - Exchange rate flexibility index

Với trường hợp của Trung Quốc dưới đây, với chỉ số EXR thì số 1 nói lên chế

độ tỷ giá là cố định (peg), mức độ thả nổi FLEX là 2 là các dạng cố định khác với cố định hoàn toàn (other pegs), mức độ cố định PEG là 3 tức cố định với một đồng tiền duy nhất hoặc với đồng SDR (single currency or SDR peg), ở đây là cố định với đồng Đô la Mỹ Tính chung lại, chỉ số về chế độ tỷ giá hối đoái của Trung Quốc là 0.000 tức gần như cố định hoàn toàn (perfect peg) Tương tự như thế, Nhật Bản là quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn

Bảng 1.3 Thống kê, phân loại các chế độ tỷ giá hối đoái

các quốc gia năm 1999

Trang 35

Nguồn: Hélène Poirson, 2001, How Do Countries Choose Their Exchange

Rate Regime?

(Xem thêm phần Phụ lục: Hộp 2 Lịch sử các chế độ tỷ giá hối đoái)

1.2.3 Một số công cụ can thiệp của chính phủ lên tỷ giá hối đoái

Sau khi đã quyết định chế độ tỷ giá hối đoái phù hợp với từng thời kỳ cho quốc gia mình, chính phủ sẽ sử dụng các công cụ can thiệp nhằm thực hiện điều chỉnh tỷ giá hối đoái hoạt động trong khuôn khổ, mục tiêu đã lựa chọn

Thông thường, can thiệp lên tỷ giá hoặc là nhằm cho tỷ giá thay đổi hoặc là nhằm cho tỷ giá giữ không đổi Vậy mức tỷ giá như thế nào là mức tỷ giá hợp lý?

Tỷ giá hối đoái là một loại giá mang tính cơ bản của đồng tiền một nền kinh tế trong tương quan với các đồng tiền các quốc gia khác Việc xác định mức giá của đồng nội tệ cần phải dựa trên các thông số kinh tế cơ bản của nền kinh tế đó: tỷ lệ lạm phát, mức lãi suất, tăng trưởng kinh tế…Tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở các thông số này gọi là tỷ giá cơ bản hay tỷ giá tự nhiên Qua các nghiên cứu thực tế, các nhà kinh tế nhận thấy rằng tỷ giá luôn biến động trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn tỷ giá có xu hướng vận động sát với ngang giá sức mua (PPP), hay nói cách khác, tỷ giá luôn dao động xung quanh ngang giá sức mua giống như giá cả hàng hóa dao động xung

quanh giá trị của nó Do đó, theo nghĩa hẹp thì PPP có thể đƣợc coi là tỷ

giá cơ bản, tỷ giá tự nhiên hay tỷ giá dài hạn

Qua đó, việc sử dụng các công cụ can thiệp có thể hướng tỷ giá đến một mức nào đó trong ngắn hạn nhưng xét về dài hạn, tỷ giá hối đoái sẽ quay

về mức tỷ giá mà ở đó ngang giá sức mua được thực hiện

1.2.3.1 Nhóm các công cụ Lãi suất: Lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp

vốn, lãi suất cơ bản…

Trang 36

Công cụ lãi suất tái chiết khấu được sử dụng dựa trên cơ sở sự tác động của lãi suất tới tỷ giá hối đoái và sự luân chuyển các dòng vốn quốc tế ngắn hạn do sự thay đổi của lợi tức kỳ vọng

Khi Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất tái chiết khấu, các ngân hàng thương mại sẽ giảm vay vốn từ ngân hàng Trung ương, họ sẽ tăng lãi suất để huy động vốn từ dân cư, nguồn vốn khan hiếm sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tăng

Với cơ chế tác động rất rõ ràng rằng khi lãi suất trong nước tăng, các dòng vốn ngắn hạn được chuyển vào trong nước làm tăng cung ngoại tệ dẫn tới giảm tỷ giá (tăng giá nội tệ) và ngược lại

