Qua 10 năm thực hiện chiến lược, mặc dù có rất nhiều lợi thế trong quá trình phát triển, trước hết là điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, ít thiên tai, kết cấu kinh tế - xã hội của H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Bùi Trường Giang
Hà Nội – Năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt………i
Danh mục các bảng……… ii
Danh mục các biểu đồ……… iii
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI……… 6
1.1 Khái niệm, cấu thành và các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài……….……… 6
1.1.1 Khái niệm môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài……… 6
1.1.2 Cấu thành môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài……….6
1.1.2.1 Tình hình chính trị……… 6
1.1.2.2 Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên……….7
1.1.2.3 Chính sách – Pháp luật……… ……… 7
1.1.2.4 Trình độ phát triển của nền kinh tế……… 9
1.1.2.5 Đặc điểm phát triển văn hóa – xã hội……….….9
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài……….……… ……….13
1.1.3.1 Theo năng lực cạnh tranh……… 19
1.1.3.2 Theo chi phí đầu tư……….… 21
1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế 1.2.1 Đối với các nước xuất khẩu vốn đầu tư……….22
1.2.2 Đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư……… 24
1.3 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài……….28
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế từ thành phố Edinburgh ……… 28
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước từ tỉnh Bắc Ninh……… 29
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2001
-2011… ………32
2.1 Khái quát chung về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội ……… 32
2.1.1 Tổng quan diễn biến thu hút và sử dụng vốn FDI trên địa bàn Hà Nội 32
2.1.2 Những lợi thế và hạn chế của môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội……….……….……….35
2.1.2.1 Những lợi thế và cơ hội………35
2.1.2.2 Những hạn chế và thách thức………37
2.1.3 Những hiệu ứng của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội………40
2.1.3.1 Vốn đầu tư xã hội……….40
2.1.3.2 Tạo nguồn thu Ngân sách nhưng còn nhiều hành vi tiêu cực, trốn tránh nghĩa vụ tài chính……… 40
2.1.3.3 Xuất nhập khẩu………41
2.1.3.4 Hiệu ứng chuyển giao công nghệ………42
2.1.3.5 Việc làm và đào tạo nhân công……… 44
2.1.3.6 Hiệu ứng cơ cấu nền kinh tế………46
2.1.3.7 Hiệu ứng môi trường và xã hội……… 48
2.2 Đánh giá môi trường đầu tư nước ngoài của Hà Nội thông qua một số chỉ báo chọn lọc……….48
2.2.1 Đánh giá môi trường đầu tư nước ngoài của Hà Nội từ góc độ năng lực cạnh tranh……… 48
2.2.1.1 Nhóm chỉ số Hà Nội xếp hạng tốt………57
2.2.1.2 Nhóm chỉ số Hà Nội xếp hạng trung bình……… 58
2.2.1.3 Nhóm chỉ số Hà Nội xếp hạng kém……….…60
2.2.2 Đánh giá môi trường đầu tư nước ngoài của Hà Nội từ góc độ chi phí đầu tư……… ……….62
2.2.2.1 Những chi phí đầu tư Hà Nội thuộc nhóm thấp……….……… 63
Trang 52.2.2.2 Những chi phí đầu tư Hà Nội thuộc nhóm trung bình……….…70
2.2.2.3 Những chi phí đầu tư Hà Nội thuộc nhóm cao………73
2.3 Nhận định chung về môi trường đầu tư nước ngoài của Hà Nội……… 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI…… 81
3.1 Những thuận lợi và thách thức trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội trong thời gian tới ……….81
3.1.1 Những thuận lợi ……….…….… 81
3.1.2 Những thách thức……… 82
3.2 Định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội đến năm 2020……… 83
3.3 Một số khuyến nghị chính sách và giải pháp cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội……….…… 84
3.3.1 Giải pháp từ phía thành phố Hà Nội và các cơ quan quản lý……….… 84
3.3.1.1 Nâng cao chất lượng công tác cấp Giấy chứng nhận đầu tư… 84
3.3.1.2 Xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư……….85
3.3.1.3 Chuyển giao công nghệ có chọn lọc……… 86
3.3.1.4 Đẩy mạnh công tác giải ngân………86
3.3.1.5 Phát triển cơ sở hạ tầng……….87
3.3.1.6 Xúc tiến đầu tư toàn diện……… ……88
3.3.1.7 Chú trọng công tác đào tạo cán bộ………89
3.2.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp……….89
3.3.2.1 Các doanh nghiệp cần chú trọng vào công tác đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ và lao động……… 89
3.3.2.2 Chủ động tiến hành hoạt động xúc tiến đầu tư……… 90
3.3.3 Kiến nghị đối với Nhà nước, Chính phủ……….….90
KẾT LUẬN……… 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……95 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
4 ĐTTTNN Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 TNCs Trans National Corporations
Công ty xuyên quốc gia
11 UNCTAD United Nations Conference on Trade and
Development Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tóm tắt các yếu tố thu hút FDI của nước chủ nhà 12
2 Bảng 2.1 Thu hút FDI phân theo địa phương 33
3 Bảng 2.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo các khu vực kinh tế ở Hà Nội 40
4 Bảng 2.3 Trình độ công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệp FDI
Hà Nội
43
5 Bảng 2.4 Diện tích trồng lúa phân theo huyện, xã của Hà Nội 45
6 Bảng 2.5 Số cơ sở kinh tế có vốn FDI một số ngành của Hà Nội 47
7 Bảng 2.6 Bảng tổng hợp các chỉ số thành phần PCI của Hà Nội 56
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu 2.1 Hà Nội trong bảng xếp hạng PCI năm 2006 50
2 Biểu 2.2 Hà Nội trong bảng xếp hạng PCI năm 2007 51
3 Biểu 2.3 Hà Nội trong bảng xếp hạng PCI năm 2008 52
4 Biểu 2.4 Hà Nội trong bảng xếp hạng PCI năm 2009 53
5 Biểu 2.5 Hà Nội trong bảng xếp hạng PCI năm 2010 54
6 Biểu 2.6 Hà Nội trong bảng xếp hạng PCI năm 2011 55
7 Biểu 2.7 So sánh tiền lương của công nhân năm 2011 63
8 Biểu 2.8 So sánh tiền lương của kỹ sư năm 2011 63
9 Biểu 2.9 So sánh tiền lương của quản lý năm 2011 64
10 Biểu 2.10 So sánh lương tối thiểu năm 2011 65
11 Biểu 2.11 So sánh giá thuê đất công nghiệp năm 2011 66
12 Biểu 2.12 So sánh cước basic di động năm 2011 67
15 Biểu 2.15 So sánh thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 70
17 Biểu 2.17 So sánh chi phí giao thông vận tải năm 2011 72
18 Biểu 2.18 So sánh thuế thu nhập cá nhân năm 2011 73
19 Biểu 2.19 So sánh chi phí thuê văn phòng năm 2011 74
20 Biểu 2.20 So sánh giá cho người nước ngoài thuê năm 2011 76
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, đặc biệt tại các nước đang phát triển như Việt Nam Tuy nhiên, dòng vốn này tùy thuộc vào sức hấp dẫn của địa phương, thể hiện qua việc địa phương đó tạo được môi trường kinh doanh như thế nào để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị, giáo dục của cả nước
Hà Nội có nhiều tiềm năng phát triển, đem lại nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài Qua hơn 20 năm đổi mới, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đáng khích lệ, góp phần tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Đảng ta khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, được khuyến khích phát triển Theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 5 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050, chúng ta phải phát triển thủ đô Hà Nội thành một trung tâm đô thị hiện đại trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã ghi rõ “Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài” Qua 10 năm thực hiện chiến lược, mặc dù có rất nhiều lợi thế trong quá trình phát triển, trước hết là điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, ít thiên tai, kết cấu kinh tế - xã hội của Hà Nội được xây dựng tương đối đồng bộ, hiện đại, chất lượng hơn các địa phương khác, nhưng theo khảo sát về môi trường đầu tư của Tổng Cục thống kê và Ngân hàng Thế giới gần đây, môi trường đầu tư của Hà Nội đứng thứ 50 trên 63 tỉnh thành của cả nước, được đánh giá là kém sức cạnh tranh so với các địa phương khác khiến mức độ hấp dẫn của Hà Nội đối với các nhà đầu tư nước ngoài còn thấp
Trang 102
Thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ - QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ ngày 01 tháng 8 năm 2008 địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội được mở rộng trên cơ sở hợp nhất thành phố
Hà Nội với tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang vận động theo
xu hướng quốc tế hoá và khu vực hoá, các quốc gia tiến hành mở của và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, trước yêu cầu mở rộng về quy mô diện tích, dân số và bối cảnh phát triển mới nước ta đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, chúng ta đang thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, “Làm thế nào để cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội?” là câu hỏi lớn đặt ra cho Hà Nội hiện nay Nghiên cứu môi trường đầu tư nước ngoài của thủ đô Hà Nội tác động như thế nào tới thu hút dòng vốn FDI, đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế sẽ góp phần trả lời câu hỏi đó
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được đề cập khá nhiều trong các luận án, luận văn, bài viết trong nước và quốc tế dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, nhà marketing, nhà hoạch định chính sách, nhà cải cách hành chính, những kinh nghiệm thu hút vốn FDI… với những khía cạnh khác nhau ở phạm vi quốc gia hay gắn với một địa phương cụ thể Liên quan tới môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) của thủ đô Hà Nội đã có những công trình nghiên cứu đáng chú ý có thể
kể đến là:
“Môi trường kinh doanh Hà Nội trong đánh giá các nhà đầu tư nước ngoài” - Phạm Thị Huyền, 2006 Đây là báo cáo nghiên cứu phân tích các khía cạnh môi trường kinh doanh của Hà Nội ảnh hưởng đến hoạt động marketing của nhà đầu tư nước ngoài từ việc lựa chọn địa điểm đầu tư, tìm hiểu môi trường đầu tư, chi phí kinh doanh, kênh phân phối, các chương trình truyền thông, ngành nghề và quy mô đồng thời cũng nêu lên sự khác biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài từ các quốc gia khác nhau khi lựa chọn Hà Nội
“Lịch sử hay chính sách: Tại sao các tỉnh phía Bắc không tăng trưởng nhanh hơn?” - Nguyễn Đình Cung, Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn, David Dapice, 2004 Đây là
Trang 113
công trình nghiên cứu của Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) Nhóm tác giả đi sâu so sánh, phân tích nguyên nhân của sự khác biệt trong phát triển kinh tế giữa miền Bắc và miền Nam
“Survey on Business Costs in Major CLMV Cities: Case of Vietnam’s Hanoi,
Ho Chi Minh and Da Nang Cities” – Dinh Hien Minh, 2010 Tác giả báo cáo số liệu kết quả khảo sát chi phí đầu tư ở cấp độ quốc gia 4 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam và nghiên cứu trường hợp Việt Nam với 3 thành phố Hà Nội,
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng
Tuy nhiên, bài viết này là một nghiên cứu tổng hợp về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của thủ đô Hà Nội theo các nhóm yếu tố ảnh hưởng tới công cuộc đầu tư của các nhà đầu tư trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau 3 năm Việt Nam gia nhập WTO từ năm 2007, hơn nữa năm 2008 Hà Nội có sự thay đổi về địa giới hành chính làm tất cả những yếu tố này có sự biến đổi mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Việc điều chỉnh từ quy hoạch đến chiến lược, chính sách kinh tế và thu hút đầu tư cần được xem xét thêm các khu vực mới, như vậy mới có thể hạn chế tối đa sự phát triển tự phát, đảm bảo tính đồng bộ trong quá trình phát triển Luận văn so sánh môi trường đầu tư của Hà Nội với các thành phố khác của Việt Nam dưới góc nhìn của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, với các thành phố khác trong khu vực Châu Á và Châu Đại Dương dưới góc nhìn tỉ mỉ, cẩn thận và chi tiết của những nhà đầu tư Nhật Bản dựa trên nhiều chỉ báo Sau đó, luận văn đi sâu phân tích những nguyên nhân gốc rễ đằng sau những kết quả đã thực hiện hay xếp hạng của Hà Nội Với ý nghĩa đó, nghiên cứu “Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của thủ đô Hà Nội: Thực trạng và giải pháp” là một đề tài có tính thực tiễn
Trang 124
- Trình bày một số nhận định và khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện môi trường ĐTNN của Hà Nội trong giai đoạn phát triển và hội nhập sâu rộng sắp tới (2011-2020)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của thủ đô Hà Nội làm đối tượng nghiên cứu
Phạm vi không gian: bao gồm 10 quận nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống
Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên, Hà Đông), 1 thị xã (Sơn Tây) và 18 huyện ngoại thành (Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm, Đông Anh, Sóc Sơn, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa)
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu môi trường đầu tư của thủ đô Hà Nội trong thời
kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 2001 2011, đặc biệt là giai đoạn gia nhập WTO 2007 2011; khuyến nghị chính sách có tính đến tầm nhìn 2020
-5 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tổng hợp, phân tích thống kê, nghiên cứu so sánh, phân tích hệ thống, phân tích định lượng để xử lý số liệu thống kê về đối tượng nghiên cứu
- Luận văn sẽ sử dụng số liệu từ khảo sát chi phí đầu tư ở các thành phố lớn Châu Á, Châu Đại Dương của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) và
bộ số liệu đánh giá môi trường cạnh tranh (Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh – PCI/VCCI) cấp Tỉnh, Thành phố để phân tích một số chiều cạnh của môi trường kinh doanh và thu hút FDI của Hà Nội trong thời gian qua đặc biệt là giai đoạn 2007–2011;
Bên cạnh đó, phương pháp thực chứng, mô hình SWOT cũng được sử dụng làm phương pháp phân tích, đánh giá đối tượng nghiên cứu của đề tài
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài, vai trò của FDI đối với nền kinh tế Kinh nghiệm của một số thành phố
về chính sách cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 135
- Phân tích thực trạng môi trường FDI của Hà Nội bằng cách tiếp cận kịp thời
và có hệ thống vấn đề đặt ra cho môi trường thu hút đầu tư cho Thủ đô Hà Nội nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chiến lược phát triển phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020
- Những kiến nghị đề xuất đặt ra có tính khả thi giúp tăng cường thu hút FDI cho Hà Nội trong quá trình hội nhập quốc tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thực trạng môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hội nhập quốc tế 2001 – 2011
Chương 3: Một số khuyến nghị chính sách và giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của thủ đô Hà Nội
Trang 146
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, cấu thành và các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư trực
tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo quan điểm của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc (UNCTAD):
Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể các yếu tố, điều kiện và chính sách của nước tiếp nhận đầu tư chi phối đến hoạt động đầu tư nước ngoài, định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp FDI đầu tư, kinh doanh có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất
1.1.2 Cấu thành môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mỗi nhà đầu tư có nguồn lực nhất định, do đó họ có mục tiêu, định hướng đầu
tư riêng của mình khi tìm kiếm cơ hội đầu tư ở một địa phương khác Trước khi tiến hành hoạt động đầu tư, khám phá đặc điểm môi trường đầu tư của địa phương đó là công việc rất cần thiết Các nhà đầu tư thường quan tâm tới các yếu tố sau:
1.1.2.1 Tình hình chính trị
Có thể nói ổn định chính trị là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu
tư Yếu tố này càng đặc biệt quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài vì tình hình chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của Chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư và định hướng phát triển (cơ cấu đầu tư) của nước nhận đầu tư Đồng thời, ổn định chính trị
là điều kiện cần thiết để duy trì sự ổn định kinh tế - xã hội Đây là nhân tố quan trọng tác động đến tính rủi ro của các hoạt động đầu tư
An toàn vốn đầu tư là nguyên tắc hàng đầu của các nhà đầu tư nói chung và đặc biệt đối với các nhà ĐTNN Tình hình chính trị không ổn định thường dẫn đến đường lối phát triển không nhất quán Một quốc gia có môi trường chính trị ổn định
Trang 157
thì các nhà đầu tư mới yêu tâm đầu tư Nếu môi trường không ổn định, thường xuyên có bạo loạn thì khó có thể bảo toàn vốn cũng như không thể tiến hành sản xuất kinh doanh để sinh lời
1.1.2.2 Vị trí địa lý - Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiên tự nhiên bao gồm các yếu tố về khoảng cách, địa điểm, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số… Đây là các yếu tố có tác động quan trọng đến tính sinh lãi hoặc rủi ro của các hoạt động đầu tư
Các nhà đầu tư, nhất là các nhà ĐTNN đều phải tiến hành chuyên chở hàng hoá và dịch vụ giữa các địa điểm sản xuất và tiêu thụ nên nếu vị trí địa lý thuận lợi, không cách trở thì chi phí vận chuyển thấp, giảm được giá thành và hạn chế rủi ro Khí hậu nước chủ nhà cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của các nhà ĐTNN Yếu tố này bao gồm các đặc điểm về thời tiết, độ ẩm, bão lũ… Chẳng hạn ở các nước nhiệt đới gió mùa thường phù hợp với các dự án nông nghiệp hơn các dự án công nghiệp vì khí hậu này thường có độ ẩm cao nên tác động xấu đến độ bền công nghệ và điều kiện sống của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư từ phương Tây
Mặt khác, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ cung cấp được các yếu tố đầu vào phong phú và giá rẻ cho các nhà đầu tư Các nhà đầu tư thường rất quan tâm đến các nguồn cung cấp nguyên liệu tự nhiên và lao động ở nước chủ nhà Một nước sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nếu có nguồn khoáng sản dồi dào với trữ lượng lớn, nhiều danh lam thắng cảnh và dân số đông Quy mô dân số đông không chỉ có lợi thế về cung cấp nguồn lao động mà còn có khả năng tiêu thụ lớn Đây là các yếu tố rất hấp dẫn các nhà ĐTNN Tuy nhiên, mức độ hấp dẫn còn phụ thuộc vào chất lượng của thị trường lao động và sức mua (thu nhập) của dân cư
1.1.2.3 Chính sách – Pháp luật
Vì quá trình đầu tư liên quan đến rất nhiều các hoạt động của các tổ chức, cá nhân và được tiến hành trong khoảng thời gian dài ở nước nhận đầu tư nên các nhà đầu tư nước ngoài rất cần môi trường pháp lý vững chắc và có hiệu lực Môi trường này bao gồm các hệ thống đầy đủ các chính sách, quy định cần thiết, đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau và có hiệu lực trong thực hiện
Trang 16Các quy định của nước nhận đầu tư đối với các nhà ĐTNN cũng là những rào cản đối với dòng lưu chuyển vốn đầu tư quốc tế Các quy định thường là các thủ tục hành chính đối với các nhà ĐTNN trong việc đi lại, xin giấy phép đầu tư, giải quyết các khiếu kiện và các vấn đề khác trong cuộc sống của họ Việc ban hành quá nhiều quy định đối với các nhà ĐTNN thường dẫn đến tình trạng làm nản lòng các nhà đầu tư và góp phần làm tăng rủi ro trong công cuộc đầu tư của họ Trái lại, nếu nước chủ nhà chỉ cần có những quy định cần thiết, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư sẽ góp phần tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng và vì thế hấp dẫn các nhà ĐTNN
Các chính sách, quy định đối với ĐTNN không thống nhất thường gây nản lòng các nhà đầu tư, các nhà đầu tư không biết phải theo chính sách hoặc quy định nào đúng Hiện tượng này dễ đẩy họ vào tình trạng vi phạm pháp luật của nước chủ nhà Mặt khác, việc sửa đổi các chính sách luật pháp đối với các nhà ĐTNN không nhất quán (theo nguyên tắc hồi tố) sẽ làm họ không yên tâm đầu tư dài hạn
Tính hiệu lực trong thực hiện chính sách pháp luật của nước chủ nhà là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư nước ngoài Do hoạt động kinh doanh được tiến hành ở một quốc gia khác xa lạ, lượng tài sản lớn nên các nhà ĐTNN cần cơ sở pháp luật của nước chủ nhà để đảm bảo quyền lợi cho họ Vì thế nếu việc thực hiện pháp luật không nghiêm, kém hiệu lực thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ Nếu vậy, các nhà ĐTNN rất lo lắng về môi trường pháp lý nhiều rủi ro này
1.1.2.4 Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trang 179
Trình độ phát triển của nền kinh tế là các mức độ phát triển về quản lý kinh tế
vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các chủ đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà Có thể nói đây là các yếu tố tác động mạnh hơn các chính sách khuyến khích ưu đãi về tài chính của nước chủ nhà đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của kinh tế vĩ
mô, các thủ tục hành chính và tham nhũng Những nước có trình độ quản lý kinh tế
vĩ mô kém thường lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà và tham nhũng Đây là những nguyên nhân tiềm ẩn dẫn tới khủng hoảng Bởi thế, các nhà ĐTNN thường không muốn đầu tư vào những nước có trình độ quản lý kinh tế kém
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi
và giảm chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư Cơ sở hạ tầng (cứng) bao gồm các yếu tố hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng, điện lực, viễn thông… Đây là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc vận hành các hoạt động kinh doanh và điều kiện sống của các nhà đầu tư nước ngoài
Chất lượng các dịch vụ về lao động, tài chính, công nghệ… và sinh hoạt cho các nhà đầu tư (môi trường đầu tư mềm) luôn là các yếu tố được các nhà đầu tư nước ngoài cân nhắc kỹ trước khi quyết định đầu tư Đặc điểm này cho thấy một nước sẽ không thể thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nếu không có sơ sở hạ tầng đủ tốt và đảm bảo chất lượng các dịch vụ cho các nhà ĐTNN
Nếu thị trường chủ nhà có tính cạnh tranh cao thì sẽ giảm được rào cản đối với ĐTNN Các nhà ĐTNN có thể tự do lựa chọn đầu tư vào các lĩnh vực ở đó họ có lợi thế so sánh so với các nhà đầu tư nội địa, nếu thị trường độc quyền thì lựa chọn này khó thực hiện được Do đó, mức độ cạnh tranh hay độc quyền của nước chủ nhà cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến quyết định đầu tư của các nhà ĐTNN
1.1.2.5 Đặc điểm phát triển văn hoá - xã hội
