Vấn đề quan trọng đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải tìm kiếm những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt
Trang 1i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
NGUYỄN BẰNG VIÊ ̣T
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI – NĂM 2012
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
NGUYỄN BẰNG VIỆT
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hê ̣ kinh tế quốc tế
Trang 3iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… i
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU……… iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ………iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG EU 8
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA 8
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của hàng hóa……….8
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa.……… 13
1.1.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa 20
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM……… 25
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với Việt Nam 25
1.2.2 Yêu cầu của thị trường EU 26
1.2.3 Những cơ hội, thách thức của hội nhập WTO đối với ngành dệt may 28
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG EU… 32
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 32
1.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 33
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO……… …… 36
2.1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 36
Trang 4iv
2.1.1 Một vài nét về ngành dệt may Việt Nam……… 36
2.1.2 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam……… 38
2.2 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU 45
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU 45
2.2.2 Thị phần hàng dệt may xuất khẩu tại EU 47
2.2.3 Chi phí sản xuất và giá hàng dệt may xuất khẩu sang EU 52
2.2.4 Chất lượng và cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu sang EU 55
2.2.5 Thương hiệu hàng dệt may xuất khẩu 57
2.2.6 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU 59
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU……… 61
2.3.1 Những điểm mạnh trong năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 61
2.3.2 Những vấn đề đặt ra trong năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO……… 75
3.1 NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY
CỦA VIỆT NAM SANG EU 75
3.1.1 Cơ hội………75
3.1.2 Thách thức……… ……… 76
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DỆT MAY……… 79
3.2.1 Mục tiêu tổng quát……… 79
3.2.2 Mục tiêu cụ thể……… ………80
Trang 5v
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG EU 83
3.3.1 Giải pháp từ phía nhà nước 83
3.3.2 Giải pháp từ phía Hiệp hội 86
3.3.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 91
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chƣ̃ viết tắt Tên đầy đủ tiếng Viê ̣t
Trang 719 R&D Nghiên cứu và triển khai
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành dệt may Việt Nam có lịch sử phát triển từ lâu đời và hiện nay là một
xã hội đất nước Với tốc độ tăng trưởng khá cao và tương đối ổn định qua các năm, trung bình trong giai đoạn 2002-2010 khoảng 22%/năm, dệt may hiện đang là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) đã đóng góp đáng kể vào gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng vạn lao động, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU sẽ bước sang thời kỳ mới với những thời cơ mới Doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng hơn khi thâm nhập vào thì trường rộng lớn, đầy tiềm năng này Tuy vậy, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu hiện đang đứng trước thách thức rất lớn, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Với cam kết xóa bỏ các hình thức trợ cấp không được phép , ngành dệt may không
chống bán phá giá, sử du ̣ng các biê ̣n pháp tự vệ ở thị trường xuất khẩu này
Trên thực tế, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Viê ̣t Nam vào EU tăng đ ều qua các năm nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên , xuất khẩu hàng dê ̣t may Viê ̣t Nam sang EU chỉ chiếm khoảng 18% tổng kim nga ̣ch xuất khẩu hàng dê ̣t
toàn ngành dệt may Một trong những nguyên nhân quan trọng là do năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU còn thấp kém Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu, chưa có sự chủ động về nguyên liệu đầu vào cũng như việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới Do
Trang 11vậy, mặc dù có lợi thế nhân công rẻ, nguồn lao động dồi dào, song hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam khó có thể cạnh tranh với sản phẩm dệt may từ Trung Quốc, Ấn Độ…trên thị trường EU
Vấn đề quan trọng đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải tìm kiếm những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung và EU nói riêng
Xuất phát từ đó, tác giả đã chọn đề tài: “Năng lực cạnh tranh hàng dệt may
xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) trong bối ca ̉ nh hội nhập WTO” cho luâ ̣n văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Năng lực ca ̣nh tranh xuất khẩu của sản phẩm dê ̣t may Viê ̣t Nam là mô ̣t vấn đề đươ ̣c các nhà hoa ̣ch đi ̣nh chính sách , các cơ quan và nhiều nhà kinh tế trong nước và quốc tế quan tâm Liên quan đến đ ề tài này đã có nhiều công trình nghiên cứu đư ợc công bố Một số công trình đáng lưu ý, bao gồm:
may Viê ̣t Nam đến năm 2010
Chiến lược phát triển công nghiệp dệt may Việt Nam bao gồm những giải pháp lớn: đổi mới công nghệ, ổn định chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất để tăng sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu Đầu tư mở rộng quy mô sản xuất từ khâu may đến khâu sản xuất vải và phụ liệu may, bông xơ sợi cho sản xuất vải; trong
đó, đầu tư cho các nhà máy may hiện đại may hàng Fob (xuất khẩu trực tiếp) ở trung tâm hai thành phố lớn là Hà N ội và thành phố Hồ Chí Minh; mở rộng mạng lưới may gia công ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước Cùng với việc quy tụ các nhà máy mới vào 10 cụm công nghiệp dệt là phát triển mạnh vùng bông ở Tây Nguyên, Nam Trung
Bộ và Đông Nam Bộ, ngành sẽ đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, xây dựng mạng lưới bán buôn, bán lẻ trong nước và các đại diện thương mại quốc tế; áp dụng ngay phương thức kinh doanh mới như thương mại điện tử và cuối cùng là đào tạo nguồn nhân lực
Trang 12- Dự án JICA -NEU, (2001), Công nghiê ̣p dê ̣t may Viê ̣t Na m: Chính sách phát
triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế
phát triển công nghiệp dệt may , đồng thời đề xuất khuyến nghi ̣ về đổi mới các chín h sách nhằm phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương và UNDP (2003), Nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia, Dự án VIE 01/025, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội
Cuốn sách đi sâu phân tích về hiện trạng năng lực cạnh tranh quốc gia trong đó tập trung vào 8 yếu tố cấu thành là: Thể chế nhà nước; Vai trò của Chính phủ; Độ mở của nền kinh tế; Hệ thống tài chính, tiền tệ; Kết cấu hạ tầng; Khoa học công nghệ; Lao động và Năng lực cạnh tranh của doanh nghiê ̣p Từ đó kiến nghị các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo hướng Hoàn thiện thể chế và phương thức điều hành kinh tế của Chính phủ; Hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh tế vĩ mô và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế; Giảm chi phí kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ
- TS Đoàn Thị Hồng Vân (2004), Thâm nhập thị trường EU (Những điều cần
biết), Nxb Thống kê, Hà Nội
Cuốn sách giới thiê ̣u về Liên minh Châu Âu; Cộng hòa Liên bang Đức - cánh cửa chính để thâm nhập thị trường EU và các nư ớc thành viên khác của EU Qua đó có thể thấy đươ ̣c các đi ều kiện thâm nhập thị trường EU như: Rào cản thương mại phi thuế
- Bộ công thương (2008), Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt
Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Hà Nội
Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh
tế khu vực và thế giới Quy hoạch nêu rõ trước mắt ngành dệt may tập trung phát triển
Trang 13và nâng cao năng lực về nguồn nhân lực; nguồn nguyên, phụ liệu để có nguồn nhân lực chuyên môn cao, tạo nên sản phẩm chất lượng cao gắn với thương hiệu uy tín; bảo vệ
môi trường
Châu Âu: Thực trạng và triển vọng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Châu Âu từ năm 1995 đến nay với ba nội dung chính là: Thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển chính thức Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – EU cho giai đoạn đến năm 2020…
Ngoài ra còn có các bài viết đăng tải trên các ta ̣p chí khoa ho ̣c chuyên ngành, như:
ý cho Việt Nam, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25 (2009)
Bài viết tổng kết về các tranh chấp xảy ra trong WTO về hàng dệt may và trên
cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: chủ động khởi kiện nếu thấy hàng dệt may bị bán phá giá trên thị trường nội địa, tích cực theo kiện, giải quyết tranh chấp không thông qua Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; nghiêm chỉnh thực hiện các phán quyết của Cơ quan Giải quyết tranh chấp của WTO
chuỗi giá tri ̣ cho viê ̣c nâng cấp ngành dê ̣t may Viê ̣t Nam , Tạp chí Khoa học và Công
nghê ̣, Đa ̣i ho ̣c Đà Nẵng, số 2/ 2010
Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ
định chiến lược nâng cấp ngành - Được hiểu như là việc dịch chuyển các hoạt động nhằm mang lại giá trị cao hơn Giá trị cao hơn có thể đạt được hoặc bằng cách dịch chuyển sang các sản phẩm có giá trị cao hoặc bằng cách tăng cường thêm các chức năng mới trong chuỗi giá trị như tham gia vào khâu thiết kế và marketing…
Các công trình, bài viết trên đã đề cập một cách khái quát về hoạt động xuất khẩu
Trang 14hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung, thị trường Liên minh Châu
Âu nói riêng Song, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,
có hệ thống, cả về lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng này trong thời gian tới
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu
qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hội nhập WTO
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt
Nam
+ Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu
hàng dệt may và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong những năm gần đây, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy v ật biện chứng,
Trang 15Viê ̣t Nam và kinh n ghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu sang EU;
Phương pháp phân tích SWOT trong đánh giá chung năng lực ca ̣nh tranh hàng
dê ̣t may Viê ̣t Nam xuất khẩu sang EU đồng thời chỉ ra những cơ hô ̣i và thách thức trong phân tích triển vo ̣ng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU;
Mô hình kim cương của M Porter trong phân tích thực tra ̣ng năng l ực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU;
Phương pháp phân tích chuỗi giá tri ̣ ; Nghiên cứu so sánh; Thống kê học để xử
lý số liệu, kết hợp phương pháp phân tích dự báo triển vo ̣ng xu ất khẩu hàng dệt may
6 Như ̃ng đóng góp mới của luận văn
- Khái quát hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu
tranh xuất khẩu của sản phẩm dê ̣t may và bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam
sản phẩm dệt may Việt Nam từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay , từ đó thấy được những mă ̣t tồn ta ̣i và ha ̣n chế trong thời gian qua và mô ̣t số vấn đề đă ̣t ra trong thời gian tới
dê ̣t may xuất khẩu của Viê ̣t Nam sang thi ̣ trường EU trong thời gian tới
7 Bố cu ̣c của luâ ̣n văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của hàng hóa và kinh nghi ệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu sang EU
Trang 16 Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hô ̣i nhâ ̣p WTO
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của
Trang 17CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG EU
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA 1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.1.1 Các quan niệm về cạnh tranh
Lý luận về cạnh tranh được nhiều tác giả nghiên cứu và trình bày dưới nhiều góc
độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, cụ thể và rõ ràng về cạnh tranh
Khi bàn về cạnh tranh, trong tác phẩm “The Wealth of Nations”, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác Nếu chỉ có mục đích lớn lao nhưng không có động lực thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào Như vậy có thể hiểu rằng cạnh tranh có thể khơi dậy được nỗ lực chủ quan của con người, làm tăng của cải của nền kinh tế quốc dân
Trong tác phẩm “Tư bản”, Karl Marx cho rằng cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch Karl Marx đã trọng tâm nghiên cứu về cạnh tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng Những cuộc ganh đua giữa các nhà tư bản diễn ra dưới ba góc độ: Cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm thu được giá trị thặng
dư siêu ngạch; Cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hóa; Cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lưu động của tư bản nhằm phân chia giá trị thặng dư Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh việc quyết
Trang 18định giá trị, thực hiện giá trị và phân phối giá trị thặng dư Như vậy cạnh tranh kinh tế
là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa những người sản xuất hàng hóa dựa trên những thực lực kinh tế của họ