Tuy nhiên, công cụ này cũng có giới hạn:

 Việc tăng lãi suất bị giới hạn bởi tỷ suất lợi nhuận nên không thể tăng quá mức chịu đựng về tỷ suất lợi nhuận trong quốc gia đó được

 Để có sự thay đổi trong cung cầu ngoài tệ đòi hỏi phải có sự luân chuyển tự

do các dòng vốn quốc tế (điều này bị hạn chế ở các nước đang phát triển, nhất

là khi chưa có thị trường chứng khoán phát triển)

so với quốc tế còn cần phải nhắc đến cả yếu tố rủi ro (tính an toàn vốn đầu tư) Công cụ này sẽ không thể phát huy tác dụng nếu tính an toàn vốn không

có (nhà đầu tư không có lòng tin vào tài sản nội địa, minh chứng là trong trường hợp khủng hoảng kinh tế, mặc dù lãi suất các quốc gia tăng cao nhưng không thể thu hút nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào trong nước đó)

1.2.3.2 Nhóm các công cụ thị trường mở: OMO, FXO, SFXO

Các công cụ thị trường mở điều chỉnh tỷ giá thông qua hoạt động can thiệp trực tiếp lên cung cầu nội tệ và ngoại tệ

Các công cụ này can thiệp trực tiếp lên cung cầu nội, ngoại tệ nên nó cho kết quả tức thì Chính phủ có thể can thiệp một cách chủ động và chính xác

Trang 37

Tuy nhiên, công cụ này cũng có giới hạn là khả năng kinh nghiệm của chính phủ trong việc đánh giá, nhìn nhận mức độ để đưa ra liều lượng can thiệp, thời điểm can thiệp cho phù hợp, đồng thời nó còn bị phụ thuộc bởi mức dự trữ ngoại hối mà chính phủ đó đang nắm giữ

1.2.3.3 Quỹ bình ổn tỷ giá:

Đây là quỹ mà chính phủ lập nên nhằm thực hiện việc can thiệp vào thị trường mở Thông thường, quỹ này được hình thành từ phát hành trái phiếu nội tệ để mua ngoại tệ, vàng, hoặc tài sản tài chính khác để dự trữ Quỹ bình

ổn tỷ giá thường được đa dạng về loại hình tài sản và đủ lớn để tạo điều kiện cho chính phủ theo đuổi việc can thiệp vào tỷ giá hối đoái

1.2.3.4 Nhóm các công cụ Quản lý ngoại hối (kiểm soát ngoại hối):

Đây là nhóm các biện pháp hành chính do chính phủ tạo ra để nhằm tập trung tất cả các nguồn ngoại tệ trôi nổi trên thị trường vào tay chính phủ để thông qua đó điều tiết, phân phối cho các đơn vị theo mức độ ưu tiên và theo mục đích điều tiết tỷ giá hối đoái Các biện pháp này thường là:

động xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại

vốn nước ngoài

 …

1.2.3.5 Nhóm các công cụ nhằm Nâng giá hoặc phá giá tiền tệ:

Trang 38

Nhóm công cụ này được chính phủ áp dụng khi cần thiết để lập lại trạng thái cân bằng nội cho nền kinh tế Chỉ bằng một công bố trên thị trường, chính phủ có thể ấn định một mức tỷ giá mới cao hơn hoặc thấp hơn mức tỷ giá trước đó Các chính phủ thường sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ để nhằm kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế và giảm nợ nước ngoài

Tuy nhiên, để thực hiện biện pháp phá giá thành công thì cần các điều kiện như:

 Thực hiện phá giá khi đồng nội tệ bị định giá cao làm giảm tính cạnh tranh của xuất khẩu

 Tình hình tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế ổn định để khi phá giá không gây sốc cho nền kinh tế

lực sản xuất, xuất khẩu…)

trì được mức tỷ giá mới sau khi phá giá

phá giá và giữ bí mật trong quá trình ra quyết định phá giá để tránh hiện tượng đầu cơ