Đặc điểm văn hóa – xã hội cũng tác động rất lớn đến các hoạt động ĐTNN Nó bao gồm các yếu tố về ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc,
Trang 18Tôn giáo là một thành tố quan trọng của nền văn hóa, nó phản ánh tín ngưỡng của con người, tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị
cá nhân và xã hội, qua đó ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập quán tiêu dùng và thuần phong mỹ tục
Giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc của nước chủ nhà cũng ảnh hưởng lớn đến thu hút ĐTNN Nếu một xã hội không phân biệt đối xử, coi trọng lòng tin, thương yêu đùm bọc lẫn nhau thì sẽ ít bạo loạn và tệ nạn xã hội Hơn nữa, tính tự trọng dân tộc cao nhưng không có thái độ bại ngoại thì sẽ có thái độ thân thiện với các nhà đầu tư nước ngoài
Phong tục tập quán của nước chủ nhà có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh doanh của các nhà ĐTNN Các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào nơi có quá nhiều phong tục khác lạ như: ăn kiêng, cấm đoán trong giao tiếp với người nước ngoài Trái lại, nếu nước chủ nhà có các phong tục tập quán gần với các nhà đầu tư thì không chỉ tạo thuận lợi cho họ trong công việc kinh doanh mà còn giúp họ dễ hòa nhập với cuộc sống tại nước sở tại
Mỗi dân tộc có những khác biệt về truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán, tâm linh riêng nên thị hiếu thẩm mĩ cũng khác biệt nhau, có khi còn trái ngược với nhau Người phương Đông cho rằng màu trắng là màu của hành kim (hướng Tây), theo ngũ hành mọi thứ liên quan đến hướng Tây đều là xấu Còn đối với phương Tây, họ lại cho rằng màu trắng là màu tốt, màu của hạnh phúc và dùng trong ngày cưới Những khác biệt ảnh hưởng đến thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo và kiểu dáng của sản phẩm Một ví dụ là một ngân hàng của Anh thiết kế biểu tượng màu xanh lá
Trang 1911
cây cho một chi nhánh của họ dự kiến hoạt động tại Singapore Mặc dù biểu tượng
đã được thiết kế nhưng theo một công ty tư vấn khách hàng đây là biểu tượng tang tóc của Singapore, ngân hàng này đã phải thay đổi ngay màu sắc của biểu tượng Trong một quốc gia, thị hiếu tiêu dùng cũng khác nhau giữa các vùng Ví dụ, ở Việt Nam, người Hà Nội thích những tivi cỡ lớn và các hàng hóa có vẻ ngoài hào nhoáng
và cho rằng hàng hóa có nhãn hiệu luôn bền hơn Còn người Sài Gòn lại có xu hướng mua những hàng hóa rẻ, bất kể là nhãn hiệu gì Họ thích vài năm lại thay thế
đồ dùng hơn là bỏ ra thật nhiều tiền để mua một món đồ
Trình độ phát triển giáo dục – đào tạo đóng vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động ĐTNN Trình độ giáo dục tốt và cơ cấu đào tạo hợp lý sẽ là cơ sở quan trọng cung cấp cho các nhà ĐTNN đội ngũ lao động có tay nghề cao, thích ứng với tác phong lao động có kỷ luật Nhờ đó giảm được chi phí đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất của họ
Như vậy, một môi trường đầu tư được gọi là thuận lợi nếu các yếu tố trên tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN Mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư
sẽ tạo ra các cơ hội đầu tư cho các nhà ĐTNN Vì thế, cơ hội đầu tư không chỉ nói đến sự thuận lợi của môi trường đầu tư nói chung của môi trường đầu tư mà đúng hơn là nói đến các mức độ thuận lợi của môi trường này Trong thực tế, khái niệm môi trường đầu tư cần được hiểu ở trạng thái động và có tính tương đối giữa các nhà đầu tư Cơ hội đầu tư luôn thay đổi, xuất hiện và biến mất Cùng một đặc điểm của yếu tố môi trường đầu tư đối với nhà đầu tư này là cơ hội nhưng đối với nhà đầu tư khác là rủi ro Bởi vậy, sự thành công của các nhà đầu tư luôn gắn với việc nắm bắt được các cơ hội đầu tư
Có thể khái quát môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài thành 3 nhóm sau:
+ Khung chính sách đối với hoạt động FDI
+ Nhóm nhân tố kinh tế
+ Nhóm nhân tố hỗ trợ kinh doanh
Trang 2012
Hình 1.1: Tóm tắt các yếu tố thu hút FDI của nước chủ nhà
[ Nguồn: UNCTAD, WIR 1998, tr.91]
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
I.KHUNG CHÍNH SÁCH FDI
▪Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội ổn định
▪Quy định liên quan đến thành lập và hoạt động
▪Chính sách đối với chức năng và cầu trúc thị
II.NHÓM NHÂN TỐ KINH TẾ
III NHÓM NHÂN TỐ HỖ TRỢ KINH DOANH
▪Xúc tiến đầu tư (Bao gồm xây dựng các hình ảnh,
các hoạt động quảng bá đầu tư và cung cấp dịch vụ
hỗ trợ đầu tư)
▪Biện pháp khuyến khích đầu tư
▪Chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả quản lý
▪Khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới
▪Sở thích của người tiêu dùng
▪Cấu trúc thị trường
B.TÀI NGUYÊN/KHOÁNG SẢN
▪Nguyên nhiên vật liệu sản xuất
▪Chi phí nhân công thấp
Trang 2113
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.3.1 Theo năng lực cạnh tranh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (viết tắt là PCI – Provincial Competitiveness Index) là thành quả của sự hợp tác liên tục giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tại Việt Nam (USAID/VNCI) do Công ty Development Alternatives Inc., thực hiện và quản lý Đây là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh Hiện nay, PCI đã trở thành một chỉ số cơ sở phổ biến và được xã hội quan tâm Chỉ số này được công
bố lần đầu tiên vào năm 2005 cho 47 tỉnh, thành của Việt Nam Từ lần thứ hai trở
đi, tất cả các tỉnh, thành Việt Nam đều được đưa vào bảng xếp hạng đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm Mỗi năm, VCCI gửi phiếu thống kê đến các doanh nghiệp trong các tỉnh thành và căn cứ theo phản hồi từ đây để xếp hạng Càng nhiều tổ chức độc lập tham gia đánh giá, môi trường kinh doanh và đời sống dân sinh càng có nhiều giám sát tích cực Đến năm 2011, PCI 2011 đã trở thành ấn phẩm thường niên thứ bảy, được thực hiện dựa trên khảo sát chi tiết cảm nhận của 6.922 doanh nghiệp Chỉ số PCI tập hợp tiếng nói chung của doanh nghiệp
ở Việt Nam về công tác điều hành kinh tế tại địa phương nơi doanh nghiệp đang hoạt động và trên cả nước
Mỗi năm, các chỉ số thành phần cấu thành PCI được các chuyên gia tính toán
và điều chỉnh lại Năm 2005, chỉ số tổng hợp này bao gồm 9 chỉ số thành phần Mỗi chỉ số thành phần lý giải khá nhiều sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh của Việt Nam Năm 2006, chỉ số Thực hiện chính sách được bỏ đi và thêm 2 chỉ số thành phần mới (Đào tạo lao động và Thiết chế pháp lý) để phản ánh hai khía cạnh quan trọng khác về nỗ lực của chính quyền tỉnh nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ở địa phương Tới năm 2009, Chỉ số CPI bao gồm 10 chỉ số thành phần là: Chi phí gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; Chi phí không chính thức; Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo
Trang 2214
tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý Trong từng chỉ số thành phần này lại có các tiêu chí cụ thể để thu thập số liệu và đánh giá, so sánh giữa các tỉnh, thành phố trên cả nước (Xem Phiếu khảo sát doanh nghiệp – Phụ lục 3)
Hiện nay, chỉ số PCI bao gồm 9 chỉ số thành phần Một tỉnh sẽ được coi là thực hiện tốt tất cả 9 chỉ số thành phần nếu có:
- Chi phí gia nhập thị trường để khởi sự kinh doanh thấp
- Tiếp cận đất đai dễ dàng và sự ổn định trong sử dụng đất
- Môi trường kinh doanh minh bạch và tiếp cận thông tin thuận lợi
- Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu
- Thời gian thanh tra, kiểm tra và thực hiện quy định, thủ tục hành chính ít
- Lãnh đạo tỉnh năng động và sáng tạo trong giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp
- Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh phát triển và có chất lượng cao
- Chính sách đào tạo lao động phù hợp
- Thủ tục pháp lý giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả
Phương pháp xây dựng chỉ số PCI gồm 3 bước, còn gọi là 3C, bao gồm Thu thập (Collect), Tính toán (Calculate) và Hiệu chuẩn (Calibrate) Đầu tiên nhóm nghiên cứu thu thập số liệu khảo sát kinh doanh thông qua một khảo sát toàn quốc mang tính đại diện cao và các nguồn dữ liệu đã công bố Sau đó tính toán 9 chỉ số thành phần và chuẩn hóa theo thang điểm 10 Cuối cùng hiệu chuẩn điểm số PCI tổng hợp là giá trị trung bình có trọng số của 9 chỉ số thành phần với số điểm tối đa
100 điểm
Thứ nhất, chỉ số Chi phí gia nhập thị trường:
Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm:
- Thời gian đăng ký kinh doanh: số ngày
- Thời gian đăng ký kinh doanh bổ sung
Trang 2315
- Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh cần thiết để chính thức hoạt động
- Thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh
- % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh
Thứ hai, chỉ số Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất:
Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không, gồm:
- % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- % diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp)
- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên)
- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường (% Đồng ý)
- Doanh nghiệp không đánh dấu ô nào trong danh mục lựa chọn cản trở về mặt bằng kinh doanh
- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê (1: Rất cao hoặc 5: Rất thấp)
Thứ ba, chỉ số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin:
Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp Các chỉ tiêu cụ thể gồm:
- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
- Tính minh bạch của các tài liệu pháp lý như quyết định, nghị định
Trang 24- Độ mở của trang web tỉnh
- Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản biện các chính sách, quy định của tỉnh (% Quan trọng hoặc Rất quan trọng)
Thứ tư, chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước:
Chỉ số này đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Bao gồm:
- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
- Số lần thanh tra trung vị (tất cả các cơ quan)
- Số giờ trung vị làm việc với thanh tra thuế
- Các cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn (% Đồng ý)
- Số lần doanh nghiệp phải đi lại để lấy các con dấu và chữ ký cần thiết giảm (% Đồng ý)
- Thủ tục giấy tờ giảm (% Đồng ý)
- Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục giảm (% Đồng ý)
Thứ năm, chỉ số Chi phí không chính thức:
Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không
Trang 25Thứ sáu, chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh:
Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
- Tỉnh rất linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)
- Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)
- Cảm nhận của doanh nghiệp về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực
tư nhân (% Tích cực hoặc Rất tích cực)
Thứ bảy, chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp:
Chỉ số này trước kia có tên gọi là Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, dùng
để đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp
- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước hoặc đăng ký tổ chức cho năm nay
Trang 2618
- Số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ tư nhân trong tỉnh
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh trên (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho dịch
vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho dịch
vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho dịch
vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho dịch
vụ xúc tiến thương mại (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)
Thứ tám, chỉ số Đào tạo lao động:
Lao động chất lượng cao luôn là điều kiện tiên quyết để thu hút các nguồn vốn đầu tư vào những ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao Tiêu chí này đo lường các
nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ
Trang 27- Số lượng trung tâm giới thiệu việc làm trên 100.000 dân
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm (%)
- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm của nhà cung cấp dịch vụ tư nhân (%)
- Doanh nghiệp sẽ sử dụng lại dịch vụ giới thiệu việc làm của nhà cung cấp dịch
vụ trên (%)
- Tỉ lệ tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động
- Tổng số cơ sở đào tạo (Đại học, Trung cấp, Trung tâm dạy nghề) trên 100.000 dân
- Số lượng trung tâm dạy nghề cấp huyện trong một huyện của tỉnh
- Tỉ lệ số cơ sở dạy nghề tư nhân trong tỉnh (%)
- Số người tốt nghiệp trường dạy nghề/Số lao động không được đào tạo nghề
- Số người tốt nghiệp Trung học cơ sở (% lực lượng lao động)
Thứ chín, chỉ số Thiết chế pháp lý:
Đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương
- Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của các công chức (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên)
- Doanh nghiệp tin tưởng hệ thống pháp lý sẽ bảo vệ hợp đồng và các quyền tài sản (% Hoàn toàn đồng ý hoặc Đồng ý)
- Số lượng các vụ tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa án kinh tế cấp tỉnh xét xử trên 100 doanh nghiệp
Trang 28- Tỷ lệ Tổng chi phí (chính thức và không chính thức) để giải quyết tranh chấp
so với tổng giá trị tranh chấp (% trung vị)
Trong các chỉ số thành phần, 2 chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và Đào tạo lao động có trọng số cao nên tác động của chúng lên kết quả cuối cùng khá lớn Dựa trên kết quả chỉ số PCI , các tỉnh thành được xếp hạng từ 1 đến 64 (đối với điều tra PCI 2006 – 2008) và xếp hạng từ 1 đến 63 (đối với điều tra từ PCI 2009, sau khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội ) Trong bảng xếp hạng , các tỉnh , thành phố được chia thành 6 nhóm từ Rất tốt, Tốt, Khá, Trung bình, Tương đối thấp đến Thấp tương ứng với chất lượng điều hành kinh tế qua đánh giá của PCI
Không phụ thuộc vào điều kiện địa lý và những điều kiện khách quan sẵn có của địa phương, PCI đánh giá hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương, đây
là yếu tố chủ quan vì phụ thuộc vào tư duy của các cấp lãnh đạo
PCI có 4 đặc điểm đáng chú ý:
Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng
công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được Do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể xác định được một tỉnh “ngôi sao” hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm bằng cách áp dụng các thực tiễn tốt sẵn có
Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu
(các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô của thị
Trang 2921
trường và nguồn nhân lực), chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh
Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả
phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng Nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và
sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối liên hệ cuối cùng này đặc biệt quan trọng
vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh
tế
Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ hành
động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh
1.1.3.2 Theo chi phí đầu tư
Khảo sát chi phí đầu tư tại các thành phố lớn và khu vực Châu Á được thực hiện hàng năm bởi Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (Japan External Trade Organization - JETRO) Khảo sát đầu tiên được tiến hành năm 1980 Đến năm 2011
đã có 21 cuộc khảo sát Mục đích của khảo sát này là so sánh các chi phí liên quan đến việc đầu tư giữa các thành phố lớn của Châu Á và một số khu vực khác nhằm cung cấp chỉ dẫn hiệu quả cho các nhà đầu tư Nhật Bản trong việc lựa chọn đúng địa điểm đầu tư cho mình Những nhà hoạch định chính sách của các quốc gia có liên quan cũng có thể tìm thấy trong khảo sát này những thông tin hữu ích để cải thiện môi trường đầu tư ngày càng trở nên hấp dẫn hơn
Những thành phần chi phí trong khảo sát này bao gồm:
- Tiền lương: Tiền lương cho công nhân, kỹ sư, nhân viên hành chính, bán hàng, mức lương tối thiểu theo pháp luật, tiền thưởng, chi trả phúc lợi xã hội
Trang 30- Điện: Điện dùng cho công nghiệp, điện sinh hoạt
- Nước: Nước dùng cho công nghiệp, nước sinh hoạt
- Gas: Gas dùng cho công nghiệp, gas sinh hoạt
- Giao thông vận tải: Vận chuyển container từ nước được khảo sát đến Nhật Bản và
ra nước ngoài, giá xăng dầu
- Tỉ giá hối đoái: Giữa đồng nội tệ và Đô la Mỹ
- Thuế: CIT, PIT, VAT, thuế lợi tức chuyển về Nhật Bản,
Việt Nam có 3 thành phố là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong khảo sát này
1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
ĐTTTNN đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia
1.2.1 Đối với các nước xuất khẩu vốn đầu tư
ĐTTTNN giúp các nước xuất khẩu vốn đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sử dụng những lợi thế sản xuất của nơi tiếp nhận đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư
- FDI giúp các nước xuất khẩu vốn đầu tư xây dựng thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Các nhà đầu tư rất quan tâm tới việc tìm kiếm thị trường nguyên liệu dồi dào, giá rẻ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất Đây cũng được coi là một trong những chiến lược kinh doanh hạ giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp ĐTNN trong giai đoạn hiện nay
- Nhờ việc xuất khẩu vốn đầu tư ra nước ngoài, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) có thể bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế Thông qua hoạt động đầu tư FDI, các công ty xuyên quốc gia đã
Trang 3123
nhanh chóng thiết lập một mạng lưới rộng khắp các công ty con ở các nước chủ nhà Với chiến lược đầu tư ra nước ngoài, các TNCs đã trở thành chủ thể trực tiếp với khối lượng kiểm soát triên 90% tổng FDI trên toàn thế giới, đồng thời là lực lượng chủ yếu vận hành những mảng lớn của nền kinh tế thế giới, nắm giữ nguồn vốn tài chính, kỹ thuật, nắm giữ các ngành kinh tế then chốt và mũi nhọn, kiểm soát thương mại quốc tế
- Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước xuất khẩu vốn mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước sở tại vì thông qua FDI, các chủ đầu tư xây dựng được các doanh nghiệp nằm trong lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ
- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các chủ vốn đầu tư phân tán rủi ro khi tình hình kinh tế chính trị trong nước bất ổn định Khi kinh tế trong nước sa sút do những tác động tiêu cực của chính trị, FDI trở thành một giải pháp chiến lược giúp giúp các TNCs giải quyết được khó khăn, hồi phục sau khủng hoảng
Làn sóng đầu tư mạnh mẽ của các doanh nghiệp Hồng Kông, Macao, Đài Loan sang các nước công nghiệp phát triển nhằm đề phòng những thay đổi lớn
về quản lý kinh doanh sau khi có sự sáp nhập của các nước này vào Trung Quốc vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 là những minh chứng tiêu biểu
- Đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực và quốc tế mới Trong 20 năm từ 1975 – 1995, khi đồng Yên tăng giá và việc di chuyển sản xuất của các công ty Nhật Bản ra nước ngoài đã tạo điều kiện tốt hơn cho việc liên kết theo chiều ngang trong khu vực Trong đó các công ty Nhật Bản chỉ tập trung sản xuất những mặt hàng cao cấp, những thiết bị cần thiết để cung cấp cho các chi nhánh của họ khắp Châu Á, những khâu kỹ thuật cao đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, còn các chi nhánh và hợp doanh tại các nước trong khu vực được hướng vào sản xuất các mặt hàng cần nhiều lao động, kỹ thuật ở trình độ vừa và thấp để thay thế các hàng xuất khẩu từ Nhật Bản, phục vụ cho thị trường địa phương, cung cấp lẫn nhau, xuất khẩu sang nước thứ ba và ngược trở lại Nhật Bản
Trang 3224
Qua phân tích các đặc điểm trên, ta thấy FDI có những ưu thế đối với các nước xuất khẩu vốn Dù chịu sự chi phối của Chính phủ nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên Mặt khác, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu Do quyền lợi gắn chặt với dự án, họ quan tâm đến kết quả kinh doanh nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân Vì vậy, FDI ngày càng
có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế không chỉ ở các nước tiếp nhận vốn đầu tư mà còn ở những nước đầu tư
1.2.2 Đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư
Hiện nay, dòng chảy của tư bản quốc tế chảy vào 2 khu vực: các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển, và đều đóng vai trò quan trọng
* Đối với các nước tư bản phát triển như Mỹ và Tây Âu, những lợi ích đó
là:
- Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nước như : thất nghiệp, lạm phát Đây là những rắc rối không chỉ xảy ra ở những nền kinh tế đang phát triển mà còn tồn tại ở những nền kinh tế của các nước phát triển FDI làm tăng tổng đầu tư trong nước, qua đó góp phần kiềm chế lạm phát, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp Đối với một nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp là vấn đề gây căng thẳng, tạo áp lực lớn, không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn tác động tiêu cực đối với xã hội
- Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán, tạo công ăn việc làm cho người lao động
- Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách Các doanh nghiệp FDI hàng năm phải năm phải nộp thuế đầy đủ cho Chính phủ các nước sở tại, danh mục thuế gồm các loại thuế: thuế thu nhập, thuế lợi tức, thuế sản phẩm…
- Tạo môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại ở các nước phát triển Hệ thống pháp luật ở các nước nhận đầu tư càng
Trang 33đề rất quan trọng, được Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm
* Đối với những nước đang phát triển, ĐTTTNN được coi như một bộ phận
hữu cơ của nền kinh tế Ở những nước này, vai trò quan trọng của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thể hiện ở những điểm sau:
- FDI giúp tăng trưởng GDP của quốc gia tiếp nhận đầu tư: Quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ được hưởng trực tiếp và gián tiếp một phần lớn dự án đầu tư đó qua các hình thức như: thuê mướn mặt bằng, xây dựng cơ bản, ngoài ra còn tạo điều kiện kích thích một số dịch vụ và kỹ nghệ hỗ trợ trong vùng được phát triển Từ những lợi ích do FDI mang lại, các quốc gia tiếp nhận FDI có thể tận dụng để góp phần tăng trưởng GDP
- ĐTTTNN không có sự ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước chủ nhà nếu có cách thức quản lý hợp lý, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế và là một bộ phận hữu cơ trong cơ cấu đầu
Trang 34- FDI góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển Thông qua vốn, khoa học kỹ thuật, FDI tác động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu lao động được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ Cơ cấu kinh tế được chuyển biến rõ nét nhất là cơ cấu ngành Các nước đang phát triển, chủ yếu là các quốc gia nông nghiệp, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP là rất lớn Khi thu hút được các nguồn vốn ĐTNN, đặc biệt là FDI đầu tư vào các ngành thương mại dịch vụ, công nghiệp đem tới sự chuyển biến trong bộ mặt kinh tế của nước chủ nhà Đây là điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước
- FDI còn giúp đẩy mạnh xuất khẩu: Các dự án FDI thường tập trung chủ yếu vào các mặt mạnh của nền kinh tế quốc gia sở tại có giá trị xuất khẩu cao, đồng thời trong trường hợp tận dụng nguồn lao động giá rẻ, các sản phẩm thường được tái xuất cảng ra ngoài, giúp đẩy mạnh xuất khẩu của quốc gia nhận FDI
Bên cạnh đó, ĐTTTNN gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế Trong hình thức FDI, các công ty mẹ thường xuyên giao vốn của mình qua các công ty chi nhánh Do đó, FDI có liên quan chặt chẽ với dòng lưu chuyển vốn quốc tế, trong đó có một công ty ở một nước tạo ra hoặc mở rộng chi nhánh ở nước khác
- FDI góp phần làm tăng ngân sách Nhà nước bằng việc đánh thuế trên các sản phẩm và lợi tức của FDI
Những đặc trưng trên cho thấy bản chất và những lợi thế của FDI trong sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển nói riêng và của nền kinh tế thế giới nói chung là hết sức to lớn Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay,
Trang 3527
tình hình kinh tế thế giới có những chuyển biến cơ bản và sâu sắc Hầu hết các quốc gia đều hoạt động theo cơ chế thị trường, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh, khoa học kỹ thuật, công nghệ đạt đến trình độ phát triển cao… Trong bối cảnh hội nhập, FDI được sử dụng như một trong những hình thức hợp tác kinh tế, và được xem là một trong các điều kiện quyết định sự phát triển của nền kinh tế thế giới Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN được coi là phương tiện để vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế quan; sự khác biệt về văn hóa, luật pháp và các chính sách của Chính phủ các nước để tạo lợi thế thế kinh tế nhờ mở rộng quy
mô, thực hiện chuyển giao công nghệ và kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
Bên cạnh những lợi ích mà FDI mang lại cho nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư, FDI còn tồn tại một số mặt hạn chế Đó là:
- Việc sử dụng nhiều vốn ĐTNN nói chung và FDI nói riêng có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động và sử dụng vốn tối đa trong nước, gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài), có thể gây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn nước ngoài, vào nhà ĐTNN (về bí quyết kỹ thuật, công nghệ, đầu mối cung cấp vật tư, nguyên liệu…) Do đó, nếu tỷ trọng FDI quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế bị lệ thuộc vào bên ngoài, thiếu vững chắc
- Các doanh nghiệp ĐTTTNN thường sử dụng biện pháp chuyển giá từ việc cung ứng nguyên vật liệu, chi tiết, linh kiện, bộ phận, sản phẩm dở dang với giá cao, thu lợi ngay từ khâu này, làm giá thành phẩm cáo một cách giả tạo, giảm lợi nhuận, thậm chí “lỗ giả, lãi thật” gây thiệt hại cho người tiêu dùng và giảm thu ngân sách Nhà nước Đôi khi các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách bằng con đường phá giá, chịu lỗ trong giai đoạn đầu để loại trừ đối thủ cạnh tranh, độc chiếm hoặc khống chế thị trường, lấn át các doanh nghiệp trong nước làm cho một ngành hoặc một số ngành sản xuất trong nước không phát triển được
- Lợi dụng trình độ công nghệ thấp và quản lý yếu kém của nước chủ nhà, một
số nhà ĐTNN thông qua con đường FDI để tiêu thụ những máy móc, thiết bị lạc hậu, thậm chí đã thải loại sang nước tiếp nhận FDI Thực tế ở nhiều nước cho thấy, khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn
Trang 3628
bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sử dụng đã đến thời hạn thanh lý Nếu không có những quy định và kiểm soát chặt chẽ, nước nhận FDI sẽ dễ trở thành “bãi thải công nghệ” của các TNCs, gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế
- Với sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của các doanh nghiệp
có vốn ĐTNN, các TNCs có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế -
xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân hóa trong các tâng lớp dân cư, tăng mức độ chênh lệch phát triển trong một vùng hoặc giữa các vùng
- FDI gây ra những ảnh hưởng tới môi trường và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Các doanh nghiệp FDI thường phải chi phí rất lớn cho việc bảo vệ môi trường vì luật lệ của các quốc gia phát triển rất nghiêm ngặt về vấn đề này Tuy nhiên, đối với các quốc gia đang phát triển, luật lệ và kiến thức về môi trường còn thấp nên các doanh nghiệp FDI có khả năng tiết kiệm chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường
- Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI có thể lợi dụng những mặt hạn chế trong luật lao động gây ra những thiệt hại cho người lao động, xâm hại quyền lợi, phúc lợi tập thể…
Những mặt bất lợi trên đều phụ thuộc vào nước chủ nhà trong việc quản
lý và kiểm soát các hoạt động FDI bằng các văn bản pháp luật và các chính sách kinh tế Nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế được những tác động tiêu cực, bất lợi, tạo ra lợi ích tổng thể tích cực cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo mục tiêu
và định hướng của mình
1.4 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Kinh nghiệm thành công cho thấy một quốc gia, một địa phương có vị trí kinh
tế cao trong khu vực và thế giới đều coi FDI là chiến lược hàng đầu để tăng trưởng
và phát triển Họ đều có chính sách, cách làm riêng để tạo ra môi trường đầu tư thu hút FDI hiệu quả Chúng ta hãy xem xét kinh nghiệm quốc tế và trong nước của một
số thành phố sau:
Trang 3729
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế từ thành phố Edinburgh
Edinburgh là thủ đô của Scotland Trong số các thành phố lớn, Edinburgh được đánh giá là thành phố có chiến lược FDI số 1 của Châu Âu, thứ 6 về nguồn nhân lực, thứ 8 về chất lượng cuộc sống, thứ 10 về tiềm lực kinh tế và môi trường kinh doanh thân thiện Ngày 13/2/2012, Edinburgh đã được nhận giải thưởng Thành phố FDI của tương lai năm 2012-2013 Phân tích SWOT của thành phố được thể hiện như sau:
- Sthengths (Điểm mạnh): thương hiệu tích cực - thị trường tài chính lớn thứ hai sau London, là một thành phố đẹp, tập trung nhiều trường đại học có uy tín, có tiềm năng khoa học công nghệ, quản lý tài chính chuyên nghiệp, có lợi thế chi phí đầu tư hơn London, chính quyền thành phố luôn am hiểu và ưu tiên đối với FDI
- Weaknesses (Điểm yếu): nâng cao nhận thức quốc tế còn chậm, thương hiệu tài chính đã bị ảnh hưởng bởi một số sự kiện gần đây, cạnh tranh với Glasgow, những bất lợi và thiếu linh hoạt của hệ thống thuế
