1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc

130 522 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, là một quốc gia đang phát triển đã và đang gặt hái được rất nhiều thành công, Trung Quốc đã thu hút được sự quan tâm và thán phục của đông đảo dư luận quốc tế bởi tốc độ ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-*** -

TRỊNH THỊ THỤC ANH

NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH

TĂNG TRƯỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-*** -

TRỊNH THỊ THỤC ANH

NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH

TĂNG TRƯỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC

Chuyên ngành : KTTG & QHKTQT

Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM THÁI QUỐC

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 7

1.1.1.1 Khái niệm 7

1.1.1.2 Đánh giá tăng trưởng kinh tế 8

1.1.2 Một số lý thuyết về tăng trưởng và mô hình tăng trưởng kinh tế 9

1.1.2.1 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 9

1.1.2.2 Một số mô hình tăng trưởng kinh tế 13

1.1.3 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 15

1.1.3.1 Nhân tố kinh tế 15

1.1.3.2 Nhân tố phi kinh tế 19

1.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững – quan điểm phát triển bền vững của Trung Quốc và Việt Nam 21

1.1.4.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững 21

1.1.4.2 Quan điểm phát triển bền vững của Trung Quốc và Việt Nam 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Một số vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Nhật Bản và Ấn Độ 26

1.2.1.1 Nhật Bản 26

1.2.1.2 Ấn Độ 30

Trang 4

1.2.2 Nhận xét về các vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao tại

Nhật Bản và Ấn Độ 32

CHƯƠNG 2 TĂNG TRƯỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH 35

2.1 Biểu hiện và nguyên nhân tăng trưởng cao ở Trung Quốc 35

2.1.1 Biểu hiện của tăng trưởng cao ở Trung Quốc 35

2.1.1.1 Tốc độ và quy mô tăng trưởng 35

2.1.1.2 Sự gia tăng vai trò của Trung Quốc đối với thế giới và khu vực 41

2.1.1.3 Dự trữ ngoại hối và mở cửa ngân hàng 45

2.1.1.4 Thu hút FDI và đầu tư ra nước ngoài 46

2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng cao ở Trung Quốc 50

2.2 Những vấn đề nảy sinh trong tăng trưởng cao ở Trung Quốc 54

2.2.1 Nhóm các vấn đề kinh tế 55

2.2.1.1 Điều hành vĩ mô 55

2.2.1.2 Nhân tố quốc tế 58

2.2.2 Nhóm các vấn đề xã hội 63

2.2.2.1 Chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội 63

2.2.2.2 Tính không tương đồng giữa phát triển kinh tế và xã hội 67

2.2.2.3 Vấn đề tham nhũng 69

2.2.2.4 Tình trạng di dân và thất nghiệp 70

2.2.3 Nhóm các vấn đề tài nguyên, môi trường 72

2.2.3.1 Vấn đề tài nguyên 72

2.2.3.2 Vấn đề môi trường 75

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CHO NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG TĂNG TRƯỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 81

Trang 5

3.1 Giải pháp cho những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng

cao của Trung Quốc 81

3.1.1 Nhóm giải pháp tổng thể 81

3.1.1.1 Thay đổi mô hình từ góc độ tiêu dùng cá nhân 83

3.1.1.2 Thay đổi mô hình kinh tế từ góc độ công nghệ 84

3.1.2 Nhóm các giải pháp cụ thể 85

3.1.2.1 Bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả và hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững 85

3.1.2.2 Xây dựng nông thôn mới XHCN, thúc đẩy phát triển nhịp nhàng cân đối nhằm giảm bớt sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị 87

3.1.2.3 Giảm bớt cách biệt giữa các vùng, miền trong cả nước 89

3.1.2.4 Giải quyết vấn đề tham nhũng 91

3.1.2.5 Điều chỉnh chính sách việc làm, chính sách phát triển nguồn nhân lực 94 3.1.2.6 Nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế 96

3.2 Một số bài học cho Việt Nam 98

3.2.1 Từng bước thay đổi mô hình tăng trưởng 98

3.2.2 Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên 100

3.2.2.1 Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 100

3.2.2.2 Vấn đề tài nguyên trong tăng trưởng bền vững 102

3.2.3 Giảm bớt sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị 103

3.2.4 Giải quyết tình trạng thất nghiệp và di cư tự do 107

3.2.5 Phòng chống tham nhũng, lãng phí 108

3.2.6 Nâng cao năng lực cạnh tranh 111

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa

Tiếng Anh Tiếng Việt

1 ABC Agricultural Bank of China Ngân hàng nông nghiệp

5 EU European Union Liên Minh Châu Âu

6 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

7 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

8 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân

9 HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người

10 KHXH Khoa học xã hội

11 NDT Nhân dân tệ

12 PPP Purchasing Power Parity Sức mua tương đương

13 PTBV Phát triển bền vững

14 ODI Oversea Direct Investment Đầu tư ra nước ngoài

15 OECD Organization of Economic

Cooperation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 7

16 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển

17 TFP Total Factor Productivity Năng suất yếu tố tổng hợp

18 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

19 XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG STT Số hiệu Nội dung Trang

1 Bảng 1.1 Dự báo chỉ tiêu phát triển bền vững của Trung Quốc giai

đoạn 1990 – 2030* 24

2 Bảng 2.1 Tốc độ tăng GDP của Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2011 36

3 Bảng 2.2 Số lượng ô tô tiêu thụ ở Trung Quốc giai đoạn 2002 –

4 Bảng 2.3 Vốn FDI vào Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 2001 –

5

Bảng 2.4 Giá trị mua bán & sáp nhập xuyên biên giới (M&A) của

Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 2001 đến tháng 5-2010

(tỷ USD)

47

6 Bảng 2.5 Tỷ lệ thất nghiệp Trung Quốc giai đoạn 2002 – 2011 71

DANH MỤC HÌNH STT Số hiệu Nội dung Trang

1 Hình 1.1 Mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường trong

PTBV

22

2 Hình 2.1 Các nền kinh tế lớn nhất thế giới đến năm 2010 37

3 Hình 2.2 Mức độ bốc hơi CO2 từng quốc gia 76

4 Hộp 1.1 Chương trình Nghị sự 21 22

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, việc thực hiện phát triển bền vững không chỉ là trách nhiệm của riêng quốc gia nào, nó đã trở thành mối quan tâm và trách nhiệm của toàn nhân loại Theo đó, mỗi quốc gia trên thế giới đều thể hiện sự

ưu tiên và tập trung nguồn lực để thực hiện mục tiêu này ở những khía cạnh và mức

độ khác nhau Bởi lẽ ngày nay phát triển bền vững đã trở thành xu thế phát triển tất yếu và cấp bách của toàn thế giới

Trong khi đó, là một quốc gia đang phát triển đã và đang gặt hái được rất nhiều thành công, Trung Quốc đã thu hút được sự quan tâm và thán phục của đông đảo dư luận quốc tế bởi tốc độ phát triển nhanh chưa từng có, sự thay đổi sâu sắc bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng về kinh tế, chính trị, quân sự ngày càng lớn mạnh trên trường quốc tế… Tuy nhiên, đi cùng với những thành công đó

là không ít những tồn tại cần được giải quyết Cũng như hầu hết các quốc gia khác, khi tập trung quá nhiều nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế sẽ phải đánh đổi với những cái quan trọng không kém, Trung Quốc đã và đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát gia tăng, nguy cơ vỡ bong bóng bất động sản, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt, chênh lệnh giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng, phân hoá vùng miền ngày càng sâu sắc… Những vấn đề trên không thể không được giải quyết bởi tính bức thiết của nó ngày càng lớn, có thể phá vỡ mô hình cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường, làm cho chất lượng cuộc sống con người sụt giảm nghiêm trọng Bên cạnh đó, bài học từ các nước đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy, việc giải quyết những tồn tại trên không hề dễ dàng, nhanh chóng Những vấn đề nảy sinh mà Trung Quốc đang gặp phải sẽ kìm hãm mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, gây tốn kém rất nhiều nguồn lực, và đặc biệt, nếu xử lý không tốt có thể sẽ phát sinh những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội, tài nguyên, chất lượng sống… của nhiều thế hệ tiếp theo

