1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF

157 574 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quốc trong tiến trình gia nhập WTO 2.2.1 Mở rộng quyền hoạt động ngoại thương và phân cấp quản lý 2.2.4 Chính sách tỷ giá hối đoái và các biện pháp quản lý về giá 65 2.2.5 Một số cải các

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH

1.1 Cơ sở lý luận của chính sách tự do hoá thương mại ở

1.1.1 Lý thuyết thương mại quốc tế bàn về lợi ích từ thương mại tự

1.1.3 Tự do hoá thương mại: Khái niệm, trình tự, nội dung và các

1.2 Cơ sở thực tiễn của chính sách tự do hoá thương mại ở

1.2.1 Thương mại - điều kiện cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh

1.2.2 Toàn cầu hoá, khu vực hoá - xu thế phát triển chủ yếu của nền

mở cửa, tự do hoá thương mại của Trung Quốc 39

CHƯƠNG 2: TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TRONG TIẾN TRÌNH GIA

NHẬP WTO CỦA TRUNG QUỐC: NHỮNG THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH

46

2.1 Vài nét về chính sách thương mại của Trung Quốc trước

khi gia nhập WTO

46

2.1.1 Chính sách thương mại của Trung Quốc trước cải cách mở cửa

2.1.2 Chính sách thương mại của Trung Quốc từ 1978 đến 1986 49

2.2 Những thay đổi trong chính sách thương mại của Trung 51

Trang 2

Quốc trong tiến trình gia nhập WTO

2.2.1 Mở rộng quyền hoạt động ngoại thương và phân cấp quản lý

2.2.4 Chính sách tỷ giá hối đoái và các biện pháp quản lý về giá 65 2.2.5 Một số cải cách về thể chế khác liên quan đến yêu cầu của WTO 68

2.3 Tác động của việc thực hiện chính sách tự do hoá thương

mại của Trung Quốc đối với một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu

75

CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TỰ DO HOÁ THƯƠNG

MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH GIA NHẬP WTO

92

3.1 Những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về thực hiện

chính sách tự do hoá thương mại trong tiến trình gia nhập

WTO

92

3.2 Một số đề xuất đối với việc thực hiện chính sách tự do hoá

thương mại của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO 94

3.2.2 Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thuế quan 105

3.2.4 Hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái và các biện pháp quản lý

về giá

119

3.2.5 Thực hiện một số chính sách liên quan đến thương mại theo

quy định của WTO

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 ACV Hiệp định Định giá Hải quan

2 ADB Ngân hàng phát triển Châu á

3 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

4 AFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

5 APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á Thái Bình Dương

6 CEPT Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

9 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

10 GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

11 GDP Tổng Sản phẩm Quốc nội

12 GSP Hệ thống ưu đãi phổ cập

13 GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch

15 IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế

16 MFN Quy chế Tối huệ quốc

18 PSI Hiệp định về kiểm định hàng hoá trước khi xuống tàu

20 SCM Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

21 SEV Hội đồng Tương trợ kinh tế

22 SPS Hiệp định về vệ sinh dịch tễ

23 TBCN Tư bản Chủ nghĩa

24 TBT Hàng rào kỹ thuật

25 TNC Công ty Xuyên quốc gia

26 TRIMs Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

27 TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ sau năm 1978, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của Trung

Quốc đã có những thay đổi quan trọng - mở cửa ra bên ngoài được xác định là

chính sách quốc gia quan trọng nhất của Trung Quốc Chính sách cải cách, mở cửa của Trung Quốc đã thúc đẩy giao lưu kinh tế, kỹ thuật và văn hóa giữa Trung Quốc với thế giới, đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật, tích lũy kiến thức và duy trì sự phát triển bền vững của Trung Quốc

Cùng với các chính sách vĩ mô khác, chính sách cải cách, mở cửa đã không những giúp Trung Quốc có thể vượt qua cuộc khủng hoảng Tài chính Châu Á

(1997) và sự suy giảm kinh tế toàn cầu mà còn tạo điều kiện cho Trung Quốc đạt

được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định (9,9% trong giai đoạn 1978-1995;

8,3% giai đoạn 1995-2000 và từ 8,3%- 9% trong giai đoạn 2001-2005, năm 2005 đạt 9,8% - mức tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới); đưa Trung Quốc trở thành

nơi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất thế giới trong những năm

qua (năm 2001: 45,35 tỷ USD, năm 2002: 49,3 tỷ USD, năm 2003: 51 tỷ USD,

năm 2004: trên 60 tỷ USD, năm 2005: 65 tỷ USD) và nâng tổng kim ngạch thương

mại của Trung Quốc vượt mức 1.000 tỷ USD (năm 2004: 1.100 tỷ USD, năm

2005: 1.320 tỷ USD)

Trong những chính sách nằm trong kế hoạch cải cách, mở cửa của Trung

Quốc thì chính sách tự do hóa thương mại được đánh giá là một trong những

chính sách thành công nhất Dấu mốc thành công của chính sách tự do hóa thương

mại được thể hiện ở việc Trung Quốc đã trở thành thành viên chính thức của

WTO vào tháng 12 năm 2001

Sau khi gia nhập WTO, một mặt, Trung Quốc đã có thêm nhiều cơ hội để phát triển đất nước hơn nữa, mặt khác có thể thực hiện chính sách tự do hóa

thương mại của mình một cách sâu rộng hơn [Mức độ phụ thuộc vào ngoại thương (Ngoại thương/GDP) của Trung Quốc ngày càng lớn: Năm 2001 là 41,5%, năm

2002: 49,7%, năm 2003: 60,7%, năm 2004: 74,4% và năm 2005 là 81,3%]

Là một nước có rất nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc, Việt Nam cần nghiên cứu những bài học kinh nghiệm thực hiện chính sách tự do hóa thương mại

Trang 5

của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO để có thể thực hiện thành công chính sách tự do hoá thương mại trong tiến trình gia nhập WTO

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế ở cả những cơ quan làm công tác nghiên cứu lý luận lẫn các cơ quan chỉ đạo thực tiễn Đặc biệt, khi Trung Quốc trở thành thành viên chính thức

của WTO (tháng 12/2001) đã có khá nhiều sách, báo, tạp chí và bài nghiên cứu về

Trung Quốc cũng như vấn đề gia nhập WTO của Trung Quốc được đăng tải

Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- “Về cải cách và mở cửa của Trung Quốc” - Lý Thiết Ánh (2002), Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội - bao gồm một số bài viết về sự hình thành và đột phá quan trọng của lực lượng Kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc; một số vấn đề cải cách thể chế kinh tế và những kiến nghị về vấn đề cải cách, phát triển xã hội Trung Quốc

- “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992 -

2010” - Nguyễn Kim Bảo (2004), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - bàn về những

nhân tố đòi hỏi Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách kinh tế; một số nội dung trong chính sách điều chỉnh kinh tế Trung Quốc từ năm 1992 đến năm 2010 và tác động của việc điều chỉnh chính sách kinh tế Trung Quốc

- “Toàn cầu hóa kinh tế, lối thoát của Trung Quốc là ở đâu” - Lưu Lực

(2002), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - nghiên cứu, thảo luận các vấn đề của Trung Quốc trước xu hướng toàn cầu hoá kinh tế; đưa ra sách lược, chiến lược kinh tế thích hợp cho Trung Quốc về: chiến lược mở cửa, đầu tư ra nước ngoài, sắp xếp lại ngành nghề, gia nhập vào WTO, mở rộng thị trường trong nước

- “Kinh nghiệm Trung Quốc trong hoạt động ngoại thương kể từ năm

1979” - Zhang Yansheng và Zhang Liqing (2003) - giới thiệu về sự hình thành hệ

thống quản lý ngoại thương của Trung Quốc; sự tăng trưởng và cơ cấu của khu vực ngoại thương Trung Quốc; những thay đổi trong chính sách thương mại của Trung Quốc; ảnh hưởng của việc Trung Quốc gia nhập WTO và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 6

- “Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới: Thời cơ và thách

thức” - Võ Đại Lược (2004), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - giới thiệu tổng quan

về quá trình Trung Quốc đàm phán gia nhập WTO; phân tích những tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với Trung Quốc và đối với kinh tế Mỹ, Nhật Bản, EU và ASEAN; đưa ra những nhận xét và kiến nghị sau thực tế 2 năm Trung Quốc gia nhập WTO

- “Trung Quốc và WTO: Trung Quốc đang thay đổi, thương mại thế giới

đang thay đổi” - Supachai Panitchpakdi, Mark L Clifford (2003), Nxb Thế giới,

Hà Nội - viết về những nỗ lực của Trung Quốc trong quá trình gia nhập WTO và những thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt khi trở thành thành viên của WTO

- “Trung Quốc gia nhập WTO, kinh nghiệm đối với Việt Nam” - Đỗ Tiến

Sâm (2005), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - giới thiệu các bài viết về quan điểm của Trung Quốc trong việc gia nhập WTO, quá trình và nội dung đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc; tác động của việc gia nhập WTO đối với lĩnh vực kinh tế và đời sống của Trung Quốc; và những bài học kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo

- “Quá trình tự do hoá thương mại ở Trung Quốc” - Phạm Thái Quốc

(2002) - Những vấn đề kinh tế thế giới (số 3) - đề cập quá trình tự do hoá thương

mại ở Trung Quốc trong những năm qua với một số nội dung chính như: việc tăng thêm số lượng và loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân làm thương mại; việc giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; cải cách chính sách quản lý ngoại hối và tỷ giá hối đoái; những thay đổi trong chính sách giá cả; những kết quả, hạn chế và bài học từ quá trình tự do hoá thương mại ở Trung Quốc

Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu về những thành tựu và hạn chế của chính sách cải cách, mở cửa hội nhập của Trung Quốc trong thời gian qua; những cơ hội và thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt trong quá trình hội nhập vào WTO; xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc trong thời gian tới;

và việc thực hiện chính sách tự do hóa thương mại của Trung Quốc

Tuy nhiên, chưa có một công trình riêng nghiên cứu một cách hệ thống về

lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài luận văn:

Trang 7

“Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập

WTO”

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO và trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm; đồng thời đề xuất một số giải pháp để Việt Nam thực hiện thành công chính sách tự do hoá thương mại trong tiến trình gia nhập WTO

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách tự do hóa

thương mại của Trung Quốc;

Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chính sách

tự do hóa thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO;

Thứ ba, trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chính

sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; đồng thời, đề xuất một số giải pháp để Việt Nam thực hiện chính sách tự do hoá thương mại trong tiến trình gia nhập WTO

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn là quá trình thực hiện chính

sách tự do hóa thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO; trong

đó tập trung phân tích những điều chỉnh trong các công cụ, chính sách chủ yếu như: giảm thuế quan, các hàng rào phi thuế quan, chính sách ngoại hối, chính sách

tỷ giá… và một số cải cách về thể chế khác liên quan đến yêu cầu của WTO

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về chính sách tự do

hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO và giới hạn trong khoảng thời gian từ khi Trung Quốc đàm phán gia nhập WTO (1986) đến nay, trên cơ

sở có sự so sánh với các giai đoạn trước năm 1986 để đạt được mục tiêu nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu so sánh kết hợp với phân tích

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu tin cậy, cụ thể là các số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Bộ Thương mại Trung

Trang 9

Quốc (MOFCOM), Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC); số liệu thống kê của các tổ chức quốc tế như WB, WTO…; các công trình nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc, Việt Nam và quốc tế

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Luận văn dự kiến làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện chính sách tự do hóa thương mại của Trung Quốc; phân tích tiến trình thực hiện tự do hóa thương mại của Trung Quốc thông qua một số công cụ chính sách cụ thể; đồng thời, chỉ ra được những đặc điểm đặc thù của tiến trình này ở Trung Quốc

Thông qua việc phân tích tiến trình thực hiện chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc, luận văn đề xuất một số giải pháp chính để Việt Nam thực hiện thành công chính sách tự do hóa thương mại trong tiến trình gia nhập WTO