Theo cuốn từ điển bách khoa của Liên Xô, Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva xuất bản năm 1978, thì cạnh tranh là cuộc đấu tranh đối kháng giữa các nhà sản xuất hàng hóa nhằm giành điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận tối đa Theo cuốn từ điển kinh doanh của Graham Banock và Evan Davis, Nhà xuất bản Bloomberg Press (Mỹ) xuất bản năm 2003, cạnh tranh trong cơ chế thị trường thường được định nghĩa là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, cạnh tranh được định nghĩa là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã có sự thay đổi về tư duy, quan niệm và cách thức đối xử với cạnh tranh Trong Văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng
đã chỉ rõ: Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và văn minh Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau
Như vậy, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa
và thu được lợi nhuận cao, đồng thời tạo ra điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển Cạnh tranh có thể đem lại lợi ích cho cá nhân, doanh nghiệp này nhưng gây thiệt hại cho các nhân, doanh nghiệp khác Song, xét dưới giác độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có
Trang 19tác động tích cực, là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển được, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải luôn luôn nâng cao sức cạnh tranh của mình để giành được ưu thế tương đối
so với đối thủ Doanh nghiệp nào không sẵn sàng cho sự cạnh tranh hoặc tự thỏa mãn với bản thân thì sẽ loại mình ra khỏi cuộc chơi
1.1.1.2 Các quan niệm về năng lực canh tranh của hàng hóa
Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường thì có cạnh tranh giữa các cá nhân, các doanh nghiệp và cạnh tranh trong nền kinh tế Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành được lợi thế về mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là sức cạnh tranh của chủ thể đó hoặc năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh của chủ thể đó Khi muốn có được khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó nói chung, hàng dệt may nói riêng trên thị trường, mà hàng hóa này phải thuộc một doanh nghiệp nào đó, một nước nào đó thì người ta cũng dùng thuật ngữ
“năng lực canh tranh của hàng hóa”, đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa với
Xét sức cạnh tranh hàng hóa ở giác độ quốc gia: Theo Ủy ban canh tranh công nghiệp Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ cạnh tranh trong điều kiện thị trường tự do và công bằng trên phạm vi thế giới, quốc gia có thể sản xuất các hàng hóa
và dịch vụ không những đáp ứng được nhu cầu khách hàng trong nước mà còn đáp ứng
Trang 20nhu cầu khách hàng trên thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997, cạnh tranh của một quốc gia được hiểu là khả năng của quốc gia đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống của người dân, có nghĩa là đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của thu nhập bình quân trên đầu người theo thời gian Sức cạnh tranh của quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì được mức tăng trưởng cao trên
cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác WEF
đã sử dụng mô hình tuyến tính đa nhân tố với 250 chỉ số để đánh giá sức cạnh tranh của một số quốc gia và chúng được chia thành 8 nhóm: độ mở cửa, vai trò của chính phủ, tài chính, công nghệ, kết cấu hạ tầng, quản trị, lao động và thể chế Như vậy có thể đưa ra khái niệm chung nhất về sức cạnh tranh của một quốc gia như sau: Sức cạnh tranh của quốc gia là khả năng đáp ứng được các yêu cầu thay đổi của thị trường, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững
Theo quan điểm của giáo sư Michael Porter, Đại học Harvard - Mỹ đưa ra năm
1993, sức cạnh tranh của hàng hóa của một quốc gia là khả năng đạt được năng suất lao động cao và tạo cho năng suất này tăng không ngừng Ông đề cao vai trò của doanh nghiệp trong cạnh tranh quốc gia và cho rằng năng suất lao động trong một quốc gia phụ thuộc vào khả năng của từng doanh nghiệp của quốc gia đó đạt được các mức năng suất cụ thể và tăng được mức năng suất đó như thế nào Muốn duy trì và nâng cao được năng suất lao động, từng doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kỹ thuật, hạ thấp chi phí, bổ sung các đặc điểm cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong và ngoài nước Sức cạnh tranh của hàng hóa xét dưới giác độ một ngành hay một doanh nghiệp, theo M Porter, một quốc gia có sức cạnh tranh cao về một mặt hàng nào đó khi các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó có sức mạnh cạnh tranh và sức
Trang 21mạnh đó là năng suất lao động cao hơn Với cách tiếp cận như vậy, M Porter đã đưa ra khuôn khổ các yếu tố tạo nên môi trường cạnh tranh của một ngành mà ông gọi là
“khối kim cương” các lợi thế cạnh tranh Các nhóm yếu tố bao gồm (i) nhóm các điều
kiện về nhân tố sản xuất; (ii) nhóm các điều kiện về cầu; (iii) nhóm các điều kiện về các ngành phụ trợ và các ngành liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế; (iv) nhóm chiến lược, cơ cấu của ngành và đối thủ cạnh tranh Cũng theo quan điểm của M Porter, trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ ngành nào, công ty nào trong quá trình hoạt động cũng đều chịu sức ép cạnh tranh Sức cạnh tranh của ngành, của công ty phụ thuộc vào năm yếu tố, đó là: (i) sức mạnh đàm phán của người cung cấp; (ii) sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng; (iii) sự đe dọa của các sản phẩm và dịch vụ thay thế; (iv) sức ép đàm phán của người mua và (v) sức ép của các đối thủ cạnh tranh trong
nộ bộ ngành Ngoài ra, nhiều công ty áp dụng mô hình SWOT (điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và nguy cơ) để phân tích cạnh tranh của công ty Mục đích của việc phân tích này là sự phối hợp logic các mặt mạnh, mặt yếu với các cơ hội và nguy cơ thích hợp để đưa ra các phương án, chiến lược tốt nhất Bằng cách phối hợp đó, công ty có thể giảm thiểu được các mặt yếu, tránh được các nguy cơ đồng thời phát huy được điểm mạnh, tận dụng được mọi cơ hội đến với mình Như vậy, sức cạnh tranh của ngành hay của doanh nghiệp được hiểu là năng lực duy trì hay tăng được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước
Về thể hiện sức cạnh tranh của hàng hóa cũng có nhiều quan điểm khác nhau Theo giáo sư Keinosuke Ono, Đại học Keio - Nhật Bản và giáo sư Tatsuyuki Negoro, Đại học Waseda - Nhật bản cho rằng sản phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong đó yếu tố cơ bản nhất là chất lượng sản phẩm Theo giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Đại học Quốc gia Hà Nội sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại một giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn
để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
Trang 22Như vậy, có thể thấy rằng một hàng hóa được coi là có sức cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với các hàng hóa cùng loại Hay nói cách khác, sức cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà hàng hóa đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với hàng hóa đó trên thị trường, là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng Tuy nhiên, sẽ không có sức cạnh tranh của hàng hóa cao khi sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành sản xuất, của quốc gia kinh doanh hàng hóa đó thấp