Trang 10

Xét cả mặt chủ quan và khách quan, Trung Quốc đều nhận thức rõ sức ép từ những vấn đề đang phải đối mặt, cho nên quốc gia này cũng dành khá nhiều nguồn lực để tìm kiếm giải pháp và áp dụng vào giải quyết, khắc phục các vấn đề đó Dù còn nhiều mặt hạn chế, nhưng không thể phủ nhận rằng Trung Quốc cũng đã thu được những thành công nhất định

Là nước láng giềng, liền núi liền sông và có nhiều nét tương đồng với Trung Quốc cả về kinh tế, xã hội, văn hoá, Việt Nam cần nghiên cứu, phân tích những tồn tại hiện có của Trung Quốc cũng như những vấn đề nội tại của Việt Nam, sau đó là phân tích những chính sách, giải pháp mà Trung Quốc đã và đang sử dụng để có thể vận dụng một cách linh hoạt những giải pháp đó vào giải quyết những vấn đề tương

tự ở Việt Nam, nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của toàn thế giới

Xuất phát từ tính cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài “Những vấn đề nảy sinh

trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc” làm Luận văn thạc sỹ chuyên

ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế Luận văn trả lời câu hỏi nghiên cứu: Những mặt trái trong tăng trưởng cao của Trung Quốc là gì? Phải chăng nó luôn song hành cùng với tăng trưởng cao? Làm thế nào để hạn chế, giải quyết những mặt trái đó?

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Từ trước đến nay, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc được coi như là một hiện tượng kinh tế trên thế giới, do đó được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và phân tích qua nhiều công trình lớn Những vấn đề như lạm phát, bong bóng bất động sản, môi trường, tài nguyên, chất lượng cuộc sống của người dân hay bất bình đẳng xã hội… cũng nhận được khá nhiều sự quan tâm từ các nhà kinh tế học, xã hội học, môi trường học

Một số công trình nghiên cứu trong nước có thể kể đến như:

1) “Kinh tế Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ 21: Hai bức tranh tương phản”

của PGS.TS Phạm Thái Quốc (2010), Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 6/2010, thể hiện bức tranh hai mặt của kinh tế Trung Quốc, một mặt là những thành công

Trang 11

đáng kinh ngạc mà nước này gặt hái được, mặt khác là những nhức nhối tồn tại phía sau những thành công ấy

2) “Một số vấn đề nổi bật trong lĩnh vực kinh tế - xã hội của Trung Quốc

trong 10 năm đầu thế kỷ XXI” của TS Hoàng Thế Anh (2011), Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc (05), tr 5-17, đề cập đến một số vấn đề về kinh tế - xã hội của Trung Quốc đặc biệt là cải cách kinh tế, phát triển nông thôn

3) “Chính sách khai thác tài nguyên của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu

& Thảo luận (số 23) của Đỗ Tuyết Khanh (2011), chỉ ra một số vấn đề tài nguyên môi trường của Trung Quốc và những chính sách khai thác tài ngyên mà nước này đang thực hiện

4) “Chênh lệch thu nhập thành thị nông thôn Trung Quốc trong thời kỳ

chuyển đổi” của TS Phạm Sỹ Thành (2008), Trường Đại học KHXH & NV Hà

Nội, chỉ ra sự bất bình đẳng trong thu nhập và phân hóa xã hội giữa thành thị và nông thôn

5) “Một số tồn tại lớn trong quá trình tăng trưởng nhanh của Trung Quốc”

của tác giả Dương Danh Dy (2008), Kinh tế và Chính trị thế giới: Vấn đề và xu hướng tiến triển, NXB Lao động xã hội, đưa ra và phân tích sơ bộ một số vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng nhanh của Trung Quốc trong thời gian qua

6) “Đảng cầm quyền và tham nhũng quyền lực - nước lửa không dung hoà:

Lựa chọn kiềm chế tham nhũng” của Lưu Như Quân, Lý Vĩ (2008), Tạp chí nghiên

cứu Trung Quốc, (7(86)/2008), tập trung vào vấn đề tham nhũng và phân tích một

số giải pháp đột phá mà Trung Quốc đã sử dụng

Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài:

1) PDF, “People’s Republic of China” – 2011 Article IV Consulation, IMF

Country Report No.11/192 (7/2011), báo cáo về những thách thức và một số vấn đề của Trung Quốc trong giai đoạn vừa qua

2) “Program of Action for Sustainable Development in China in the Early

21st Century” by National Development and Reform Commission (NDRC)

(05/02/2007), phân tích những thành tựu và vấn đề, nguyên tắc và mục tiêu, định

Trang 12

hướng và các biện pháp thực hiện trong chương trình hành động phát triển bền vững

ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ 21

3) “Sustainable Development Gets Priority” by Antoaneta Bezlova

(06/3/2007), đề cập đến việc tìm kiếm một mô hình phát triển mới của Trung Quốc

Ngoài ra còn rất nhiều bài báo đăng trên các Tạp chí chuyên ngành và các trang báo điện tử khác

Từ một vài công trình kể trên có thể thấy, việc phân tích, nghiên cứu từng vấn đề riêng biệt được thực hiện khá bài bản và chuyên sâu, tuy nhiên tổng thể những vấn đề đó đặt trong bối cảnh là quá trình tăng trưởng cao của Trung Quốc thì chưa thật sự được đào sâu nghiên cứu Trong khi đó, như đã trình bày ở trên, thành công và tồn tại là hai mặt được thể hiện đồng thời trong quá trình kinh tế tăng trưởng nhanh tại Trung Quốc Do vậy cần có một công trình nghiên cứu những vấn

đề đó ở mức độ chuyên sâu và quy mô hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

- Phân tích những mặt trái của tăng trưởng cao ở Trung Quốc

- Lý giải mối quan hệ giữa tăng trưởng cao và những mặt trái của nó: có phải tăng trưởng cao luôn đi kèm với những vấn đề nảy sinh hay những vấn đề này chỉ là những yếu kém, sơ hở trong quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế phát triển quá nhanh

- Nghiên cứu việc Trung Quốc áp dụng những chính sách, biện pháp để giải quyết các vấn đề của họ, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết những vấn đề tương tự xảy ra trong quá trình tăng trưởng cao của Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục đích của luận văn như đã nêu ở trên,

nhiệm vụ của luận văn là:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế

Trang 13

- Nghiên cứu, phân tích những tồn tại trong quá trình tăng trưởng cao của Trung Quốc về quy mô, mức độ cũng như ảnh hưởng của nó đến các mặt của đời sống xã hội

- Hệ thống, phân tích những biện pháp Trung Quốc áp dụng để giải quyết các mặt trái trong quá trình tăng trưởng cao

- Rút ra bài học từ Trung Quốc nhằm xây dựng và đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề tương tự tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là những vấn đề nảy sinh trong quá trình

tăng trưởng cao ở Trung Quốc

- Về nội dung: những vấn đề nảy sinh có thể bao gồm những nảy sinh tích cực và nảy sinh tiêu cực Tuy nhiên, luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu những vấn đề tiêu cực, hay chính là những mặt trái trong tăng trưởng cao của quốc gia này gồm các vấn đề về kinh tế như lạm phát, áp lực tăng giá đồng NDT, các vấn

đề về môi trường như ô nhiễm môi trường hay các vấn đề về xã hội như phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, bất bình đẳng xã hội… Bên cạnh đó phân tích những vấn đề tương tự trong tăng trưởng cao của Việt Nam Những giải pháp của Trung Quốc và bài học áp dụng cho Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích những biểu hiện của tăng trưởng cao và những mặt trái của nó trong mối quan hệ biện chứng với nhau

Trang 14

- Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,

so sánh được sử dụng nhằm phân tích, đánh giá các số liệu, dữ kiện để minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế

- Phân tích, đánh giá những tồn tại trong quá trình tăng trưởng cao của Trung Quốc, cũng như tìm hiểu việc Trung Quốc đã có những giải pháp quan trọng, mới

mẻ nào để giải quyết các tồn tại đó

- Rút ra những bài học kinh nghiệm cần nghiên cứu ứng dụng vào giải quyết những vấn đề tương tự của Việt Nam