7 Bố cục của luận văn

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc

Chương 2: Tự do hoá thương mại trong tiến trình gia nhập WTO của Trung Quốc: Những thay đổi chính sách

Chương 3: Những bài học kinh nghiệm và một số đề xuất đối với việc thực hiện chính sách tự do hoá thương mại của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO

Trang 10

có thể là lấy chính sách thương mại tự do thay thế chính sách thương mại bảo hộ

Vậy chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc bắt nguồn từ những

cơ sở nào

Cơ sở lý luận của chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc chủ

yếu dựa trên những quan điểm của các trường phái lý thuyết thương mại quốc tế bàn về lợi ích từ thương mại tự do; từ mục đích và nội dung của chính sách thương mại và vấn đề bảo hộ; và từ chính khái niệm, trình tự, nội dung và các cấp độ của quá trình tự do hoá thương mại

Cơ sở thực tiễn của chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc xuất

phát từ vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia trong hoạt động kinh tế quốc tế; từ xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá; từ những thay đổi trong ưu thế cạnh tranh dưới tác động của khoa học và công nghệ; từ sự ra đời của WTO và những quy định cơ bản trong chính sách thương mại của WTO; từ sự thất bại của cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở một số nước và sự thành công của các mô hình hướng ngoại của các nước Đông Á; và từ những đổi mới về nhận thức, sự chuyển hướng chiến lược theo hướng mở cửa, tự do hoá thương mại của Trung Quốc

Trang 11

1.1 Cơ sở lý luận của chính sách tự do hoá thương mại ở Trung Quốc

1.1.1 Lý thuyết thương mại quốc tế bàn về lợi ích từ thương mại tự do

Ngay từ giữa thế kỷ XVI, trường phái Trọng thương đã chú ý tới vai trò quan trọng của ngoại thương trong việc làm tăng của cải quốc gia

Đến thế kỷ XVIII, đại biểu xuất sắc của kinh tế chính trị học cổ điển Anh -

Adam Smith đã đưa ra khái niệm lợi thế tuyệt đối để giải thích vai trò của ngoại

thương đối với sự phát triển của các quốc gia Ông cho rằng các nước trên thế giới buôn bán với nhau vì họ khác nhau và vì họ cùng có lợi Các nước khác nhau về điều kiện tự nhiên và địa lý Sự khác nhau này tạo nên lợi thế tuyệt đối của các quốc gia và là điều kiện để các nước tiến hành chuyên môn hoá vào việc sản xuất một số mặt hàng nhất định Nước có khoáng sản thì tập trung phát triển công nghiệp, còn nước có đất đai phì nhiêu thì nên sản xuất nông sản Khi đó, nhờ chuyên môn hoá sản xuất, sản lượng của cả hai loại hàng hoá tăng lên và thông qua trao đổi quốc tế cả hai bên đều có lợi

Ngoài những sự khác biệt về khả năng thiên nhiên và địa lý, các nước còn phân biệt với nhau bởi năng suất lao động, nhu cầu thị trường, khả năng cung ứng

và sử dụng các nguồn lực Để thể hiện đầy đủ sự khác biệt giữa các nước theo

những tiêu chí như vậy, các nhà kinh tế đã đưa ra quan điểm về lợi thế so sánh hay

lợi thế tương đối Quan điểm này được thể hiện thông qua nhiều mô hình khác

nhau, trong số đó phải kể đến mô hình của David Ricardo, mô hình các yếu tố chuyên biệt của Paul Samuelson và Ronald Jones, mô hình Heckscher - Ohlin

và mô hình thương mại chuẩn Những mô hình trên được coi là những mô hình

cơ bản để giải thích về nguồn gốc những lợi ích từ thương mại

Ra đời đầu thế kỷ XIX, mô hình D Ricardo được coi là mô hình đơn giản

nhất lý giải về nguồn gốc những lợi ích từ thương mại Mô hình này giả định rằng chỉ có một yếu tố duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất - đó là lao động và nó được di chuyển tự do từ ngành này sang ngành khác, các nước khác nhau chỉ vì năng suất lao động trong các ngành công nghiệp khác nhau và mức lợi tức không đổi theo quy mô Nếu không có thuế quan và chi phí vận chuyển không đáng kể, các nước thường xuất khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tương đối có hiệu quả và nhập khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả Điều đó hàm ý rằng

Trang 12

các nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất hay xuất khẩu các sản phẩm mà

họ làm ra với chi phí tương đối, hay chi phí cơ hội thấp hơn các nước khác Việc chuyên môn hoá sản xuất dựa trên cơ sở lợi thế so sánh giúp cho các nước có điều kiện trao đổi hàng hoá với nhau và làm cho họ cùng có lợi Những lợi ích từ thương mại được thể hiện thông qua việc mở rộng khả năng tiêu dùng của các bên trao đổi và nâng cao hiệu quả sản xuất Việc phân phối lợi ích từ thương mại giữa các bên tham gia là công bằng, vì nó dựa trên sự khác biệt về năng suất lao động giữa chúng với nhau

Thông qua mô hình của D Ricardo, chúng ta hiểu được tại sao thương mại lại xảy ra và nó có tác động như thế nào đối với phúc lợi quốc gia Song, nếu so sánh với thực tiễn thương mại quốc tế, mô hình này còn có nhiều hạn chế và đôi

khi còn đưa ra những phán đoán sai lệch Trước hết, việc chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn mà mô hình đòi hỏi là không thể có được trong thực tiễn Thứ hai, do

giả định rằng lao động có thể di chuyển tự do và không tốn kém giữa các ngành,

mô hình Ricardo đã đưa ra phán đoán không sát với thực tế rằng thương mại không

tác động lên sự phân phối thu nhập trong nội bộ các nước Và thứ ba, mô hình

Ricardo đã bỏ qua vai trò của lợi thế nhờ quy mô - một nguồn gốc của trao đổi quốc tế

Để góp phần khắc phục những hạn chế trong mô hình Ricardo, Paul Samuelson và Ronald Jones đã lý giải nguồn gốc của thương mại và các lợi ích tiềm tàng của nó thông qua mô hình các yếu tố chuyên biệt Mô hình này giả

định rằng có nhiều yếu tố khác ngoài lao động tham gia vào quá trình sản xuất, trong đó lao động là yếu tố linh hoạt, có nghĩa là nó có thể tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau, còn các yếu tố khác là chuyên biệt, tức chúng chỉ có thể tham gia vào một ngành sản xuất nhất định nào đó Với bất kỳ mức giá nào của sản

phẩm (tức không phải do người sản xuất quyết định), mô hình các yếu tố chuyên

biệt cho thấy sự có mặt của các yếu tố chuyên biệt trong quá trình sản xuất đã tạo điều kiện cho các nước có thể thay đổi mức cung hàng hoá ra thị trường, khi họ thay đổi lượng yếu tố chuyên biệt được sử dụng Do có sự khác nhau trong cung ứng các yếu tố giữa các nước, nên mỗi nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất

mặt hàng nào cần yếu tố chuyên biệt mà nó sẵn có (nước có nhiều vốn sẽ tập trung

Trang 13

sản xuất hàng công nghiệp, còn nước có nhiều đất đai thì sản xuất hàng thực phẩm) Khi đó, thông qua thương mại, các nước có thể trao đổi với nhau những

hàng hoá mà họ có điều kiện sản xuất tốt hơn

Với việc đưa ra khái niệm giá cả tương đối, mô hình này đi đến kết luận

rằng thương mại có những tác động khác nhau đến các nhóm dân cư nhưng xét trên phạm vi một nước thì thương mại đem lại lợi ích tiềm tàng, được thể hiện bằng việc mở rộng khả năng lựa chọn của nền kinh tế

Trong lý thuyết về thương mại quốc tế, bên cạnh mô hình về các yếu tố chuyên biệt, còn có một mô hình khác giải thích nguồn gốc của thương mại thông

qua sự khác biệt về nguồn lực Đó là mô hình Heckscher - Ohlin, hay còn gọi là

mô hình tỷ lệ các yếu tố, do hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển Eli Heckscher và

Bertil Ohlin đưa ra vào những năm 30 của thế kỷ XX Xây dựng trên cơ sở một số các giả thiết, mô hình tỷ lệ các yếu tố đã đưa ra kết luận rằng các nước có thiên hướng xuất khẩu hàng hoá cần nhiều yếu tố sản xuất mà nước họ có dồi dào

Mô hình này cũng khẳng định do có sự khác nhau về nguồn lực, giá tương đối của hàng hoá trao đổi của hai nước có xu hướng hội tụ - mức giá của nước xuất khẩu có xu hướng tăng lên và ở nước nhập khẩu có xu hướng giảm đi Vì vậy, giống như mô hình các yếu tố chuyên biệt, thương mại có tác động khác nhau đến các nhóm dân cư trong một nước - những người sở hữu các yếu tố dồi dào sẽ được lợi từ thương mại, trong khi những người sở hữu các yếu tố khan hiếm bị thiệt hại bởi thương mại, mặc dù tất cả mọi thành viên trong xã hội đều khá lên nhờ thương mại do khả năng tiêu dùng của họ được mở rộng

Trong ba mô hình trên, các nhà kinh tế học mới chỉ tập trung giải thích nguồn gốc và tác động của thương mại trên cơ sở những thay đổi trong cung tương đối của hàng hoá trên thị trường, mà chưa chú ý đến những thay đổi trong cầu

tương đối, đặc biệt khi nó bị hạn chế bởi khả năng thu nhập của dân chúng Mô hình thương mại chuẩn sẽ cho chúng ta một bức tranh sát với thực tế hơn về

thương mại quốc tế, khi nó đặt thương mại trong mối quan hệ với sản xuất và tiêu dùng

Trong mô hình thương mại chuẩn, chuyên môn hoá không hoàn toàn đã được sử dụng để xác định khả năng sản xuất của các nước Mô hình này đã đưa ra

Trang 14

giả thiết rằng nhu cầu tương đối là không đổi đã bị loại bỏ, nó được xác định từ

sở thích tiêu dùng của các cá nhân và bị giới hạn bởi khả năng thu nhập của họ

Khi có thương mại, mức cung tương đối hàng hoá của thế giới được xác định từ khả năng sản xuất của tất cả các nước tham gia thương mại và mức cầu

tương đối - từ sở thích của họ Sự tăng trưởng kinh tế ở một nước (sự mở rộng khả

năng sản xuất thông qua sự gia tăng các nguồn lực hoặc cải thiện hiệu quả sử

dụng chúng) gây tác động lên phúc lợi của các nước còn lại thông qua điều kiện

mậu dịch - mức giá của hàng xuất khẩu so tương đối với hàng nhập khẩu, theo hai

hướng khác nhau: có thể làm điều kiện mậu dịch của nó được cải thiện hay xấu đi tuỳ thuộc vào bản chất của sự tăng trưởng Với kết luận như vậy, mô hình thương mại chuẩn đã chỉ ra được mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, mô hình thương mại chuẩn còn chứng minh rằng thuế quan nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu có tác động đến điều kiện mậu dịch, cung và cầu tương đối của thế giới

Xét dưới góc độ điều kiện mậu dịch, thông qua tác động gián tiếp của mình, thuế quan nhập khẩu ảnh hưởng tốt cho nước áp dụng chúng Song tác động này

không được thể hiện rõ ràng trên thực tế, vì thuế quan lại tạo nên những lệch lạc

trong sản xuất và tiêu dùng Hơn nữa, đối với một nước nhỏ (không gây được tác

động lên cung và cầu tương đối của thế giới), ảnh hưởng của thuế quan lên điều kiện

mậu dịch là không đáng kể Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp, lợi ích từ điều kiện mậu dịch của thuế quan lại lớn hơn các chi phí do những lệch lạc mà nó gây

ra Đây chính là cơ sở của lập luận về mức thuế quan tối ưu có thể mang lại lợi ích

ròng cho nước áp dụng nó

Thông qua mô hình thương mại chuẩn, có thể thấy rõ thương mại không những tác động mạnh lên phân phối thu nhập trong nội bộ một nước, mà còn có tác động lên phân phối thu nhập quốc tế thông qua điều kiện mậu dịch Mỗi nước có thể được lợi hoặc bị thiệt hại từ thương mại quốc tế tuỳ thuộc vào xu hướng tăng trưởng kinh tế, việc áp dụng thuế quan nhập khẩu hay trợ cấp xuất khẩu