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.2.1 Doanh thu hay kim ngạch xuất khẩu
Mức doanh thu của hàng dệt may xuất khẩu là tiêu chí quan trọng, mang tính tuyệt đối dễ xác định nhất để đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Hàng hóa có sức cạnh tranh cao sẽ dễ dàng bán được trên thị trường, doanh thu sẽ tăng lên Ngược lại, hàng hóa có sức cạnh tranh yếu sẽ có doanh thu nhỏ Nếu cơ hội được lựa chọn sản phẩm tiêu dùng như nhau thì doanh thu là tiêu chí phản ánh chính xác mức độ thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu khác nhau của khách hàng đối với sản phẩm
Thông thường, khi doanh thu xuất khẩu của một loại sản phẩm dệt may nào đó đạt
ở mức cao và có mức tăng trưởng đều đặn qua các năm trên thị trường thì chứng tỏ sản phẩm đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, được thị trường chấp nhận Mức độ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa cao hơn Ngược lại, nếu nhu cầu thị trường đang tăng lên, nhưng doanh thu cung ứng loại hàng dệt may đó không có mức tăng trưởng đều đặn hoặc suy giảm thì chứng tỏ sức cạnh tranh của hàng hóa đó chưa cao Tăng doanh thu của một mặt hàng dệt may phụ thuộc vào chất lượng, giá bán, và quá trình tổ chức tiêu thụ của mặt hàng
Trang 23Doanh thu của một mặt hàng dệt may được tính bằng công thức:
1.1.2.2 Thị phần hàng dệt may xuất khẩu
Mỗi loại hàng dệt may thường có những khu vực thị trường riêng với số lượng khách hàng nhất định Khi hàng hóa đảm bảo được yếu tố bên trong như có chất lượng tốt hơn, giá cả thấp hơn,…và có được những yếu tố bên ngoài thuận lợi như có hội kinh doanh xuất hiện, công tác xúc tiến bán hàng hiệu quả, thương hiệu sản phẩm mạnh, kênh phân phối được mở rộng,…sẽ làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và
mở rộng thị trường tiêu thụ, buộc đối thủ cạnh tranh phải nhường lại từng thị phần đã
bị chiếm lĩnh Để có thể duy trì và chiếm lĩnh thị trường, sự có mặt kịp thời của hàng hóa trên thị trường đáp ứng đòi hỏi của khách hàng là yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Sự có mặt kịp thời phải thể hiện ở: (i) yếu tố thời gian- đảm bảo hàng hóa được cung cấp trên thị trường luôn đi trước một bước so với đối thủ cạnh tranh, nhằm tạo ra sự khác biệt trên thị trường; (ii) yếu tố không gian đảm bảo sự lựa chọn thị trường xuất khẩu phù hợp, bao gồm một lượng khách hàng lớn có nhu cầu
và thị hiếu tiêu dùng của họ phù hợp với sản phẩm dệt may của mình trên thị trường Vấn đề nghệ thuật tổ chức mạng lưới, chi nhánh và sự bày trí các cơ sở buôn bán, các cửa hàng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường để thu hút được khách hàng với quy mô lớn
là nhân tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường
Trang 24Thị phần của hàng dệt may xuất khẩu trên thị trường thường được tính theo công thức sau:
Trong đó:
MS: Thị phần của hàng hóa
M: Tổng số lượng hàng hóa cùng loại được tiêu thụ trên thị trường
Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh sức cạnh tranh của một mặt hàng và vị trí của quốc gia trên thị trường thế giới Một mặt hàng có thị phần càng lớn trên thị trường thì mặt hàng đó càng có sức cạnh tranh cao, tiềm năng cạnh tranh lớn Ngược lại, một mặt hàng có thị phần nhỏ hay giảm sút trên thị trường thì mặt hàng đó có sức cạnh tranh yếu, khả năng ảnh hưởng của mặt hàng đối với thị trường là rất kém
1.1.2.3 Chi phí sản xuất và giá hàng dệt may xuất khẩu
a Chi phí sản xuất hàng dệt may xuất khẩu
Cạnh tranh về chi phí sản xuất hàng dệt may là xuất phát điểm và là điều kiện cần
để một sản phẩm có thể duy trì được trên thị trường quốc tế Thước đo của nó là chi phí
và giá cả trên một đơn vị sản phẩm có tính đến chất lượng sản phẩm Nguồn gốc của khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm là lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó Khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của tất cả các khâu, bao gồm sản xuất, thu mua, vận chuyển, chế biến, kho bãi, cầu cảng, vận chuyển quốc tế để tạo ra và đưa sản phẩm đó đến thị trường quốc tế Sự bất cập, không hiệu quả trong bất cứ khâu nào cũng sẽ làm gia tăng chi phí và làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Khả năng cạnh tranh về chi phí chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ đối với việc duy trì và mở rộng thị phần bởi sức cạnh tranh của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng tiếp thị thông tin,
M
Trang 25năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, năng lực marketing quốc tế, khả năng đối phó với rủi ro,…
Chi phí nguồn lực trong nước (Domestic Resource Cost-DRC) của một sản phẩm
là chỉ số thường dùng để đo sức cạnh tranh của sản phẩm trong trường hợp không có những sai lệch về giá cả do những can thiệp về chính sách Ý nghĩa của DRC phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một hàng hóa nào đó DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đôla thu được từ sản phẩm đem bán Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là cần một lượng nguồn lực trong nước nhỏ hơn 1 để tạo ra được 1 đồng giá trị gia tăng theo giá quốc tế, khi đó sản phẩm có lợi thế cạnh tranh DRC lớn hơn 1 có nghĩa là cần một lượng nguồn lực trong nước lớn hơn 1 để tạo ra được 1 đồng giá trị gia tăng theo giá quốc tế
và như vậy sản phẩm không có lợi thế cạnh tranh
DRC được tính theo công thức sau:
Trong đó:
j=1,…,k: Đầu vào khả thương
j=k+1,…,n: Nguồn lực nội địa và các đầu vào trung gian bất khả thương
thương
Trang 26b Giá hàng dệt may xuất khẩu
Trong nền kinh tế thị trường, việc xác định giá cả của sản phẩm chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau như chi phí cho sản phẩm, nhu cầu thị trường về sản phẩm, mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, các quy định của chính phủ về pháp luật và thuế quan, cách tiếp thị và bán sản phẩm,…
Không hẳn với một loại sản phẩm cùng loại, chất lượng tương đương, sản phẩm nào có giá thấp hơn sẽ có tính cạnh tranh cao hơn Giá cao có thể biểu hiện sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích và họ sẵn sàng trả giá cao để tiêu dùng sản phẩm đó Trong một thị trường có sự cạnh tranh của hàng dệt may các nước thì khách hàng có quyền lựa chọn cho mình sản phẩm tốt nhất mà mình ưa thích và cùng một loại sản phẩm thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn sản phẩm có giá bán thấp hơn Giá bán của một đơn
vị hàng hóa (chưa kể đến yếu tố thị trường) phản ánh giá trị kinh tế của sản phẩm Giá bán hàng hóa cao sẽ là cơ hội để nâng cao giá trị của hàng hóa như vậy nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việc tăng giá bán của một đơn vị sản phẩm dệt may phụ thuộc vào việc gia tăng các công đoạn của quá trình thiết kế, sản xuất Những công đoạn thiết kế, sản xuất càng sâu càng đòi hỏi công nghệ sản xuất cao thì giá trị kinh tế của hàng dệt may có chất lượng cao và giá bán càng cao