7 Kết cấu, nội dung luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương với nội dung tổng quát của từng chương như sau:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TĂNG

TRƯỞNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH

Tập trung làm rõ những cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và thực tiễn những vấn đề nảy sinh của một số nước có mức độ tăng trưởng nhanh đã và đang gặp phải trong thời gian qua

Chương 2: TĂNG TRƯỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ NẢY SINH

Tập trung làm rõ, phân tích và đánh giá những mặt trái trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc

Chương 3: GIẢI PHÁP CHO NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG

TĂNG TRƯỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Phân tích những giải pháp mà Trung Quốc đã sử dụng để giải quyết những tồn tại của mình Từ những giải pháp đó rút ra bài học và vận dụng cho Việt Nam

để xử lý những vấn đề tương tự

Trang 15

Như vậy thì tăng trưởng kinh tế có đồng nghĩa với phát triển kinh tế? Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

b) Tăng trưởng cao

Từ khái niệm tăng trưởng kinh tế có thể lý giải thế nào là tăng trưởng cao Tăng trưởng cao là sự tăng nhanh về GDP hay GDP bình quân đầu người trong một thời gian tương đối dài

Trang 16

Do giá trị của tăng trưởng là khác nhau giữa những nước có trình độ phát triển khác nhau, do đó để đánh giá mức tăng trưởng là cao hay thấp cần dựa vào trình độ phát triển, các chỉ tiêu GDP, GDP bình quân đầu người

Chẳng hạn, đối với các nước phát triển ở Châu Âu, hay Mỹ, Nhật với mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 1 - 2%/năm thì mức độ tăng trưởng 3 - 4%/năm được đánh giá là cao Trong khi đó, với các nước đang và kém phát triển, với mức tăng bình quân đạt 4 - 6%/năm thì mức độ tăng trưởng 8 - 9%/năm mới được coi là cao Khác biệt này là do sự gia tăng GDP của các nước đang và kém phát triển chỉ bằng một phần nhỏ so với sự gia tăng GDP của các nước phát triển cả

về giá trị, thu nhập và những chỉ tiêu khác Theo đó, Trung Quốc với mức tăng trưởng trong nhiều năm lại đây, liên tục đạt tốc độ trên 9% được xem là nước có tốc

độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới

Tuy nhiên, trong vài thập kỷ trở lại đây, kinh tế thế giới vận động và phát triển theo xu hướng tăng trưởng bền vững, tức là yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vài trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý

1.1.1.2 Đánh giá tăng trưởng kinh tế

Theo mô hình kinh tế thị trường, thước đo tăng trưởng kinh tế được xác định theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia (SNA), bao gồm một số chỉ tiêu như sau:

Trang 17

b) Tổng thu nhập quốc dân (GNP)

GNP là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân của một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này bao gồm các khoản hình thành thu nhập và phân phối lại thu nhập lần đầu có tính đến cả các khoản nhận từ nước ngoài về và chuyển ra nước ngoài Như vậy, GNP hình thành từ GDP tiếp cận theo góc độ thu nhập và được điều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài

Sự khác nhau về lượng giữa GDP và GNP là ở phần chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài Ở các nước đang phát triển thì GNP thường nhỏ hơn GDP

vì thông thường phần chênh lệch này nhận giá trị âm

c) Thu nhập bình quân đầu người

Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số Quy mô và tốc độ thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau

Ngoài ra bảng SNA còn sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế khác như tổng giá trị sản xuất (GO), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI) và giá để tính các chỉ tiêu tăng trưởng

1.1.2 Một số lý thuyết về tăng trưởng và mô hình tăng trưởng kinh tế

1.1.2.1 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

Từ khi kinh tế học ra đời, vấn đề tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế học nghiên cứu theo tiến trình phát triển của lịch sử kinh tế

a) Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển, lần đầu tiên được đưa ra từ hơn 50 năm trước nhưng vẫn còn là cách tiếp cận kinh tế học tăng trưởng có ảnh hưởng nhất

Mô hình này ban đầu được nhà kinh tế Mỹ Robert Solow (1956) đề cập, do đó được biết với tên gọi phổ biến là mô hình Solow

Trang 18

Mô hình này bác bỏ quan điểm cố điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, vốn có thể thay thế được nhân công, và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách khác nhau trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào Từ đó, Solow đưa ra khái niệm “Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu”, có nghĩa là gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, còn sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là

“phát triển kinh tế theo chiều rộng” [17] Các nhà kinh tế tân cổ điển cũng cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bằng cải tiến trong các phương pháp sản xuất sẽ gia tăng khối lượng sản phẩm Nhưng cũng giống như các nhà kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động Họ cho rằng chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lượng, nó chỉ có thể ảnh hưởng đến mức giá của nền kinh tế, do đó, Chính phủ có vai trò rất hạn chế trong phát triển kinh tế

Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học – công nghệ

Trang 19

Ở đây α, β, γ là các số luỹ thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào với (α + β + γ = 1)

Sau khi biến đổi Cobb – Douglas thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số

g = t + αk + βl + γr

Trong đó:

g: tốc độ tăng trưởng của GDP

k, l, r: tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào

t: phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học

Hàm sản xuất Cobb – Douglas cho biết bốn yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế và cách thức tác động của bốn yếu tố này là khác nhau giữa các yếu

tố K, L, R với yếu tố T

Ý nghĩa của mô hình tăng trưởng Solow: i) Các nước nghèo có tiềm năng tăng trưởng nhanh; ii) Khi thu nhập quốc gia tăng lên, tăng trưởng có xu hướng chậm lại; iii) Nếu có chung những tính chất quan trọng, các nước nghèo có tiềm năng đuổi kịp các nước giàu; iv) Tiếp thu công nghệ mới là yếu tố quyết định để duy trì tăng trưởng bền vững

Các nhà kinh tế học vận dụng mô hình này vào việc phân tích và dự đoán tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Mỗi quốc gia có tốc độ tăng trưởng khác nhau phụ thuộc vào tỷ lệ và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào của quốc gia đó

b) Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế

Keynes không xuất phát từ tư tưởng cổ điển cho rằng nền kinh tế có xu hướng tự điều chỉnh đi đến cân đối mới, nơi có công ăn việc làm cho tất cả mọi người Ông cho rằng, có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người, nơi những khoản chi tiêu mới cho đầu tư được hình thành từ các khoản tiết kiệm đang được đưa vào hệ thống Qua phân tích ông đi đến kết luận, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, Nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm tăng cầu tiêu dùng Trước hết, ông đề nghị sử dụng ngân sách Nhà nước để

Trang 20

kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của Nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp Để kích thích đầu tư phải có các biện pháp tăng lợi nhuận và giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông Keynes đề nghị thực hiện lạm phát có mức độ Ông đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế khoá, công trái nhà nước, qua đó để bổ sung cho ngân sách Ông đề nghị giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư và đánh thuế thu nhập theo luỹ tiến làm cho phân phối trở nên công bằng hơn, do đó sẽ tăng tổng thu nhập mà nhân dân dùng cho tiêu dùng Ông tán thành đầu tư của Chính phủ vào công trình công cộng và các biện pháp khác nhau như một loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút

c) Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại

Các nhà kinh tế của trường phái này ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế và Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes Đây là cơ sở của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại

Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế dựa theo mô hình của Keynes [17], nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết tại mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và lạm phát Lý thuyết này cũng thống nhất với cách xác định của mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất và mối quan hệ giữa các yếu

tố Họ cho rằng tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ theo hàm:

Y = f(K, L, R, T), tương tự hàm sản xuất Cobb – Douglas Về mối quan hệ giữa các yếu tố, các nhà sản xuất có thể lựa chọn kỹ thuật sử dụng nhiều vốn hoặc

kỹ thuật sử dụng nhiều lao động Do đó, lý thuyết này cũng thống nhất với mô hình Harrod – Domar về vai trò của vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế Vì vậy, hệ số

