1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO

101 369 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đẩy Nhanh Tiến Trình Sắp Xếp, Đổi Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước – Điều Kiện Tất Yếu Để Việt Nam Gia Nhập WTO
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 886,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO

Trang 1

MỤC LỤC :

MỞ ĐẦU iv

CHƯƠNG1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 1

1.1 Tổng quan về Doanh nghiệp nhà nước 1

1.1.1 Khái quát về Doanh nghiệp nhà nước 1

1.1.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Doanh nghiệp nhà nước 6

1.1.3 Vai trò và đặc trưng của Doanh nghiệp nhà nước 8

1.2 Xu thế đổi mới Doanh nghiệp nhà nước trên thế giới 11

1.3 Biện pháp và các bước tiến hành đổi mới Doanh nghiệp nhà nước 12

1.3.1 Các biện pháp đổi mới Doanh nghiệp nhà nước 12

1.3.2 Các bước tiến hành đổi mới Doanh nghiệp nhà nước 13

1.4 Những tác động đến nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO 18

1.4.1 Về tổ chức thương mại thế giới – WTO 18

1.4.2 Những tác động tích cực-thời cơ đối với kinh tế Việt Nam 18

1.4.3 Những tác động tiêu cực-thách thức đối với kinh tế Việt Nam 19

CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG, HIỆU QUẢ SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 21

Trang 2

2.1 Quá trình sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong

thời gian qua 21

2.1.1 Giai đoạn từ 1990 đến 1993 23

2.1.2 Giai đoạn từ 1994 đến 1997 26

2.2.3 Giai đoạn từ 1997 đến 2003 28

2.2 Đánh giá về hiệu quả sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp nhà nước và thực trạng hoạt động trong thời gian qua 33

2.2.1 Hiệu quả sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp nhà nước 33

2.2.2 Thực trạng hoạt động của DNNN 36

2.3 Một số nguyên nhân và hạn chế của quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN cần phải khắc phục 43

2.3.1 Về cơ chế chính sách 43

2.3.2 Về công tác chỉ đạo 44

2.3.3 Về tổ chức thực hiện 45

2.4 Đánh giá sơ lược quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua và năng lực cạnh tranh hiện nay 46

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 49

3.1 Hạn chế, tiến tới xóa bỏ đặc quyền, độc quyền của DNNN và thúc đẩy cạnh tranh 50

3.1.1 Hạn chế, tiến tới xóa bỏ đặc quyền và độc quyền của DNNN 50

3.1.2 Nâng cao sức cạnh tranh và chú trọng đầu tư vào những DNNN hoạt động trong các lĩnh vực có sức cạnh tranh cao 54

3.1.3 Thực hiện công ty hóa DNNN 55

Trang 3

3.2 Các giải pháp thúc đẩy sắp xếp, CPH DNNN và hoàn thiện cơ chế tài chính 57

3.2.1 Cơ chế cổ phần hóa, sắp xếp Doanh nghiệp nhà nước 57 3.2.2 Hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp và phương thức quản lý doanh nghiệp 60

3.3 Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của Doanh nghiệp nhà nước 62

3.3.1 Xử lý dứt điểm nợ tồn đọng của khu vực Doanh nghiệp nhà nước 62 3.3.2 Có chính sách hợp lý đầu tư vốn cho Doanh nghiệp Nhà nước 64 3.3.3 Củng cố, phát triển các Tổng công ty Nhà nước thành các tập đoàn kinh tế 67

KẾT LUẬN viii PHỤ LỤC ix TÀI LIỆU THAM KHẢO xxv

# "

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài :

Hiện nay, nền kinh tế các nước trên thế giới vận hành theo xu thế hội nhập với sự hình thành của các tổ chức hợp tác quốc tế, các khu vực mậu dịch tự do và tiến tới nhất thể hóa Do vậy, cùng với quá trình đổi mới kinh tế nói chung, các nước đang phát triển cần phải phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới DNNN nhằm tạo ra một hệ thống DNNN đủ sức đương đầu trong môi trường cạnh tranh quốc tế Nguyên Thủ tướng Chu Dung Cơ của Trung Quốc khi đàm phán vào WTO, đã nói với DNNN “Nếu Chu Dung Cơ này không cải cách được DNNN thì WTO sẽ cải cách doanh nghiệp Chỉ e rằng lúc đó sẽ không thuận lợi như Chu này làm bây giờ” Phát biểu này phần nào cho thấy sự cấp thiết phải đẩy nhanh tốc độ sắp xếp, đổi mới DNNN trước khi gia nhập WTO

Đối với Việt Nam, đổi mới DNNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngay từ những năm 80 và 90 của thế kỷ

XX, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương đổi mới DNNN

Hiện nay, khi mà thời điểm Việt Nam gia nhập WTO đang đến gần, vấn đề đổi mới DNNN càng trở nên nóng bỏng và bức xúc Tuy vậy, mặc dù chủ trương sắp xếp, đổi mới DNNN đã được đưa ra và thực hiện từ lâu, song cho đến nay tiến độ thực thi rất chậm, ngay cả khi Chính phủ đã giao chỉ tiêu cụ thể cho từng Bộ, ngành trung ương và các địa phương

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng phải đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN trong bối cảnh mà thời điểm gia nhập WTO đã đến gần, đề

tài luận văn cao học “Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp

Trang 5

nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO” được thực hiện

nhằm đáp ứng một số vấn đề của yêu cầu trên

2 Xác định vấn đề nghiên cứu :

a Xác định vấn đề nghiên cứu :

Vấn đề trung tâm mà đề tài muốn giải quyết là thông qua việc tìm hiểu khái quát về DNNN, phương pháp và các bước tiến hành đổi mới DNNN, thực trạng và hiệu quả sắp xếp, đổi mới DNNN ở Việt Nam trong thời gian qua, đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN, đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO

b Câu hỏi nghiên cứu :

Đề tài sẽ giải quyết những vấn đề cụ thể như :

1 Khái quát về DNNN và quá trình hình thành DNNN ?

2 Vai trò, đặc trưng của DNNN ?

3 Xu hướng đổi mới DNNN trên thế giới ?

4 Phương pháp và các bước tiến hành đổi mới DNNN ?

5 WTO là gì? Và nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu những tác động gì khi gia nhập WTO?

6 Quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN ở Việt Nam từ năm 1990-2003 ?

7 Hiệu quả của quá trình trên và những nguyên nhân cần khắc phục là gì? Thực trạng hoạt động của DNNN trong thời gian qua?

8 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nào và năng lực cạnh tranh của Việt Nam hiện nay ra sao?

Trang 6

9.Việt Nam cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản nào nhằm thúc đẩy tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN, đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO?

c Mục tiêu nghiên cứu :

Đề tài đã nhắm các mục tiêu sau :

1 Đưa ra một số khái niệm về DNNN và kết luận đặc điểm chung

2 Chỉ ra xu thế đổi mới DNNN trên thế giới là một tất yếu

3 Đưa ra phương pháp và các bước tiến hành đổi mới DNNN

4 Trình bày WTO là gì và những tác động đến nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO

5 Trình bày quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN ở Việt Nam từ năm

1990-2003 ở một số khía cạnh nhất định nhằm phục vụ cho đề tài

6 Đánh giá về hiệu quả sắp xếp, đổi mới, thực trạng hoạt động của DNNN trong thời gian qua và nêu một số nguyên nhân cần khắc phục

7 Đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua

8 Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN, đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO

3 Phương pháp nghiên cứu :

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu : Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp; Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử; Phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 7

4 Phạm vi nghiên cứu :

Đổi mới DNNN là một vấn đề phức tạp và có liên quan đến nhiều lĩnh vực Để tiến hành đổi mới DNNN đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Trong khuôn khổ của luận văn, đề tài xin phép chỉ trình bày một số giải pháp thuộc các lĩnh vực : Hạn chế, tiến tới xóa bỏ đặc quyền, độc quyền và thúc đẩy cạnh tranh; Thúc đẩy quá trình sắp xếp, CPH DNNN; và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN Các nhóm giải pháp này nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN, đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO của Việt Nam

