TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ------ TRẦN THỊ HOÀNG NGÂN ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
TRẦN THỊ HOÀNG NGÂN
ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà Nội - 2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
TRẦN THỊ HOÀNG NGÂN
ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI TẤT THẮNG
Hà Nội - 2008
Trang 3i
Lời mở đầu
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO
1.1 Vài nét về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
1.1.1 Khái quát về WTO
1.1.2 Vai trò của WTO
1.2 Những quy định thương mại của WTO
1.2.1 Những nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại
1.2.2 Các chính sách thương mại trong WTO
Chương 2: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
2.1 Mở rộng quyền hoạt động thương mại và phân cấp quản lý hoạt động thương mại
2.2 Chính sách tự do hóa thương mại
2.2.1 Giảm hàng rào thuế quan
2.2.2 Giảm các hàng rào phi thuế quan
2.2.3 Chính sách quản lý nhập khẩu
2.3 Hoàn thiện công tác quản lý vĩ mô đối với ngoại thương
2.3.1 Kiện toàn hệ thống pháp luật
2.3.2 Vấn đề chống phá giá
2.3.3 Vấn đề chống độc quyền
2.3.4 Về mua sắm của Chính phủ
Chương 3: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện các cam kết với WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam
3.1 Những cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc
3.2 Những điều chỉnh trong chính sách thương mại của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
3.2.1 Điều chỉnh thể chế luật pháp
3.2.2 Thực hiện nhiều biện pháp, chính sách thuế thúc đẩy xuất khẩu hàng có giá trị gia tăng cao và công nghệ cao
3.2.3 Hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu, khai thác thị trường nước ngoài
3.2.4 Thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao và xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
3.2.5 Chủ động đối phó với các vấn đề tranh chấp thương mại
3.3 Những kết quả to lớn và toàn diện
3.4 Những thách thức còn tồn tại
1
7
7
7
11
14
14
17
38
38
42
42
47
50
52
52
52
53
54
62
62
67
68
70
71
71
71
72
77
Trang 4ii
trước và sau khi gia nhập WTO
3.5.1 Thống nhất quản điểm, nâng cao nhận thức về WTO
3.5.2 Sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO
3.5.3 Thực hiện cắt giảm các hàng rào thương mại theo cam kết
3.5.4 Cải cách thể chế kinh tế thị trường
3.5.5 Cải cách Chính phủ
3.5.6 Cải cách doanh nghiệp
3.5.7 Áp dụng các biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu
3.5.8 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
3.5.9 Đối phó với các sự cố phát sinh sau khi gia nhập
3.5.10 Coi trọng ổn định chính trị, xã hội
3.5.11 Giải quyết các vấn đề an sinh xã hội
3.6 Một số nhận xét, đánh giá và những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo
3.6.1 Tiếp tục đổi mới tư duy và nhận thức
3.6.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế, phát triển các ngành nghề mới
3.6.3 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
3.6.4 Tiếp tục nâng cao năng lực thể chế và vai trò của Chính phủ
3.6.5 Ổn định kinh tế vĩ mô, đối phó với những biến cố có thể xảy ra khi gia nhập WTO
3.6.6 Ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
Kết luận
Phụ lục 1: Danh sách thành viên WTO và ngày gia nhập
Phụ lục 2: Cam kết về thuế quan hạn ngạch sản phẩm nhập khẩu
Phụ lục 3: Cam kết về thủ tiêu biện pháp thuế quan chủ yếu
Phụ lục 4: Cam kết về lĩnh vực thương mại dịch vụ
Phụ lục 5: Cam kết thuế của các Thành viên WTO mới
Phụ lục 6: Cam kết về dịch vụ của các Thành viên WTO mới
Phụ lục 7: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của một số nước thành viên mới gia nhập WTO giai đoạn 1998-2006
Danh mục tài liệu tham khảo
78
78
79
79
80
81
81
82
83
83
83
83
84
84
87
90
91
91
93
97
99
103
106
107
108
110
112
113
Trang 51 Sự cần thiết của đề tài luận văn
Vào khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, quá trình toàn cầu hóa bước vào thời kỳ có những thay đổi mạnh mẽ Hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước lớn đều đã điều chỉnh chính sách kinh tế để phù hợp với quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng Quá trình điều chỉnh đang tiếp tục sang những năm đầu của thế kỷ XXI Việc tổ chức lại cơ cấu kinh tế của các nước đã và đang thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển Cũng giống như các quốc gia, Trung Quốc đã có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách thương mại của mình để thích hợp với những thay đổi đó
Sự điều chính chính sách thương mại của Trung Quốc phản ánh xu thế chung của kinh tế thế giới, đó là xu thế toàn cầu hóa kinh tế Điều này chịu sự tác động của tình hình kinh tế, chính trị quốc tế và khu vực, đó là: chiến tranh lạnh kết thúc; các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính diễn ra trong những năm 1990; sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ; nhịp độ toàn cầu hóa tăng nhanh; chính trị thế giới và quan hệ quốc
tế nảy sinh những vấn đề mới… Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định:
“mục tiêu cải cách thể chế ở Trung Quốc là xây dựng thể chế thị trường xã hội chủ nghĩa” và hội nhập kinh tế thế giới Có thể nói, sự điều chỉnh chính sách thương mại ở Trung Quốc từ sau năm 1986 (thời điểm Trung Quốc nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới) là sự tiếp nối công cuộc cải cách mở cửa bắt đầu từ năm 1978 Và nhờ vậy, Trung Quốc đã có những bước tiến quan trọng mang tính đột phá trong việc điều chỉnh chính sách kinh tế, bước đầu đã xây dựng được thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới năm 2001 Để phù hợp với những yêu cầu của WTO, Trung Quốc
Trang 6tiếp tục điều chỉnh chính sách thương mại của mình để thực thi các cam kết sau khi gia nhập WTO
Sự điều chỉnh trong chính sách thương mại nhằm đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, giải quyết những thách thức của tiến trình toàn cầu hóa đem lại Chính điều này đã đem lại cho Trung Quốc những thành công ngoài dự kiến Sau 5 năm gia nhập WTO, Trung Quốc luôn là nước
có mức tăng trưởng thương mại nhanh nhất thế giới Họ trở thành nước có giá trị thương mại lớn thứ 3 sau Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ; Kim ngạch mậu dịch từ chỗ chiếm 40% GDP trong năm 2001, đến năm 2006 chỉ tiêu này đã chiếm tới 80%
Như vậy, vấn đề đặt ra là Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách của
họ như thế nào từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới để đạt được những thành công như vậy? Và Việt Nam học hỏi được những gì từ kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại tạo nên sự phát triển nhanh của Trung Quốc? Đặc biệt là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO (11/2006) và lộ trình thực thi các cam kết và quy định của WTO đang là vấn đề hoàn toàn mới, đặt ra các yêu cầu cấp thiết
mà chúng ta phải quan tâm Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO và gợi ý cho Việt Nam” có ý nghĩa hết sức quan trọng và là
một hướng nghiên cứu mới
2 Tình hình nghiên cứu
Trung Quốc hiện đang được nhìn nhận như một nền kinh tế tăng trưởng năng động nhất thế giới Vì vậy, những nghiên cứu không chỉ của các tác giả Trung Quốc mà cả trên toàn thế giới về nền kinh tế Trung Quốc
Trang 7nói chung, về sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Trung Quốc nói riêng là hết sức phong phú Điển hình là những công trình như:
Ở nước ngoài: Supachai Panitchpakdi và Mark L.Cliford (2002) với:
“Trung Quốc và WTO - Trung Quốc đang thay đổi, thương mại thế giới đang thay đổi”; Anderson K., Huang J., and Ianchovichina E (2004): “The impacts of WTO Accession on Chinese Agriculture an Rural Poverty” In Battasali, Li, Martin (eds) China and the WTO: Accession, Policy Reform, and Poverty Reduction Strategies; Changhong Pei (2005), “Analysis of China’s Foreign Trade Growth and Discussion of Related Policies”,
China & World Economy, Vol 13, No 2, pp 26-38 v.v…
Ở Việt Nam: Cho đến nay, đã có một số công trình viết về sự điều
chỉnh chính sách kinh tế của Trung Quốc như: “Trung Quốc gia nhập WTO Kinh nghiệm với Việt Nam” (2005), của TS Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên) ;“Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - Thời cơ và thách thức” (2004), của PGS TSKH Võ Đại Lược (Chủ biên); Dự án VIE
01/012 của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM) và
UNDP: “Chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc”; “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992-2010)” (2004), của TS Nguyễn Kim Bảo (Chủ biên) v.v…
Nhìn chung, các công trình trên đã phân tích về các nhân tố đòi hỏi Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách kinh tế và tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với bản thân Trung Quốc trên các lĩnh vực: cải cách chính sách kinh tế vĩ mô, cơ cấu ngành kinh tế chủ chốt, khu vực doanh nghiệp, các vấn đề xã hội, hoàn thiện hệ thống luật pháp và tác động đến các nền kinh tế trên thế giới Như vậy, theo sự tìm hiểu của tác giả, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về sự điều chỉnh chính
Trang 8sách thương mại của Trung Quốc trong quá trình từ sau khi nước này nộp đơn gia nhập WTO cho đến nay một cách chi tiết, hệ thống Mặt khác, sau khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới, việc điều chỉnh chính sách thương mại của chúng ta sao cho phù hợp với tình hình mới là điều mà không chỉ giới nghiên cứu quan tâm Do