Trang 21

ICOR vẫn được coi là cơ sở để xác định tỷ lệ đầu tư cần thiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế

g = s / k [17, 32]

Trong đó: k: hệ số ICOR (tỷ số gia tăng vốn và đầu vào)

s: tỷ lệ tiết kiệm; g: tốc độ tăng trưởng

Lý thuyết này cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế Sự tác động qua lại giữa tổng mức cung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm - tỷ lệ thất nghiệp, mức giá - tỷ lệ lạm phát, đó là

cơ sở để giải quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế Đồng thời nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng của Chính phủ trong đời sống kinh tế Việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước không chỉ vì thị trường có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà thị trường dù có hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ có bốn chức năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ pháp luật; xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế; thiết lập các chương trình tác động đến việc phân phối thu nhập

Mặc dù những lý thuyết này không cung cấp một liều thuốc thần để đảm bảo một nền kinh tế sẽ đạt được tăng trưởng nhanh chóng, nhưng chúng ta hiểu sâu hơn

về nguồn gốc tăng trưởng kinh tế và tạo ra khuôn khổ tri thức cho nhiều cuộc tranh luận về chính sách tăng trưởng kinh tế Trong đó cũng lý giải về mặt mô hình đối với sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc với các khía cạnh từ tài nguyên, dân số, chính sách của chính phủ

1.1.2.2 Một số mô hình tăng trưởng kinh tế

Quá trình đầu tư và hình thành các loại tài sản vốn có tính quyết định tới hình thành mô hình tăng trưởng của một nước và ảnh hưởng tới tăng trưởng cả về lượng và chất Kết quả có thể tạo ra ít nhất ba loại mô hình tăng trưởng sau đây:

a) Mô hình tăng trưởng trì trệ

Mô hình tăng trưởng trì trệ chú trọng đầu tư vào của cải vật chất mà không đầu tư phát triển con người Nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng trong một giai đoạn

Trang 22

ngắn nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, dẫn đến trì trệ và khó duy trì tăng trưởng được lâu dài Mô hình tăng trưởng loại này thường không bền vững, có thể đem lại tăng trưởng cao trong ngắn hạn, nhưng sau đó sẽ tuột dốc và khó tăng trưởng trở lại Lý do chính là đầu tư quá thấp vào hình thành các loại tài sản vốn và hiệu quả đầu tư công rất thấp Nền kinh tế có thể rơi vào vòng luẩn quẩn do tăng trưởng thấp dẫn đến thiếu nguồn lực để đầu tư, nhất là vào vốn con người và vốn tài nguyên Kết quả của mô hình này là vừa không duy trì được tăng trưởng, không tăng phúc lợi và không thực hiện được mục tiêu xóa đói nghèo Mô hình này có thể thấy ở một số nước đang phát triển mà trong nhiều năm các chỉ số phát triển không được cải thiện, nhất là tình trạng nghèo đói vẫn dai dẳng và thu nhập đầu người không được cải thiện

b) Mô hình tăng trưởng bị bóp méo

Đây là mô hình tăng trưởng trong đó tăng trưởng có được chủ yếu dựa vào khai thác quá mức vốn tài nguyên, trợ cấp vốn vật chất một cách rộng rãi bằng nhiều biện pháp như miễn thuế, cho khất nợ thuế, cấp vốn ưu đãi đầu tư và trợ cấp tín dụng còn chậm So với loại thứ nhất, mô hình tăng trưởng bị bóp méo tốt hơn cho người nghèo và cải thiện phúc lợi nói chung Đặc điểm nổi bật của mô hình này

là đầu tư thiên lệch, quá chú trọng ưu tiên đầu tư vốn vật chất thông qua các chính sách ưu đãi vốn mà tăng đầu tư công Với mô hình này, tăng trưởng có thể đạt được chừng nào Nhà nước vẫn có khả năng duy trì các khoản trợ cấp vốn vật chất Tuy nhiên, trong dài hạn nền kinh tế sẽ phải đối mặt với những méo mó về cơ cấu và hệ quả là tăng trưởng không bền vững, đặc biệt đối với các nước nghèo có quy mô ngân sách nhỏ và quản lý đầu tư không hiệu quả Do nguồn lực dành cho các ưu đãi này chiếm một tỷ trọng lớn của ngân sách nên có thể làm giảm nguồn lực để đầu tư vào các loại tài sản khác Tuy nhiên, tác động của các ưu đãi này thường là nhỏ, mang tính ngắn hạn và không đóng góp nhiều vào tăng năng suất Trong nhiều trường hợp, ưu đãi đầu tư vốn vật chất còn làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành

và của cả nền kinh tế

Trang 23

Ở chương tiếp theo của luận văn, chúng ta có thể thấy Trung Quốc và Việt Nam, cùng với rất nhiều quốc gia khác đã đi theo mô hình tăng trưởng này Do vậy các quốc gia này đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất nhanh, thậm chí là tăng trưởng nóng, nhưng đồng thời cũng làm giảm chất lượng tăng trưởng khi không cân bằng với những mục tiêu khác

c) Mô hình tăng trưởng bền vững

Với mô hình tăng trưởng này, các loại tài sản vốn được hình thành và đầu tư cân đối, không bị bóp méo Đầu tư của Nhà nước chú trọng tới các lĩnh vực tạo tác động lan tỏa, tích cực tới cả nền kinh tế, như đầu tư cho giáo dục, y tế và bảo vệ vốn tài nguyên Theo mô hình này, vốn con người là một trọng tâm của chính sách đầu

tư nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình phổ biến, tiếp thu và đổi mới công nghệ So với hai loại mô hình trên, tăng trưởng theo mô hình này đạt được mục tiêu tăng phúc lợi và xóa đói nghèo Tốc độ tăng trưởng không nhất thiết quá cao nhưng có thể duy trì trong dài hạn nhờ vào sự đầu tư và hình thành hài hòa, cân đối, không méo mó các loại tài sản vốn Các nền kinh tế tiến tới mô hình tăng trưởng này thường có một chính phủ khá trong sạch và quản lý hiệu quả Ngày nay, đây chính

là mô hình tăng trưởng mà nhiều quốc gia định hướng cho nền kinh tế của mình

Chất lượng tăng trưởng theo ba mô hình trên mới được xem xét dưới góc độ hình thành và đầu tư vào các loại tài sản vốn Có thể rút ra một nhận xét là cả mức đầu tư lẫn hình thái đầu tư vào từng loại tài sản vốn đều ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng Đó cũng là thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách

1.1.3 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế

Có nhiều nhân tố khác nhau liên quan đến quá trình tăng trưởng kinh tế, việc nghiên cứu cần thiết phải phân thành hai nhóm với tính chất nội dung tác động khác nhau là: nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế

1.1.3.1 Nhân tố kinh tế

a) Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung

Trang 24

Nói đến các yếu tố tổng cung tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu là vốn (K), lao động (L), tài nguyên đất đai (R) và công nghệ kỹ thuật (T) theo hàm sản xuất:

Y = f(K, L, R, T)

Vốn (K): là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị), nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế, bao gồm nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất Ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất Đó là sự thể hiện của tính chất tăng trưởng theo chiều rộng Tuy vậy tác động của yếu tố này đang có xu hướng giảm dần và được thay thế bằng các yếu tố khác

Lao động (L): trước đây chỉ được xem là yếu tố vật chất đầu vào giống như yếu tố vốn và được xác định bằng số lượng nguồn lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động) Nhưng gần đây mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực Đó là các lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế Việc hiểu yếu tố lao động theo hai nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phân tích lợi thế và vai trò của yếu tố này trong tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển và các nước đang phát triển Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp Hiện nay dân số Trung Quốc với 1,35 tỷ người

và lực lượng lao động khoảng 900 triệu người, là lợi thế rất lớn trong cạnh tranh với những quốc gia khác về lao động dồi dào và giá rẻ

Tài nguyên, đất đai (R): là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và

là yếu tố không thể thiếu được trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế thuộc