5 Nội dung của luận văn:

Với phạm vi nghiên cứu như trên, đề tài được kết cấu gồm ba chương : Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về đổi mới Doanh nghiệp nhà nước và những tác động khi Việt Nam gia nhập WTO

Chương 2 : Thực trạng, hiệu quả sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp nhà nước và đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua Chương 3 : Một số giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp nhà nước

Trang 8

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG

KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC :

1.1.1 Khái quát về Doanh nghiệp nhà nước :

1.1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước :

DNNN là những cơ sở sản xuất kinh doanh do Nhà nước sở hữu hoàn toàn

hay một phần Quyền sở hữu thuộc về Nhà nước là đặc điểm phân biệt DNNN

với DN trong khu vực tư nhân, hoạt động sản xuất kinh doanh là đặc điểm phân

biệt chúng với các tổ chức và cơ quan khác của Nhà nước

Trên thực tế, tiêu thức cụ thể về DNNN ở nhiều nước trên thế giới còn rất

khác nhau:

- Năm 1956, khi nước Anh thành lập Uûy ban đặc biệt về quốc hữu hóa

công nghiệp, đã quy định các DNNN phải có ba điều kiện: 1 Hội đồng quản trị

DN do Chính phủ bổ nhiệm; 2 Ủy ban quốc hữu hóa công nghiệp kiểm tra tài

khoản kinh doanh của DN; 3 Thu nhập của DN phần lớn không dựa vào sự cung

cấp của quốc hội hoặc của các cơ quan tài chính Nhà nước

- Ở Pháp, DNNN được xác định là những DN thỏa mãn đủ ba điều kiện: 1

Tính công hữu của quyền sở hữu DN, nhờ đó Chính phủ xác lập được địa vị lãnh

đạo của Nhà nước đối với DN; 2 Có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa là địa vị

pháp lý của nó giống như các DN khác; 3 Thực hiện các hoạt động công thương

Trang 9

độc lập, quy định nó là tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn

vị hành chính sự nghiệp của Chính phủ

- Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra ba đặc điểm đặc trưng của DNNN, đó là: 1 Chính phủ là cổ đông chính trong DN hoặc nếu không thì Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà DN theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lí DN; 2 DN có nhiệm vụ sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các DN

tư nhân, DNNN khác; 3 DN phải chịu trách nhiệm về thu, chi trong hoạt động về sản xuất kinh doanh

- Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 1 Luật DNNN năm 2003, thì “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn ”

” Từ những xác định ít nhiều khác nhau trên, có thể khái quát ra những điểm chung của các DNNN : Nhà nước chiếm trên 50% vốn của DN, nhờ đó Nhà nước có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các DN; các DN đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân; nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cả mục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội

1.1.1.2 Phân loại Doanh nghiệp nhà nước :

DNNN thường được phân loại theo mức độ sở hữu và mục tiêu kinh tế- xã hội

Xét theo mức độ sở hữu, DNNN có hai loại: loại DNNN chỉ có một chủ sở

hữu vốn duy nhất là Nhà nước; loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nước nắm giữ một phần sở hữu nhất định (tùy theo quy định của mỗi nước)

Trang 10

Ở Việt Nam, theo luật DNNN năm 2003, DNNN được tổ chức dưới ba hình thức, đó là :

- Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập và hoạt động theo quy định của Luật DNNN Việc gọi loại hình doanh nghiệp là công ty nhà nước ( Luật DNNN năm 1995 gọi là DNNN ) nhằm phân biệt với các loại DNNN khác như: DNNN có 100% vốn nhà nước hoạt động theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước;

- Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có một thành viên, công

ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước do Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Xét theo mục tiêu kinh tế- xã hội, DNNN có hai loại: DN hoạt động vì mục

tiêu phi lợi nhuận (hoạt động công ích); DN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (hoạt động kinh doanh)

Trang 11

Bảng 1.1 : So sánh những điểm khác nhau chủ yếu giữa DNNN hoạt

động kinh doanh và hoạt động công ích

Nội dung so sánh DNNN Kinh doanh DNNN Công ích

1 Mục tiêu hoạt động Chủ yếu vì lợi nhuận Không vì lợi nhuận

2 Quyền tự chủ kinh doanh :

+Tự định kế hoạch sản xuất sản

phẩm chủ yếu

+Tự quyết định giá mua, giá bán

Được phép

Được phép

Không được phép Không được phép

3 Quyền tự chủ tài chính :

+Sử dụng vốn và các quỹ của

doanh nghiệp cho các nhu cầu

động kinh doanh(nếu có)

5 Tiêu chí đánh giá hiệu quả Lãi, tỷ suất sinh lợi

trên vốn, tỷ suất lợi nhuận, bảo toán, phát triển vốn,…

Bảo đảm số lượng, chất lượng sản phẩm, mức độ hạ giá thành sản phẩm, bảo toàn vốn

Trong mối tương quan với môi trường bên ngoài, các DNCI ít chịu sức ép cạnh tranh và nguy cơ phá sản, điều này xuất phát từ điều không muốn, không

Trang 12

thể hoặc không được tham gia của các thành phần kinh tế khác trong lĩnh vực DNCI hoạt động

Xét trong nội bộ doanh nghiệp, DNCI thường tổ chức theo yêu cầu của người cung ứng cái mình có chứ không phải theo yêu cầu của người tiêu dùng Mặc khác, do vai trò hết sức quan trọng của DNCI nên Nhà nước thường có những ưu đãi, hỗ trợ như miễn giảm thuế, tín dụng thuận lợi vv…Đồng thời, nhiều khi nhà nước lại can thiệp quá mức vào các hoạt động tác nghiệp nên làm hạn chế sự năng động, sáng tạo của doanh nghiệp

Ngoài ra, xét về địa vị pháp luật, DNNN có thể chia làm ba loại:

- DNNN do Chính phủ trực tiếp quản lí, không có địa vị pháp nhân độc lập: Loại DNNN này có nguồn vốn từ ngân sách của các cơ quan chủ quản thuộc Chính phủ và các đại biểu Chính phủ tham gia vận hành kinh tế mà chủ yếu là

xí nghiệp liên quan đến quốc tế dân sinh như: y tế, giao thông công cộng, diện nước, bưu điện, đường sắt, sản xuất vũ khí…Hiện nay, DNNN này không còn thấy nhiều ở các nước nữa

- DNNN có đầy đủ địa vị pháp nhân và toàn bộ tài sản thuộc về Nhà nước: Có thể thấy rằng, ở các nước trên thế giới, DNNN loại này đều thuộc các lĩnh vực công cộng, lấy việc phục vụ xã hội làm mục tiêu cơ bản, như đường sắt, bưu

chính, điện, khí ga, nước sạch…Loại DNNN này là những thực thể kinh tế được lập ra và kinh doanh dựa vào một pháp quy cụ thể nào đó của Nhà nước, đồng

thời lệ thuộc vào một cơ quan quản lí của Nhà nước đó Tuy có đầy đủ pháp nhân độc lập, đồng thời có quyền tự chủ kinh doanh nhất định trong phạm vi đã xác định nhưng các DN này đều phải lấy một mục tiêu cụ thể nào đó của Nhà nước làm tôn chỉ hoạt động kinh doanh và chấp hành sự điều tiết kinh tế và quản

lí nhất định của Chính phủ

Trang 13

- DNNN hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và Nhà nước có quyền sở hữu một phần tài sản : Phần lớn các nước tư bản, DNNN hỗn hợp là hình thức chủ yếu trong mọi loại hình DNNN Đặc điểm lớn nhất của DNNN này là Nhà nước tham gia cổ phần, nhờ đó có thể khống chế chúng Nhưng DNNN này hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc của doanh nghiệp tư nhân, thu lợi nhuận kinh doanh qua cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Đồng thời, bằng chế độ tham dự, Nhà nước có thể triển khai các hoạt động mà Nhà nước cho là có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước, bao gồm những công trình cơ sở hạ tầng như : đường sắt, đường bộ, vận tải biển , và cũng có thể triển khai mở rộng vào trong các ngành công nghiệp mới DNNN theo chế độ Nhà nước tham dự ngày càng tỏ ra là loại hình DNNN có hiệu quả nhất