1.2.3.6 Nhóm các công cụ hỗ trợ khác:

có tác động can thiệp điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, do đó ảnh hưởng tới cung cầu ngoại tệ và ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái

 Các chính sách khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu

 Các chính sách hạn chế thâm hụt ngân sách, điều chỉnh cơ cấu tiêu dùng của chính phủ một cách hợp lý

 …

Trang 39

1.2.4 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến các biến số kinh tế chủ yếu

1.2.4.1 Tác động của tỷ giá đến giá trị xuất nhập khẩu

Đối với một quốc gia cụ thể, hoạt động xuất nhập khẩu được thể hiện thông qua cán cân thương mại Cán cân thương mại (trade balance) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các khoản chi cho nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (năm, quý, tháng…) Khi thu từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu hàng hoá thì cán cân thương mại thặng dư Ngược lại, khi thu từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu hàng hoá thì cán cân thương mại thâm hụt

a) Tác động của tỷ giá lên giá trị hàng hoá xuất khẩu

Với các nhân tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng (E tăng) tức ngoại tệ lên giá còn nội tệ giảm giá, làm cho giá hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm, kích thích tăng khối lượng xuất khẩu, dẫn đến:

 Làm tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu tính bằng nội tệ

Do giá trị xuất khẩu bằng nội tệ được biểu diễn bằng hàm số:

Trong đó: P - Giá hàng hoá xuất khẩu tính bằng nội tệ

QX - Khối lượng hàng hoá xuất khẩu

X - Giá trị hàng hoá xuất khẩu tính bằng nội tệ

Rõ ràng là: khi tỷ giá tăng, làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, tức QX

tăng song do P không đổi  X tăng

Hay nói cách khác, tỷ giá tăng (nội tệ giảm giá) làm tăng cầu nội tệ trên thị trường ngoại hối

 Làm cho giá trị hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ có thể tăng, giảm hoặc không đổi

Do giá trị hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ được biểu diễn bằng hàm số:

Trang 40

Trong đó: P - Giá hàng hoá xuất khẩu tính bằng nội tệ

QX - Khối lượng hàng hoá xuất khẩu

E - Tỷ giá hối đoái

X*- Giá trị hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ

Khi tỷ giá tăng (E tăng), làm cho khối lượng xuất khẩu tăng (QX tăng) và giá trị hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ (X*) sẽ:

Tăng, nếu tốc độ tăng của QX lớn hơn tốc độ tăng của E

Giảm, nếu tốc độ tăng của QX thấp hơn tốc độ tăng của E

Không thay đổi, nếu tốc độ tăng của QX bằng tốc độ tăng của E

Như vậy, khi tỷ giá tăng có thể làm cho cung ngoại tệ trên thị trường

ngoại hối tăng lên, giảm xuống hay không đổi; và điều này phụ thuộc vào

“tính co giãn của giá trị hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ đối với tỷ giá”

b) Tác động của tỷ giá lên giá trị hàng hoá nhập khẩu

Với các nhân tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng (E tăng), tức ngoại tệ lên giá còn nội tệ giảm giá, làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng,

từ đó hạn chế khối lượng nhập khẩu, dẫn đến:

Do giá trị hàng hoá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ được biểu diễn bằng hàm số:

Trong đó: P*

- Giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ

M* - Giá trị hàng hoá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ

giảm và khi QM giảm trong khi P* không đổi dẫn đến M*

giảm

 Làm cho giá trị hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ có thể tăng, giảm hoặc