Trong thực tiễn, các nước buôn bán với nhau không chỉ bởi vì họ khác nhau

về tài nguyên, công nghệ, mà còn vì họ có lợi thế kinh tế khác nhau nhờ quy mô

Lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo (bao gồm mô hình cạnh tranh mang tính

Trang 15

chất độc quyền và mô hình phá giá) phân tích vai trò của lợi thế kinh tế nhờ quy

mô như là một nguồn gốc của thương mại quốc tế

Trong phạm vi một nước, tính kinh tế nhờ quy mô là khác nhau giữa các ngành hoặc giữa các hãng trong một ngành Một hãng, một ngành được coi là sản xuất có hiệu quả, khi lợi tức của nó tăng dần theo quy mô Do hiệu quả của các ngành, các hãng không như nhau, nên mỗi quốc gia có thể tập trung sản xuất một

số lượng hạn chế các loại hàng hoá nhưng với sản lượng lớn hơn Quy mô thị trường trong nước có hạn làm nảy sinh nhu cầu trao đổi và thông qua đó, hàng hoá trên thị trường mỗi nước đa dạng hơn và nhiều hơn

Cấu trúc thị trường sẽ bị ảnh hưởng dưới tác động của lợi thế kinh tế nhờ

quy mô Nếu một ngành công nghiệp có lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài (tức

khi chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm phụ thuộc vào độ lớn của ngành mà không nhất thiết phụ thuộc vào độ lớn của hãng), nó bao gồm nhiều hãng nhỏ và cạnh

tranh mang tính hoàn hảo - các hãng là những người chấp nhận giá Trong trường

hợp nó có lợi thế quy mô bên trong (tức khi chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm phụ

thuộc vào độ lớn của hãng mà không nhất thiết phụ thuộc vào độ lớn của ngành),

sẽ cho phép các hãng lớn có một lợi thế chi phí so sánh với các hãng nhỏ, dẫn đến

cơ cấu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo - các hãng có điều kiện tác động lên giá sản phẩm của họ

Cấu trúc thị trường không hoàn hảo bao gồm độc quyền thuần tuý và độc quyền nhóm Các hãng trong một nhóm độc quyền sản xuất những hàng hoá khác nhau, song giá cả của các mặt hàng này có sự khác biệt rất nhỏ Chính vì thế, một hãng có thể chấp nhận giá của hãng khác trong nhóm, trong khi đó nó vẫn cư xử như là một hãng độc quyền Từ đó, mô hình thương mại trong điều kiện độc quyền nhóm này được gọi là cạnh tranh độc quyền

Trong mô hình cạnh tranh độc quyền, thương mại được diễn ra trên các thị trường rộng lớn hơn và theo hai nhánh: mậu dịch nội bộ ngành và mậu dịch giữa các ngành Nhánh đầu phản ánh lợi thế nhờ quy mô, còn nhánh sau phản ánh lợi thế so sánh Như vậy, một quốc gia không có lợi thế so sánh vẫn có thể tiến hành thương mại được nếu nó đạt được lợi thế nhờ quy mô Trong mô hình này, lợi ích

Trang 16

từ thương mại không chỉ được bắt nguồn từ việc gia tăng sản lượng, đa dạng hoá các mặt hàng trên thị trường, mà còn từ việc giảm mức giá của hàng hoá

Thông qua các mô hình thương mại quốc tế, có thể đi đến kết luận chung rằng các nước buôn bán với nhau hoặc vì họ khác biệt về các nguồn lực, về công nghệ, hoặc vì họ khác biệt nhau về lợi thế kinh tế nhờ quy mô hoặc vì cả hai lý do Trong bất kỳ môi trường nào, cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo, thương mại luôn mang lại lợi ích cho các nước tham gia và các lợi ích này là tiềm tàng Nói chung, tự do thương mại là có lợi, tuy nhiên một số nhóm người có thể có thu nhập tốt hơn trong điều kiện thương mại bị hạn chế Việc tiến hành thương mại gây tác động lên phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư trong nội bộ một quốc

gia và giữa các quốc gia theo hướng một số người (hoặc quốc gia) sẽ được lợi từ

thương mại, trong khi một số khác sẽ bị thiệt hại từ hoạt động này Đây chính là nền tảng để các chính phủ tham gia điều tiết hoạt động thương mại thông qua việc ban hành các chính sách

1.1.2 Chính sách thương mại và vấn đề bảo hộ

1.1.2.1 Chính sách thương mại

Chính sách thương mại là chính sách quốc gia dùng để phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất nước ngoài Nó bao gồm một hệ thống các luật lệ, quy định, các chính sách và các tập quán có ảnh hưởng đến thương mại

Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại bao gồm: thuế quan nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu về hàm lượng nội địa Ngoài ra, các chính phủ còn sử dụng một số công cụ khác nữa để tác động đến hoạt động ngoại thương của mình, như: trợ cấp tín dụng xuất khẩu, các thủ tục hành chính, tiêu chuẩn kỹ thuật… Chúng có thể được phân

chia ra làm hai loại là thuế quan và phi thuế quan Mục đích của các công cụ này

là nhằm phân biệt đối xử giữa các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài

Thông qua mối quan hệ lợi ích - chi phí của một loại thuế quan, hoặc một công cụ nào khác, chúng ta sẽ biết được ai được lợi và ai bị thiệt, khi chính phủ áp dụng chúng Thuế quan tạo nên một khoảng cách giữa giá trong nước và ở nước ngoài, làm tăng giá trong nước nhưng với một tỷ lệ thấp hơn mức thuế quan Tuy vậy, đối với một nước nhỏ sẽ không có bất kỳ tác động nào lên giá ở nước ngoài

Trang 17

Khi đó, thuế quan phản ánh toàn bộ vào giá cả trong nước - nó làm giá trong nước tăng lên đúng một lượng bằng mức thuế quan Bằng cách sử dụng khái niệm thặng

dư của người sản xuất và của người tiêu dùng, có thể chứng minh được rằng người sản xuất trong nước được lợi, người tiêu dùng trong nước bị thiệt Đồng thời, xuất hiện khoản lợi trong thu nhập của chính phủ từ thuế quan và một số tổn thất

Nếu như cộng những khoản lợi và những tổn thất từ một loại thuế quan lại, chúng ta sẽ thấy tác động ròng đối với phúc lợi quốc gia có thể chia làm hai phần Một phần là tổn thất hiệu năng do việc khuyến khích những lệch lạc đối với người sản xuất và người tiêu dùng trong nước tạo nên Phần kia là cái lợi về điều kiện mậu dịch, phản ánh xu hướng thuế quan làm giảm giá xuất khẩu của nước ngoài Trong trường hợp một nước nhỏ, không thể tác động lên giá nước ngoài, phần thứ hai này bằng không, như vậy chỉ có tổn thất là rõ rệt Bằng cách phân tích tương

tự, sẽ thấy một khoản trợ cấp xuất khẩu cũng gây tổn thất hiệu năng giống như thuế quan, nhưng nó tạo nên những tổn thất đó bằng cách làm xấu đi các điều kiện mậu dịch Hạn ngạch nhập khẩu và những hạn chế xuất khẩu tự nguyện khác với thuế quan ở điểm chính phủ không có thu nhập từ các hình thức này, mà nó lại rơi vào tay những người được cấp phép trong trường hợp áp dụng hạn ngạch nhập khẩu và vào tay những người nước ngoài trong trường hợp hạn chế xuất khẩu Như vậy, suy cho cùng, đối với một nước nhỏ khả năng bị tổn thất là lớn hơn so với các nước lớn, khi sử dụng các công cụ của chính sách thương mại

1.1.2.2 Những lập luận biện hộ cho chính sách thương mại

Từ các mô hình thương mại được trình bày ở phần 1.1.1, chúng ta nhận thấy rằng thương mại luôn mang lại những lợi ích tiềm tàng cho các nước tham gia, nó làm tăng phúc lợi xã hội Nếu thương mại được tiến hành tự do, nền sản xuất xã hội sẽ đạt được hiệu quả tối đa Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều lý do làm cho các chính phủ không thể hoạch định chính sách thương mại của họ dựa trên những lập luận của các nhà kinh tế

Về mặt lý luận, các chính phủ đã sử dụng lập luận về mức thuế quan tối ưu,

như đã đề cập đến ở trong mô hình thương mại chuẩn ở phần 1.1.1 và lập luận về những thất bại của thị trường trong nước trong quá trình hình thành chính sách thương mại Trong các mô hình thương mại, các nhà kinh tế học luôn giả định là

Trang 18

có sự toàn dụng nhân công và các nguồn lực, đặc biệt là lao động có thể di chuyển dễ dàng từ ngành này sang ngành khác Song thực tế cho thấy những người công nhân có thể hoặc bị thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp, những khiếm khuyết trên thị trường vốn và lao động ngăn trở việc đưa các nguồn lực tới các ngành sản xuất có lợi nhuận cao, khả năng công nghệ là khác nhau giữa các ngành, các nước Tất cả những khiếm khuyết của thị trường trong nước kiểu như vậy được sử dụng làm cơ sở để chính phủ chưa thực hiện tự do mậu dịch theo đúng nghĩa của thuật ngữ này Mặc dù công nhận rằng một chính sách không can thiệp là điều đáng mong ước, song khi các thị trường khác còn hoạt động chưa được hoàn hảo, thì việc không can thiệp vào thị trường hàng hoá sẽ không mang lại lợi ích mong muốn Ngược lại, việc can thiệp tuy tạo nên những méo mó nhưng lại có thể làm tăng phúc lợi quốc gia, do nó cân bằng được các hậu quả của sự thất bại trên các thị trường khác

Bên cạnh những lập luận mang tính kinh tế trên đây, việc biện minh cho chính sách thương mại còn được dựa trên các lập luận mang tính chính trị, xã hội Lập luận về phúc lợi xã hội có trọng số cho rằng: trong một xã hội, các nhóm khác nhau không có trọng số như nhau trong việc phân chia các lợi ích từ thương mại

Vì vậy, thương mại sẽ giúp các chính phủ phân phối lại thu nhập có lợi cho các nhóm được ủng hộ Quan điểm về phúc lợi xã hội bảo thủ thì cho rằng các chính phủ thường bảo thủ, không muốn có những thay đổi lớn trong phân phối thu nhập, bất kể ai được, ai mất Như vậy, nếu xem xét thuần tuý về mặt kinh tế, thương mại

tự do sẽ đem lại lợi ích tối đa cho các nước áp dụng Song, trên thực tế, chính sách thương mại của các chính phủ được hình thành trên cơ sở lợi ích nhiều mặt của quốc gia - chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng

Đối với các nước đang phát triển, việc biện hộ cho chính sách thương mại còn được dựa trên lập luận về các ngành công nghiệp non trẻ Lập luận này được bắt nguồn từ tầm quan trọng của ngành công nghiệp chế tạo đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) đã ủng hộ việc các nước đang phát triển dùng thuế quan, cũng như các công cụ khác của chính sách thương mại để bảo hộ tạm thời các ngành công

Trang 19

nghiệp non trẻ trong nước nhằm chống lại sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Tinh thần này được thể hiện trong điều XVIII của GATT