- Opportunities (Cơ hội): “Flight to safety” (Chuyến bay đến nơi an toàn) trong suốt thời gian nền kinh tế bất ổn; nằm ngoài khu vực đồng euro được nhìn nhận như là một lợi thế; FDI đến từ Canada và Mỹ vẫn tiếp tục tăng
- Threats (Nguy cơ): Tình hình chính trị không chắc chắn, nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính khác, thất nghiệp do tác động từ các vấn đề khu vực của Châu Âu Trong chiến lược FDI, Edinburgh trọng tâm vào nguồn nhân lực, coi đó là yếu
tố thu hút, giúp thành phố chủ động tiếp cận với FDI Nguồn nhân lực của thành phố thành thạo khoa học công nghệ, được giáo dục, trang bị đầy đủ kiến thức kinh doanh Lao động được đào tạo chất lượng cao, có kỹ năng để tham gia cạnh tranh với thị trường lao động nước Anh và Châu Âu cũng như bất kỳ thị trường lao động nói tiếng Anh Những nhà tư vấn, luật sư, kế toán, môi giới, chuyên gia công nghệ thông tin chuyên nghiệp đã tạo nên nền tảng lao động và kinh doanh cho thành phố
Có tới 45,3% dân số có bằng cấp chuyên nghiệp Chi phí lao động thấp hơn nước Anh và khu vực đông nam Châu Âu
Trang 3830
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước từ tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh nằm giáp Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 30 km, là cửa ngõ phía đông bắc của Thủ đô, thuộc khu vực phía bắc của vùng đồng bằng sông Hồng và tiếp giáp với vùng trung du Bắc Bộ Hiện nay, Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất miền bắc cũng như cả nước Năm 2011, trong bối cảnh kinh tế trong nước rất khó khăn, Bắc Ninh vẫn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế lên đến 16,2% cao nhất cả nước Về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Bắc Ninh đứng ở vị trí thứ 2 (sau Lào Cai) năm 2011, là tỉnh dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Hồng và khu vực kinh tế trọng điểm Bắc bộ về môi trường kinh doanh.và cũng là năm thứ 3 liên tiếp Bắc Ninh có mặt trong top 10 vị trí cao nhất về chỉ số PCI cả nước Có được thành công này là do những nỗ lực của chính quyền tỉnh Bắc Ninh mà trực tiếp là đồng chí Chủ tịch UBND luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề cải thiện môi trường kinh doanh nhằm mục tiêu duy trì và nâng cao chỉ số PCI
Bắc Ninh đã ban hành nhiều chính sách phù hợp nhằm tạo điều kiện các doanh nghiệp tìm hiểu môi trường đầu tư cũng như hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp có quyết định đầu tư tại tỉnh Do đó, đầu năm đến nay, mặc dù trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng với nhiều giải pháp tích cực trong cải thiện môi trường đầu tư, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho hơn 30 dự án, trong đó có 20
dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; điều chỉnh tăng vốn 16 dự án, tổng vốn thu hút đầu tư đạt khoảng 300 triệu USD Như vậy, lũy kế đến nay, Bắc Ninh đã thu hút được 322 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đầu tư 3,9 tỷ USD Các thương hiệu lớn trên thế giới đã đầu tư tại đây như: Samsung, Canon Năm 2011,
dù khó khăn nhưng Bắc Ninh vẫn thu hút được 5 triệu USD vốn FDI
Sau khi VCCI công bố Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hàng năm, Bắc Ninh đã mời các chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về làm việc với Sở Kế hoạch và Đầu tư mà trực tiếp là bộ phận chuyên nghiên cứu PCI để giúp cho tỉnh chỉ ra những mặt mạnh, hạn chế trong việc cải thiện môi trường kinh doanh Đồng thời đóng góp nhiều giải pháp tích cực
để nâng cao năng lực chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Kinh nghiệm của Bắc Ninh
Trang 3931
là tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm: Đề cao tính năng động tiên phong của lãnh đạo trong thực hiện các biện pháp duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về ý nghĩa của PCI trong phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác đào tạo lao động, kết nối nhu cầu lao động cho doanh nghiệp để đào tạo lao động; tạo đột phá trong ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao tính minh bạch trong chỉ số PCI; nâng cao các dịch
vụ hỗ trợ doanh nghiệp; đơn giản hoá thủ tục hành chính, rút ngắn và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong đăng ký kinh doanh, thủ tục đầu tư, đất đai; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp…
Tỉnh Bắc Ninh đã đề ra phương châm hành động là “Đồng hành cùng doanh nghiệp”, theo đó hoạt động tổ chức đối thoại, gặp gỡ nhằm tháo gỡ khó khăn các doanh nghiệp là rất quan trọng Đồng thời, yêu cầu các ngành chức năng tiếp tục thực hiện các giải pháp tích cực nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế Phát huy những chỉ số thành phần tốt và rất tốt đồng thời tìm mọi biện pháp nâng cao những chỉ số còn hạn chế, gắn trách nhiệm người đứng đầu trong việc thực hiện từng chỉ số theo từng ngành, lĩnh vực quản lý Vấn đề minh bạch thủ tục rất được coi trọng Năm 2009, tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định 165 quy định trình tự thủ tục về đầu tư ngoài khu công nghiệp Đây được coi là chìa khóa thành công, tạo ra bước đột phá về tính minh bạch trong cải thiện môi trường đầu tư của Bắc Ninh Theo đó, văn bản này quy định chi tiết 4 bước cần phải thực hiện của nhà đầu tư, so với quy định chung của Chính phủ thì trình tự thủ tục đầu tư tại Bắc Ninh rút ngắn một nửa Thời gian tổng cộng để nhà đầu tư đi đến đích (tiếp cận đất đai) chỉ hơn 100 ngày, riêng đăng ký kinh doanh để khai sinh doanh nghiệp chỉ mất 5 ngày Do tất cả thủ tục ở từng khâu đều quy định thời gian cụ thể nên các Sở, ngành đều phải trả lời trước thời hạn quy định
Mỗi năm, Bắc Ninh chọn một vấn đề để cải thiện PCI Bắc Ninh nhận thấy điểm yếu của PCI 2011 là nguồn lao động, việc tiếp cận lao động của doanh nghiệp còn khó khăn, lao động chất lượng cao đang thiếu thốn Vì vậy, năm 2012, Bắc Ninh sẽ tập trung cải thiện vấn đề này, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu
Trang 402.1.1 Tổng quan diễn biến vốn FDI trên địa bàn Hà Nội
Luật ĐTNN Việt Nam được ban hành lần đầu tiên vào cuối năm 1987 Tuy nhiên, vốn ĐTNN được vào Hà Nội bắt đầu từ năm 1989 với 4 dự án hoạt động thăm dò, sau đó tăng rất nhanh và đạt mức kỷ lục năm 1997 với số vốn thực hiện cao nhất 712 triệu USD, sau đó giảm dần đến năm 2000 Từ sau năm 2000, lượng vốn FDI vào Hà Nội bắt đầu tăng chậm trở lại Từ đây, có thể chia quá trình thu hút vốn ĐTTTNN ở Hà Nội từ năm 2001 đến nay thành 2 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Từ năm 2001 đến năm 2005 Đây là thời kỳ phục hồi sau khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
Từ năm 2001 đến năm 2004, số vốn ĐTTTNN vào Hà Nội chỉ giao động quanh điểm đáy 100 – 300 triệu USD vốn đăng ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
Kỳ (BTA) chính thức có hiệu lực từ tháng 12/2001 có tác động lớn đến sự tăng trưởng của cả vốn đăng ký và thực hiện Theo số liệu của Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội Giai đoạn 2001 – 2005, Hà Nội có 322 dự án FDI, chiếm tỷ trọng 9% cả nước với tổng số vốn đăng ký 2.696 triệu USD, chiếm 27,8% cả nước Riêng năm 2005, vốn đăng ký đạt cao nhất 1.592 triệu USD, tổng vốn FDI thực hiện là 1.030 triệu USD
- Giai đoạn 2: Từ năm 2006 đến nay Vốn ĐTTTNN chủ yếu ở giai đoạn này FDI thời kỳ 2006 - 2010 chiếm đến hơn 74% tổng vốn đăng ký của cả giai đoạn từ 2000 – nay Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO năm 2007