1.1.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Doanh

nghiệp nhà nước :

Khu vực DNNN có mặt ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới và đã trở thành một bộ phận tất yếu quan trọng để bù đắp những thiếu hụt của kinh tế thị trường Tuy nhiên, tùy theo trình độ phát triển kinh tế và điều kiện chính trị cụ thể ở mỗi nước mà Chính phủ các nước xây dựng khu vực DNNN với phạm vi và qui mô khác nhau

i) Ở các nước phát triển :

Các nước phát triển đã hình thành khu vực DNNN như một phương tiện để Chính phủ thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô và điều chỉnh thất bại của thị trường Nội dung cụ thể là:

Trang 14

9 Cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng cho dân chúng

9 Xác lập sở hữu của nhà nước trong các ngành dễ nảy sinh độc quyền tự nhiên Đó là cách để Chính phủ điều chỉnh tình trạng độc quyền

9 Tạo công ăn việc làm, khắc phục sự mất cân bằng về phát triển kinh tế vùng

9 Để Chính phủ có công cụ đưa nền kinh tế vào tầm kiểm soát và hoạt động theo kế hoạch

Trong những năm 50-60, mức độ sở hữu công cộng chiếm tỉ trọng rất lớn ở các nước phát triển Nhưng vào những năm 80 lại diễn ra một xu hướng ngược lại: xu hướng tư nhân hóa Nguyên nhân chính của nó là do tính kém hiệu quả của DNNN và những thất bại của các chương trình can thiệp của Chính phủ

ii) Ở các nước đang phát triển :

Các nước đang phát triển, vì đi sau, lại muốn tiến nhanh, đuổi kịp các nước tiên tiến nên Chính phủ các nước này thường dựa nhiều hơn vào các DNNN, xem chúng như những công cụ chủ yếu để phát triển kinh tế Do vậy, phạm vi hoạt động của các DNNN không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực công cộng hay các lĩnh vực độc quyền tự nhiên như ở các nước phát triển, mà chúng còn tham dự vào hoạt động sản xuất kinh doanh Các DNNN ở các nước Đông-Đông Nam Á có mặt trong các ngành được coi là mũi nhọn và then chốt để duy trì lợi thế cạnh tranh của đất nước trên thị trường quốc tế

Hoàn cảnh lịch sử của các nước đang phát triển cũng đã góp phần vào việc phát triển khu vực DNNN Vì những nước này đã từng chịu ách thống trị thực dân trong quá khứ nên khi giành được độc lập, họ đã quốc hữu hóa những doanh nghiệp của chế độ cũ Theo họ, sự tập trung sản xuất vào tay Chính phủ là cách bảo vệ, chống lại nguy cơ một lần nữa bị sở hữu của nước ngoài xâm nhập và

Trang 15

kèm theo đó là sự đe dọa của chủ nghĩa thực dân mới về kinh tế, mục đích của sự tập trung này là để xây dựng và củng cố nền kinh tế độc lập của mình

iii) Ở các nước xã hội chủ nghĩa :

Xuất phát từ lý tưởng xây dựng CNXH dựa trên cơ sở công hữu hóa về tư liệu sản xuất, Chính phủ các nước này sau khi giành được chính quyền đã ra sức xây dựng các thành phần kinh tế XHCN, bao gồm một loạt các DNNN và HTX Chỉ sau một thời gian quốc hữu hóa và xây dựng mới, hệ thống DNNN đã có mặt ở hầu khắp các ngành kinh tế và chiếm tỉ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế Sự thống trị của hệ thống DNNN ở các nước XHCN kéo dài suốt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến đầu những năm 1990

1.1.3 Vai trò và đặc trưng của Doanh nghiệp nhà nước :

1.1.3.1 Vai trò của DNNN :

DNNN ở bất kỳ quốc gia nào đều gánh vác một số hay toàn bộ những vai trò sau :

# DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cho nền kinh tế : Do tác động của qui luật giá trị, việc đầu tư vào hạ tầng như : hệ thống giao thông, thông tin, điện lực ít được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư Hơn nữa, đối với nhiều doanh nghiệp thì những dự án đầu tư vào các lĩnh vực nêu trên thường vượt ra ngoài khả năng tài chính, khả năng kỹ thuật và công nghệ của mình Chính vì vậy, DNNN được coi là giải pháp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nhiều quốc gia, nhất là ở những quốc gia đang phát triển, nơi thường thiếu vắng những doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực kinh tế và kỹ thuật

# DNNN được giao phó vai trò khá lớn trong việc đảm bảo các hàng hóa,

dịch vụ thiết yếu hoặc nhạy cảm của nền kinh tế mà các doanh nghiệp thuộc các

Trang 16

thành phần kinh tế khác không thể đảm nhận được vì những lý do khác nhau Các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà DNNN có nhiệm vụ phải đảm bảo là : điện, dịch vụ giao thông, thông tin liên lạc Những hàng hóa, dịch vụ nhạy cảm là : chất nổ, chất độc, chất phóng xạ

# DNNN phải tạo ra được nguồn thu cho ngân sách để phát triển kinh tế xã hội Vai trò này thể hiện khá rõ không những ở các nước đang phát triển mà còn ở một số nước phát triển (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 : Liệt kê tỷ lệ đóng góp của DNNN vào GNP

(Nguồn : 2000 World Development Indicators)

# DNNN còn có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế Nhờ vào

sự tồn tại của thành phần kinh tế công với tiềm lực to lớn của nó, Nhà nước có thể tác động tới sự phát triển của nền kinh tế theo những chiều hướng hoặc theo những chính sách thích hợp với lợi ích quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể

Trang 17

# Thúc đẩy và bảo đảm việc làm cũng là một trong những vai trò quan

trọng của DNNN Các DNNN tạo khá nhiều việc làm cho người lao động Bảng liệt kê sau đây có thể nói lên điều đó (Bảng 1.3)

(Nguồn : 2000 World Development Indicators)

# Tăng cường sự phát triển kinh tế quốc dân và củng cố chủ quyền quốc

gia là vai trò khá phổ biến của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Sự tồn tại của DNNN trong nhiều lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đảm bảo cho Chính phủ đứng vững trước các sức ép kinh tế của các quốc gia khác

# DNNN ở các nước, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa, thường được giao sứ mệnh trở thành hình mẫu về hiệu quả sản xuất kinh doanh, mô hình giải

Trang 18

quyết các vấn đề an sinh xã hội cho người lao động Theo đó, DNNN phải là hình mẫu của các doanh nghiệp khác xét ở nhiều tiêu chí : đóng góp cho ngân sách, đóng góp cho GDP, công nghệ tiên tiến, quản lý hiện đại, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao

1.1.3.2 Đặc trưng của DNNN :

Như đã đề cập ở trên, DNNN đóng vai trò tích cực và cần thiết cho nền kinh tế quốc dân Thế nhưng, DNNN ở các nước trên thế giới đều có một căn bệnh chung, đó là hiệu quả kinh tế thấp hơn rất nhiều so với các công ty tư nhân Sự thua lỗ nặng của những DNNN này dẫn đến sự thâm hụt lớn ngân sách Nhà nước, làm rối loạn khả năng điều hành kinh tế vĩ mô

Có thể nói, những tiêu cực đối với DNNN đều nảy sinh từ tính chất phi thương mại của chúng do sở hữu thuộc về Nhà nước Người quản lý DNNN không có quyền linh hoạt đối phó với những điều kiện thay đổi của thị trường bằng khu vực tư nhân

Các tổ chức lao động trong các DNNN cũng mạnh hơn trong khu vực tư nhân nên các DNNN ít có khả năng thay đổi đầu vào về nguồn lao động của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh bên ngoài Cũng vậy, việc quyết định kế hoạch sản xuất kinh doanh nhiều khi cũng bị chi phối bởi Chính phủ, doanh nghiệp không thể đa dạng hóa một cách dễ dàng đầu ra của mình cho phù hợp với nhu cầu thị trường Ngoài ra, trong khi các công ty tư nhân lấy lợi nhuận tối

đa làm mục tiêu bao trùm thì các DNNN nhiều khi phải đầu tư phù hợp vơí kế hoạch quốc gia hoặc phải hy sinh lợi nhuận để thực hiện mục tiêu xã hội

Một hệ quả khác của quyền sở hữu thuộc Nhà nước là chủ thể sở hữu không có mối liên hệ lợi ích bao nhiêu đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, điều này dẫn đến sự kém hiệu quả của DNNN Mặc dù có những

Trang 19

hạn chế như trên, nhưng sở hữu thuộc về Nhà nước vẫn mang lại cho các DNNN một thế mạnh vượt trội các công ty tư nhân, cũng vì vậy mà các DNNN chưa nỗ lực để tự vượt qua khó khăn mà muốn dựa dẫm vào Nhà nước

1.2 XU THẾ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI :

Vấn đề đổi mới DNNN đã được đề cập và thực hiện từ lâu Từ cuối thập kỷ 70, người ta đã bắt dầu đặt dấu hỏi về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế và vấn đề thất nghiệp, thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại cũng như sự kém hiệu quả của các DNNN Các nguyên nhân đưa ra có thể có nhiều song nhìn chung, người ta bắt đầu nhận ra rằng việc đề quá cao vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước, coi Nhà nước là cơ quan có quyền lực vạn năng trong sửa chữa thất bại thị trường theo học thuyết kinh tế của J.M.Keynes cần phải xem xét lại Nhà nước, cũng như thị trường, đều là không hoàn hảo và kết quả kinh tế kém cỏi chính là hậu quả cái gọi là “sự thất bại của Nhà nước” Với những suy nghĩ mới về khả năng và chức năng của Nhà nước, các nước cũng bắt đầu cân nhắc về tính hợp lý của việc duy trì một khu vực DNNN quá lớn

Phong trào đổi mới DNNN bắt đầu ở Anh với việc chính quyền Thatcher tiến hành chiến dịch tư nhân hóa các DNNN lớn vào cuối những năm 1970 Theo sau Anh, là Pháp và sau đó là Italia, Tây Ban Nha cũng tiến hành tư nhân hóa nhiều DNNN làm ăn kém Từ năm 1986 đến năm 1988, Pháp đã tiến hành chuyển đổi sở hữu 1100 doanh nghiệp với khoảng 300 nghìn lao động sang khu vực tư nhân

Theo sau các nước châu Aâu, hàng loạt quốc gia khác cũng tiến hành đổi mới DNNN Cho đến những năm gần đây, đổi mới DNNN là một trong những

Trang 20

nội dung được ngân hàng thế giới hết sức quan tâm trong chương trình cải tổ cơ cấu ở các nước đang phát triển

1.3 BIỆN PHÁP VÀ CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC :

1.3.1 Các biện pháp đổi mới Doanh nghiệp nhà nước :

Các nước tiến hành đổi mới DNNN đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Theo tổng kết của Ngân hàng thế giới (WB) và được đa số các chuyên gia chấp nhận, có năm (5) biện pháp cơ bản :

# Chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN : đây là biện pháp chủ yếu trong việc đổi mới DNNN ở các nước, đặc biệt là những nước có tỷ lệ DNNN lớn (trên 10% GDP) Đây là biện pháp Nhà nước từ bỏ quyền sở hữu các DNNN, chuyển sang cho khu vực tư nhân Cụ thể, chuyển đổi hình thức sở hữu bao gồm các giải pháp cơ bản : tư nhân hóa, cổ phần hóa hoặc nếu cần thì giải thể doanh nghiệp

# Cải thiện môi trường cạnh tranh : thực hiện biện pháp này, Nhà nước

dỡ bỏ các rào cản cạnh tranh lành mạnh, để cho các DNNN cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân, qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN

# Aùp dụng ngân sách cứng : nghĩa là Nhà nước cắt giảm việc bao cấp qua ngân sách hoặc tín dụng đối với DNNN, buộc DNNN phải tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình

# Cải thiện khu vực tài chính ngân hàng : cắt giảm việc bao cấp qua hệ thống tài chính ngân hàng đối với các DNNN

# Xây dựng cơ cấu khuyến khích hợp lý : đảm bảo cho phép các DNNN hoạt động có hiệu quả hơn

Trang 21

1.3.2 Các bước tiến hành đổi mới Doanh nghiệp nhà nước :

Đổi mới DNNN thường được tiến hành theo các bước :

1.3.2.1 Đánh giá và phân loại Doanh nghiệp nhà nước :

Bước đầu tiên khi đổi mới DNNN mà các nước thực hiện là phân loại và sắp xếp lại các DNNN DNNN đã được thành lập vì các lý do và mục tiêu khác nhau Mặc dù ý tưởng đặt ra khi thành lập các DNNN là khá rõ ràng nhưng không phải bao giờ và lúc nào cũng đạt được Hơn nữa, để đạt một số mục tiêu, kể cả các mục tiêu mà doanh nghiệp tư nhân tự thân không muốn hay không thể làm, không nhất thiết phải do DNNN thực hiện Hoặc ngay cả khi sự tồn tại của DNNN là cần thiết thì vẫn cần có những cải tiến nhằm làm cho hoạt động của chúng có hiệu quả hơn Ngoài ra, vì tầm quan trọng, qui mô, lĩnh vực hoạt động của các DNNN khác nhau nên nhất thiết phải có sự phân loại các doanh nghiệp trước khi tiến hành bất kỳ cải cách nào

Thực chất của việc phân loại các DNNN là đánh giá lại vai trò, vị trí cũng như mục tiêu hoạt động của các DNNN, xác định doanh nghiệp nào cần phải duy trì sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp nào có thể chuyển cho thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nào nên duy trì sở hữu hỗn hợp Phân loại cũng giúp xác định lại mục tiêu rõ ràng cho từng doanh nghiệp, tách các hoạt động chính sách, hoạt động công cộng hay nói chung là các hoạt động phi thương mại ra khỏi hoạt động thương mại, trên cơ sở đó đánh giá đúng đắn hơn hiệu quả hoạt động của DNNN Cụ thể của việc phân loại là:

” Đối với các DNNN hoạt động trong các lĩnh vực mang tính cạnh tranh hay cạnh tranh tiềm tàng, các nước chủ trương tiến hành tư nhân hóa, cổ phần hóa, nói chung là chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN Các doanh nghiệp loại

Trang 22

này chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh thuần túy nên có thể chuyển giao cho khu vực tư nhân mà không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Nhà nước

” Đối với các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp những hàng hóa thiết yếu có quan hệ tới sức mạnh kinh tế, an ninh-quốc phòng và sự ổn định của quốc gia, Nhà nước nhất thiết phải nắm một phần hay toàn bộ Ở hầu hết các nước, Chính phủ vẫn duy trì một bộ phận nhất định các DNNN có vị trí then chốt Ngay tại Mỹ, nơi được coi là theo khuynh hướng thị trường tư nhân tự do triệt để, Chính phủ cũng sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần những công ty lớn trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, năng lượng, vũ trụ Chẳng hạn như, Chính phủ liên bang tham gia góp vốn vào công ty Lockheed, một công ty sản xuất vũ khí khổng lồ, và đã giúp công ty tồn tại qua nhiều thời điểm khó khăn

” Các DNNN làm công cụ để Nhà nước hỗ trợ nền kinh tế đi vào những ngành công nghiệp mũi nhọn, có hàm lượng công nghệ cao, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu cũng như các chi phí nghiên cứu, triển khai cực lớn đi kèm với rủi ro, thì không những không bị xử lý mà còn tiếp tục được đầu tư và thành lập mới

Một khi đã hoàn thành việc phân loại DNNN, vấn đề tiếp theo là xử lý các DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ cũng như các DNNN cần thiết phải tồn tại như thế nào

1.3.2.2 Giải thể và chuyển đổi sở hữu Doanh nghiệp nhà nước :

Đối với các DNNN mà Nhà nước không cần phải nắm giữ, giải thể và chuyển đổi sở hữu DNNN là cách thức cơ bản để thu hẹp khu vực DNNN Đây cũng chính là trọng tâm trong chương trình đổi mới DNNN mà các nước đã tiến hành

Trang 23

Các hình thức chuyển đổi sở hữu :

¾ Cổ phần hóa : Theo hình thức này, giá trị một bộ phận tài sản của doanh nghiệp hoặc toàn bộ giá trị tài sản được chia thành các đơn vị cổ phần và các cổ phần này được bán cho người mua (cổ đông) một cách trực tiếp hoặc thông qua thị trường chứng khoán Khi tiến hành bán cổ phần của doanh nghiệp, Nhà nước có thể giữ lại một số cổ phần nhất định theo chính sách của mình

¾ Bán một bộ phận doanh nghiệp : Có thể là một tài sản nào đó hay một bộ phận hoạt động của doanh nghiệp mà Nhà nước thấy là cần thiết Như vậy, hành động bán này sẽ tạo ra sự thay đổi về qui mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp

¾ Bán toàn bộ doanh nghiệp : Bao gồm toàn bộ các tài sản của doanh nghiệp, kể cả quan hệ sử dụng lao động Theo hình thức này, toàn bộ sở hữu đối với doanh nghiệp được chuyển cho người mua Đổi lại, Nhà nước thu hồi được phần vốn đã bỏ ra trong qua trình xây dựng và phát triển doanh nghiệp

Giải thể các DNNN làm ăn kém hiệu quả và chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp khác sang khu vực tư nhân không chỉ giúp cho Nhà nước bớt đi gánh nặng bao cấp, có điều kiện tập trung năng lực vào các nhiệm vụ khác mà còn làm cho việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ công cộng cũng như thương mại được tốt hơn, mang tính cạnh tranh cao hơn và như vậy sẽ có tác dụng thúc đẩy

to lớn đối với cả nền kinh tế

Ngoài ra, ở một số nước còn áp dụng hình thức khoán kinh doanh và cho

thuê doanh nghiệp Theo hai hình thức này, quan hệ sở hữu đối với doanh nghiệp không thay đổi nhưng sau khi khoán hoặc cho thuê, cơ chế quản lý của doanh nghiệp có thay đổi so với DNNN thông thường Người nhận khoán và người nhận thuê, có quyền chủ động rộng rãi hơn trong điều hành sản suất kinh doanh

Trang 24

so với giám đốc DNNN bình thường Trách nhiệm của họ cũng rõ ràng hơn, sự khuyến khích vật chất đối với họ cũng trực tiếp hơn, thể hiện qua quyền sử dụng phần vượt khoán hoặc lợi nhuận còn lại sau khi nộp khoản bắt buộc theo hợp đồng thuê doanh nghiệp (hoặc phải bù lỗ nếu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả) Phương pháp quản lý các doanh nghiệp sau khi khoán kinh doanh và cho thuê được thay đổi, không áp dụng phương thức truyền thống quản lý bằng giá trị

Tuy khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp có đem lại kết quả tốt cho các DNNN ở một số ngành nhất định, nhưng kinh nghiệm nhiều nước, việc khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp chỉ là những giải pháp trung gian, ít đem lại kết quả bền vững Nguyên nhân chủ yếu là vấn đề sở hữu chưa được giải quyết dứt điểm

1.3.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước :

Một số DNNN dù thế nào thì cũng vẫn tồn tại do vị trí của nó quá quan trọng nên không thể giải thể hay chuyển đổi sở hữu Kết quả là, ngay cả khi số lượng các DNNN giảm đi đáng kể, không có gì đảm bảo là các DNNN còn lại sẽ hoạt động tốt hay gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước sẽ bị loại trừ Vì vậy,

đi đôi với giải thể, chuyển đổi sở hữu, các DNNN còn lại cũng cần phải có sự cải cách để nâng cao hiệu quả hoạt động

Nếu như giải thể, chuyển đổi sở hữu không thể áp dụng đối với các doanh nghiệp này thì chỉ còn cách là phải nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng bằng cách đặt các DNNN trước sức ép cạnh tranh thị trường trên cơ sở ngân sách ngặt nghèo và những mục tiêu doanh lợi rõ ràng Mục đích chủ yếu là làm cho các DNNN đạt được các mục tiêu với chi phí ít nhất, nâng cao hiệu suất của DNNN và tăng cường tính minh bạch, công khai của mọi hoạt động Theo hướng này,

Trang 25

các nước đã tiến hành dỡ bỏ những hàng rào ngăn trở cạnh tranh và đặt các DNNN vào thế buộc phải cạnh tranh thực sự với các đôí thủ khác trên thương trường một cách bình đẳng Nói chung, thúc đẩy cạnh tranh được tiến hành trên hai hướng :

Thứ nhất : Cởi trói cho các DNNN khỏi những ràng buộc và hạn chế về giá

cả, người cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ Những hạn chế này đã là những gánh nặng ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp

Thứ hai : Xóa bỏ những đặc quyền, đặc lợi của các DNNN, những lợi thế

mà các DNNN có thể dựa vào để cản trở cạnh tranh bình đẳng

Nói tóm lại, các DNNN phải được đối xử ngang bằng với các doanh nghiệp

tư nhân, không có những đặc quyền cũng như những bất lợi

1.4 NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO :

1.4.1 Về tổ chức thương mại thế giới – WTO :

Nói đến toàn cầu hóa kinh tế không thể không nói đến Tổ chức thương mại thế giới-WTO (xem phụ lục1) Cùng với Ngân hàng thế giới – WB và Quỹ tiền tệ thế giới – IMF, WTO đóng vai trò quan trọng trong quá trình này

Ngày này, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các nước trên thế giới đều hướng tơí ngôi nhà chung của hoạt động thương mại thế giới là WTO, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này Tuy rằng, WTO không phải là tổ chức mang lại công bằng cho mọi quốc gia, song với việc tham gia vào tổ chức này, Việt Nam cùng các nước nhỏ khác có thể liên kết để bảo vệ quyền lợi của mình

Trang 26

Như đã nói ở trên, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng mạnh mẽ, dù muốn hay không Việt Nam cũng không thể đứng ngoài tổ chức thương mại lớn nhất hành tin này Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO từ năm 1995 Từ đó đến nay, Việt Nam đã trãi qua 10 vòng đàm phán và triển vọng có thể gia nhập WTO vào năm 2005 hoặc 2006 Khi đã là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ chịu sự tác động lớn đối với nền kinh tế, phải mở cửa thị trường, hạn chế độc quyền, nhiều chính sách, hệ thống thuế, pháp luật cũng phải thay đổi Sau đây, luận văn sẽ đề cập một số tác động đối với nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO

1.4.2 Những tác động tích cực-thời cơ đối với kinh tế Việt Nam :

- Mở rộng, đa dạng thị trường xuất khẩu và đối tác thương mại Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ gia nhập vào một hệ thống thương mại mở rộng, tự do, bình đẳng cạnh tranh, với nhiều cơ hội để tiếp cận thị trường 148 quốc gia Điều này thể hiện ở chỗ, thông qua các hiệp định thương mại song phương, đa phương, chúng ta sẽ tiếp cận được thị trường thế giới theo nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia Việt Nam mở rộng được thị trường xuất khẩu vì hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ giảm, đặc biệt là Việt Nam sẽ hưởng những điều khoản ưu đãi dành cho các nước đang và kém phát triển

- Tăng thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu công nghệ mới và phương thức quản lý tiến tiến, góp phần nâng cao trình độ đội ngũ quản lý kinh doanh Từ đó làm tăng sức cạnh tranh, tạo tư duy làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Tạo sức ép thúc đẩy Nhà nước cải cách thủ tục hành chính, xây dựng, điều chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế Bởi lẽ, khi gia nhập các tổ chức quốc tế như AFTA, WTO…thì Việt Nam phải tuân thủ luật lệ của

Trang 27

các tổ chức này Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp giảm được thời gian và chi phí trong các khâu làm thủ tục, góp phần nâng cao sức cạnh tranh

- Có điều kiện tốt hơn trong việc giải quyết tranh chấp thương mại một cách bình đẳng với các quốc gia khác

1.4.3 Những tác động tiêu cực-thách thức đối với kinh tế Việt Nam :

- Sức ép cạnh tranh lên các doanh nghiệp trong nước nói chung và DNNN nói riêng tăng lên Trong khi các doanh nghiệp của Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, kinh nghiệm thương trường chưa nhiều, năng lực cạnh tranh còn hạn chế

- Một số mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Việt Nam còn phụ thuộc vào sự thay đổi của giá cả thế giới Bên cạnh đó, kinh tế thế giới luôn biến động làm cho xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi chúng ta hội nhập càng sâu thì vấn đề càng trở nên phức tạp

- Tranh chấp thương mại quốc tế đang diễn ra khá phổ biến nhưng Việt Nam lại chưa chuẩn bị tốt khả năng cung cấp các thông tin cần thiết trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, cũng như chưa có những giải pháp phòng ngừa tranh chấp thương mại

Kết luận chương 1:

Có nhiều quan niệm khác nhau về DNNN Tuy nhiên, có thể khái quát ra những điểm chung của các DNNN : Nhà nước chiếm trên 50% vốn của DN, nhờ đó Nhà nước có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các DN; các DN đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân; nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cả

Trang 28

mục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội Việc xuất hiện DNNN là một tất yếu và phụ thuộc vào mỗi quốc gia mà DNNN đảm nhận một số vai trò nhất định Mặc dù DNNN có tầm quan trọng đặc biệt nhưng đa phần các DNNN ở các nước đều có một đặc trưng chung đó là hoạt động kém hiệu quả Đứng trước bối cảnh đó, xu hướng đổi mới DNNN đã xuất hiện trên thế giới bắt đầu từ những năm 1970 và kéo dài cho đến nay Quá trình đổi mới DNNN thông thường được tiến hành theo các bước : Đánh giá, phân loại DNNN; Giải thể và chuyển đổi sở hữu DNNN và Nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN

Hiện nay, trong bối cảnh chuẩn bị gia nhập WTO, Việt Nam đứng trước yêu cầu phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới DNNN, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh, nhằm đáp ứng các yêu cầu hội nhập

Trang 29

CHƯƠNG 2 :

THỰC TRẠNG, HIỆU QUẢ SẮP XẾP, ĐỔI MỚI

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 QUÁ TRÌNH SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Một thời gian dài thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung làm cho các DNNN vừa thiếu tính năng động sáng tạo vừa mang tính chất độc quyền do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn quá non kém Khi chuyển sang cơ chế thị trường, trước tiên Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp và giao quyền chủ động cho doanh nghiệp, giảm sự can thiệp của Nhà nước, áp dụng các yếu tố của thị trường, do vậy tính năng động của các DNNN đã được kích thích Nhưng vì Nhà nước chưa có hệ thống cơ chế quản lý vĩ mô đồng bộ và có hiệu lực cao cho nên nhiều DNNN đã vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước Nhà nước cần có biện pháp để giảm bớt số doanh nghiệp không cần thiết phải nắm giữ nhằm tạo thuận lợi cho việc điều hành quản lý Do vậy, Chính phủ đã tiến hành cơ cấu lại DNNN nhằm giảm bớt doanh nghiệp thua lỗ, kém hiệu quả Theo phương hướng đó, công cuộc đổi mới DNNN được thực hiện theo hướng toàn diện và lâu dài, bao gồm những vấn đề chủ yếu sau :

Thứ nhất : Đổi mới cơ chế quản lý DNNN, làm cho DNNN tự chủ, tự chịu

trách nhiệm, thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường; đổi mới về

Trang 30

kế hoạch, tài chính, thị trường và về tổ chức bộ máy cán bộ Đồng thời đổi mới quản lý Nhà nước theo hướng xóa bỏ chế độ chủ quản của các cơ quan hành chính Nhà nước đối với DNNN

Thứ hai : Cơ cấu lại khu vực DNNN nhằm tích lũy và tập trung vốn Hình

thành và phát triển một số doanh nghiệp mới có trình độ công nghệ cao và có sức cạnh tranh Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những DNNN yếu kém, thua lỗ kéo dài

Thứ ba : Tổ chức, củng cố và phát triển các TCT NN nhằm tập trung

nguồn lực vào các ngành then chốt mà Nhà nước cần chi phối Nhìn chung, các TCT NN đã chi phối được các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và đã trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết, quản lí vĩ mô nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế

Thứ tư : Để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy sản xuất kinh

doanh phát triển, tiến hành CPH những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn Cùng với quá trình CPH, Nhà nước chủ trương để một số DNNN đầu tư một phần vốn lập công ty cổ phần mới

Thứ năm : Để sử dụng có hiệu quả tài sản Nhà nước, bảo đảm việc làm và

thu nhập của người lao động, thực hiện giao, bán và khoán kinh doanh, cho thuê những DNNN có quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài

Trong các đợt, giai đoạn khác nhau, quá trình đổi mới DNNN được tiến hành kết hợp nhiều nội dung nêu trên hoặc chỉ thiên về một, hai nội dung nào đó

Mỗi đợt, giai đoạn thường gắn liền với việc đổi mới tư duy, quan điểm về DNNN nói riêng và mô hình kinh tế nói chung và mỗi đợt, giai đoạn lại gắn liền với việc ban hành và thực hiện các văn bản pháp quy của Nhà nước

Trang 31

Sau đây, luận văn sẽ đề cập một số khía cạnh của quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN từ năm 1990 cho đến nay và được chia làm 3 giai đoạn : Giai đoạn

1990 – 1993; Giai đoạn 1994 – 1997; Giai đoạn 1998 – 2003

2.1.1 Giai đoạn từ 1990 đến 1993 :

Đây là giai đoạn đầu tiên kiểm kê, đánh giá và rà soát lại số DNNN cần thiết, xác định các doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại và hoạt động theo Quyết định 315 /HĐBT ngày 01/09/1990 và Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 về

cơ chế thành lập, đăng ký và giải thể DNNN Đồng thời, ở giai đoạn này cũng đã triển khai một bước việc cải cách cơ chế quản lý : Nhà nước trao quyền quản lý và sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn vốn cho doanh nghiệp Đáng chú ý trong giai đoạn này là đã có chủ trương sơ bộ về cổ phần hóa DNNN theo Quyết định số 202/CT ngày 08/06/1992, thí điểm cổ phần hóa một số doanh nghiệp

i) Về sắp xếp lại DNNN :

Như đã đề cập ở trên, Chính phủ đã ban hành Quyết định 315 /HĐBT về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh Quyết định này là văn bản đầu tiên của Chính phủ đề cập đến việc sắp xếp DNNN Quyết định này yêu cầu các doanh nghiệp rà soát lại chức năng hoạt động kinh doanh, rà soát lại các yếu tố sản xuất kinh doanh : thị trường, công nghệ, vốn, tổ chức lao động, tổ chức bộ máy, soát xét lại tình trạng tài chính doanh nghiệp, việc chấp hành kỷ luật tài chính, kế toán, thống kê Những doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm, không thực hiện được nhiệm vụ kinh doanh, liên tiếp thua lỗ trong thời gian dài, không có khả năng thanh toán và không thể khắc phục được bằng các biện pháp như : chuyển hướng sản xuất kinh

Trang 32

doanh, đầu tư trang bị lại, các biện pháp chấn chỉnh khác vơí sự giúp đỡ của cấp trên…có thể bị tuyên bố giải thể

Tuy nhiên, mục tiêu sắp xếp lại DNNN của Quyết định 315 /HĐBT chưa được xác định rõ nên bước đi, biện pháp và thủ tục sắp xếp thiếu cụ thể Đặc biệt là chính sách xã hội sau khi sắp xếp chưa phù hợp cho nên nhiều DNNN đã có chủ trương giải thể nhưng không thể thực hiện được