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Kim Bảo (2004), “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992-2010)”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992-2010)
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
2. Huyền Diệu (2006), “Đánh giá chính sách tiền tệ và tỷ giá của một số đồng tiền chủ chốt trên thị trường tài chính quốc tế và dự báo”, http://www.sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chính sách tiền tệ và tỷ giá của một số đồng tiền chủ chốt trên thị trường tài chính quốc tế và dự báo
Tác giả: Huyền Diệu
Năm: 2006
3. Đỗ Tuyết Khanh (2005), “Trung Quốc sau 4 năm tham gia WTO – Đánh giá sơ khởi vài nét chính”, Hội thảo Hè, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc sau 4 năm tham gia WTO – Đánh giá sơ khởi vài nét chính
Tác giả: Đỗ Tuyết Khanh
Năm: 2005
4. Lê Quốc Lý (2004), “Quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam”, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2004
5. Phí Đăng Minh (2003), “Kinh nghiệm của Trung Quốc về cơ chế quản lý ngoại hối và điều chỉnh cơ chế quản lý ngoại hối trong quá trình hội nhập kinh tế”, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của Trung Quốc về cơ chế quản lý ngoại hối và điều chỉnh cơ chế quản lý ngoại hối trong quá trình hội nhập kinh tế
Tác giả: Phí Đăng Minh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
6. Nguyễn Thị Nhung (2005), “Kinh nghiệm đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Trung Quốc trong quá trình gia nhập WTO và quá trình đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế”, Vụ Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Trung Quốc trong quá trình gia nhập WTO và quá trình đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Năm: 2005
7. Nguyễn Văn Tiến (2001), “Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở”, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2001
9. Tạp chí Kế toán (2006), “Chính sách tỷ giá thích hợp cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”, http://www.tapchiketoan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tỷ giá thích hợp cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Tác giả: Tạp chí Kế toán
Năm: 2006
10. Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: http://www.sbv.gov.vn/ Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.sbv.gov.vn/
2. Bennett T. Mc Callum (2004), “China’s Exchange Rate and Monetary Policy”, Shadow Open Market Committee Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s Exchange Rate and Monetary Policy
Tác giả: Bennett T. Mc Callum
Năm: 2004
3. Eiji Ogawa and Michiru Sakane (2006), “The Chinese Yuan after the Chinese Exchange Rate System Reform”, RIETI Discussion Paper series 06-E-019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Chinese Yuan after the Chinese Exchange Rate System Reform
Tác giả: Eiji Ogawa and Michiru Sakane
Năm: 2006
4. Etsuro Shioji (2006), “Chinese Exchange Rate Regimes and The Optional Basket Weights for the Rest of East Asia”, Hitotsubashi University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinese Exchange Rate Regimes and The Optional Basket Weights for the Rest of East Asia
Tác giả: Etsuro Shioji
Năm: 2006
5. Ivan Roberts and Rod Tyers (2001), “China’s Exchange Rate Policy: The Case for Greater Flexibility”, School of Economics, Faculty of Economics and Commerce, Australian National University Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s Exchange Rate Policy: The Case for Greater Flexibility
Tác giả: Ivan Roberts and Rod Tyers
Năm: 2001
6. Jian-Guang Shen (2001), “China’s Exchange Rate System after WTO Accession: Some Considerations”, Bank of Finland Institute for Economies in Transition, BOFIT Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s Exchange Rate System after WTO Accession: Some Considerations
Tác giả: Jian-Guang Shen
Năm: 2001
7. Morris Goldstein, Dennis Weatherstone (2004), “Adjusting China’s Exchange Rate Policies”, Senior Fellow Institute for International Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adjusting China’s Exchange Rate Policies
Tác giả: Morris Goldstein, Dennis Weatherstone
Năm: 2004
8. US-China Economics and Security Review Commission (2005), “The China Currency Exchange Rate Problem: Fact and Policy Options” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The China Currency Exchange Rate Problem: Fact and Policy Options