Trên thực tế, lập luận về “các ngành công nghiệp non trẻ” có tính thuyết

phục đối với nhiều chính phủ ở các nước đang phát triển Để phát triển ngành công nghiệp trong nước, đa số các nước đang phát triển đã áp dụng chiến lược công nghiệp hoá theo hai giai đoạn: thay thế nhập khẩu và thúc đẩy xuất khẩu và trong mỗi giai đoạn có một chế độ mậu dịch tương ứng Về cơ bản, những người ủng hộ chiến lược thay thế nhập khẩu cho rằng các nước đang phát triển ban đầu nên sản xuất ở trong nước các loại hàng tiêu dùng đơn giản mà trước đây được nhập khẩu, sau đó thay thế hàng nhập khẩu thông qua sản xuất ở trong nước nhiều chủng loại hàng công nghiệp tinh vi hơn Để các ngành công nghiệp non trẻ này, tức các ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh tiềm tàng trên thị trường quốc tế, phát triển được cần phải có sự trợ giúp của các chính phủ thông qua việc áp dụng thuế quan nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu Việc làm trên là cần thiết, vì nó cho phép

các nhà sản xuất có giá thành cao hơn ở trong nước có đủ thời gian để “học cách

làm ăn” và đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, tiến tới giảm giá thành và nâng

cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Lúc đó, thuế quan cũng như chính sách khác sẽ được giảm dần

Như vậy, về mặt lý thuyết, lập luận về “các ngành công nghiệp non trẻ”

như là cơ sở cho sự tồn tại của thuế quan ở các nước đang phát triển là hợp lý và mang tính tạm thời Thế nhưng, việc thực hiện ý tưởng này trên thực tế đã gặp phải những vấn đề nan giải Việc xác định ngay từ khi bắt đầu quá trình công nghiệp hoá các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong tương lai là không đơn giản và càng không phải là một ý tưởng tốt Bởi vì, khi được xác định trên cơ sở các yếu tố như tài nguyên, trình độ kỹ thuật, quản lý và sở thích tiêu dùng của mỗi quốc gia, lợi thế so sánh của quốc gia đó luôn thay đổi theo thời gian Do vậy, các ngành công nghiệp cần được bảo hộ luôn thay thế nhau trong suốt quá trình công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển Vì thế, có thể nói một chế độ thương mại không có

thuế quan (và các cản trở khác) không thể tồn tại trên thực tế, bất kể ở các nước

phát triển hay đang phát triển, mặc dù nó được chứng minh là mang lại phúc lợi tối

đa cho xã hội

Trang 20

1.1.2.3 Vấn đề bảo hộ mậu dịch

Như đã phân tích ở trên, việc áp dụng thuế nhập khẩu chỉ bảo vệ được quyền lợi của một số nhà sản xuất kém hiệu quả trong nước, hạn ngạch nhập khẩu chỉ làm lợi cho những ai được cấp phép, trợ cấp xuất khẩu thì gây tốn kém cho nhà nước Suy cho cùng, tác động của các công cụ chính sách thương mại là nhằm bảo hộ các nhà sản xuất và thị trường trong nước khỏi sự xâm nhập ồ ạt của nước ngoài hoặc bảo hộ một nhóm người nào đó Mỗi loại công cụ có tác động bảo hộ khác nhau Để hạn chế nhập khẩu, có thể dùng thuế quan hoặc hạn ngạch Song với cùng một mức nhập khẩu, việc áp dụng hạn ngạch dẫn đến việc tăng giá trong nước cao hơn và giảm sản xuất trong nước nhiều hơn so với khi áp dụng thuế quan Hay nói cách khác, để có được cùng một mức bảo hộ, việc áp dụng thuế quan sẽ làm cho nền kinh tế đỡ bị thiệt hại hơn so với áp dụng hạn ngạch

Người ta phân biệt hai loại bảo hộ là bảo hộ danh nghĩa và bảo hộ thực tế

Cơ cấu của bảo hộ danh nghĩa bao gồm các loại thuế quan danh nghĩa và các biện pháp phi thuế quan tương ứng Các công cụ này được sử dụng khá rộng rãi ở các

nước đang phát triển và chúng thường cao hơn (hàm ý rằng mức bảo hộ danh

nghĩa cao hơn) so với các nước phát triển

Để xác định chính xác hơn về mức độ bảo hộ của một quốc gia thông qua chính sách thương mại, người ta thường sử dụng khái niệm bảo hộ thực tế Nó khác với bảo hộ danh nghĩa ở chỗ: nó bảo hộ các ngành công nghiệp thông qua việc tác động vào mức giá các đầu vào, còn bảo hộ danh nghĩa thì tác động vào giá đầu ra Do có mối tương quan với giá cả, nên có trường hợp tỷ lệ bảo hộ thực tế cao hơn so với mức bảo hộ danh nghĩa và ngược lại Việc xác định mức bảo hộ thực tế thường đòi hỏi một lượng thông tin ban đầu lớn hơn nhiều so với việc xác định mức bảo hộ danh nghĩa Chúng bao gồm thông tin về các đầu vào, mức thuế quan của chúng, mức giá thế giới của sản phẩm cuối cùng khi không có thuế quan

và liên quan với nó là tỷ giá hối đoái, giá trị tăng thêm của ngành được bảo hộ, tỷ

lệ các đầu vào không trao đổi được Chính vì vậy, tỷ lệ bảo hộ thực tế thường được

sử dụng để phân tích tác động của chính sách thương mại lên phân bổ các nguồn lực và thay đổi tỷ giá hối đoái

Trang 21

Bằng cách áp dụng phương pháp cân bằng chung, các nhà kinh tế đã chứng minh rằng kết quả bảo hộ của chính sách thương mại có những tác động nhất định lên các lĩnh vực khác của nền kinh tế Trên cơ sở tổng kết các kết quả nghiên cứu khác nhau, David Greenaway và Chris Milner đã đưa ra một số tác động cụ thể sau: tỷ lệ bảo hộ thực tế tác động lên sự phân bổ nguồn lực; việc bảo hộ gây tổn thất cho phúc lợi xã hội; kết quả bảo hộ của chính sách thương mại tác động lên cơ cấu thị trường;

và chính sách thương mại có tác động lên thu nhập ngân sách của các chính phủ

Như vậy, mặc dù các nhà kinh tế đều chứng minh rằng thương mại tự do sẽ đem lại lợi ích tối đa cho các dân tộc, nhưng các chính phủ lại có nhiều lý do khác nhau để biện hộ cho sự tồn tại của chính sách thương mại; các lý do này thường liên quan đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và mức độ ổn định chính trị của quốc gia… Thông qua các công cụ như thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, hàm lượng nội địa của sản phẩm , việc thực hiện chính sách thương mại luôn tạo nên một tác động mang tính hai mặt Một mặt, nó có thể tác động đến việc phân bổ các nguồn lực trong dài hạn, có đóng góp vào nguồn thu ngân sách, nhưng mặt khác nó lại tạo nên những tổn thất cho xã hội về mặt phúc lợi

1.1.3 Tự do hoá thương mại: Khái niệm, trình tự, nội dung và các cấp độ

Như đã khẳng định ở trên, mặc dù tự do hoá thương mại đem lại lợi ích cho mọi quốc gia nhưng các quốc gia vẫn phải áp dụng các chính sách thương mại vì các mục đích chính trị, kinh tế và phúc lợi xã hội của mình Do vậy, việc tiến hành tự do hoá thương mại đòi hỏi cần phải thực hiện theo lộ trình và có các cấp độ nhất định

1.1.3.1 Khái niệm và trình tự tiến hành tự do hoá thương mại

a Khái niệm

Tự do hoá thương mại là một thuật ngữ chung để chỉ hoạt động loại bỏ các

cản trở hiện hành đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ Thuật ngữ này có thể bao hàm cả việc loại bỏ các cản trở đối với đầu tư, nếu thị trường được nghiên cứu cần đầu tư để tiếp cận thị trường Mục đích cuối cùng của tự do hoá thương mại là xoá bỏ hoàn toàn mọi cản trở đối với thương mại, tức là đạt được chế độ thương mại tự do Tuy nhiên, đây chỉ là cái đích để vươn tới Hiện tại, việc di chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động giữa các quốc gia vẫn là một mục tiêu điều chỉnh của các chính phủ

Trang 22

Các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về tự do hoá thương mại

Định nghĩa được sử dụng rộng rãi về tự do hoá thương mại được xây dựng dựa trên quan điểm về tính trung lập Tính trung lập được định nghĩa như là một tình huống, trong đó tỷ lệ hối đoái có hiệu quả đối với hàng xuất khẩu của một nước - tỷ lệ hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh đối với thuế xuất khẩu và trợ cấp xuất khẩu - là tương đương với tỷ lệ hối đoái có hiệu quả đối với hàng nhập khẩu Thể chế trung lập được hoàn thiện bằng cách giảm bớt thuế quan đối với hàng xuất khẩu để thúc đẩy xuất khẩu và xoá bỏ các trợ cấp đối với xuất khẩu nhằm làm tăng

hiệu quả sử dụng các nguồn lực khan hiếm Trên cơ sở đó, một chế độ thương mại

hoàn toàn trung lập là chế độ mà nó tạo nên những khuyến khích như nhau đối với việc bán hàng trong nước cũng như xuất khẩu Như vậy, về nguyên tắc, đây là một

chế độ không có sự can thiệp của nhà nước Từ đó, mọi cải cách nhằm đưa chế độ

thương mại của một nước gần đến trạng thái trung lập được gọi là tự do hoá thương mại [18]

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, tự do hoá thương mại có thể tiến hành dưới hai

hình thức: những thay đổi trong giá cả (ví dụ như giảm thuế) và những thay đổi về hình thức can thiệp (ví dụ chuyển từ việc áp dụng các hạn ngạch nhập khẩu sang

thuế quan) Theo định nghĩa trên, tự do hoá thương mại là cần thiết đối với bất cứ

nước nào, khi chế độ thương mại của họ có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá nhập khẩu với hàng xuất khẩu, giữa người sản xuất trong nước với nước ngoài, giữa nước này với nước khác Nếu tự do hoá thương mại được tiến hành ở nhiều nước

sẽ đạt được sự phân bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn không những trong phạm vi nội bộ một nước, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế

Định nghĩa thứ hai về tự do hoá thương mại được hai nhà kinh tế học nổi tiếng là Anne Krueger và Jagdich Bhagwati đưa ra vào cuối thập kỷ 1970 khi nghiên cứu về chủ nghĩa bảo hộ ở các nước đang phát triển Trên cơ sở phân tích

sự không tương đồng giữa việc bảo hộ bằng hạn ngạch và thuế quan, các nhà kinh

tế này cho rằng tự do hoá thương mại ở các nước đang phát triển là “một quá trình

chuyển dịch khỏi các hạn chế bằng hạn ngạch với những tỷ giá hối đoái mất cân bằng đến một hệ thống chỉ sử dụng thuế quan với tỷ giá hối đoái cân bằng” Điều

Trang 23

đó hàm ý rằng quá trình tự do thương mại được tiến hành đồng thời với những cải cách về thuế và tỷ giá hối đoái, hay nói tổng quát hơn, với những cải cách chính sách trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế

Định nghĩa thứ ba được Michael Mussa sử dụng, khi ông nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chính sách vĩ mô và tự do hoá thương mại ở các nước đang phát

triển Ông viết: “Tự do hoá (thương mại) được hiểu là giảm mức bảo hộ nói chung

và thu hẹp khoảng chênh lệch mức bảo hộ giữa các ngành khác nhau” Mục đích

của những nỗ lực cải cách này là cải thiện phúc lợi kinh tế thông qua phân bổ tốt hơn các nguồn lực, tức chuyển dịch chúng từ các ngành thay thế nhập khẩu sang các ngành có định hướng xuất khẩu Điều này có nghĩa rằng mục tiêu sẽ đạt được trong dài hạn, còn trong ngắn hạn tự do hoá thương mại thường tác động lên ngân sách chính phủ, tổng sản lượng, việc làm, giá cả và cán cân thanh toán, tức những vấn đề thuộc sự điều tiết của các chính sách kinh tế vĩ mô Do vậy, mối quan hệ giữa tự do hoá thương mại và các chính sách kinh tế vĩ mô là rất chặt chẽ và chúng cần phải được quan tâm thích đáng