Trang 25

các ngành công nghiệp, dịch vụ Tài nguyên thiên nhiên từ trong lòng đất, không khí, từ rừng và biển được chia ra làm tài nguyên vô hạn và không thể thay thế, tài nguyên có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo Các nguồn tài nguyên được khai thác nhằm mục đích tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển Một số tài nguyên là những đầu vào cần thiết cho sản xuất song lại có hạn không thay thế được và không thể tái tạo được, hoặc nếu tái tạo được thì phải có thời gian và phải có chi phí tương đương với quá trình tạo sản phẩm mới Từ những tính chất đó, các tài nguyên được đánh giá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu vào khác trong quá trình sử dụng Do đó, là quốc gia

có diện tích lớn nhất thế giới và tài nguyên thiên nhiên vô vùng phong phú về than, sông, hồ, giàu mỏ, khí đốt, nhôm, chì, thiếc… Trung Quốc có lợi thế rất lớn trong phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên, và có lợi thế lớn trong xuất khẩu tài nguyên Trong nền kinh tế hiện đại người ta đã và đang tìm cách thay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của tài nguyên và đất đai trong tăng trưởng kinh tế, hơn nữa sản phẩm quốc dân và mức tăng trưởng không phụ thuộc nhiều vào dung lượng tài nguyên thiên nhiên và đất đai

Công nghệ (T) được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất Các nhà kinh tế học đều cho rằng công nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình tăng trưởng kinh tế bền vững

Ba yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế được nhấn mạnh là vốn, lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) TFP được coi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu Ngày nay, tác động của thể chế, của chính sách mở cửa, hội nhập hay phát triển tiếp cận được nhanh chóng những công nghệ hàng đầu thế giới đã tạo nên “sự rượt đuổi dựa trên năng suất” và sự đóng góp

Trang 26

của TFP ngày càng cao trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh của các nước trên thế giới Nhiều nước phát triển như Mỹ, Canada, Đức, Nhật Bản, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế chiếm từ 50 đến 75%; số liệu thống kê các nước Đông Nam Á cho thấy ở các nước này nhân tố TFP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trên 1/3 [17] Tỷ lệ đóng góp của nhân tố TFP vào GDP của Việt Nam vẫn còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực

b) Các nhân tố tác động đến tổng cầu

Yếu tố liên quan trực tiếp đến đầu ra của nền kinh tế chính là khả năng chi tiêu, sức mua và năng lực thanh toán, tức là tổng cầu (AD) của nền kinh tế Kinh tế học vĩ mô đã cho thấy có 4 yếu tố trực tiếp cấu thành tổng cầu bao gồm [32]:

- Chi cho tiêu dùng cá nhân (C): bao gồm các khoản chi cố định, chi thường xuyên và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh

- Chi tiêu của Chính phủ (G): bao gồm các khoản mục chi mua hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ Nguồn chi tiêu của Chính phủ phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách bao gồm chủ yếu là các khoản thu từ thuế và lệ phí

- Chi cho đầu tư (I): đây thực chất là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu của các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư cố định và đầu tư vốn lưu động

- Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX = X – M) Thực tế, giá trị hàng hoá xuất khẩu là các khoản phải chi tiêu cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hoá sử dụng trong nước nhưng lại không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố nguồn lực trong nước nên chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu chính là khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế

Dưới sự tác động của thị trường các yếu tố của tổng cầu thường xuyên biến đổi, nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn lực của quốc gia đã có nhưng không được huy động và làm hạn chế mức tăng trưởng thu nhập, còn ngược lại, nếu mức tổng cầu quá cao sẽ làm cho mức thu nhập của nền kinh tế tăng nhưng giá cả các yếu tố nguồn lực trở nên đắt đỏ sẽ đẩy mức giá chung của nền kinh tế lên Chính phủ căn cứ vào tính chất tác động này để có các chính sách điều

Trang 27

tiết tổng cầu sao cho bảo đảm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng tương ứng với yêu cầu ổn định giá

1.1.3.2 Nhân tố phi kinh tế

Ngoài các nhân tố kinh tế có thể đo lường cụ thể như trên, các nhân tố phi kinh tế cũng tác động đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, tuy nhiên các nhân tố này không tác động một cách riêng rẽ mà mang tính tổng hợp, đan xen tạo nên tính chất đồng thuận hay không đồng thuận, thêm vào đó là khó có thể phân biệt và đánh giá phạm vi, mức độ tác động của từng nhân tố đến nền kinh tế Một số nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng và phát triển có thể kể đến:

a) Đặc điểm văn hoá – xã hội

Nhân tố này bao trùm từ các tri thức phổ thông đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia

b) Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội

Các thể chế chính trị - kinh tế – xã hội được thừa nhận tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường

xã hội cho các nhà đầu tư

Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo

ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng Ngược lại một thể chế không phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá vỡ những quan hệ cơ bản làm nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị, xã hội Tuy vậy, yếu tố thể chế chỉ tạo điều kiện thúc đẩy

sự tăng trưởng kinh tế, tức là tạo các điều kiện thuận lợi để hướng hoạt động theo mục tiêu có lợi và hạn chế các mặt bất lợi, không nên dùng thể chế làm thay cho tất

cả và tạo ra tất cả theo ý muốn

c) Cơ cấu dân tộc

Trang 28

Trong cộng đồng quốc gia, có các tộc người khác nhau cùng sống, họ có thể khác nhau về chủng tộc, về khu vực sinh sống và với quy mô khác nhau so với tổng dân số quốc gia, do đó có những điều kiện sống khác nhau về trình độ tiến bộ văn minh, về mức sống vật chất, về vị trí địa lý và địa lý chính trị - xã hội trong cộng đồng Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể đem đến những biến đổi có lợi cho dân tộc này, nhưng bất lợi cho những dân tộc kia Đó chính là nguyên nhân nảy sinh xung đột giữa các dân tộc ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế đất nước Do vậy phải lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, nhưng lại bảo tồn được bản sắc riêng và các truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, khắc phục được các xung đột và mất ổn định chung của cộng đồng Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển

d) Cơ cấu tôn giáo

Vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người đều theo một tôn giáo Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo, các tộc ít người, ít tiếp xúc với thế giới hiện đại thường tôn thờ các thần linh theo quan niệm Mỗi tôn giáo còn chia làm nhiều giáo phái Ngoài ra còn có nhiều đạo giáo riêng mà chỉ có một số dân tộc tôn thờ Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lý tư tưởng riêng, bám sâu vào cuộc sống của dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm lý – xã hội riêng của dân tộc Những ý thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự phát triển kinh tế xã hội Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ xã hội tuỳ theo mức độ, song có thể là sự hoà hợp nếu có chính sách đúng đắn của Chính phủ

e) Sự tham gia của cộng đồng

Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác dụng tương hỗ lẫn nhau Sự phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội Ngược lại, về phía mình sự tham gia của cộng đồng là một nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tại cho phát triển kinh tế,

xã hội Các nhóm cộng đồng dân cư tham gia trong việc xác định các mục tiêu của chương trình, dự án phát triển quốc gia, phát triển địa phương của họ, tham gia trong việc tổ chức cung cấp nguồn lực cần thiết, tham gia trong quá trình tổ chức

Trang 29

thực hiện, kiểm tra giám sát các hoạt động phát triển tại cộng đồng và tự quản lý các thành quả của quá trình phát triển Đó chính là yếu tố cần thiết cho một xã hội phát triển nhằm tạo dựng sự nhất trí cao, tính hiệu quả và sự thích ứng, ổn định trong thực hiện mục tiêu phát triển, đồng thời khích lệ được tiềm năng của mọi cá nhân và

cả cộng đồng vào quá trình phát triển kinh tế, giảm thiểu hiện tượng tham nhũng trong xã hội

1.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững – quan điểm phát triển bền vững của Trung Quốc và Việt Nam

1.1.4.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Từ những thập niên 70, 80 của thể kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao, người ta bắt đầu có những

lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của tăng trưởng nhanh đến tương lai con người và

do đó, vấn đề phát triển bền vững được đặt ra

Theo thời gian, quan niệm về phát triển bền vững càng được hoàn thiện Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug năm 2002

đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp

lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển gồm tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn

đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng

trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý,

sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Do đó, tăng trưởng kinh tế là một phần của phát triển bền vững, và giữa chúng có mối quan hệ hết sức chặt chẽ Trong quan hệ này, vì tăng trưởng dẫn đến tăng thu nhập và sản phẩm theo đầu người, nên không thể có phát triển mà thiếu tăng trưởng Tuy vậy, làm tăng thu nhập không phải là mục đích duy nhất của phát triển Con người mong có một cuộc sống lành mạnh trở thành người có văn hoá hơn, trong một môi trường xã hội an ninh hơn và trong một môi trường tự nhiên hài hoà, trong lành hơn

Với một số nước, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, tăng trưởng cao như giai đoạn hiện nay dẫn đến phát sinh rất nhiều vấn đề xã hội và môi trường, do đó

Trang 30

tăng trưởng kinh tế đi theo mô hình và đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp bách và là xu thế tất yếu của toàn thế giới Trung Quốc và Việt Nam cũng nhận thức được vấn đề này và đưa ra những quan điểm riêng của mình

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa kinh tế, môi trường và xã hội trong PTBV

Nguồn: Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn 1.1.4.2 Quan điểm phát triển bền vững của Trung Quốc và Việt Nam

Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận thông qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về Phát triển bền vững và Chương trình Nghị sự 21, xác định các hành động cho sự phát triển bền vững của toàn thế giới trong thế kỷ thứ 21

Hộp 1.1 Chương trình Nghị sự 21

Đây là văn kiện đồ sộ gồm 40 chương nêu lên các công việc cần phải làm, các biện pháp cần thực hiện và kinh phí cần phải có cho các công việc đó Đây là văn kiện quan trọng giúp các quốc gia soạn thảo, hiệu chỉnh chiến lược phát triển của mình

và định hướng hợp tác toàn cầu nhằm bảo vệ môi trường trên trái đất [25]

Trang 31

Trung Quốc và Việt Nam là những thành viên khá tích cực đã ký kết Chương trình Nghị sự trên Theo đó, Chương trình Nghị sự của mỗi nước đã thể hiện rõ quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu phát triển bền vững của mỗi nước, cụ thể:

a) Quan điểm phát triển bền vững của Trung Quốc

Với sức mạnh và vị thế ngày càng lớn của Trung Quốc trên trường quốc tế

về nhiều lĩnh vực, Trung Quốc tham gia các tổ chức, chương trình, hoạt động quốc

tế về phát triển bền vững, qua đó định hướng đường đi và đưa ra những chính sách phát triển phù hợp và hài hoà với yêu cầu của thế giới

“Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện chính sách cải tổ và mở cửa, tiếp thu và rút kinh nghiệm từ những thành tựu đã đạt được trong nền văn minh nhân loại, tăng tốc

độ phát triển kinh tế, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường Chúng tôi sẵn sàng đảm nhận những nhiệm vụ và bổn phận quốc tế phù hợp với quá trình phát triển của chúng ta, mở rộng hợp tác quốc tế trong vấn đề phát triển và bảo vệ môi trường thế giới” (Trích bài phát biểu tại hội nghị Rio của Thủ tướng Lý Bằng, tháng

6 năm 2002)

“Chương trình nghị sự của Trung Quốc giải quyết những vấn đề cấp bách hiện tại và nhằm chuẩn bị cho thế giới đối phó với những thách thức của thế kỷ mới Chương trình nghị sự của Trung Quốc phản ánh sự nhất trí và cam kết chính trị toàn cầu ở cấp cao nhất về hợp tác môi trường và phát triển” “Khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, nhất thiết phải sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường Trung Quốc cần phải đi theo con đường tiến tới phát triển bền vững” [72]

Năm 2006, Hội nghị Trung ương 6 khoá XVI đã đưa ra “Quyết định về một

số vấn đề lớn xây dựng xã hội hài hoà XHCN”, xác định tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu nhiệm vụ, nguyên tắc xây dựng, bố cục và các bước xây dựng xã hội hài hoà XHCN Trung Quốc Nội dung và mục tiêu chính của xã hội hài hoà XHCN là “dân chủ pháp trị; công bằng chính nghĩa; tin tưởng, thương yêu lẫn nhau; tràn đầy sức sống; yên ổn có trật tự; con người sống hài hoà với môi trường thiên nhiên”

Trang 32

Bảng 1.1 Dự báo một số chỉ tiêu phát triển bền vững

của Trung Quốc giai đoạn 1990 – 2030*

Chỉ tiêu 1990 2010 2030 *

1.GDP bình quân đầu người (BQĐN)

(theo giá cố định 1990) (USD) 443 1175 2500

2 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng

3 Tổng nhu cầu năng lượng (tỷ tấn

than tiêu chuẩn) 1,04 1,59 2,00

4 Tỷ lệ tăng dân số (% năm) 1,14 1,00 0,45

5 Dân số (triệu người) 1143 1392 1520

6 Số lao động (triệu người) 715 908 928

2030*: Số dự báo Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003

Như vậy, quan điểm phát triển của Trung Quốc là cũng phát triển bền vững trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường, cụ thể tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và tài nguyên

Trang 33

b) Quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam

Ở nước ta, phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Phát triển bền vững cũng đã được đề cập tới như một yêu cầu cấp thiết trong hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các cấp, các ngành và các lĩnh vực Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” [30]

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mười năm (2001 - 2010), quan điểm phát triển đầu tiên được Đảng ta xác định là: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền

vững Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị: “Về tăng

cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” cũng đã yêu cầu các cấp, các ngành, địa phương nắm vững và quán triệt quan điểm phát triển bền vững trong các quyết sách và hành động của mình Chỉ thị nêu rõ: Tăng trưởng kinh tế phải đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo

vệ và cải thiện môi trường

Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần

Trang 34

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường [25]

Trên đây là một vài quan điểm và mục tiêu phát triển bền vững của Trung Quốc và Việt Nam Trong quá trình tăng trưởng cao, các vấn đề tiêu cực về kinh tế,

xã hội và môi trường là khó tránh khỏi, do đó cần có quan điểm và mục tiêu phát triển phù hợp với nhu cầu và năng lực của mỗi quốc gia Theo những quan điểm phát triển đó, mỗi quốc gia có thể vạch ra cho mình những chiến lược và chính sách nhằm tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, đảm bảo những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến thế hệ tương lai

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Một số vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Nhật Bản

và Ấn Độ

1.2.1.1 Nhật Bản

Nhật Bản, nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, tuy hai năm trở lại đây đã xuống

vị trí thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc xét về GDP Với nền tảng là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đất nước đông dân, nghèo nàn về tài nguyên, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, thế nhưng kinh tế Nhật đã sớm phục hồi (1945-1954), thậm chí còn phát triển cao độ (1955-1973) Rất nhiều bài viết đã thần tượng hoá và gọi sự phát triển này là “Sự thần kỳ Nhật Bản” Tuy nhiên, để có được những thành tựu về kinh tế, Nhật Bản đã, đang phải đánh đổi rất nhiều về môi trường, kinh tế đến

xã hội

Nhật Bản được coi là một trong những quốc gia thành công trong việc gìn giữ các giá trị môi trường tự nhiên với những thành phố hiện đại, đẹp và sạch sẽ Tuy nhiên, trên thực tế, Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia công nghiệp phát triển khác cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường

Trang 35

Về tài nguyên, là một đất nước nghèo tài nguyên, nên để đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, chế tạo trong nước, Nhật Bản phải nhập rất nhiều tài nguyên từ nhiều nước trên thế giới Những năm gần đây người ta nói nhiều đến vấn đề đất hiếm, thị trường thế giới nóng lên vì nhu cầu của Nhật Bản Loại tài nguyên này khi khai thác, người ta tách từng loại nguyên tố hiếm ra, đem vào sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như công nghiệp điện tử, chế tạo ôtô, chế tạo chất bán dẫn, lọc hóa dầu…có vai trò tối quan trọng trong rất nhiều ngành công nghiệp của Nhật Do vậy, nếu nguồn cung không đáp ứng đủ hoặc có vấn đề phát sinh trong việc cung ứng nguyên vật liệu đầu vào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất của các ngành công nghiệp trong nước Chẳng hạn, thị trường cung cấp đất hiếm cho Nhật bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Mianma Tuy nhiên từ cuối năm 2010, giá đất hiếm đã tăng vọt kể từ khi Trung Quốc, nước chiếm hơn 90% tổng cung đất hiếm toàn cầu, quyết định cắt giảm xuất khẩu

Ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề gây lo ngại ở Nhật Xuất hiện cùng với quá trình công nghiệp hóa từ thời Minh Trị (1868-1912), vụ ô nhiễm đầu tiên là nhiễm độc đồng do nước thải từ mỏ đồng Ashio ở tỉnh Tochigi năm 1878 [51] Việc phát triển các ngành dệt, giấy và bột giấy đã dẫn đến ô nhiễm nước, còn việc sử dụng than làm nhiên liệu chính trong công nghiệp là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí Trong thời kỳ phát triển cao độ sau Thế chiến 2, Nhật Bản trở thành một trong những nước ô nhiễm nhiều nhất trên thế giới Thêm vào đó, vì mật độ dân số quá đông trên các khu vực diện tích hẹp, khiến cho các khu công nghiệp và khu dân cư nằm liền kề nhau, đời sống người dân do đó bị ảnh hưởng và gặp nguy hiểm do những chất thải rắn, khí, nước từ các nhà máy của các khu công nghiệp này gây ra

Ô nhiễm sinh ra bệnh tật Người ta đã chứng minh được rằng nguyên nhân gây nên các bệnh về đường hô hấp giống như hen suyễn ở thành phố Yokkaichi, thuộc tỉnh Mie, là do khói thoát ra từ khu công nghiệp dầu khí ở địa phương Bệnh Minamata ở tỉnh Kumamoto do nhiễm độc thủy ngân, và bệnh itai-itai ở tỉnh Toyama do nhiễm độc catmi đều do nước thải từ các nhà máy gần đó [70] Những

Trang 36

quy định nghiêm ngặt về nước thải công nghiệp đã giảm bớt phần nào tình trạng ô nhiễm chất độc hại, tuy nhiên, các con sông và đường biển tại những khu vực đô thị vẫn bị ô nhiễm nặng nề do các chất hữu cơ và sinh vật phù du Một vấn đề ô nhiễm nước khác là ô nhiễm nhiệt Nhiều nhà máy điện được xây dựng với quy mô ngày càng lớn và nhiệt thải ra là mối đe dọa đối với sinh vật biển và sông gần đó cũng như ngư nghiệp Bên cạnh đó, ngoài ô nhiễm do nước thải công nghiệp và sử dụng trong gia đình, dầu loang từ các con tàu chở dầu bị tai nạn cũng là một nguyên nhân lớn gây ô nhiễm nước Có thể nói ô nhiễm nước là một trong những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở Nhật Bản mà 4 nguyên dân chính là: công nghiệp hóa nhanh chóng, đô thị hóa nhanh chóng, sự tụt hậu trong việc xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội như hệ thống thoát nước, cũng như chính sách một thời coi trọng phát triển kinh

tế hơn là sức khỏe nhân dân và môi trường trong sạch

Nhiều biện pháp đã được tiến hành để cải thiện chất lượng nước ở Nhật Bản, trong đó có việc đề ra các tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại, các tiêu chuẩn khác

về môi trường sống, cũng như các biện pháp kiểm soát và giám sát nghiêm ngặt Các luật quy định trách nhiệm gây ô nhiễm được thông qua, nhiều dự án được tiến hành để cải thiện hệ thống thoát nước cho phù hợp với tỉ lệ dân cư Chính phủ có các biện pháp đối phó với nhiều hình thức ô nhiễm hoặc có hại đến môi trường, từ ô nhiễm tiếng ồn, độ rung, rác thải, lún đất, mùi khó chịu, ô nhiễm đất và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp Năm 1967, Luật cơ bản phòng chống ô nhiễm môi trường bắt đầu có hiệu lực, đưa ra chính sách và nguyên tắc chung về kiểm soát ô nhiễm, đồng thời khuyến khích nỗ lực làm sạch môi trường Luật nêu rõ trách nhiệm của chính phủ trung ương, các chính quyền địa phương, các công ty, nhà máy; đồng thời quy định những tiêu chuẩn chất lượng môi trường, vạch ra các chương trình kiểm soát ô nhiễm và giúp đỡ nạn nhân những bệnh do ô nhiễm Tiếp đó Luật Bảo tồn thiên nhiên được thông qua năm 1972, tạo cơ sở cho mọi biện pháp pháp lý bảo vệ môi trường Tuy nhiên, luật chỉ có thể quy định mức ô nhiễm từ những nguồn đã được xác định, còn ô nhiễm từ những nguồn mà con người không biết hoặc ít biết đến vẫn là điều đang gây nhiều lo ngại

Trang 37

Tuy lâu nay, chính phủ trung ương, các chính quyền địa phương cũng như bản thân người dân rất nỗ lực để làm sạch môi trường, nổi bật nhất là việc Nhật Bản đăng cai tổ chức hội nghị thế giới về khí hậu thay đổi năm 2006 ở Kyoto, nhưng cho đến nay có thể nói người Nhật Bản vẫn đang phải sống cùng nhiều loại ô nhiễm

Về các vấn đề xã hội, theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh

tế (OECD) đưa ra sáng 5/12/2011, khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng rõ nét ở các nền kinh tế lớn trên thế giới và đang ở ngưỡng cao nhất trong vòng 30 năm qua

Ở Nhật Bản, khoảng cách về thu nhập giữa người giàu và người nghèo trong xã hội cũng ngày càng nới rộng và đang ở mức 10% [46] Từ năm 2001 đến 2004, số các triệu phú của Nhật tăng 10% trong khi đó tỷ lệ người nghèo tăng gấp đôi từ năm

1994 đến năm 2000 lên 15% [56] Số các gia đình không có tiền tiết kiệm, nhận trợ cấp xã hội cũng gia tăng Lý do dẫn đến tình trạng trên có thể là: dân số Nhật đang già đi và đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế Ngân sách chính phủ giảm đồng nghĩa với nhiều dự án công bị cắt giảm, khiến những lao động có tay nghề thấp mất việc làm, quan niệm giá trị thay đổi… Đặc biệt trong một vài năm trở lại đây là vấn nạn

về tiêm chích ma tuý, quan hệ đồng tính, sinh hoạt tình dục tập thể, xung đột, tự tử Nhật Bản là một trong những nước có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới Hàng năm

có trên 30.000 người chết vì tự sát, nhiều hơn số người chết vì tai nạn giao thông Đây được coi là một quốc nạn của Nhật Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là

do sức ép công việc và đời sống căng thẳng thường xuyên làm cho người dân Nhật Bản rơi vào tình trạng stress nặng Bên cạnh đó, con người trở nên lạnh lùng vì quá ngăn nắp và trật tự, quan hệ xã hội lỏng lẻo vì hầu như cả xã hội bị cuốn theo cuộc sống công nghiệp hiện đại, chạy đua với máy móc…

Như vậy có thể thấy, tăng trưởng cao ở Nhật Bản đã dẫn đến việc nảy sinh một số vấn đề điển hình như ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nước; khan hiếm tài nguyên dẫn đến phụ thuộc vào nước ngoài; các vấn đề xã hội như phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội

Trang 38

ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến các vấn đề xã hội

Không thể phủ nhận cùng với nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, điều kiện sống của nguời dân Ấn Độ đang có những tiến triển tích cực Chỉ số HDI của Ấn

Độ năm 2010 đứng thứ 119 trong tổng số 169 quốc gia được xếp hạng, so với Việt Nam là 113 Ấn Độ được coi là cường quốc người nghèo số một thế giới và đang phải đối mặt với vấn đề về bất bình đẳng thu nhập, khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng Trong khi khoảng 127.000 người Ấn Độ

có tài sản trên 1 triệu USD và người giàu Ấn Độ thuộc số những người sẵn sàng chi tiền để mua máy bay và du thuyền trong vài năm tới, thì cũng có khoảng 450 triệu người sống dưới mức nghèo khổ tại Ấn Độ với thu nhập bình quân 1,25 USD mỗi ngày (tương đương 10.000 VND), chiếm khoảng 1/3 người nghèo trên thế giới [38] Theo kết quả điều tra 2010, số lượng người nghèo ở 8 bang của Ấn Độ nhiều hơn