Hệ số đo sức cạnh tranh về giá được tính theo công thức:
Trong đó:
W: Tỷ lệ chi phí của đầu vào trung gian trong tổng giá trị sản phẩm đầu ra
1.1.2.4 Chất lượng hàng dệt may xuất khẩu
Chất lượng của hàng dệt may thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian sử dụng của sản phẩm Trong xã hội phát triển, yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, quốc gia là phải cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngày càng khắt
Trang 27khe của người tiêu dùng Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm và dịch vụ cùng loại nhưng có chất lượng cao hơn Do vậy, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là tiêu chí quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới, hàng dệt may sản xuất ra muốn tiêu thụ được phải đảm bảo được chất lượng theo chuẩn mực và chất lượng vượt trội Hàng dệt may đó phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng chuẩn mực theo các tiêu chuẩn ISO quốc tế và phải được các tổ chức quốc tế xét duyệt
và cấp chứng chỉ ISO Chất lượng vượt trội được hiểu là sản phẩm phải luôn được đổi mới, cải tiến để tạo ra sự khác biệt so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trên thị trường, là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm Đồng thời sự đổi mới của sản phẩm phải luôn gắn chặt với sở thích và đảm bảo đủ độ tin cậy cho người tiêu dùng
Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranh không chỉ bằng chất lượng mà còn gắn với các yếu tố về môi trường và an toàn sản phẩm Để có thể cạnh tranh được trên các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản các mặt hàng dệt may vừa phải đáp ứng các nhu cầu về chất lượng, vừa phải thỏa mãn các yêu cầu liên quan đến đảm bảo an toàn sức khỏe cho con người, các quy định về bảo vệ môi trường
và các điều kiện tiêu chuẩn đối với cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu
1.1.2.5 Thương hiệu và uy tín hàng dệt may xuất khẩu
Thương hiệu và uy tín của hàng dệt may chính là sự tổng hợp các thuộc tính của sản phẩm như chất lượng, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm Thương hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản rất có giá trị của doanh nghiệp,
là uy tín và thể hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm
Ngày nay, phần lớn các hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế đều có gắn thương hiệu Thương hiệu của hàng hóa đã trở thành tài sản vô cùng quý giá và là vũ khí quan trọng trong cạnh tranh Thương hiệu của một mặt hàng dệt may nào đó càng
Trang 28nổi tiếng, mạnh thì sức cạnh tranh của mặt hàng đó càng lớn Điều đó có nghĩa là, nếu một sản phẩm nào đó đã có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêu dùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh
Đó chính là giá trị vô hình của thương hiệu hàng dệt may đã tạo ra sự khác biệt của sản phẩm đối với khách hàng
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt, muốn đứng vững được trên thị trường buộc các doanh nghiệp phải tạo dựng cho hàng dệt may của mình một thương hiệu mạnh, một thương hiệu có tên tuổi trong lòng khách hàng Đó là một trong các tiêu chí quan trọng để đánh giá sức canh tranh và sự tồn tại của hàng xuất khẩu trên thị trường
1.1.2.6 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may
Các phương thức xuất khẩu khác nhau đòi hỏi doanh nghiệp cần có những năng lực khác nhau về tài chính, thiết kế, hậu cần và khả năng chịu đựng rủi ro Doanh nghiệp cần phải xác định mình có khả năng hoặc mong muốn thực hiện phương thức xuất khẩu nào để xuất khẩu sang thị trường EU Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
có thể áp dụng 2 phương thức xuất khẩu: Gia công hàng xuất khẩu/CMT và FOB Trong đó, CMT (Cut - Make – Trim) là một phương thức xuất khẩu, theo đó các khách mua, các đại lý mua hàng và các tổ chức mua hàng ở Châu Á cung cấp cho doanh nghiệp Việt Nam toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm, bao gồm mẫu thiết kế, nguyên liệu, vận chuyển và các nhà sản xuất Việt Nam chỉ cần thực hiện việc cắt, may và hoàn thiện sản phẩm CMT là phương thức xuất khẩu đơn giản nhất và chỉ đòi hỏi doanh nghiệp cần có khả năng sản xuất và một chút khả năng thiết kế để thực hiện mẫu sản phẩm; FOB là một phương thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với CMT Theo phương thức FOB, các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện việc mua nguyên liệu Thuật ngữ
“FOB” trong ngữ cảnh này được hiểu là một hình thức sản xuất/phân phối hàng dệt may và thực tế không liên quan tới định nghĩa của Incoterm (Các Điều khoản thương mại quốc tế) Các hoạt động theo phương thức FOB thay đổi đáng kể dựa theo các
Trang 29hình thức quan hệ hợp đồng thực tế giữa doanh nghiệp Việt Nam với các khách mua
nước ngoài và được chia thành 3 loại: FOB loại I, theo đó các doanh nghiệp Việt Nam
thu mua nguyên liệu đầu vào từ các nhà cung cấp do khách mua nước ngoài chỉ định Phương thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải chịu thêm trách
nhiệm về tài chính để thu mua nguyên liệu và vận chuyển; FOB loại II, theo đó các
doanh nghiệp Việt Nam nhận mẫu hàng từ các khách mua nước ngoài Theo phương thức này, các doanh nghiệp Việt Nam được cung cấp mẫu thiết kế và chịu trách nhiệm tìm nguồn nguyên liệu, sản xuất và vận chuyển nguyên liệu & thành phẩm tới cảng của
khách mua; FOB loại III, theo đó các doanh nghiệp Việt Nam tự thực hiện sản xuất
hàng may mặc theo thiết kế riêng của mình và không phải chịu ràng buộc bởi bất kỳ cam kết trước nào với các khách mua nước ngoài Để có thể thực hiện thành công hoạt động sản xuất theo phương thức này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải có
khả năng thiết kế, marketing và hậu cần
Dựa vào những phân tích về các phương thức sản xuất trên, có thể xác định được khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp chỉ có thể sản xuất theo phương thức gia công CMT và FOB loại I, khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp chủ yếu là các đại lý mua hàng hoặc các tổ chức mua hàng ở Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và Thái Lan Nếu doanh nghiệp có thể sản xuất theo phương thức FOB loại II, khách hàng trực tiếp có thể bao gồm cả các khách mua quốc tế ở Liên minh châu Âu (EU), các tổ chức mua hàng hoặc đại lý mua hàng ở Châu Á Theo phương thức FOB loại III, các khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp chủ yếu là các khách mua tại EU
1.1.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.3.1 Nguồn cung ứng đầu vào
Nguồn cung ứng đầu vào được đề cập đến bao gồm nhiều yếu tố tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh và chi phối rõ nét tới giá thành và chất lượng sản phẩm Đây
là yếu tố thể hiện sự liên kết chặt chẽ hay thiếu chặt chẽ giữa các ngành sản xuất trong một quốc gia bởi sản phẩm của ngành công nghiệp này sẽ là vật tư, nguyên phụ liệu
Trang 30của một ngành công nghiệp khác Do vậy, giá cả và chất lượng của chủng loại sản phẩm do ngành này sản xuất sẽ chi phối tới giá thành và chất lượng sản phẩm của
ngành khác có sử dụng chúng làm yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất của mình
Chính vì vậy, nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào là nhân tố đặc biệt quan trọng tác động tới khả năng cạnh tranh của một chủng loại hàng hóa Nếu các ngành cung ứng các yếu tố đầu vào phát triển và có sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc cung ứng các yếu tố đầu vào sẽ khuyến khích các ngành này nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm từ đó tác động tích cực tới chất lượng, giá thành sản xuất và khả năng cạnh tranh các ngành sử dụng các yếu tố đầu vào đó
1.1.3.2 Nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu và triển khai (R &D)
Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Lao động còn
là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Do vậy, trình độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Đây là một yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế, cải tiến…
Vấn đề lao động còn bao gồm trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp, không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng đến kiến thức về xã hội, nhân văn Trình độ, năng lực quản lý doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp Điều này có ý nghĩa lớn trong việc
Trang 31nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cùng với việc đào tạo nhân lực, tổ chức lao đông hiệu quả, hoạt động nghiên cứu
và triển khai đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu
tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và triển khai có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóa sản xuất Thông qua nghiên cứu và triển khai, doanh nghiệp sẽ hoàn thiện các sản phẩm đã có và tung ra thị trường những sản phẩm mới với nhiều tính năng, mẫu mã và kiểu dáng độc đáo, tạo nên sức cạnh tranh nhờ sự khác biệt, từ đó chiếm lĩnh thị trường, vượt lên đối thủ cạnh tranh trong ngành Đồng thời do chi phí nhập ngành lớn nên các hãng đi sau khó tham gia hơn, tạo
được “lợi thế của người đi trước” cho doanh nghiệp
1.1.3.3 Năng lực marketing và chất lượng dịch vụ, phục vụ của doanh nghiệp
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt và có nhiều yếu tố rủi ro, marketing đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P trong hoạt động marketing: Product (sản phẩm); Place (kênh phân phối); Price (giá cả); Promotion (xúc tiến hỗn hợp) Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Vì vậy, điều tra nhu cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp để có thể lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người sử dụng chấp nhận
Trang 32Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càng cao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu uy tín, có chất lượng dịch vụ, phục vụ tốt Do đó, nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ vượt trội
so với các đối thủ cạnh tranh là yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may trong xu thế hội nhập
Thứ nhất là, những dịch vụ, phục vụ để chuẩn bị tung sản phẩm cạnh tranh ra thị trường, bao gồm tổ chức và đa dạng hóa các hình thức cung ứng dịch vụ xuất khẩu hàng hóa, tổ chức các hình thức dịch vụ quảng cáo, bao bì, mẫu mã, đóng gói sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng Cần phải cố gắng tạo ra những nét độc đáo riêng
có trong dịch vụ cung cấp cho khách hàng
Thứ hai là, các dịch vụ nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ đối tác lâu dài giữa nhà cung cấp với khách hàng và thị trường Cần phải thực hiện các dịch vụ sau bán hàng, thu thập, phân tích, dự báo và cung cấp kịp thời và chính xác những thông tin về thị trường hàng dệt may cho khách hàng
Ngoài ra, trình độ phát triển các dịch vụ thương mại bao gồm các hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, hệ thống chợ, trung tâm giao dịch và cơ sở hạ tầng liên quan đến chi phí lưu thông hàng dệt may xuất khẩu bao gồm cơ sở hạ tầng giao thông, cơ sở thông tin liên lạc, thông tin thị trường cũng có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng dệt may
1.1.3.4 Trình độ thiết bị, công nghệ
Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của khoa học công nghệ là không thể phủ nhận,
nó được coi là lực lượng trực tiếp trong quá trình sản xuất, đóng góp khoảng 60% trong tăng năng xuất lao động Thông thường yếu tố trang thiết bị, công nghệ được thể hiện
trên hai mặt Thứ nhất là trình độ kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp và khả năng có được các công nghệ tiên tiến, phù hợp Thứ hai là quy mô và năng lực sản xuất tức là
khả năng tiếp nhận và khai thác các công nghệ hiện đại đã có trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao, giảm chi phí cố định, hạ giá thành sản phẩm
Trang 33Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm của doanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp
1.1.3.5 Các chính sách hỗ trợ của nhà nước
Trong điều kiện hội nhập, các chính sách hỗ trợ của nhà nước cũng như của nước ngoài đều có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Các chính sách hỗ trợ của nhà nước có tác động lớn đến sức cạnh tranh của hàng dệt may quốc gia Các chính sách đúng đắn, phù hợp sẽ tạo điều kiện cho sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may phát triển nhanh Ngược lại, chính sách không đúng đắn sẽ là một lực cản rất lớn đối với sự phát triển của sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Hệ thống các chính sách có tác động đến sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu bao gồm chính sách phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư, tín dụng, thuế, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, quy hoạch sản xuất Các chính sách hỗ trợ của nước ngoài về bảo
hộ hàng dệt may của nước họ cũng có tác dụng hạn chế nhập khẩu hàng dệt may từ bên ngoài Mặc dù chủ trương tự do hóa thương mại theo tinh thần của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhưng cho đến nay, nhiều thành viên có nền kinh tế phát triển như EU, Mỹ vẫn chi ra những khoản tiền rất lớn để trợ cấp hàng dệt may xuất khẩu cùng với những quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn sức khỏe và bảo
vệ môi trường đã gây khó khăn cho hàng dệt may của nước ngoài thâm nhập thị trường các nước và khu vực này, trong đó có hàng dệt may Việt Nam
1.1.3.6 Môi trường quốc tế
Môi trường quốc tế có tác động rất lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường thế giới với các biểu hiện như xu hướng đối thoại và hợp