Có thể nhận thấy trong định nghĩa thứ hai, tuy đã nêu được sự cần thiết của mối liên hệ giữa các chính sách khác với chính sách thương mại trong quá trình cải cách, song quy mô của tự do hoá thương mại vẫn còn hạn chế, mới chỉ chuyển sang một thể chế đơn giản hơn Còn theo định nghĩa thứ ba, tuy tự do hoá thương mại chỉ bao hàm những cải cách trong lĩnh vực chính sách thương mại, song sẽ khó thành công nếu trong quá trình thực hiện chúng ta không quan tâm đến mối liên hệ giữa việc cải cách chính sách thương mại với các cải cách chính sách kinh

tế vĩ mô

Từ việc phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về tự do hoá thương mại

là những cải cách nhằm xoá bỏ dần dần mọi cản trở đối với thương mại, bao gồm

thuế quan và phi thuế quan, trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển của nền kinh

tế và có sự tương tác với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế của chính phủ

b Trình tự tiến hành

Trang 24

Các nước thường tiến hành cải cách thương mại thông qua các chương trình tự do hoá thương mại khác nhau Việc thiết kế một chương trình cần phải tuân thủ theo một trình tự nhất định

Trước hết, cần phải xác định mục tiêu và bối cảnh của cải cách Một

chương trình tự do hoá thương mại có thể đặt cho mình mục tiêu là loại bỏ hoàn toàn mọi sự can thiệp hay chỉ nhằm giảm các mức thuế hiện hành Chương trình

này có thể tiến hành đơn lẻ (cải cách bộ phận) hoặc có thể đồng thời với các

chương trình cải cách trong các lĩnh vực khác như tài chính, thị trường lao động

(cải cách toàn diện) trong phạm vi nền kinh tế quốc gia, hoặc cũng có thể tiến

hành đồng thời với các chương trình tự do hoá thương mại ở các cấp độ khác nhau trên phạm vi khu vực và quốc tế

Bước thứ hai là xác định đặc trƣng của thời điểm tiến hành để đưa ra tốc

độ cải cách phù hợp Trên thực tế, một chương trình tự do hoá thương mại có thể được bắt đầu vào mọi thời điểm trong quá trình phát triển kinh tế của một nước Tuy vậy, có thể thấy thời điểm bắt đầu cải cách thường rơi vào ba loại: khủng hoảng, ổn định và các trường hợp trung gian Nếu chương trình được bắt đầu trong điều kiện khủng hoảng, nó thường mang tính chất mạnh và nhanh để đảm bảo có thể tồn tại được lâu dài Nếu nền kinh tế ở trong trạng thái ổn định, các chương trình cải cách thường mang tính từ từ, vì cơ may thành công của nó là rất lớn

Bước thứ ba là xác định trình tự cần thiết cho cuộc cải cách Bất kể chương

trình cải cách mang tính bộ phận hay toàn diện, nó cần phải được đặt trong một trình tự nhất định của quá trình tự do hoá nền kinh tế Căn cứ vào điều kiện cụ thể khi bắt đầu cải cách, mỗi nước có thể đặt cho mình một trình tự cải cách khác nhau Song, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, các nhà kinh tế đã tìm ra được một trình tự tự do hoá kinh tế tối ưu, rằng không thể xoá bỏ kiểm soát vốn trước khi tự

do hoá thị trường tài chính và tự do hoá thương mại Tư tưởng này đã được

R.I.McKinnon đưa ra trong cuốn “Trình tự tự do hoá kinh tế - Quản lý tài chính

trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường” Ông cho rằng có thể tìm ra

một trình tự tự do hoá phổ biến cho các nước đang phát triển dựa trên yêu cầu là phải kiểm soát được bên trong trước khi mở cửa ra bên ngoài Điều đó hàm ý rằng

để có thể mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ tài chính trong nước, trước hết phải

Trang 25

cân đối tài chính của chính phủ (bằng cải cách thuế, tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả, giảm bớt chi tiêu ngoài ngân sách), mở cửa thị trường vốn trong nước trong điều kiện phi tập trung hoá từng bước đối với hệ thống ngân hàng để đảm bảo sự lưu thông tín dụng cần thiết, tiếp đó là tự do hoá hối đoái với

sự ưu tiên tự do hoá giao dịch thanh toán trên tài khoản vãng lai so với các dòng vốn quốc tế Trên nền tảng như vậy, cộng với một chính sách tỷ giá hối đoái thống nhất, linh hoạt, tiến hành tự do hoá ngoại thương, nhưng vẫn duy trì kiểm soát ngoại tệ ở mức độ nhất định và mở rộng từ từ sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường vốn trong nước Chỉ khi nào ngân hàng trong nước được tự do hoàn toàn và đủ mạnh, kiềm chế được lạm phát, mới áp dụng chế độ chuyển đổi ngoại tệ tự do trên tài khoản vốn và đó thường là bước đi cuối cùng của một trình

tự tự do hoá kinh tế tối ưu

Cùng với việc xác định vị trí của tự do hoá thương mại trong một trình tự tự

do hoá kinh tế tối ưu, cần phải xác định trình tự của bản thân quá trình cải cách đó nữa Do tính minh bạch của thuế quan lớn hơn và tác động bảo hộ của nó thấp hơn các hạn ngạch nhập khẩu, nên bước đầu tiên mà các chính phủ nên làm là thay thế các hạn ngạch bằng các mức thuế quan tương ứng, tiếp đó là thay đổi dần dần các mức thuế quan, theo hướng giảm dần độ phân tán giữa chúng và sự khác nhau giữa các ngành, tiến tới giảm dần mức thuế quan trung bình nhằm từng bước loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa khu vực thay thế nhập khẩu với các hoạt động xuất khẩu, giữa các nhà sản xuất trong nước với các nhà sản xuất nước ngoài

1.1.3.2 Nội dung và các cấp độ của tự do hoá thương mại

a Nội dung

Trên cơ sở mục tiêu, tốc độ và trình tự đã được xác định, căn cứ vào những điều kiện kinh tế ban đầu, tính khả thi về chính trị và năng lực hành chính, các nhà hoạch định chính sách sẽ xác định nội dung của chương trình, bao gồm những biện pháp cải cách cụ thể trong lĩnh vực thuế quan, phi thuế quan, cũng như các cải cách chính sách liên quan khác

Việc cải cách thuế quan và phi thuế quan được thực hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau Chúng có thể được giảm bớt về mặt danh nghĩa, được cải cách toàn diện, có thể giảm bớt diện được miễn thuế hoặc giảm mức bảo hộ thực tế

Trang 26

thông qua việc thay thế các hạn ngạch bằng thuế quan, các cải cách ngoại hối hoặc tỷ giá hối đoái

Việc thực hiện một chương trình tự do hoá thương mại luôn bị đe doạ quay ngược trở lại, nếu không có được các biện pháp tương ứng nhằm khắc phục các tác động ngắn hạn của nó Việc điều chỉnh các chính sách liên quan trong hệ thống các chính sách quốc gia sẽ hạn chế nguy cơ đảo ngược này và chương trình tự do hoá thương mại sẽ thành công khi các chính phủ đạt được tính nhất quán giữa chính sách thương mại và các chính sách khác Các chính sách cần được điều chỉnh là tài khoá, tỷ giá, tiền tệ, tiền lương, tín dụng Bên cạnh đó, để đạt mục tiêu sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong dài hạn, các chính phủ cần kết hợp các cải cách thương mại với cải cách đầu tư và liên quan với nó là chính sách thị trường lao động và chính sách giáo dục

Quá trình tự do hoá thương mại là quá trình cải cách chính sách nhằm xoá

bỏ dần dần mọi cản trở đối với thương mại, bao gồm thuế quan và phi thuế quan

Để đạt được chế độ thương mại tự do hơn, các chính phủ thường tiến hành thông qua các chương trình cải cách khác nhau, mà việc thiết kế chúng đóng vai trò quyết định đối với sự thành công của cải cách Khi thực hiện một chương trình cải cách thương mại bất kỳ thường gây ra những tác động ngắn hạn lên ngân sách chính phủ, cán cân thanh toán, vấn đề việc làm và phân phối thu nhập Vì vậy, trong quá trình thiết kế chương trình, cần phải quan tâm đến việc xác định trình tự, tốc độ của cải cách và đặc biệt là phải đảm bảo được tính nhất quán giữa cải cách chính sách thương mại và các chính sách liên quan trong hệ thống chính sách kinh tế của chính phủ nhằm ngăn chặn nguy cơ cải cách bị đảo ngược

b Các cấp độ

Các nước có thể tiến tới thương mại tự do thông qua việc thực hiện các chương trình cải cách với các cấp độ khác nhau - quốc gia, khu vực hay quốc tế

(toàn cầu) Chúng được gọi là các chương trình tự do hoá thương mại đơn phương,

song phương, khu vực và đa phương

Các nước có thể đạt được chế độ thương mại tự do một cách đơn phương thông qua việc xoá bỏ mọi rào cản đối với hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ tất cả

các bạn hàng của mình (tức không phân biệt) hoặc từ những bạn hàng nhất định

Trang 27

(tức có phân biệt đối xử dựa trên việc áp dụng quy chế tối huệ quốc) Ví dụ điển hình về tự do hoá thương mại kiểu này là Hồng Kông

Kết quả của các chương trình tự do hoá thương mại khu vực sẽ là khu vực mậu dịch tự do, nếu các nước tham gia không hình thành một biểu thuế chung đối với các nước không phải là thành viên và là liên minh quan thuế, nếu có một biểu thuế như vậy Ngoài ra, các nước trong một nhóm nước có thể tiến hành các chương trình tự do hoá thương mại ở mức thấp hơn bằng cách ký kết các hiệp định

ưu đãi thuế quan, hoặc cao hơn khi được kết hợp với các hình thức hợp tác trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế để thành lập các thị trường chung và các liên minh kinh tế Việc thành lập các khối thương mại tự do hoặc các liên minh quan thuế sẽ tác động nhất định đến chu chuyển hàng hoá và dịch vụ cũng như sự phát triển kinh tế nói chung của mỗi nước thành viên và của toàn khối, trên cơ sở đó sẽ mang lại cho các nước tham gia những lợi ích khác nhau

Chương trình tự do hóa thương mại đa phương hay toàn cầu được khởi

xướng khi Hiệp định chung về Thuế Quan và Thương mại (GATT) ra đời vào năm

1947 Ngay từ khi mới ra đời GATT đã khẳng định tự do hoá thương mại cần được tiến hành dựa trên điều khoản XXIV Điều khoản này quy định rằng các rào cản thương mại có thể được xoá bỏ hoàn toàn hoặc một cách cơ bản đối với thương mại trong phạm vi một nhóm nước có lựa chọn, nhưng vẫn duy trì việc áp dụng thuế quan cũng như mọi công cụ khác của chính sách thương mại với các nước không phải là thành viên Thời kỳ đầu, các vòng đàm phán của GATT đều xoay quanh vấn đề cắt giảm thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu Nhờ vậy, vào khoảng giữa thập niên 1990, tại các nước công nghiệp phát triển, thuế đánh vào hàng công nghiệp đã được giảm xuống dưới mức 4%

Vòng đàm phán Urugoay - Vòng đàm phán quan trọng nhất của GATT - diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, đã cho ra đời Tổ chức thương mại thế giới

(WTO) vào năm 1995 WTO là nơi đề ra những quy định điều tiết hoạt động

thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới

Nói cách khác, WTO có vai trò trong việc điều hành một Hệ thống thương mại

“đa biên” “Đa biên” có nghĩa là các hoạt động được triển khai trên quy mô thế

giới hoặc gần như toàn thế giới (đặc biệt đối với các nước thành viên WTO), thuật

Trang 28

ngữ được sử dụng nhằm đối lập với những biện pháp sử dụng trong phạm vi khu vực hoặc trong một số nhóm quốc gia Nếu như trước kia GATT chỉ bao quát thương mại hàng hoá, thì ngày nay, WTO cùng với những hiệp định của mình, đã

mở rộng sang cả thương mại dịch vụ cũng như trao đổi sáng chế, phát minh, thiết

kế và mô hình (sở hữu trí tuệ)

