1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

121 869 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC --- o0o --- NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO GÓC VÀO CHƯƠNG HIĐROCACBON KHÔNG NO LỚP 11 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

- o0o  -

NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY

VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO GÓC VÀO CHƯƠNG HIĐROCACBON KHÔNG NO LỚP 11 NÂNG CAO

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HÓA HỌC)

Mã số: 60.14.10

Hà Nội – 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

- o0o  -

NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY

VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO GÓC VÀO CHƯƠNG HIĐROCACBON KHÔNG NO LỚP 11 NÂNG CAO

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HÓA HỌC)

Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kim Thành

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CNTT : công nghệ thông tin

GD&ĐT : giáo dục và đào tạo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Khách thể nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT – DẠY HỌC THEO GÓC 1.1 Đổi mới phương pháp dạy học 6

1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới 6

1.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở Việt Nam 8

1.1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hóa học 8

1.1.2.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học 9

1.1.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 9

1.1.3 Cơ sở phương pháp luận cho việc đổi mới phương pháp dạy học 11

1.1.3.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm 11

1.1.3.2 Dạy học theo hướng hoạt động hóa người học 11

1.1.3.3 Quan điểm kiến tạo trong dạy học 11

1.1.3.4 Quan điểm dạy học tương tác 14

1.1.4 Phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT 15

1.1.4.1 Khái niệm 15

Trang 5

1.1.4.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 15

1.2 Phong cách học tập và dạy học theo góc 17

1.2.1 Phong cách học tập 17

1.2.1.1 Khái niệm về “Phong cách học tập” 17

1.2.1.2 Tổng quan về các phong cách học tập 17

1.2.1.3 Lớp học phân hóa 19

1.2.2 Dạy học theo góc 20

1.2.2.1 Thuyết đa trí tuệ (đa năng lực) của Howard Gardner 20

1.2.2.2 Bản chất của dạy học theo góc 23

1.2.2.3 Quy trình tổ chức dạy học theo góc 24

1.2.3 Các phong cách học theo góc 24

1.2.4 Ưu nhược điểm của phương pháp dạy học theo góc 25

1.2.4.1.Ưu điểm của dạy học theo góc 25

1.2.4.2 Hạn chế của dạy học theo góc 26

1.2.5 Điều kiện để dạy học theo góc đạt hiệu quả tốt 27

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học 28

1.3.1 Vai trò của CNTT trong dạy học 28

1.3.2 Ưu và nhược điểm của ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học 31

1.3.3 Nội dung ứng dụng CNTT trong dạy học theo góc 34

1.3.4 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số trường THPT tỉnh Yên Bái 34

1.3.4.1 Mục đích điều tra 34

1.3.4.2 Đối tượng điều tra 35

1.3.4.3 Kết quả điều tra 35

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO GÓC VÀO CHƯƠNG HIĐROCACBON KHÔNG NO – LỚP 11 NÂNG CAO 2.1 Mục tiêu chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao – THPT 39

Trang 6

2.1.1 Mục tiêu chương hiđrocacbon không no 39

2.1.1.1 Kiến thức 39

2.1.1.2 Kĩ năng 41

2.1.1.3 Tình cảm, thái độ 43

2.1.2 Cấu trúc logic chương hiđrocacbon không no 43

2.2 Các hình thức tổ chức dạy học theo góc 44

2.2.1 Phân loại 44

2.2.2 Tổ chức các hoạt động dạy học 45

2.2.3 Các bước dạy học theo góc 45

2.2.4 Tiêu chí học theo góc 51

2.2.5 Một số yêu cầu khi lựa chọn kiến thức để áp dụng dạy học theo góc 52

2.2.6 Một số điểm cần lưu ý khi tổ chức dạy học theo góc 53

2.3 Vận dụng dạy học theo góc vào giảng dạy chương hiđrocacbon không no – Hóa học 11 nâng cao 54

Giáo án 1 55

Giáo án 2 64

Giáo án 3 73

Tiểu kết chương 2 81

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 82

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 82

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 82

3.2 Phương pháp và nội dung thực nghiệm sư phạm 83

3.2.1 Phương pháp thực nghiệm 83

3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 83

3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 84

3.3.1 Quy trình thực nghiệm 84

Trang 7

3.3.2 Kết quả thực nghiệm 85

3.3.3 Xử lý kết quả thực nghiệm 88

3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 94

3.4.1 Tỉ lệ học sinh yếu kém, trung bình, khá và giỏi 94

3.4.2 Đồ thị các đường luỹ tích 95

3.4.3 Giá trị các tham số đặc trưng 95

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 8

Nghị quyết Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV đã chỉ rõ:

“Hơn bao giờ hết, bước vào giai đoạn này nhà trường phải đào tạo những

con người năng động, sáng tạo, tiếp thu những kiến thức hiện đại, tự tìm giải pháp cho các vấn đề do cuộc sống công nghiệp đặt ra”

Vì vậy, đổi mới giáo dục và đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học là

việc tất yếu Trong đó, phương pháp dạy học hiện đại “lấy người học làm

trung tâm” đã và đang được áp dụng tích cực vào quá trình giảng dạy Vai trò

của người giáo viên là hướng dẫn học sinh biết cách học sáng tạo, chủ động, thảo luận trên lớp và qua đó tự mình tìm hiểu và khám phá những tri thức mới thông qua bài giảng Để thực hiện thành công phương pháp giảng dạy

này đòi hỏi phải có sự “hợp đồng tác chiến”, sự nỗ lực không mệt mỏi từ

nhiều phía, nhất là thầy và trò cũng như cần hội đủ nhiều yếu tố như thời gian, việc nâng cao trình độ của giáo viên, sự cố gắng gấp nhiều lần của học sinh, kinh phí đầu tư, trang bị kỹ thuật cùng sự nhận thức, quán triệt tinh thần của nhà trường Thêm vào đó, bản thân mỗi học sinh lại có một phong cách học tập riêng, vì vậy giáo viên cần tìm ra phương pháp giảng dạy sao cho phát huy được hết những tiềm năng của mỗi học sinh