Tác giả: US-China Economics and Security Review Commission
Năm: 2005
9. Vincent Dropsy (2001), “China’s Accession to the WTO, Real Exchange Rate Changes and their Impact on U.S. Trade with Greater China”, California State University Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s Accession to the WTO, Real Exchange Rate Changes and their Impact on U.S. Trade with Greater China
Tác giả: Vincent Dropsy
Năm: 2001
8. Đặng Thanh Thế (2005), “Sức ép nâng giá đồng Nhân dân tệ - Sự lựa chọn của Trung Quốc, http://www.vietmanagement.com Link
10. The People's Bank of China (PBC), http://www.pbc.gov.cn/english Link
1. Ajay Shah, Achim Zeileis, Ila Patnaik (2006), “What Is The New Chinese Currency Regime?, NBER and University of Chicago Press Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tóm lƣợc các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 1.1 Tóm lƣợc các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái (Trang 24)
Bảng 1.2: Tóm lƣợc mô hình lựa chọn chế độ tỷ giá tối ƣu trên cơ sở các  biến động kinh tế nội địa - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 1.2 Tóm lƣợc mô hình lựa chọn chế độ tỷ giá tối ƣu trên cơ sở các biến động kinh tế nội địa (Trang 31)
Bảng 2.1: Tỷ giá hối đoái và Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ 1978- 1978-1981. - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.1 Tỷ giá hối đoái và Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ 1978- 1978-1981 (Trang 47)
Bảng 2.3. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Trung Quốc   từ 1994 - 1997. - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.3. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Trung Quốc từ 1994 - 1997 (Trang 55)
Bảng 2.5: Tình hình lãi suất và một số chỉ số của thị trường   tiền tệ Trung Quốc trong năm 1998 - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.5 Tình hình lãi suất và một số chỉ số của thị trường tiền tệ Trung Quốc trong năm 1998 (Trang 58)
Bảng 2.8: Diễn biến dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ 1994-2001  Năm   Dự trữ ngoại hối (triệu USD) - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.8 Diễn biến dự trữ ngoại hối của Trung Quốc từ 1994-2001 Năm Dự trữ ngoại hối (triệu USD) (Trang 60)
Bảng 2.10: Bảng tính PPP mẫu tương đối xác định tỷ giá đồng Nhân dân  tệ so với Đô la Mỹ trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.10 Bảng tính PPP mẫu tương đối xác định tỷ giá đồng Nhân dân tệ so với Đô la Mỹ trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng (Trang 71)
Bảng 2.11: Bảng tính chỉ số tỷ giá hối đoái thực   của Trung Quốc từ 1994-2008 - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.11 Bảng tính chỉ số tỷ giá hối đoái thực của Trung Quốc từ 1994-2008 (Trang 75)
Bảng 2.12: Diễn biến một số chỉ số kinh tế cơ bản  của Trung Quốc từ năm 2001 đến 2008 - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.12 Diễn biến một số chỉ số kinh tế cơ bản của Trung Quốc từ năm 2001 đến 2008 (Trang 82)
Bảng 2.13: Diễn biến tỷ giá hối đoái của một số đồng tiền mạnh so với  đồng Đô la Mỹ từ 2005 đến 2008 - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.13 Diễn biến tỷ giá hối đoái của một số đồng tiền mạnh so với đồng Đô la Mỹ từ 2005 đến 2008 (Trang 83)
Bảng 2.14: Bảng tính phục vụ chạy hồi quy tuyến tính tương quan bội chỉ  số tỷ giá hối đoái với các biến cung tiền, thu nhập và lãi suất: ĐVT (%) - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.14 Bảng tính phục vụ chạy hồi quy tuyến tính tương quan bội chỉ số tỷ giá hối đoái với các biến cung tiền, thu nhập và lãi suất: ĐVT (%) (Trang 86)
Bảng 3.2: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa và chỉ số tỷ giá thực đa biên   của đồng Việt Nam từ 1999-2008 - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 3.2 Chỉ số tỷ giá danh nghĩa và chỉ số tỷ giá thực đa biên của đồng Việt Nam từ 1999-2008 (Trang 105)
Phụ lục 6: Bảng tổng hợp một số chỉ số kinh tế cơ bản của Trung Quốc từ  1984-2008 - Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO
h ụ lục 6: Bảng tổng hợp một số chỉ số kinh tế cơ bản của Trung Quốc từ 1984-2008 (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm