1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếtt.PDF

27 901 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 636,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với yêu cầu trên, việc chỉ rõ các hạn chế và những yếu kém về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế khác từ đó đề ra các chính sách nâng cao hơn nữa năng lự

Trang 1

MỤC LỤC

Danh mục viết tắt 3

Danh mục bảng biểu 5

Lời mở đầu……… 6

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về cạnh tranh quốc gia 9

1.1 Khái niệm cạnh tranh và các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia 9

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 9

1.1.2 Phân loại 10

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia 13

1.2 Kinh nghiệm quốc tế 15

1.2.1 Kinh nghiệm mở cửa, hội nhập và nâng cao sức cạnh tranh của một số nước trong khu vực 15

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 19

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và những vấn đề đặt ra 24

2.1 Tổng quan về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 24

2.2 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam dựa vào các tiêu chí đánh giá của WEF 29

2.2.1 Về thể chế Nhà nước và vai trò điều hành của Chính phủ 29

2.2.2 Về Tài chính - Ngân hàng 37

2.2.3 Về mức độ mở cửa và hội nhập 46

Trang 2

2.2.4 Về Hạ tầng 60

2.2.5 Về Công nghệ 69

2.2.6 Về Lao động 76

2.2.7 Về Doanh nghiệp 82

2.3 Những mặt hạn chế về năng lực cạnh tranh của Việt Nam 91

Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 100

3.1 Định hướng quan điểm 100

3.2 Nhóm giải pháp của doanh nghiệp 101

3.2.1 Chiến lược Sản phẩm 102

3.2.2 Chiến lược Marketing 103

3.2.3 Chiến lược đổi mới Công nghệ 103

3.2.4 Chiến lược phát triển nguồn Nhân lực 104

3.2.5 Chiến lược Liên kết 104

3.3 Nhóm giải pháp của nhà nước 105

3.3.1 Về môi trường thể chế 105

3.3.2 Về môi trường đầu tư 107

3.3.3 Về môi trường kinh doanh 110

Kết luận 114

Tài liệu tham khảo 115

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài:

Từ trước đến nay, cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các quốc gia trong nền kinh tế thị trường bởi cạnh tranh là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế

Nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tạo việc làm và thu nhập, trình độ khoa học công nghệ được nâng cao, đời sống người dân được cải thiện Ngược lại, nền kinh tế chậm hoặc không nâng cao được năng lực cạnh tranh sẽ dẫn đến ít thu hút được đầu tư trong nước và nước ngoài, mất thị phần của thị trường trong nước và thế giới Các doanh nghiệp không cạnh tranh được sẽ phải chuyển hướng sản xuất, thậm chí có thể phải giải thể, phá sản dẫn đến lao động mất việc làm, gây khó khăn về kinh tế, xã hội

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) trong báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu hàng năm thì Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm có khả năng cạnh tranh thấp Cụ thể: Năm 2003 Việt Nam xếp hạng

60 trong 102 nước; Năm 2004 xếp hạng 77 trong 104 nước; Năm 2005 xếp hạng 81 trong 117 nước Với năng lực như vậy, khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta sẽ dễ dàng bị tổn thương và thua thiệt Để tránh nguy cơ trên và khỏi bị gạt ra ngoài quỹ đạo phát triển chung, Việt Nam cần phải nỗ lực, chủ động hội nhập vào xu thế chung đồng thời phải nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của mình

Với yêu cầu trên, việc chỉ rõ các hạn chế và những yếu kém về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế khác từ đó

đề ra các chính sách nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh quốc gia của

Trang 4

Việt Nam trong quá trình hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế quốc

tế đang là vấn đề được các cơ quan, các bộ, ban ngành, các doanh nghiệp

và toàn xã hội quan tâm

Do sự cần thiết của vấn đề như vậy nên em lựa chọn nghiên cứu đề

tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu:

Cạnh tranh kinh tế là vấn đề hấp dẫn, đã có nhiều tác giả tìm hiểu, nghiên cứu Ở Việt Nam cũng đã có nhiều hội thảo, dự án nghiên cứu về năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp, nghiên cứu những rào cản, những mặt hạn chế về năng lực cạnh tranh của Việt Nam nhưng chưa nghiên cứu một cách có hệ thống năng lực cạnh tranh của Việt Nam và việc đưa ra các giải pháp cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập và chuẩn bị gia nhập WTO

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Chỉ ra những mặt lợi thế và hạn chế, yếu kém về năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong quá trình hội nhập

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Nghiên cứu những vấn đề về năng lực canh tranh quốc gia của Việt Nam Những vấn đề lý luận, những chính sách và giải pháp liên quan đến cạnh tranh kinh tế

Trang 5

- Phạm vi: Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ năm 1995 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn này, phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của Việt Nam là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, dựa trên 8 tiêu chuẩn của WEF

để tổng hợp, thống kê, phân tích và so sánh từ đó rút ra những giải pháp tối

ưu

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:

- Làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như tham gia AFTA và khi Việt Nam gia nhập WTO

7 Bố cục của luận văn:

Bố cục của luận văn ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo, phần nội dung bao gồm có 3 chương:

 Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế

về năng lực cạnh tranh quốc gia

 Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt

Nam và những vấn đề đặt ra

 Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế

của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG Chương 1:

Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về Năng

lực cạnh tranh quốc gia 1.1 Khái niệm cạnh tranh và các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia:

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh:

Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các quốc gia, các doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho tổ chức này và thiệt hại cho tổ chức khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (Ví dụ: chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn )

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, khả năng cạnh tranh là điều kiện cho sự sống còn của mỗi doanh nghiệp Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, vì thế từng doanh nghiệp đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược cạnh tranh phù hợp để vươn lên tới vị thế cao nhất

Cạnh tranh kinh tế quốc tế: Là cạnh tranh giữa chủ thể kinh tế trên

thị trường thế giới, là cạnh tranh kinh tế đã vượt khỏi phạm vi quốc gia Sở

dĩ như vậy là do sự tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, phân công lao động quốc tế đã phát triển sâu, rộng, sự phát triển lực lượng sản

Trang 7

xuất xã hội có tính chất quốc tế và do quá trình mở rộng thị trường trên quy mô toàn thế giới

Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt

được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế,

xã hội, nâng cao đời sống của người dân

1.1.2 Phân loại:

Theo lý thuyết cổ điển gồm có lý luận cạnh tranh của Adam Smith, quan điểm cạnh tranh của John Stuart Mill, quan điểm cạnh tranh của Các Mác; Theo lý thuyết hiện đại có lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter Ngoài ra trong điều kiện hiện tại, cùng với xu hướng toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ thì quan điểm về cạnh tranh cũng có những thay đổi nhất định

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia:

Trên cơ sở các khái niệm đã đề cập về cạnh tranh, cạnh tranh kinh tế quốc tế và qua nghiên cứu các lý thuyết cạnh tranh cổ điển và hiện đại, luận văn sử dụng phương pháp đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đưa ra 8 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm: Thể chế kinh tế - chính trị; Vai trò của chính phủ; Năng lực tài chính - tiền tệ; Mức độ mở cửa nền kinh tế, bao gồm mở cửa thương mại và đầu tư; Kết cấu hạ tầng; Trình độ công nghệ; Lực lượng lao động; Trình độ quản

lý doanh nghiệp

WEF là một tổ chức phi chính phủ rất có uy tín về tính khách quan

và độ xác thực - phối hợp với Đại học Harvard - chuyên nghiên cứu và xếp hạng năng lực cạnh tranh của các quốc gia toàn cầu dựa trên một phương pháp luận đã được áp dụng và luôn được hoàn thiện từ 1979 đến nay, kết hợp tính toán các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được tham khảo và tính toán từ