Trang 34tác giữa các quốc gia, tốc độ toàn cầu hóa, sự hình thành và phát triển của các liên kết khu vực, vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ thúc đẩy
sự hợp tác cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước và khu vực trên thế giới Quan hệ kinh tế thương mại không ngừng mở rộng và phát triển theo hướng tự
do hóa hoạt động thương mại trên cơ sở cạnh tranh công bằng, không phân biệt đối xử Các liên kết kinh tế khu vực hình thành và phát triển góp phần khai thác hiệu quả chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất trên phạm vi toàn cầu, nâng cao chất lượng và
hạ giá thành sản phẩm
Trong giai đoạn hiện nay, các TNCs trở thành chủ thể quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế Trên 90% thành tựu của khoa học thế giới thuộc quyền sở hữu của các TNCs hoặc do các TNCs thực hiện Với hoạt động đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và triển khai, các TNCs đã đóng góp không nhỏ thúc đẩy và hỗ trợ sự phát triển của nền khoa học công nghệ thế giới với các hoạt động đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực điều đó đã tác động tích cực tới việc tăng cường khả năng cạnh tranh của các công
ty, doanh nghiệp trong quá trình tiếp thu và khai thác những thành tựu mà cuộc cách mạng khoa học công nghệ mang lại
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với Việt Nam
Thực tế cho thấy xuất khẩu hàng dệt may đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong thời gian qua Điều này biểu hiện trên các mặt như góp phần tăng thu nhập, tạo nguồn ngoại tệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, thiếu ngoại tệ, thì xuất khẩu hàng dệt may càng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ và vật tư cần thiết cho sự phát triển kinh tế đất nước Không chỉ
có những đóng góp về mặt kinh tế, vai trò của ngành công nghiệp dệt may về mặt xã
Trang 35hội cũng rất lớn Ngành dệt may đã góp phần tạo công ăn việc làm cho trên 02 triệu lao động, cải thiện đời sống người công nhân, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, làm
cơ sở cho nền kinh tế cất cánh Vai trò chủ đạo của ngành công nghiệp dệt may đối với quá trình công nghiệp hoá của các nước đã được chứng minh ngay trong lịch sử phát triển kinh tế của nhiều quốc gia công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản
và Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NIEs)
Tăng cường xuất khẩu hàng dệt may còn cho phép khai thác lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với nguồn lực lao động dồi dào và giá công lao động rẻ Ngành dệt may có đặc thù là sử dụng nhiều lao động vào quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, lao động Việt Nam nói chung, trong ngành dệt may nói riêng còn một số hạn chế về năng suất lao động, trình độ kỹ thuật còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật còn yếu, đòi hỏi cần phải có giải pháp khắc phục mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may là cơ
sở quan trọng để mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với nước ngoài, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự có mặt của hàng dệt may Việt Nam trong những năm vừa qua trên thị trường thế giới đã nói lên tầm quan trọng của hàng dệt may trong chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Song với thực trạng sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới là yêu cầu cấp thiết của Việt Nam hiện nay
1.2.2 Yêu cầu của thị trường EU
Liên minh Châu Âu là một tổ chức liên chính phủ của các nước Châu Âu Từ 6 thành viên ban đầu, hiện nay EU có 27 quốc gia thành viên EU có diện tích 4.422.773 km², dân số trên 495 triệu người, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) gần 15,7 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 27% GDP của toàn thế giới Kim ngạch xuất nhập khẩu của EU
Trang 36với các nước ngoài khối là 2.800 tỷ USD, chiếm 25% kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn cầu Hiện nay, EU là khối thương mại mở lớn nhất trên thế giới (chiếm 41% tổng giá trị thương mại thế giới) Việt Nam và EU khởi đầu quan hệ thương mại song phương bằng Hiệp định Dệt may ký năm 1992, cho phép hàng dệt và may mặc của Việt Nam tiếp cận thị trường EU Việt Nam luôn coi EU là thị trường lớn của thế giới
và đã có nhiều Hiệp định, nhiều cơ sở pháp lý cho quan hệ thương mại và sự hợp tác bền vững giữa hai bên Từ năm 2005 trở đi, hạn ngạch dệt may được xóa bỏ cho Việt Nam, cùng với việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang EU sẽ hứa hẹn nhiều cơ hội tăng trưởng hơn nữa Với ưu thế của một thị trường thống nhất, thực thi chính sách kinh tế thương mại chung, một đồng tiền chung; với sức mạnh kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ, EU trở thành mục tiêu đối ngoại của nhiều nước Hiện nay, về tổng thể, EU cũng như Mỹ
là những đối tác đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, nhưng EU vẫn là một trong những thị trường đầy tiềm năng của thế giới và khu vực Việt Nam xuất khẩu sang EU hầu hết là các sản phẩm: giày dép, dệt may, thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản, nông sản…
EU là một là một thị trường chất lượng cao và khó tính, luôn đòi hỏi khắt khe có tính bắt buộc theo luật pháp đối với hàng hóa nhập khẩu Với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng đến mức độ tối đa, EU không cho phép bất cứ mặt hàng kém chất lượng nào được nhập khẩu vào thị trường nội địa Điều này khác hẳn với thị trường các nước đang phát triển Sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EU phải đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật khắt khe như quy định về chất lượng, yếu tố môi trường và trách nhiệm xã hội EU hiện đang có đề xuất trong khuôn khổ WTO về dự thảo thỏa thuận qui định về nhãn mác đối với hàng dệt may, da giày Bên cạnh đó, năm 2008, EU đã quyết định đưa Việt Nam ra khỏi danh sách áp dụng Quy chế Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) đối với mặt hàng hàng dệt may của Việt Nam xuất sang EU giai đoạn 2009-
Trang 372012 Đây là những khó khăn không nhỏ nếu các doanh nghiệp không nhanh chóng chuẩn bị chiến lược cho việc nhận đơn hàng và sản xuất của mình
Dệt may là một trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và là mặt hàng mà thị trường EU có nhu cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng lớn Tuy nhiên, chất lượng hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này còn chưa đồng đều, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của đông đảo người tiêu dùng Châu Âu; các doanh nghiệp lại chưa có kinh nghiệm trên thương trường thế giới đặc biệt là thị trường
EU Khả năng mở rộng và phát triển xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU là rất lớn, vấn đề đặt ra là Việt Nam cần phải nhanh chóng giải quyết những tồn tại và khắc phục các mặt hạn chế đồng thời có biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường này