26 quốc gia nghèo nhất châu Phi cộng lại Trong bản báo cáo Chỉ số đói nghèo toàn cầu năm 2008, Ấn Độ xếp thứ 66 trong số 88 quốc gia Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh

và tình trạng suy dinh dưỡng của nước này còn thấp hơn một số nước ở vùng châu Phi Hạ Sahara…

Không chỉ vậy, nước này còn phải đối mặt với những vấn đề đặc thù của một xã hội bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự phân chia đẳng cấp, mà các nỗ lực lập pháp để khắc phục từ nhiều năm qua chưa đạt được những kết quả khả quan

Trang 39

Điển hình, tại Ấn Độ, con cái của những gia đình Hồi giáo không bao giờ gửi con đến các trường giảng dạy bằng tiếng Anh Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ không chỉ nơi tương lai các trẻ em này, mà cả đến tương lai phát triển

và ổn định của quốc gia này

Bên cạnh đó, một vấn đề không thể không nhắc đến chính là những thách thức môi trường nghiêm trọng Dân cư đông đúc, chậm ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cũng như tình trạng nghèo khổ là những nguyên nhân trực tiếp gây ra những vấn đề về môi trường, và đó cũng chính là lý do làm thay đổi mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái Ngược lại môi trường xuống cấp cũng là một trong những lý do quan trọng dẫn đến sự tồn tại dai dẳng và ngày càng gia tăng tình trạng đói nghèo, đặc biệt đối với người dân khu vực nông thôn Mối liên hệ này tạo thành vòng luẩn quẩn giữa con người và môi trường sinh thái, nếu không có cách xử lý hiệu quả và triệt để thì con người sẽ luôn mắc kẹt trong chính vòng luẩn quẩn do mình tạo ra

Theo một báo cáo của Liên minh châu Âu, khoảng 20% số các loại bệnh được ghi nhận tại Ấn Độ có lý do từ sự ô nhiễm môi trường Ấn Độ đang phải đối mặt với những hậu quả của tình trạng nóng lên của Trái đất Sản xuất nông nghiệp, vốn chiếm 35% GDP của nước này, đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng Viện Nghiên cứu quốc gia New Delhi đã phát hiện khi nhiệt độ Trái đất tăng 2%, sản lượng ngũ cốc của nước này sẽ bị giảm sút Trong các vùng thuộc khu vực cận nhiệt đới của nước này, sản lượng ngũ cốc có thể giảm 1,5 - 5,8% Thay đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến dân cư sống tại các vùng ven biển với tình trạng mực nước biển dâng cao và bão lụt cùng nguy cơ thảm họa sóng thần [54]

Ngoài ra, Ấn Độ được xem là nước có chất lượng không khí kém nhất thế giới, theo một nghiên cứu hàng năm do Trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia (Mỹ) thực hiện và công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới tháng 1/2012 ở Davos vừa qua Về đánh giá tổng thể môi trường, Ấn Độ đứng vị trí

125 [54] Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu vệ tinh để đo đạc nồng độ ô nhiễm không khí Mức độ của các hạt vật chất nhỏ vốn không an toàn cho con người đo ở Ấn Độ

Trang 40

gần gấp năm lần mức tới hạn Các hạt vật chất này là một trong những nguyên nhân chính của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và thậm chí là ung thư Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng này được cho là do số lượng xe cộ ngày càng tăng

ở Ấn Độ Trong khi tại quốc gia này số lượng xe trên đầu người so với những quốc gia phát triển còn tương đối thấp, nhưng xe hơi của Ấn Độ xả khí thải ô nhiễm nhiều hơn Tiêu chuẩn khí thải của Ấn Độ hiện tụt hậu “mười năm so với tiêu chuẩn châu Âu” mà những tiêu chuẩn này lại còn không được thực thi nghiêm chỉnh

Ô nhiễm nước thải cũng là vấn đề lớn đang đặt ra cho Ấn Độ Chỉ có 10% nước thải được xử lý, các chất thải đô thị và công nghiệp thường được trút thẳng xuống các dòng nước Theo tính toán của Tổ chức các nhà bảo vệ môi trường WWF (World Wide Fund), chỉ số sinh thái trung bình (là chỉ số đo lường diện tích đất canh tác và nước để thỏa mãn việc chế tạo thực phẩm, gỗ, nhà ở và hấp thu sự ô nhiễm do sinh hoạt con người sinh ra) của thế giới đã vượt qua khả năng sinh tạo (biocapacity) đến 25% vào năm 2003, tức là địa cầu không thỏa mãn nổi nhu cầu ngày càng tăng của con người nói chung

Hiện chỉ số sinh thái trung bình của Trung Quốc mới chỉ ở mức 1,6ha và của

Ấn Độ là 0,8ha, thấp hơn mức trung bình của thế giới là 2,3ha/người (để so sánh, chỉ số này của Nhật hay châu Âu là 4,5ha, của Mỹ là 9,7ha) [54] Tuy nhiên, đến năm 2030, chỉ số sinh thái của một người dân Trung Quốc hay Ấn Độ có thể đạt đến mức của Nhật Bản ngày nay Điều đó có nghĩa chỉ riêng Ấn Độ và Trung Quốc

đã cần cả hành tinh để thỏa mãn các nhu cầu sinh thái của mình

Tóm lại, tăng trưởng cao ở Ấn Độ dẫn đến nảy sinh những vấn đề nghiêm trọng như nạn đói nghèo, bất bình đẳng xã hội gay gắt; ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước nghiêm trọng

1.2.2 Nhận xét về các vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao tại Nhật Bản và Ấn Độ

Từ việc phân tích những mặt trái của tăng trưởng kinh tế của hai quốc gia Nhật Bản và Ấn Độ có thể rút ra một vài nhận xét như sau:

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mối quan hệ giữa kinh tế, môi trường và xã hội trong PTBV - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa kinh tế, môi trường và xã hội trong PTBV (Trang 30)
Bảng 1.1. Dự báo một số chỉ tiêu phát triển bền vững - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Bảng 1.1. Dự báo một số chỉ tiêu phát triển bền vững (Trang 32)
Bảng 2.1. Tốc độ tăng GDP của Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2011 - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Bảng 2.1. Tốc độ tăng GDP của Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2011 (Trang 44)
Hình 2.1. Các nền kinh tế lớn nhất thế giới tính đến năm 2010 - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Hình 2.1. Các nền kinh tế lớn nhất thế giới tính đến năm 2010 (Trang 45)
Bảng 2.2. Số lƣợng ô tô tiêu thụ ở Trung Quốc giai đoạn 2002 – 2010  Năm  2002  2003  2004  2006  2007  2008  2009  2010 - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Bảng 2.2. Số lƣợng ô tô tiêu thụ ở Trung Quốc giai đoạn 2002 – 2010 Năm 2002 2003 2004 2006 2007 2008 2009 2010 (Trang 46)
Bảng 2.3. Vốn FDI vào Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 2001 – 2011 (tỷ USD)  Năm  2001  2002  2003  2004  2005  2006  2007  2008  2009  2010  2011 - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Bảng 2.3. Vốn FDI vào Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 2001 – 2011 (tỷ USD) Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 (Trang 54)
Bảng 2.4. Giá trị mua bán & sáp nhập xuyên biên giới (M&A) - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Bảng 2.4. Giá trị mua bán & sáp nhập xuyên biên giới (M&A) (Trang 55)
Bảng 2.5. Tỷ lệ thất nghiệp Trung Quốc giai đoạn 2002 – 2011 - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Bảng 2.5. Tỷ lệ thất nghiệp Trung Quốc giai đoạn 2002 – 2011 (Trang 79)
Hình 2.2. Mức độ phát thải CO 2  của mốt số quốc gia - Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng cao ở Trung Quốc
Hình 2.2. Mức độ phát thải CO 2 của mốt số quốc gia (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w