Mở cửa thị trường có thể đem lại nhiều thuận lợi cho các quốc gia tham gia như đã nói ở trên, nhưng nó cũng đòi hỏi phải có một số điều chỉnh nhất định Các hiệp định của WTO cho phép các quốc gia thành viên từng bước thay đổi chính

sách của mình, thông qua “lộ trình tự do hoá từng bước” Các nước đang phát triển

thường được hưởng một thời hạn dài hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ

1.2 Cơ sở thực tiễn của chính sách tự do hoá thương mại ở Trung Quốc

Thực tế cho thấy, từ cuối thập kỷ 1980, làn sóng tự do hoá thương mại đã được lan rộng trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Sự chuyển hướng trong chính sách thương mại ở nhóm nước này theo hướng tự do hoá là kết quả của sự tác động tương hỗ giữa các nguyên nhân bên trong và bên ngoài, hay nói cách khác là những nguyên nhân chủ quan và khách quan

1.2.1 Thương mại - điều kiện cần thiết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển

Trong những thập kỷ qua, nhiều nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế Do đó, đời sống của nhân dân ở các nước này đã được nâng lên rõ rệt, tuy chưa đồng đều Có những nước phát triển nhanh như một số nước ở Đông Á, Mỹ-La-tinh, một số nước xuất khẩu dầu lửa

(OPEC), nhưng còn nhiều nước khác vẫn chưa thể thoát ra khỏi nhóm các nước có

thu nhập thấp Sự phát triển nhanh ở các nước nói trên một phần chủ yếu là do họ

có một chế độ thương mại tương đối cởi mở hơn - kết quả của quá trình cải cách thương mại và kinh tế tích cực trong suốt nhiều năm

Trong thế giới các nước đang phát triển, một số nước đã tiến hành cải cách thương mại theo hướng tự do trong điều kiện nền kinh tế trong nước bị khủng hoảng, còn một số khác lại lựa chọn đi theo hướng tự do hoá thương mại trong bối cảnh điều kiện trong nước và quốc tế đều rất thuận lợi như các nước Đông Á

Trang 29

Chính những điều kiện thuận lợi này đã giúp các nước Đông Á thành công trong các chương trình cải cách thương mại

Thành tích trong phát triển kinh tế của các nước châu Á đã hấp dẫn các nước đang phát triển còn lại, giúp họ có thêm sức mạnh để tiến bước trên con đường tự do hoá của mình Hơn thế nữa, sự phát triển của thương mại thế giới đòi hỏi các nước này phải có chế độ thương mại tự do hơn sao cho có thể tranh thủ tối

đa các cơ hội phát triển mà thương mại mang lại Hay nói cách khác, có nhiều yếu

tố đang tồn tại trong quá trình phát triển của thương mại thế giới đã làm cho thương mại tự do không những hấp dẫn, mà còn cần thiết đối với các nước đang phát triển để phát triển Đó là:

Thứ nhất, trong suốt nhiều thập kỷ qua, khối lượng trao đổi mậu dịch giữa

các nước trên thế giới không ngừng tăng lên Tốc độ tăng trưởng hàng năm của

thương mại luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng thế giới (trong thập kỷ

1970, tốc độ tăng của thương mại thế giới là 5,8%/năm, cao hơn 1,5 lần so với tốc

độ tăng trưởng kinh tế; trong thập kỷ 1980 là 6%/năm cao hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới; và trong thập kỷ 1990, là 7%/năm, cao hơn 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới) [11] Điều đặc biệt hơn là, trong những

năm cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, tốc độ tăng trưởng thương mại của nhóm các nước đang phát triển đã vượt nhóm các nước phát triển, tuy vẫn mang tính không đều giữa các khu vực Sự phát triển này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết nhiều vấn đề khác của kinh tế vĩ mô như việc làm, mức sống…

Thứ hai, sự thay đổi cơ cấu của thương mại quốc tế cũng là một yếu tố thúc

đẩy làn sóng tự do hoá thương mại ở các nước đang phát triển Tuy buôn bán hàng hoá vẫn chiếm phần chủ yếu, nhưng vai trò của buôn bán dịch vụ trong thương mại quốc tế đang dần tăng lên Nó đã trở thành một lĩnh vực không thể thiếu trong các cuộc đàm phán về tự do hoá của các tổ chức thương mại quốc tế

Thứ ba, sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển ngày càng phụ

thuộc vào sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới Trong hơn một thập kỷ gần đây, tất cả các nước đều có xu hướng muốn liên kết sâu hơn vào nền kinh tế thế giới với hy vọng nắm bắt được những cơ hội tốt để phát triển kinh tế Hay nói cách

Trang 30

khác, vai trò của quan hệ kinh tế đối ngoại đối với sự phát triển kinh tế ngày càng trở nên quan trọng

Thứ tư, chính sách thương mại của các nước đang phát triển có mức độ bảo

hộ cao, đặc biệt đối với các ngành chế tạo, với độ phân tán lớn Bên cạnh đó, đa số các nước trong nhóm này chưa đạt được sự nhất quán giữa chính sách thương mại với các chính sách kinh tế vĩ mô Trong điều kiện đó, các nguồn lực khan hiếm được sử dụng không có hiệu quả Vì vậy, chính sách thương mại theo hướng mở cửa không những tạo điều kiện sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn, mà còn cho các nước này cơ hội tranh thủ được kinh nghiệm phát triển kinh tế và các thành tựu khoa học - công nghệ của các nước đi trước

Đến đây, có thể nhận định rằng từ nhận thức truyền thống về những lợi ích

mà thương mại đem lại, trên cơ sở thực tiễn quá trình phát triển quan hệ mậu dịch quốc tế, tự bản thân các nước đang phát triển thấy cần thiết phải tích cực thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại mở cửa hơn vì sự phát triển của nền kinh tế quốc gia

Sự hiện diện của nhu cầu nội tại về một nền kinh tế mở cửa hơn là điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ cho sự phát triển của làn sóng tự do hoá thương mại hiện nay

ở các nước đang phát triển Vậy cái gì đã thúc đẩy sự vận động của nhu cầu nội tại này? Đó chính là một số nhân tố quốc tế sẽ đề cập đến sau đây

1.2.2 Toàn cầu hoá, khu vực hoá đã trở thành xu thế của nền kinh tế thế giới, trong đó tự do hoá thương mại là một mũi nhọn

Lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến 3 “làn sóng toàn cầu hoá” trước khi bước vào một thời đại “toàn cầu hoá mới” được bắt đầu từ những thập kỷ cuối thế

kỷ XX Lần thứ nhất, sau khi Côlômbô tìm ra Châu Mỹ vào cuối thế kỷ XV, Châu

Âu “khai hoá” thế giới Lần thứ hai, vào giữa thế kỷ XIX, người châu Âu chinh phục châu Á, Nhật Bản nắm lấy cơ hội tiến hành cuộc “duy tân”, hưng thịnh đất

nước Lần thứ ba, Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc với sự ra đời của một trật

tự thế giới mới do các nước thắng trận dẫn dắt, các quốc gia thuộc châu Á, Phi, La-tinh giành độc lập và hoà nhập vào cộng đồng thế giới Đặc điểm chung của 3

Mỹ-lần “toàn cầu hoá” này là ở chỗ chúng đều là hệ quả của chiến tranh và chính sách

thực dân, trình độ phát triển của các quốc gia còn thấp, các vấn đề chung có tính chất toàn cầu chưa xuất hiện Khác với 3 lần trước, lần toàn cầu hoá thứ tư được xuất

Trang 31

hiện bởi sự bùng nổ của công nghệ thông tin thế giới, nó bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại và về thực chất, nó là một hiện tượng kinh tế

Toàn cầu hoá kinh tế, xét cho cùng, là hệ quả của những biến đổi trong lĩnh vực công nghệ truyền thông và thông tin và chính ba nhân tố: Công nghệ - kỹ thuật, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá Như vậy, cũng có thể nói xu thế toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên quy mô quốc tế

Với nền kinh tế toàn cầu hoá, việc tổ chức sản xuất và khai thác thị trường

trong phạm vi một nước đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi thế giới và theo đó, sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều vượt ra ngoài biên giới quốc gia dân tộc Vì vậy, toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự tác động

và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước, các khu vực [17] Theo cách hiểu này,

toàn cầu hoá ngày nay là sản phẩm của văn minh nhân loại và do đó, nó là cơ hội

để mọi quốc gia đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy sự phát triển toàn cầu

Từ những nét mới trong xu thế toàn cầu hoá, có thể thấy rằng:

Thứ nhất, toàn cầu hoá kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự phát triển nhanh

chóng của các quan hệ thương mại chu chuyển trên phạm vi quốc tế, trong đó toàn cầu hoá về tài chính là đặc trưng nổi bật chi phối các tiến trình tự do hoá về thương mại, dịch vụ và đầu tư đã kết với nhau thành một mạng trên quy mô toàn cầu

Thứ hai, trong nền kinh tế toàn cầu, sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã trở

thành yếu tố có tính chất quyết định tương lai của quản lý vĩ mô Sự phát triển của

kỹ thuật viễn thông và công nghệ thông tin đã cung cấp những phương tiện hoàn hảo hơn để áp dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực quản lý và theo đó, đã trở thành phương tiện lưu chuyển tiền vốn toàn cầu

Thứ ba, tính tương thuộc chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia, các hoạt

động thương mại, đầu tư, tài chính đều được gia tăng mạnh mẽ và bắt buộc mọi

nền kinh tế tham gia vào một kiểu thị trường thống nhất - một “sân chơi chung”

bình đẳng cho mọi nền kinh tế, bất kể đó là nền kinh tế thuộc trình độ và xuất phát

Trang 32

điểm phát triển như thế nào Thị trường trong toàn cầu hoá, do đó, được hiểu là thị trường mở và các nền kinh tế quốc gia tự nguyện mở cửa nền kinh tế nước mình để trên cơ sở các lợi thế so sánh sẽ hội nhập hiệu quả vào các thị trường khu vực

và thế giới

Thứ tư, trong nền kinh tế toàn cầu, vai trò chế định chính sách kinh tế không

chỉ do quốc gia dân tộc có chủ quyền đảm nhận mà còn có sự tham gia của các chủ thể khác như: các khối kinh tế khu vực (ví dụ ASEAN, EU…); các thể chế kinh tế

quốc tế (IMF, WB, WTO…), các công ty xuyên quốc gia… Các chủ thể này trên

thực tế luôn ảnh hưởng lẫn nhau, ràng buộc, hợp tác và đương nhiên có xung đột với nhau

Thứ năm, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, xu hướng khu vực hoá và liên kết

quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Kể từ đầu thập kỷ 1990, hàng loạt các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế dưới nhiều cấp độ và mang tính thể chế ngày càng cao đã ra đời Chính tính đa dạng về cấp độ phát triển, sự khác biệt về đặc điểm địa

- chính trị và địa - kinh tế cùng những ảnh hưởng của đặc tính văn hoá đang làm cho các hình thức liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ và rất phong phú về nội dung Tuy vậy, về bản chất, chúng là hiện thân của xu hướng tự do hoá về thương mại và

đầu tư quốc tế và là những “vòng tròn đồng tâm” của tiến trình nhất thể hoá nền

kinh tế thế giới Đó là sự liên kết kinh tế mang tính thể chế cao với phạm vi hoạt động rộng lớn trên quy mô toàn cầu như WTO, IMF, WB… Đó là khuynh hướng hình thành một liên minh kinh tế thống nhất cho toàn khu vực như EU hoặc chỉ như một thoả thuận khu vực liên lục địa không mang tính thể chế nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá như APEC Đó là các dàn xếp khu vực ở quy mô nhỏ hơn với nhiều yếu tố đồng nhất nhằm xây dựng khu vực mậu dịch tự do như NAFTA, ASEAN/AFTA, MERCOSUR Các tổ chức này có vai trò đang tăng lên trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực

Với những đặc trưng trên, rõ ràng toàn cầu hoá đang mở ra nhiều cơ hội cho mọi quốc gia dân tộc, thúc đẩy nền kinh tế phát triển và nguồn lực được phân phối hợp lý trên toàn thế giới Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các nước đang phát triển, bao gồm cả Trung Quốc Có thể nói, toàn cầu hoá kinh tế tạo cho Trung Quốc một cơ hội hiếm có để phát triển kinh tế, đuổi kịp và vượt các nước