1.2.3 Những cơ hội, thách thức của hội nhập WTO đối với ngành dệt may
1.2.3.1 Những cơ hội, thuận lợi
Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết gia nhập WTO Ngành dệt may Việt Nam sẽ có cơ hội tận dụng được những điều kiện thuận lợi do những nguyên tắc và quy định của tổ chức này đem lại để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, mở rộng thị trường xuất khẩu và từng bước tham gia vào các chuỗi giá trị, dây chuyền cung cấp toàn cầu Cụ thể là:
Đối với xuất khẩu
Khi Việt Nam là thành viên WTO, các nước thành viên khác có nghĩa vụ dành cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sự đối xử bình đẳng (theo nguyên tắc Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia) Đối với ngành dệt may, điều này có nghĩa là:
+ Về số lượng xuất khẩu: Hạn ngạch vào các thị trường được dỡ bỏ, doanh nghiệp dệt may có thể tự do xuất khẩu theo nhu cầu thị trường;
Trang 38+ Về thuế quan: Theo nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN), hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu vào các nước thành viên WTO sẽ được áp dụng mức thuế tương tự như thuế đối với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước khác vào nước đó;
+ Về việc mua bán trên thị trường : Theo nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT), hàng dệt may Việt Nam khi nhập khẩu vào một nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình đẳng với hàng dệt may nội địa (về thuế, phí, lệ phí, các quy định liên quan đến việc bán hàng, cạnh tranh…)
Đối với sản xuất trong nước
Những thuận lợi từ việc xuất khẩu của hàng dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO được dự báo sẽ kéo theo dòng đầu tư nước ngoài (trực tiếp và gián tiếp) lớn hơn vào ngành dệt may và hạ tầng phục vụ sản xuất dệt may Điều này mang lại cho ngành nhiều lợi thế:
+ Khả năng cạnh tranh có thể được tăng cường (với việc bổ sung vốn cho các doanh nghiệp đang tồn tại và sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới);
+ Cơ hội tiếp cận kỹ năng quản lý và công nghệ kỹ thuật mới
Tuy nhiên, những lợi ích và cơ hội nói trên lớn chỉ ở dạng tiềm năng Việc biến các tiềm năng này thành lợi ích kinh tế thực sự phụ thuộc vào năng lực và sự chủ động của từng doanh nghiệp
1.2.3.2 Những khó khăn, thách thức
+ Thuế nhập khẩu hàng dệt may giảm, cạnh tranh trong nước gay gắt hơn
Dệt may là một trong những nhóm hàng hóa Việt Nam có cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu lớn nhất (mức thuế suất bình quân được cắt giảm từ 37,3% trước thời điểm gia nhập xuống còn 13,7%) và việc cắt giảm này được thực hiện ngay kể từ ngày 11/1/2007 Việt Nam cũng cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong Hiệp định dệt may (với mức giảm thuế lớn,
ví dụ thuế suất đối với vải giảm từ 40% xuống 12%, quần áo may sẵn giảm từ 50% xuống 20% và sợi giảm từ 20% xuống 5%)
Trang 39+ Với cam kết xóa bỏ các hình thức trợ cấp không được phép, ngành dệt may không còn được hưởng một số loại hỗ trợ như trước đây
Các hình thức hỗ trợ xuất khẩu và thưởng xuất khẩu từ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu; các biện pháp miễn giảm thuế hoặc tiền thuê đất gắn với điều kiện xuất khẩu; các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển đều bị bãi bỏ
Một số ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu dù vẫn được duy trì nhưng sẽ phải chấm dứt trước ngày 11/1/2012 (chỉ áp dụng đối với các ưu đãi đầu tư đã dành cho các dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt động trước ngày 11/1/2007)
+ Nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở các thị trường xuất
khẩu lớn hơn
Cùng dỡ bỏ các hạn ngạch xuất khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO, xuất khẩu dệt may Việt Nam vào các thị trường quan trọng được dự báo là sẽ gia tăng nhanh chóng Điều này có thể khiến nguy cơ hàng dệt may bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp,
tự vệ ở nước ngoài lớn hơn
Liên quan đến nguy cơ này, ngày 11/1/2007, Mỹ cũng chính thức bắt đầu Chương trình giám sát hàng dệt may Việt Nam nhằm theo dõi tình hình nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam vào Mỹ và sẵn sàng cho việc khởi xướng vụ điều tra chống bán phá giá nếu thấy có hiện tượng liên quan Chương trình này đã gây ra nhiều khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam (nhiều khách hàng lo ngại nguy cơ kiện chống bán phá giá có
xu hướng chuyển nhiều đơn hàng sang các nước khác)
Đây là những khó khăn mà doanh nghiệp dệt may thực tế phải đối mặt (không phải ở dạng tiềm năng như các cơ hội mà ngành này có thể được hưởng từ việc Việt Nam gia nhập WTO) Vì vậy, các doanh nghiệp cần có chính sách, biện pháp cụ thể nhằm chủ động, nhanh chóng khắc phục và vượt qua những khó khăn này
Lợi thế cạnh tranh chủ yếu hiện nay của ngành dệt may Việt Nam là chi phí lao động thấp Trong những năm qua ngành dệt may đã tận dụng và khai thác có hiệu quả lợi thế cạnh tranh này để không ngừng mở rộng thị trường Tuy nhiên, xét trong dài
Trang 40hạn ngành dệt may của Việt nam sẽ phải đối mặt với một số thách thức về khả năng cạnh tranh
+ Yếu tố cạnh tranh về giá nhân công sẽ mất dần cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, mặt bằng tiền lương trong trong xã hội đã được nâng lên
+ Tỷ lệ nội địa hoá của ngành dệt may tuy có cao hơn so với trước nhưng vẫn ở mức thấp (30%) Hàng năm, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn nguyên vật liệu và phụ kiện hàng dệt may từ bên ngoài Do đó ngành dệt may Việt Nam trở nên rất nhạy cảm trước các biến động bất lợi trên thị trường thế giới Đồng thời, do không chủ động được nguồn nguyên liệu nên nhiều doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình thế bị động trong việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu và phải đối mặt với nhiều rủi
ro tài chính (tỷ giá, lãi suất và lạm phát)
+ Ngành dệt may của Việt Nam chủ yếu là gia công hàng hóa và xuất khẩu qua nước thứ ba, nên hàm lượng giá trị gia tăng thấp Thương hiệu sản phẩm dệt may của Việt Nam vì thế chưa thực sự khẳng định được tên tuổi trên thị trường thế giới
+ Nguồn lao động chắc chắn sẽ bị chia sẻ, giá lao động sẽ tăng lên, cạnh tranh trong việc thu hút lao động cũng sẽ gay gắt hơn
+ Sẽ có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này, do vậy, sức ép
Như vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đã trở thành vấn đề hết sức bức xúc, khi quá trình hội nhập của Việt Nam đang trong giai đoạn có tính bước ngoặt như: Một loạt các cam kết trong WTO đã có hiệu lực; Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc; bên cạnh đó các nước trong khu vực đang đẩy mạnh cải cách, tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và thế giới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Chính vì vậy, hơn bao giờ hết vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là quan tâm số một của doanh nghiệp cũng như của Chính phủ