Để tiếp tục chủ trương sắp xếp DNNN, ngày 20/11/1991 Chính phủ ban hành Nghị định 388/HĐBT qui định việc thành lập và giải thể DNNN Theo Nghị định này, các doanh nghiệp phải được thành lập lại, đăng ký lại và điều này có tác dụng loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, đồng thời kiểm soát được số lượng các DNNN đã được thành lập một cách tràn lan trong những năm trước đây Nghị định 388/HĐBT thể hiện một chủ trương lớn của Chính phủ trong việc sắp xếp DNNN Đây là lần đầu tiên Nhà nước qui định các điều kiện tối thiểu về vốn pháp định, ngành nghề kinh doanh, qui mô nhỏ nhất, luận chứng về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong việc thành lập DNNN

Riêng về việc cổ phần hóa, Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 của HĐBT về tổng kết thực hiện Quyết định 217/HĐBT ngày 14-11-1987, các Nghị định 50/HĐBT ngày 20-3-1988 và 98/HĐBT ngày 2-6-1988 về việc tiếp tục đổi mới quản lí xí nghiệp quốc doanh đã đề ra yêu cầu thí điểm chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần đối với một số ít các xí nghiệp tiêu biểu có đủ điều kiện

Ngày 8-6-1992, Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị số 202/CT về việc thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Sau đó, ngày 4-3-1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành tiếp Chỉ thị số

Trang 33

84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí điểm CPH DNNN và giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với DNNN

Chỉ thị số 202/CT đã chọn bảy doanh nghiệp làm thí điểm, đồng thời giao nhiệm vụ cho mỗi bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn từ một đến hai doanh nghiệp để tổ chức thí điểm chuyển thành công ty cổ phần Theo Chỉ thị số 202/CT và Chỉ thị 84/TTg đã chuyển được năm DNNN

thành công ty cổ phần

ii) Về cơ chế quản lý tài chính :

Năm 1990, Nhà nước thực hiện thí điểm trao quyền quản lý và sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn vốn cho DNNN Chỉ thị số 138/CT của Chủ tịch HĐBT ngày 25-4-1991 về việc mở rộng diện trao quyền sử dụng, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn sản xuất kinh doanh cho các đơn vị cơ sở kinh tế quốc doanh là một mốc quan trọng tạo ra sự thay đổi về chất trong việc quản lý vốn và tài sản DNNN Trong thời kì này, Nhà nước đã chuyển từ phương pháp quản

lí trực tiếp việc đầu tư vốn và tài sản ở DNNN sang hình thức giao cho tập thể cán bộ, công nhân viên chức và giám đốc trực tiếp quản lí, sử dụng để sản xuất

kinh doanh

iii)Về quan hệ giữa Nhà nước và Doanh nghiệp :

Theo nghị định 15/CP ngày 2-3-1993, Chính phủ đã qui định lại nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ trên từng lĩnh vực quản lí Nhà nước về kinh tế theo hướng giảm bớt chức năng chủ quản của các Bộ, chỉ còn lại bốn nhiệm vụ chủ yếu:

-Quyết định thành lập, tách nhập, giải thể DNNN ;

-Giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp;

-Bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp;

Trang 34

-Kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

* Sau giai đoạn này, số lượng các DNNN đã được thu hẹp đáng kể Theo Quyết định 315/HĐBT và Nghị định 388/HĐBT, đã có hơn 3000 DNNN được sáp nhập và gần 2000 DNNN bị giải thể Đến giữa năm 1994, số DNNN chỉ còn 6.264 doanh nghiệp, tức là giảm đi gần một nửa

2.1.2 Giai đoạn từ 1994 đến 1997 :

Mục tiêu đổi mới DNNN ở giai đoạn này là tiếp tục sắp xếp tổng thể để hình thành một hệ thống DNNN, đồng thời thực hiện một bước tập trung hóa bằng việc thành lập các TCT lớn và vừa Đặc biệt, trong giai đoạn này, Luật DNNN được Quốc hội thông qua (ngày 20-4-1995) đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong việc tạo lập khung pháp lý cho DNNN, cho việc triển khai nội

dung đổi mới DNNN

i) Về sắp xếp lại DNNN :

Theo Quyết định 90/TTg và 91/TTg ngày 7-3-1994 của Thủ tướng Chính

phủ, Nhà nước thực hiện một bước việc sắp xếp lại DNNN, thành lập các TCT

90, TCT 91; xóa bỏ các LHXN, các TCT có tính chất hành chính trung gian Ngoài ra, sau khi từng DNNN đã được xem xét thành lập lại theo Nghị định 388/HĐBT, để hướng dẫn các Bộ, ngành ở trung ương và các tỉnh, thành phố xây dựng phương án tổng thể tiếp tục sắp xếp DNNN phù hợp với quy hoạch ngành, lãnh thổ và triển khai thực hiện Luật DNNN, ngày 25-8-1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 500/TTg “Về việc khẩn trương tổ chức, sắp xếp lại DNNN” Việc tổ chức, sắp xếp lại DNNN theo Chỉ thị này nhằm hướng các DNNN đi vào hoạt động theo Luật DNNN, kết hợp với việc xóa bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản, từng bước khắc phục tình trạng có

Trang 35

nhiều DNNN hoạt động cùng ngành nghề trên cùng địa bàn nhưng lại do nhiều Bộ, ngành, địa phương quản lí

Đối với các DNNN đã được thành lập lại theo Nghị định 388/HĐBT đang làm ăn có hiệu quả và phù hợp với quy hoạch, thì không phải làm thủ tục thành lập lại Đối với các DNNN tuy đã được thành lập lại theo Nghị định số 388/HĐBT nhưng hiệu quả thấp, quy mô nhỏ thì có thể tổ chức lại thông qua việc hợp nhất hoặc sáp nhập để làm ăn có hiệu quả hơn hoặc thành lập các DNNN lớn có HĐQT DNNN của địa phương có thể là thành viên của các TCT

NN DNNN thuộc Trung ương quản lí có thể chuyển cho địa phương để sắp xếp lại theo địa bàn lãnh thổ Yêu cầu của Chỉ thị là phải phân rõ DNNN hoạt động công ích và DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh

Để triển khai việc thi hành Luật DNNN, ngày 28-8-1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định 50/CP về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản DNNN và sau đó, ngày 28-4-1997 là Nghị định 38/CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 50/CP

Các nghị định trên đã quy định những ngành, lĩnh vực được ưu tiên xem xét khi thành lập DNNN Đó là những ngành, lĩnh vực, địa bàn hoạt động mà ở đó DNNN phải có mặt để điều tiết, hướng dẫn, thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế nhiều thành phần Đồng thời, các nghị định cũng quy định vốn điều lệ tại thời điểm thành lập không thấp hơn mức vốn pháp định của ngành nghề kinh doanh Về cổ phần hóa, trong giai đoạn này, trên cơ sơ đánh giá kết quả triển khai thí điểm CPH trong giai đoạn trước, ngày 7-5-1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Đây là văn bản pháp lí đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với DNNN đã được cổ phần hóa Nghị định này đã xác định rõ mục tiêu, đối tượng

Trang 36

thực hiện CPH, qui định cụ thể nguyên tắc xác định giá trị DN, chế độ ưu đãi đối với DN và người lao động trong DN chuyển thành công ty cổ phần, tổ chức bộ máy giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác CPH DNNN, giao nhiệm vụ cho các Bộ, các địa phương hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác này Theo Nghị

định 28/CP, đã có 25 DNNN chuyển thành công ty cổ phần

ii)Về cơ chế quản lý :

Luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20-4-1995 đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong việc tạo lập khung pháp lí cho DNNN và nội dung đổi mới DNNN Việc ban hành Luật DNNN và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo

ra cơ sở pháp lí tổng quát để giải quyết và khẳng định nhiều vấn đề có liên quan trong quan hệ giữa DNNN với Nhà nước; khái niệm về DNNN; phân định rõ DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích; xác định quyền tự chủ của DNNN, nghĩa vụ của DNNN đối với Nhà nước; định hướng phát triển khu vực DNNN; phân định quyền của cơ quan quản lí Nhà nước và quyền của DNNN