Trang 33

phát triển Đồng thời, Trung Quốc chỉ có lựa chọn duy nhất đó là tích cực tham gia vào toàn cầu hoá, một hiện thực khách quan không thể né tránh, mới có thể tồn tại và phát triển

1.2.3 Những thay đổi trong ưu thế cạnh tranh dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ

Nhờ có những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ, nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang một cơ sở công nghệ mới về chất và mang tính toàn cầu Những công nghệ dựa trên kỹ thuật cơ khí, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường đang dần bị loại bỏ Nó đã để lại hàng loạt vấn đề

xã hội nan giải, mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải tốn kém nhiều tiền của và sức lực, với sự phối hợp chặt chẽ của tất cả các nước trên thế giới Thay vào đó, một cơ sở công nghệ mới đang hình thành theo xu hướng tự động hoá ở mức cao, trình độ thông tin hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu và không gây ô nhiễm môi trường Tuy mới chỉ đang ở điểm khởi đầu, nhưng những gì đạt được trên thực tế của sự chuyển dịch này cho thấy một triển vọng tốt đẹp

Trước tình hình đó, nền kinh tế thế giới đã có những thay đổi nhất định Ngoài tính nhạy cảm và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn, cuộc cạnh tranh giữa các nước cũng trở nên gay gắt hơn Trong lĩnh vực kinh tế, không chỉ có các công

ty cạnh tranh nhau giành thị trường và các vùng ảnh hưởng, mà các chính phủ cũng là những chủ thể rất tích cực Người thắng thế trong cuộc cạnh tranh này không thể chỉ dựa vào giá cả hay giảm chi phí, mà phần lớn là phải dựa vào chất lượng sản phẩm của họ thể hiện thông qua mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng Để đạt được điều này, các chính phủ và các công ty phải nỗ lực trong hoạt động nghiên cứu và triển khai, để đưa ra những sản phẩm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng Như vậy, ngày nay, cạnh tranh dựa trên ưu thế về tài nguyên thiên nhiên như các nguyên liệu và nguồn nhân lực với tư cách là các đầu vào, đang giảm dần ý nghĩa và dần được thay thế bằng những ưu thế về trình độ trí tuệ

Trên thực tế, các nước phát triển có được một nền tảng khoa học phát triển cao hơn và rộng hơn và do đó họ có ưu thế hơn về các sản phẩm có hàm lượng khoa học cao Sự phân bố sản xuất không đều làm nảy sinh nhu cầu trao đổi Vì vậy, một chế độ

Trang 34

thương mại tự do hơn ở các nước đang phát triển sẽ hấp dẫn các nước khác chuyển giao công nghệ mới cho họ Mặt khác, chuyển giao công nghệ còn là một con đường

để các nước đang phát triển mở rộng thị trường và vùng ảnh hưởng của mình

1.2.4 Những quy định cơ bản trong chính sách thương mại của WTO

Như đã đề cập ở trên, xu thế tự do hoá thương mại được thúc đẩy mạnh mẽ

hơn khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời vào năm 1995 trên cơ sở kế

thừa và phát triển của GATT Do đó những quy định cơ bản trong chính sách thương mại của WTO sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc thực hiện tự do hoá thương mại cho tất cả các quốc gia

Ngày nay, các quốc gia trên thế giới luôn xác định thương mại là một trong những yếu tố mang tính quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước, thị trường là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Do vậy, từ khi ra đời WTO đã khẳng định tự do hoá thương mại là mục tiêu hàng đầu phải nỗ lực thực hiện

Nội dung của tự do hoá thương mại mà WTO đặt ra là cắt giảm dần từng bước hàng rào thuế quan và phi thuế quan, để đến một lúc nào đó trong tương lai những trở ngại này được xoá bỏ hoàn toàn, mở đường cho thương mại phát triển Tuy nhiên, tự do hoá thương mại không bao giờ tách khỏi sự quản lý của nhà nước, tự do hoá thương mại phải phù hợp với luật pháp, thể lệ hiện hành của mỗi nước

Mặc dù chủ trương tự do hoá thương mại, nhưng WTO vẫn thừa nhận sự cần thiết của bảo hộ mậu dịch và sự bảo hộ này chỉ được phép duy trì với hai điều kiện: (1) mức độ bảo hộ phải hợp lý và (2) chỉ được bảo hộ thông qua thuế quan, không ủng hộ hàng rào phi thuế quan hoặc các biện pháp hành chính

1.2.4.1 Những quy định về thuế quan

Theo quy định của WTO thì các quốc gia thành viên chỉ được phép bảo hộ nền sản xuất và thị trường trong nước thông qua hình thức thuế quan và phải chấm dứt các biện pháp bảo hộ khác Chính phủ các nước tham gia WTO cũng phải cam kết thuế hoá các biện pháp không mang hình thức thuế và không đưa thêm các hình thức mới ngoài khuôn khổ GATT

Trang 35

Các quy định chủ yếu về thuế quan của WTO bao gồm: quy tắc chung về giảm thuế; sự ràng buộc về thuế quan; việc đàm phán và sửa đổi biểu thuế; và các quy tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc

a Quy tắc chung về giảm thuế

Theo quy định của WTO, việc thu thuế xuất nhập khẩu phải được tiến hành trên cơ sở chế độ Tối huệ quốc (MFN) Nhờ đó mà kết quả giảm thuế quan ở các vòng đàm phán đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên của WTO Mọi kết quả giảm thuế đều phải được ghi vào biểu thuế và các nước không được phép bỏ mức giảm thuế đã ghi vào biểu thuế Đồng thời, các nước thành viên WTO cũng không được phân biệt đối xử giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nước thông qua các loại thuế và phí nội địa

b Sự ràng buộc về thuế quan

Sau khi những cam kết về giảm thuế và các miễn giảm khác đã được đưa ra thì các nước này không được đánh thuế đối với những sản phẩm được liệt kê trong biểu thuế vượt quá mức thuế suất đã quy định Sự cam kết được bảo đảm đó được gọi là thuế suất ràng buộc Đối với những mặt hàng có cam kết ràng buộc thuế quan, mức độ ràng buộc có thể gồm 3 loại: (1) Thực hiện ràng buộc ở mức thấp hơn mức thuế đang áp dụng; (2) Thực hiện ràng buộc ở mức bằng mức thuế đang

áp dụng; (3) Thực hiện ràng buộc ở mức cao hơn mức thuế đang áp dụng (trong

trường hợp này mức thuế cam kết ràng buộc được gọi là ràng buộc trần)

WTO cũng có quy định những mặt hàng không nhất thiết phải thực hiện ràng buộc thuế và tuỳ theo kết quả đàm phán, các nước cũng có thể chủ động không thực hiện ràng buộc thuế quan cho một số mặt hàng cụ thể tuỳ thuộc chủ trương, định hướng chính sách phát triển của từng nước [19]

c Việc đàm phán và sửa đổi biểu thuế

Theo quy định của WTO, các nước thành viên có thể tự sửa đổi hay huỷ bỏ một mục giảm thuế nào đó trong lịch trình giảm thuế của nước mình Nhưng để thực hiện được điều này quốc gia đó phải đàm phán, thực hiện sự miễn giảm khác tương đương với mức miễn giảm thuế cũ, để điều chỉnh có tính chất đền bù Khi không đạt được sự thương lượng đền bù với các đối tác buôn bán chủ yếu thì nước này không được tự ý sửa đổi nếu không sẽ bị nước kia áp dụng biện pháp trả đũa

Trang 36

d Các quy tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc

Những quy định này cho phép các nước thành viên được áp dụng hành động

tự vệ trong một số trường hợp đặc biệt như: các trường hợp khẩn cấp để bảo hộ cho nền công nghiệp trong nước nếu hàng hoá được nhập khẩu quá nhiều là nguyên nhân đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước; trường hợp có hành động bán phá giá; trường hợp nước xuất khẩu áp dụng các biện pháp trợ cấp không được phép; trường hợp cán cân thanh toán bị đe doạ Các biện

pháp áp dụng có thể là: nâng cao mức thuế quan (có thể vượt quá mức trần đã cam

kết) hoặc đưa ra những quy định về hạn chế định lượng, áp dụng loại thuế chống

bán phá giá, thuế đối kháng, thực hiện phụ thu nhập khẩu…

1.2.4.2 Một số quy định về các biện pháp phi thuế quan chủ yếu

Những quy định cụ thể trong chính sách thương mại của WTO về các biện pháp phi thuế quan chủ yếu như sau:

a Các biện pháp hạn chế định lượng

Các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm: Hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu

- Hạn ngạch: WTO quy định ngoài thuế và các phụ phí khác ra, các nước

thành viên không được đặt hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu sản phẩm từ lãnh thổ của các nước thành viên khác, hoặc xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu sang các nước thành viên khác

Tuy vậy, WTO cũng vẫn cho phép sử dụng hạn ngạch trong một số trường hợp ngoại lệ: (1) Đảm bảo an ninh lương thực; (2) Áp dụng biện pháp hạn ngạch - cấm hay hạn chế - để thực thi các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại, phân cấp hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế; (3) Triển khai các biện pháp của chính phủ được áp dụng đối với nông sản; (4) Bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán

- Giấy phép nhập khẩu

Mặc dù hiện nay, giấy phép nhập khẩu ít được sử dụng hơn so với trước đây, nhưng cơ chế giấy phép nhập khẩu vẫn được luật lệ của WTO điều chỉnh Hiệp định về các thủ tục cấp phép nhập khẩu quy định rằng các cơ chế này phải đơn giản, rõ ràng và minh bạch Hiệp định cũng quy định rõ cách thức mà theo đó các nước phải thông báo cho WTO biết việc xây dựng các cơ chế cấp phép cũng

Trang 37

như những sửa đổi đối với các cơ chế hiện hành Hiệp định cũng chỉ dẫn cách chính phủ các nước xử lý các đơn xin cấp phép nhập khẩu [20]

Thủ tục cấp phép nhập khẩu trong WTO cũng được phân chia thành hai trường hợp: Thủ tục cấp phép nhập khẩu tự động và thủ tục cấp phép không tự động

b Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời

Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời bao gồm: các quy định về trợ cấp, bán phá giá và quyền tự vệ trong thương mại

- Quy định về trợ cấp

Thỏa thuận về trợ cấp và chống trợ cấp đã đạt được trong thời kỳ GATT, sau đó Hiệp định này đã tiếp tục được sửa đổi, hoàn thiện và cấu thành nên hệ thống pháp lý của WTO ngày nay

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) có chức năng kép: thiết lập kỷ cương đối với trợ cấp của các quốc gia và quy định các biện pháp mà các nước có thể áp dụng nhằm bù đắp các hậu quả của trợ cấp Hiệp định quy định rằng một nước có thể sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO để đòi nước khác phải chấm dứt trợ cấp hoặc loại bỏ những hệ quả bất lợi của trợ cấp Nước này cũng có thể tự mở điều tra và trên cơ sở đó, có thể áp đặt một mức thuế bổ sung (được gọi là “thuế đối kháng”) đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp mà nước nhập khẩu cho rằng đã gây thiệt hại cho ngành sản xuất nước mình

Hiệp định xác định hai loại trợ cấp: những trợ cấp bị cấm và những trợ cấp

có thể bị kiện Hiệp định áp dụng cho cả sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp, trừ những trường hợp mà trợ cấp được phép tham chiếu theo “điều khoản hoà

hoãn” của Hiệp định về nông nghiệp (điều khoản này hết hiệu lực vào năm 2003)

[20]

- Quy định về bán phá giá

Theo quy định của WTO: Phá giá nghĩa là sản phẩm được bán ra ở một

nước thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó và một sản phẩm bị xem là bán phá giá nếu giá xuất của sản phẩm đó thấp hơn giá của sản phẩm tương tự được tiêu thụ ở thị trường nội địa trong điều kiện buôn bán bình thường