đó, luận văn này được viết với mục đích tìm hiểu những nội dung chính trong việc điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình điều chỉnh chính sách thương mại mà Việt Nam có thể tham khảo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), luận văn đề xuất một số khuyến nghị, gợi ý chính sách cho Việt Nam nhằm giảm những tác động bất lợi từ quá trình hội nhập đem lại 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu một số nội dung cơ bản về thương mại trong
khuôn khổ WTO
Thứ hai, xem xét quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của
Trung Quốc trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Và,
Thứ ba, trên cơ sở đó, đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi ra nhập WTO
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về quá trình điều
chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
khi Trung Quốc nộp đơn gia nhập WTO (1986) đến khi gia nhập WTO
(2001); và tư khi gia nhập WTO đến năm 2007
- Về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu về chính sách thương mại của
Trung Quốc Đại lục chứ không nghiên cứu thêm cả chính sách thương mại
của Hồng Kông, Ma Cao…
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để phân tích quá trình điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc
Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp
được sử dụng nhằm làm nổi bật hiệu quả của quá trình điều chỉnh chính
sách thương mại ở Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO Tác giả
cũng sử dụng phương pháp so sánh để cho biết Trung Quốc đã thành công
đến đâu trong công cuộc điều chỉnh chính sách thương mại và vị trí của
quốc gia này trên thế giới Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp
thống kê, thu thập, xử lý tài liệu như là một công cụ phân tích số liệu để
minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, luận văn cũng còn sử
dụng phương pháp chuyên gia tức là tham khảo các ý kiến đánh giá của các
chuyên gia kinh tế, đặc biệt là các chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa quá trình điều chỉnh chính sách thương mại
của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO, bước đầu đưa ra một số
gợi ý cho Việt Nam
Trang 107 Nội dung và kết cấu của đề tài
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 Chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO Chương 2: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Chương 3: Điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện các cam kết với WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ WTO
Trọng tâm của phần này là hệ thống hóa một số vấn đề liên quan đến những quy định về thương mại và chính sách thương mại trong khuôn khổ của WTO
1.1 Vài nét về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
1.1.1 Khái quát về WTO
1.1.1.1 Giới thiệu về WTO
Nói một cách đơn giản, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là nơi
đề ra những quy định điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới Trước tiên, WTO là một khuôn khổ để đàm phán WTO là diễn đàn, nơi các quốc gia thành viên thương lượng giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ WTO
ra đời từ các cuộc đàm phán và tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán
WTO là tập hợp những quy định Nòng cốt của tổ chức là các hiệp định WTO, được phần lớn các cường quốc thương mại trên thế giới đàm phán và ký kết Những văn bản này tạo thành quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế Đó chủ yếu là những hợp đồng, theo đó chính phủ các nước cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thỏa thuận Mặc dù do các chính phủ đàm phán và ký kết, song mục tiêu của những hợp đồng này là giúp đỡ các nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ cũng như các nhà sản xuất, nhập khẩu triển khai các hoạt động của mình, đồng thời vẫn cho phép chính phủ các nước đáp ứng được những mục tiêu xã hội và môi trường
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 01
tháng 01 năm 1995, tại thời điểm đó, tổng số các Bên ký kết GATT là 128
nhưng chỉ có 76 nước trong số này trở thành Thành viên WTO Số còn lại
Trang 12sau thời điểm trên mới tham gia WTO (12/1995) Hiện nay đã có 152 nước
và vùng lãnh thổ tham gia tổ chức này, chiếm 97% GDP và 85% giá trị thương mại hàng hóa và 90% giá trị thương mại dịch vụ toàn cầu