Trang 8

kho dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức, hiệp hội quốc tế khác Phần quan trọng còn lại là kết quả phỏng vấn, khảo sát ý kiến của hàng nghìn công ty lớn trên thế giới, các doanh nghiệp có qui mô toàn cầu về những tiêu chí khó định lượng hoá bằng mô hình toán học

Cách tiếp cận của WEF thường được các nhà hoạch định chính sách quan tâm vì nó mang tính khái quát, tổng thể khá cao và tương đối rõ ràng,

dễ hiểu Hơn nữa, cách tiếp cận này cũng thể hiện được sự gắn kết môi trường kinh tế chung với các hoạt động kinh doanh và đây là điều quan trọng xét từ góc độ các nhà kinh doanh Đặc biệt, quan điểm nhìn nhận tổng thể tính cạnh tranh cấp độ quốc gia của WEF có được sự “đồng thuận” quốc tế khá cao

1.2 Kinh nghiệm quốc tế trong việc phát hiện và tận dụng các lợi thế cạnh

tranh quốc gia:

Trong nội dung chương 1 còn đề cập đến kinh nghiệm quốc tế trong việc phát hiện và tận dụng các lợi thế cạnh tranh quốc gia; kinh nghiệm về chính sách mở cửa, hội nhập và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản và Trung Quốc; Những bài học về chính sách cạnh tranh cho Việt Nam

Trang 9

Chương 2:

Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam

và những vấn đề đặt ra 2.1 Tổng quan về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thể hiện cụ thể ở khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ phụ thuộc vào sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tạo ra hàng hoá đó Đến lượt mình, hoạt động của doanh nghiệp lại phụ thuộc vào luật lệ, thể chế và điều hành của Chính phủ, vào môi trường kinh tế vĩ mô, tức là phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc gia Mục tiêu cuối cùng là phải tạo ra nhiều hàng hoá và dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao, tuy nhiên những giải pháp quan trọng cần tháo gỡ là nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Xét về các chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia, theo đánh giá của WEF bắt đầu xếp hạng kinh tế Việt Nam từ năm 1997 và liên tục xếp hạng cho đến nay, một số nền kinh tế khác không đủ dữ liệu nên không thể xếp hạng được mặc dù WEF có nguyện vọng xếp hạng tất cả các nền kinh tế trên hành tinh này nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư Mặc dù sau những năm đổi mới và mở cửa nền kinh tế nước ta đã có nhiều tiến bộ, nhưng so với các nước, năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam còn thấp kém và chậm được cải thiện

Những thay đổi thứ hạng của Việt Nam trong báo cáo năng lực cạnh toàn cầu năm 2005 của WEF cho thấy Việt Nam vẫn tiếp tục đạt được tiến

bộ trong các chỉ số kinh tế vĩ mô, về xoá đói, giảm nghèo và về nỗ lực của Chính phủ trong việc phát triển công nghệ thông tin Bản thân các doanh

Trang 10

nghiệp cũng tin tưởng cao vào triển vọng phát triển kinh trong những năm tới Tuy nhiên, thứ hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn luôn bị đánh giá thấp Có thể thấy rằng các chỉ số về trình độ công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, môi trường pháp lý đối với hoạt động kinh doanh, tiếp thị

ra thị trường quốc tế, và đặc biệt là tham nhũng của nước ta luôn ở thứ hạng rất thấp qua nhiều năm Trong khi đó, đây lại là những yếu tố quan trọng tác động tới tăng trưởng bền vững và năng suất hay năng lực cạnh tranh của một quốc gia Điều đó cũng có nghĩa là năng lực cạnh tranh của Việt Nam chỉ thật sự có sự thay đổi lớn và ổn định ở thứ hạng cao khi chúng ta xử lý về căn bản những hạn chế trên

2.2 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam dựa vào các chỉ tiêu đánh giá của WEF:

Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam dựa vào các tiêu chí đánh giá của WEF

2.2.1 Thể chế nhà nước và vai trò điều hành của chính phủ:

2.1.1.1 Năng lực thể chế:

Khung khổ luật pháp và pháp luật về kinh tế

Trong thời gian qua Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm quản lý nền kinh tế - xã hội Vì vậy nhiều lĩnh vực đã được chế định bằng các văn bản luật, pháp lệnh Kinh tế thị trường từng bước thay thế cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ

Tuy nhiên, với mục tiêu bảo đảm cho tự do kinh doanh, cạnh tranh công bằng và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, thể chế pháp lý hiện

Trang 11

hành trong quản lý kinh tế ở nước ta vẫn còn có những hạn chế, bất cập thể hiện ở một số mặt như:

Thực thi luật pháp và chính sách kinh tế

Việc thực thi luật pháp và chính sách kinh tế có chưa xây dựng được

cơ chế thi hành pháp luật, chưa quan tâm đúng mức đến các điều kiện về

tổ chức, nhân sự và tài chính để bảo đảm thi hành pháp luật

Nguyên tắc pháp quyền chưa được quán triệt và vận dụng vào việc thực thi luật pháp và chính sách kinh tế của một số cơ quan, một bộ phận cán bộ và công chức Công tác thông tin pháp luật chưa kịp thời, chính xác, cập nhật

2.1.1.2 Năng lực của chính phủ:

Về mặt tổ chức, cơ cấu bộ máy chính phủ đã sắp xếp lại gọn hơn,

giảm bớt số Bộ, cơ quan ngang Bộ, đồng thời còn giảm mạnh số đầu mối thuộc Chính phủ

Về công tác quản lý nhà nước và sự điều hành của Chính phủ đã bám

sát và nhạy bén hơn với diễn biến của tình hình Đã có sự tăng cường quan

hệ tiếp xúc, đối thoại giữa các cơ quan Chính phủ với các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh

Trang 12

Các cấp chính quyền địa phương nói chung đã có nhiều chuyển biến trong việc phân công, phối hợp các sở, ngành, quan tâm cải cách hành chính, giáo dục cán bộ, tăng cường các hoạt động hỗ trợ, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân

Một số tồn tại:

Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, năng lực quản lý và hiệu

lực của bộ máy Chính phủ còn tồn tại nhiều yếu kém, tác động tiêu cực

không nhỏ tới kết quả đổi mới thời gian qua và đòi hỏi phải được giải quyết một cách có hiệu lực trong thời gian tới

* Trong thời gian qua cải cách hành chính diễn ra chậm chạp và mới

chủ yếu dừng lại ở khâu cải cách thủ tục hành chính

Tình trạng kỷ luật hành chính lỏng lẻo đang diễn ra trong bộ máy nhà

nước, không những gây khó khăn cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp, mà còn làm giảm lòng tin của doanh nhân đối với hiệu lực quản lý, điều hành của Chính phủ

Một số bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố tuỳ tiện ban hành văn bản

pháp quy trái với đường lối đổi mới của Đảng, trái với hệ thống pháp luật

Trang 13

nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng; tăng cường khả năng và tư duy xây dựng văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết với các tổ chức quốc tế;

mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra biện pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế Bên cạnh những cơ hội, nhiều thách thức đang đặt ra đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam đòi hỏi cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, Việt Nam cần phải xây dựng một hệ thống ngân hàng có uy tín, có khả năng cạnh tranh, hoạt động có hiệu quả, an toàn, có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đánh giá mức độ cạnh tranh hiện tại trong khu vực tài chính - ngân hàng dựa trên các chỉ tiêu sau đây:

+ Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước

+ Xu thế cạnh tranh giữa các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng thương mại Việt Nam

+ Tình trạng nợ khó đòi của các ngân hàng

+ Kiểm tra và giám sát tài chính đối với khách hàng

+ Kiểm soát lãi suất

2.2.3 Chính sách mở cửa và hội nhập:

Việt Nam được thế giới đánh giá là một quốc gia có những bước tiến vững chắc và ổn định trong khu vực và trên thế giới Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển, đã ký kết hơn 80 hiệp định thương mại và đầu tư song phương và có quan hệ hợp tác kinh tế với trên 220

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w