Từ khi có luật DNNN, Bộ Tài chính được giao quyền và chịu trách nhiệm quản lí tài sản Nhà nước tại DNNN

Chủ trương thành lập các TCT NN có quy mô quốc gia không trực thuộc các bộ, ngành chủ quản cũng nhằm thực hiện việc xóa bỏ dần chế độ chủ quản, cấp hành chính chủ quản của Nhà nước đối với DNNN

Trang 37

2.2.3 Giai đoạn từ 1997 đến 2003 :

Giai đoạn này, Chính phủ tập trung giải quyết hai vấn đề:

Một là, sắp xếp DNNN theo phương án tổng thể từng vùng, ngành, tổ chức

lại TCT theo hướng thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế theo Chỉ thị TTg ngày 21-4-1998 của Thủ tướng Chính phủ

20/1998/CT-Hai là, thúc đẩy tiến trình chuyển đổi các hình thức sở hữu của DNNN như:

đẩy mạnh CPH DNNN kết hợp phương án tổng thể sắp xếp DNNN theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29-6-1998 (và sau đó là Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19-6-2002); thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê DNNN theo Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10-9-1999

i) Về sắp xếp DNNN :

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khóa VIII) năm 1997 đã nêu: “ Phân định loại DNCI và doanh nghiệp kinh doanh; xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ 100% Nhà nước; loại DNNN cần nắm tỉ lệ cổ phần chi phối; loại DNNN chỉ cần giữ tỉ lệ cổ phần ở mức thấp…”

Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 20/1998/CT-TTg ngày 21-4-1998 Nội dung trọng tâm của Chỉ thị là tổ chức phân loại DNNN dựa trên sự nắm vững và phân tích tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong ba năm gần nhất để tổ chức lại sản xuất kinh doanh cho phù hợp với từng loại DNNN được phân thành ba nhóm:

+ Nhóm một, gồm những doanh nghiệp quan trọng cần duy trì hoạt động

theo Luật DNNN để phát huy vai trò nòng cốt và dẫn dắt trong quá trình CNH, HĐH và những doanh nghiệp thuộc nhóm này duy trì 100% vốn Nhà nước

+ Nhóm hai, gồm những doanh nghiệp cần chuyển đổi cơ cấu sở hữu, là những doanh nghiệp không cần duy trì 100% vốn Nhà nước

Trang 38

+ Nhóm ba, gồm những doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài mà không cần

thiết duy trì sở hữu Nhà nước, cần được xử lý thích hợp như : CPH, đấu thầu, cho thuê, khoán kinh doanh, sáp nhập, giải thể, phá sản và doanh nghiệp Trong đó, DNNN thuộc nhóm thứ ba là đối tượng đầu tiên của việc sắp xếp lại DNNN Ngày 10-9-1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN quy mô nhỏ Nghị định đã đưa ra bốn giải pháp sắp xếp, đổi mới DNNN quy mô nhỏ gồm : giao DNNN cho tập thể người lao động trong doanh nghiệp; bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN cho tập thể, cá nhân người lao động trong DN, cá nhân, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) theo phương thức đấu thầu hoặc trực tiếp, trong đó ưu tiên tập thể người lao động trong doanh nghiệp

Để tiếp tục tiến hành việc CPH DNNN, ngày 29-6-1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần Nghị định này ra đời thay thế Nghị định số 28/CP ngày 07-5-1996 và Nghị định 25/CP ngày 26-3-1997 của Chính phủ Đây là văn bản qui định cụ thể hơn vấn đề CPH trong tình hình mới Theo Nghị định này, mục tiêu CPH được xác định rõ hơn Cùng với Chỉ thị 20, Nghị định này đã khắc phục một số điểm còn hạn chế trong nghị định trước, tạo ra hành lang pháp lí khá thông thoáng, thay đổi một cách căn bản cơ chế, chính sách CPH hiện hành theo hướng mở rộng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm thỏa đáng chính sách xã hội đối với người lao động nhằm khuyến khích cả doanh nghiệp và người lao động tham gia cổ phần hóa DNNN

Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày

19-6-2002 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần Nghị định này ra đời thể

Trang 39

hiện sự quyết tâm của Chính phủ trong việc thúc đẩy cải cách DNNN nói chung

và cổ phần hóa DNNN nói riêng Ngoài ra còn có một loạt các nghị định, nghị

quyết, thông tư của Nhà nước và các Bộ, ngành đã được ban hành nhằm quy

định, hướng dẫn những vấn đề có liên quan đến việc tiến hành cổ phần hóa

DNNN

Sau giai đoạn này, số lượng DNNN đã được chuyển đổi hình thức sở hữu

hoặc được sắp xếp lại như sau : (Bảng 2.1; Bảng 2.2)

Bảng 2.1: Số lượng DNNN cổ phần hóa

Đơn vị tính : doanh nghiệp.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, cuối năm 2003 có 4.789 DNNN Như vậy,

so với lộ trình sắp xếp lại DNNN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sau

khi hoàn thành sắp xếp vào năm 2005, Nhà nước chỉ giữ vốn tại 1.866 DNNN,

nghĩa là 2.923 doanh nghiệp sẽ phải chuyển đổi sở hữu, trong đó CPH 2.143

doanh nghiệp, chiếm 73,3% tổng số doanh nghiệp

Trang 40

Bảng 2.2 : Số lượng DNNN giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê

Đơn vị tính : doanh nghiệp.

x : Chưa có số liệu

(Nguồn : Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp TW & http://

www.mof.gov.vn )

* Về các Tổng công ty Nhà nước :

Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập 17 TCT 91 và ủy

quyền cho các Bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

thành lập TCT 90, các TCT này có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế then chốt

(xem phụ lục 2) Các TCT Nhà nước có 1.392 DN thành viên hạch toán độc lập,

chiếm 24% tổng doanh nghiệp cả nước, nắm giữ 66% về vốn, 61% về lao động

Riêng 17 TCT 91 có 532 DN thành viên, chiếm 9% số DNNN, 56% tổng vốn

kinh doanh và 35 % lao động Về qui mô của các TCT, so sánh với các DN Việt

Nam thì 17 TCT 91 là những doanh nghiệp lớn nhất (xem phụ lục 3)

ii) Về cơ chế quản lý tài chính :

Ngày đăng: 01/04/2013, 20:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : So sánh những điểm khác nhau chủ yếu giữa DNNN hoạt - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 1.1 So sánh những điểm khác nhau chủ yếu giữa DNNN hoạt (Trang 11)
Bảng 1.2 : Liệt kê tỷ lệ đóng góp của DNNN vào GNP - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 1.2 Liệt kê tỷ lệ đóng góp của DNNN vào GNP (Trang 16)
Bảng 1.3 : Liệt kê tỷ lệ sử dụng lao động trong tổng lao động xã hội. - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 1.3 Liệt kê tỷ lệ sử dụng lao động trong tổng lao động xã hội (Trang 17)
Hoặc được sắp xếp lại như sau : (Bảng 2.1; Bảng 2.2) - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
o ặc được sắp xếp lại như sau : (Bảng 2.1; Bảng 2.2) (Trang 39)
Bảng 2.2 :  Số lượng DNNN giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 2.2 Số lượng DNNN giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê (Trang 40)
Bảng 2.3 : Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 2.3 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (Trang 45)
Bảng 2.5 :Tốc độ tăng thu NSNN từ các khu vực DN - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 2.5 Tốc độ tăng thu NSNN từ các khu vực DN (Trang 46)
Bảng 2.4 : Đóng góp của DNNN vào thu ngân sách Nhà nước - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 2.4 Đóng góp của DNNN vào thu ngân sách Nhà nước (Trang 46)
Bảng 2.6 : Tình hình hoạt động kinh doanh của DNNN - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 2.6 Tình hình hoạt động kinh doanh của DNNN (Trang 47)
Bảng 2.7 : Kết quả tài chính theo ngành - 547 Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước – điều kiện tất yếu để Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 2.7 Kết quả tài chính theo ngành (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w