Khác với GATT, trước kia chỉ bao quát thương mại hàng hóa, sau khi thành lập, WTO đã mở rộng phạm vi điều tiết hoạt động thương mại toàn cầu từ lĩnh vực chủ yếu là thương mại hàng hoá sang các lĩnh vực khác như thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và thương mại liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ…WTO thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu theo các nguyên tắc như: minh bạch hóa chính sách thương mại, đối xử tối huệ quốc, thương mại không phân biệt đối xử, đối xử quốc gia và mở của thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ để thương mại toàn cầu phát triển thông qua đàm phán Mục đích của tổ chức này là thúc đẩy tự do thương mại nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, nâng cao mức sống của người dân thông qua việc cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan; xoá bỏ các loại trợ cấp làm méo mó thương mại; nới lỏng các hạn chế về đầu tư; cho phép các dòng vốn được
tự do di chuyển giữa các quốc gia… WTO cũng như các cơ quan giải quyết các tranh chấp thương mại làm cho thương mại quốc tế minh bạch hơn và công bằng hơn
Trang 13Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm tại La Havana (Cuba) tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên, do không được tất cả các quốc hội của các nước phê chuẩn nên ITO, với tư cách là một tổ chức đã không thể hình thành Mặc dầu vậy, tinh thần
cơ bản của Hiến chương ITO về điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại thông qua sự hình thành định chế thương mại quốc tế Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Từ khi ra đời (1-1-1948 với 23 nước tham gia thỏa thuận ban đầu), GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm (đến hết năm 1994) Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới Tại vòng đàm phán thứ 8 của GATT khai mạc ở Punta del Este, Urugoay – Vòng đàm phán Urugoay, bắt đầu năm 1986 và kết thúc vào năm 1994, các bên tham gia GATT đã nhất trí thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT Các nguyên tắc
và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý và mở rộng
1.1.2 Vai trò của WTO
Mặc dầu khó tính toán mức độ đóng góp của WTO, nhưng có thể khẳng định rằng, sau hơn 10 năm thành lập, WTO đã có những đóng góp đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng thương mại và đầu tư, giải quyết nhiều vụ tranh chấp kinh tế căng thẳng, góp phần ổn định thế giới
1.1.2.1 Thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng của kinh tế - thương mại toàn cầu
WTO tạo ra một môi trường chung lành mạnh cho phát triển thương mại toàn cầu và qua đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế thế giới Thông qua việc cắt giảm thuế quan, phi thuế quan, cải cách thể chế thương mại theo hướng minh bạch, không phân biệt đối xử, nhờ đó thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động trên phạm vi toàn cầu, tạo điều kiện cho sản phẩm phát triển nhanh hơn
Trang 141.1.2.2 Thể chế hóa khung khổ pháp lý, điều tiết thương mại toàn cầu
Các nguyên tắc và Hiệp định của WTO là luật chơi chung đối với các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Đây là định chế thương mại quan trọng nhất và có hiệu lực nhất hiện nay Sau năm 1995, WTO đã thể chế hoá luật chơi chung của thế giới mà trước đó chưa từng có Chính vì vậy, gia nhập WTO là xu thế chung đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi
Có thể đánh giá thành công lớn nhất của WTO từ khi thành lập đến nay là góp phần duy trì sự ổn định thế giới WTO thể chế hoá các quy định điều tiết kinh tế thương mại toàn cầu theo các nguyên tắc chung do đó tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác và phát triển WTO giải quyết vấn đề này thông qua việc giải quyết các xung đột về quyền lợi kinh tế giữa các thành viên làm hạn chế tối đa khả năng xung đột về quyền lợi kinh tế dẫn tới các xung đột về quân sự
1.1.2.4 Một số quan điểm khác về vai trò của WTO
Hiện nay vẫn còn một số Tổ chức (như Oxfam, Các tổ chức phi chính phủ - NGOs…) có quan điểm tương đối khác về mục tiêu và đóng góp của WTO Họ cho rằng gia nhập WTO hiện nay của các nước thành viên mới là không công bằng Một số quan điểm khác cho rằng toàn cầu hoá hiện nay làm phân hoá sâu sắc hơn chênh lệch giầu nghèo, phân chia lợi ích bất bình đẳng giữa các nước và các nhóm xã hội, làm nảy sinh các vấn đề khác như ô nhiễm môi trường, xung đột văn hoá, xã hội…
Tóm lại, mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò và
đóng góp của WTO, tuy nhiên, như Peter Gallagher, tác giả cuốn sách
“The first Ten Years of WTO: 1995-2005” nhận định: “Sau 10 năm thành lập, có thể thấy rõ ràng rằng, nếu không có WTO, thị trường thế giới sẽ trở nên nhỏ bé hơn, cơ hội thương mại sẽ trở nên ít ỏi hơn, sẽ có ít hơn các