Trường hợp ở thị trường nội địa không có sản phẩm tương tự thì Hiệp định quy định: có thể đem sản phẩm đó so sánh với sản phẩm xuất sang một thị trường

Trang 38

thứ ba hay so sánh với giá bán hình thành dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm cộng với một khoản chi phí hợp lý cho việc quản lý, chi cho nghĩa vụ bán hàng, cho các chi phí khác là lãi kinh doanh

WTO thừa nhận rằng, bán phá giá là hoạt động cần phải lên án và các nước thành viên có quyền được áp dụng thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, để có thể áp dụng thuế chống bán phá giá, trước hết phải có đơn khiếu nại về tình trạng hàng nhập khẩu là hàng bị bán phá giá, trên cơ sở đó chính phủ nước nhập khẩu mới được tiến hành điều tra Kết quả điều tra phải cho thấy rõ:

+ Số lượng nhập khẩu mặt hàng bị coi là phá giá tăng lên đáng kể, xét về giá trị tuyệt đối hay tương đối;

+ Giá của mặt hàng nhập khẩu đó thấp hơn giá của sản phẩm tương tự sản xuất trong nước, kìm giá của sản phẩm tương tự hay ngăn chặn làm giá của sản phẩm tương tự không tăng lên;

+ Kết quả là gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho ngành sản xuất tương tự của nước nhập khẩu

Theo quy định của WTO, việc đánh thuế chống bán phá giá phải dựa trên

cơ sở không phân biệt đối xử, mức thuế không vượt quá mức phá giá Tuy nhiên, việc áp dụng thuế chống phá giá sẽ phải kết thúc trong vòng 5 năm kể từ ngày đánh thuế, trừ trường hợp các nhà chức trách xác định được rằng cần phải tiếp tục đánh thuế chống phá giá để ngăn ngừa không cho hàng nhập phá giá tiếp tục gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước [21]

- Quy định về quyền tự vệ trong thương mại

Trong thương mại, tự vệ có nghĩa là một nước có thể hạn chế nhập khẩu trong những trường hợp khẩn cấp khi lượng hàng hoá nhập khẩu tăng đột biến, gây

ra hay đe doạ gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp Các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng với một sản phẩm bất kể từ nguồn nào

Việc điều tra và xác định tổn hại nghiêm trọng được WTO quy định như sau: một nước chỉ có thể áp dụng các biện pháp tự vệ sau khi đã có điều tra của các nhà chức trách có thẩm quyền

Trang 39

Trong quá trình điều tra, việc xác định liệu một hàng hoá nhập khẩu có gây

ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho sản xuất nội địa phải dựa trên cơ sở

thực tế (chỉ số kinh tế có liên quan, tỷ lệ, khối lượng tăng thêm của hàng nhập

khẩu, thị phần mà hàng nhập khẩu chiếm được…)

c Định giá hải quan, kiểm dịch hàng hoá trước khi xuống tàu và quy chế xuất xứ

- Định giá hải quan

Định giá Hải quan là việc hải quan của một nước xác định giá trị của hàng

hoá nhập khẩu vào thị trường nước mình Hiệp định Định giá Hải quan (ACV) là một biện pháp quan trọng trong chính sách thương mại của WTO; trong đó, quy định các nguyên tắc và phương pháp xác định giá trị hàng hoá nhập khẩu, quy định quyền, nghĩa vụ của Hải quan và nhà nhập khẩu Mục đích của Hiệp định này là nhằm đảm bảo việc xác định giá trị hàng hoá nhập khẩu một cách khách quan và công bằng nhằm phát huy tác động tích cực của các ràng buộc thuế đạt được trong các vòng đàm phán của GATT/ WTO

Theo quy định của ACV, tiêu chuẩn chính để tính giá trị hàng hoá nhập

khẩu là căn cứ vào giá trị giao dịch (giá trị hàng hoá được ghi trên hợp đồng, hoá

đơn) Tuy nhiên, giá trị giao dịch không chỉ là giá trị ghi trên hợp đồng mà còn có

thể bao gồm một số chi phí như: phí hoa hồng, môi giới; trừ phí hoa hồng trả cho đại lý bán hàng; chi phí bao bì đóng gói; phí bản quyền và giấy phép; chi phí vận tải, bảo hiểm và những chi phí liên quan khác để chuyên chở hàng hoá đến nơi nhập khẩu nếu giá cả tính là giá CIF; khoản tiền mà người bán có được do bán lại hay sử dụng hàng nhập khẩu

- Kiểm định hàng hoá trước khi xuống tàu

Kiểm định là việc kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp về mặt sản lượng, chất lượng, giá cả giữa hàng hoá trên thực tế với các điều khoản nêu trong hợp đồng Hiệp định về kiểm định hàng hoá trước khi xuống tàu (PSI) là một bộ phận trong chính sách thương mại hàng hoá của WTO Hiệp định PSI chỉ áp dụng cho hoạt động kiểm định trước khi xếp hàng do chính phủ nước nhập khẩu thuê hoặc bắt buộc phải thực hiện

Trang 40

Những nội dung chính của Hiệp định bao gồm: những quy tắc cho nước xuất khẩu và nước nhập khẩu có sử dụng đối với PSI để đảm bảo hoạt động này không gây trở ngại đến thương mại Việc kiểm định chất lượng của hàng hoá được dựa trên tiêu chuẩn do người bán và người mua đã thoả thuận áp dụng Nếu trong trường hợp không có điều khoản về tiêu chuẩn này thì sẽ áp dụng tiêu chuẩn quốc tế

- Quy chế về xuất xứ

Quy tắc xuất xứ (ROO) của WTO buộc các nước thành viên WTO phải làm sao để các quy định này không hạn chế, bóp méo hoặc làm rối loạn hoạt động thương mại quốc tế; để chúng được triển khai một cách đồng bộ, thống nhất, công bằng và thoả đáng; và để chúng được xây dựng trên nền tảng là một tiêu chí tích cực

d Hàng rào kỹ thuật trong thương mại và các biện pháp vệ sinh dịch tễ

- Hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Hiệp định về những rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO có mục đích để các quy định pháp luật, tiêu chuẩn và quy trình thử nghiệm và công nhận không gây ra những trở ngại không cần thiết Hiệp định thừa nhận quyền của các nước được đưa ra những chuẩn mực mà cho họ là thích hợp, chẳng hạn để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động vật, để bảo tồn các loại thực vật, bảo

vệ môi trường hay các quyền lợi khác của người tiêu dùng Hiệp định quy định rằng các quy trình đánh giá liệu một sản phẩm có tuân thủ các tiêu chuẩn của một nước hay không phải được tiến hành một cách công bằng và thoả đáng

- Các biện pháp vệ sinh dịch tễ

Các quy định về an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ đối với động thực vật được đề cập trong Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO Hiệp định này cho phép các nước xây dựng cho mình những tiêu chuẩn riêng song cũng quy định các tiêu chuẩn này phải có căn cứ khoa học Các quy định về vệ sinh dịch tễ chỉ có thể được áp dụng trong chừng mực cần thiết

để bảo vệ sức khoẻ của con người và các loại động thực vật Hiệp định còn có các điều khoản về thủ tục kiểm tra, giám định và công nhận độ an toàn

1.2.4.3 Một số quy định khác của WTO về chính sách thương mại

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý Thiết Ánh (2002), “Về cải cách mở cửa ở Trung Quốc”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cải cách mở cửa ở Trung Quốc
Tác giả: Lý Thiết Ánh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
2. Nguyễn Kim Bảo (2004), “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc” (Giai đoạn 1992-2010), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2000), “Đánh giá về khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng và dịch vụ của Việt Nam và định hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong bối cảnh hội nhập” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá về khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng và dịch vụ của Việt Nam và định hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong bối cảnh hội nhập
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2000
4. Bộ Thương mại (2000), “Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu”, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu
Tác giả: Bộ Thương mại
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
5. Bộ Thương Mại và Trường Đại học Ngoại thương (2003), “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia - Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập Kinh tế Quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia - Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập Kinh tế Quốc tế
Tác giả: Bộ Thương Mại và Trường Đại học Ngoại thương
Năm: 2003
6. Tô Xuân Dân (1998), “Kinh tế học Quốc tế”, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học Quốc tế
Tác giả: Tô Xuân Dân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
7. Lê Linh, “Sửa đổi thuế xuất nhập khẩu theo hướng nào”, Báo Nhân dân, số 12104/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi thuế xuất nhập khẩu theo hướng nào”, "Báo Nhân dân
8. Lê Bộ Lĩnh (2005), “Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế 2004-2005”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế 2004-2005
Tác giả: Lê Bộ Lĩnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
9. Lưu Lực (2002), “Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu
Tác giả: Lưu Lực
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
10. Võ Đại Lược (2004), “Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - Thời cơ và thách thức”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - Thời cơ và thách thức
Tác giả: Võ Đại Lược
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
11. Tạ Kim Ngọc (2001), “Kinh tế thế giới thế kỷ XX và triển vọng những thập kỷ đầu thế kỷ XXI”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới thế kỷ XX và triển vọng những thập kỷ đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Tạ Kim Ngọc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
12. Hoàng Thanh Nhàn (1990), “Công nghiệp hóa hướng ngoại - Sự thần kỳ của các NIE Châu Á”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa hướng ngoại - Sự thần kỳ của các NIE Châu Á
Tác giả: Hoàng Thanh Nhàn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1990
13. Phan Thanh Phố (2005), “Việt Nam với tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
Tác giả: Phan Thanh Phố
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
14. Phạm Thái Quốc, “Quá trình tự do hoá thương mại ở Trung Quốc”, Những vấn đề kinh tế thế giới, số 3(77)/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình tự do hoá thương mại ở Trung Quốc”, "Những vấn đề kinh tế thế giới
15. Phạm Thái Quốc, “Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu cấp Viện, Viện Kinh tế thế giới (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam”, "Đề tài nghiên cứu cấp Viện
16. Đỗ Tiến Sâm (2005), “Trung Quốc gia nhập WTO, kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nhập WTO, kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2005
17. Nguyễn Xuân Thắng (2003), “Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
18. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Viện Kinh tế Thế giới (1993), “Tự do hoá thương mại quốc tế: Những xu hướng và chính sách”, (Tạp chí chuyên đề), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do hoá thương mại quốc tế: Những xu hướng và chính sách
Tác giả: Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Viện Kinh tế Thế giới
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
19. Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2002), “Đàm phán thuế quan trong WTO”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán thuế quan trong WTO
Tác giả: Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
20. Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2002), “Hỏi đáp về WTO”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về WTO
Tác giả: Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mức độ phụ thuộc vào ngoại thương của Trung Quốc (1950 - 1975) - Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF
Bảng 2.1 Mức độ phụ thuộc vào ngoại thương của Trung Quốc (1950 - 1975) (Trang 54)
Bảng 2.2: Mức độ phụ thuộc vào ngoại thương của Trung Quốc 1978 - 1986 - Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF
Bảng 2.2 Mức độ phụ thuộc vào ngoại thương của Trung Quốc 1978 - 1986 (Trang 57)
Bảng 2.3: Lịch trình giảm thuế của Trung Quốc đến năm 2010 (Đơn vị %) - Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF
Bảng 2.3 Lịch trình giảm thuế của Trung Quốc đến năm 2010 (Đơn vị %) (Trang 68)
Bảng 2.4: Mức độ phụ thuộc ngoại thương của Trung Quốc 2001 - 2005 - Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF
Bảng 2.4 Mức độ phụ thuộc ngoại thương của Trung Quốc 2001 - 2005 (Trang 85)
Bảng 2.5: Mức độ bảo hộ nhập khẩu của một số mặt hàng nông sản Trung Quốc - Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF
Bảng 2.5 Mức độ bảo hộ nhập khẩu của một số mặt hàng nông sản Trung Quốc (Trang 88)
Bảng 2.6: Mức độ bảo hộ nhập khẩu của một số mặt hàng công nghiệp Trung Quốc - Chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới.PDF
Bảng 2.6 Mức độ bảo hộ nhập khẩu của một số mặt hàng công nghiệp Trung Quốc (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w