Bên cạnh việc đổi mới phương pháp dạy học chúng ta cũng đã quan tâm đến việc phát huy phong cách riêng của mỗi người thể hiện như ở bậc học mầm non đã có chương trình dạy học theo các góc phù hợp với cá tính của

mỗi học sinh Dạy học theo góc là một phương pháp dạy học dựa trên việc

nghiên cứu phong cách học tập Học sinh sẽ học tốt hơn và tiếp thu nhanh

Trang 9

2

hơn nếu phương pháp giảng dạy phù hợp với phong cách của người học, từ đó kết quả học tập tăng lên sẽ giúp người học củng cố lòng tự tin và tạo hiệu quả tích cực tiếp theo trong học tập Ngược lại, phương pháp dạy học phù hợp với

phong cách học tập cũng có thể tạo hứng thú học tập đối với những học sinh

đang chán nản với việc học và có thể cải thiện được mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh

Tóm lại, dạy học dựa trên phong cách học tập là hướng đi thiết thực và

mang lại nhiều lợi ích cho người học bởi nó đáp ứng nguyên tắc dạy học cơ bản là giảng dạy phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và đây là cơ

sở lý luận quan trọng để giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy theo

hướng tích cực hóa người học một cách có hiệu quả và khoa học Dạy học theo góc nằm trong chương trình của dự án giáo dục Việt – Bỉ đã và đang

được triển khai ở một số tỉnh miền Bắc nước ta và sẽ tiếp tục được triển khai trên phạm vi toàn quốc trong những năm tiếp theo Đã có một số tác giả nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học theo phong cách học tập như:

- Thân Thị Huệ, Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để thực

hiện chuẩn hóa kiến thức – kỹ năng trong dạy học hóa học ở trường THPT (phần hóa học phi kim lớp 10 nâng cao), Đại học sư phạm Hà Nội, 2011

- Kiều Phương Hảo, Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo

hợp đồng và dạy học theo góc góp phần rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên Hóa học trường ĐHSP, Trường ĐHSP Hà Nội, 2010

- Bùi Thị Hoa Mai, Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận

thức của học sinh trong dạy học hóa học lớp 10 phần phi kim chương trình chuẩn, Đại học giáo dục, 2010

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đề cập riêng rẽ và sâu rộng về dạy học theo góc

Trang 10

3

Bên cạnh đó, công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội loài người và giáo dục Đảng và Nhà nước ta đã ban hành chủ trương, chính sách, chương trình nhằm thúc đẩy phát triển CNTT trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đào tạo, được thể hiện trong Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT giai đoạn 2008-2012; Thông tư số 07/TT-BGDĐT ngày 1/3/2010

về việc quy định tổ chức hoạt động, sử dụng thư điện tử và trang thông tin điện tử của các cơ sở giáo dục đại học; Thông tư số 08/TT-BGDĐT ngày 1/3/2010 về việc quy định sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các

cơ sở giáo dục; Năm học 2009-2010, 2010-2011được chọn là “năm học đẩy

mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực và ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học như thế nào để đạt hiệu quả giáo dục cao nhất đang là vấn đề đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà giáo dục hiện nay

Chính vì các lí do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng dạy học theo góc vào chương hiđrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin”

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động dạy học theo góc

- Nghiên cứu nội dung chương hiđrocacbon không no lớp 11 nâng cao

- Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT vào dạy học theo góc

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quá trình dạy học, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở THPT

Trang 11

4

- Nghiên cứu tài liệu tổng quan về lý thuyết dạy học theo góc: Cách tiếp cận, quan điểm về lý thuyết “Phong cách học tập”, mô hình triển khai phương pháp dạy học theo góc (bản chất, quy trình triển khai, ) và vận dụng dạy học theo góc để thiết kế một số giáo án phần hiđrocacbon không no hóa học lớp

- Hoạt động dạy học chương hiđrocacbon không no lớp 11 nâng cao

- Địa điểm: trường THPT Nguyễn Huệ - Thành phố Yên Bái - Tỉnh Yên Bái

5 Giả thuyết khoa học

Nếu biết vận dụng dạy học theo góc vào việc thiết kế kế hoạch dạy học một số bài trong chương hiđrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin một cách hợp lý và sử dụng có hiệu quả thì sẽ giúp cho học sinh phát huy tính tích cực, tự chủ, hợp tác trong học tập đồng thời nâng cao chất lượng dạy học

Trang 12

5

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng quan các tài liệu trong nước và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến đề tài Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa, đánh giá, tổng hợp, trong nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học có ứng dụng CNTT Đặc biệt, việc vận dụng dạy học theo góc là một trong những phương pháp dạy học phù hợp với xu thế phát triển của xã hội

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra cơ bản thực trạng công tác dạy và học ở trường phổ thông hiện nay, việc sử dụng các phương pháp dạy học, các phương tiện trực quan, các thiết bị nghe nhìn, đặc biệt là việc ứng dụng CNTT vào dạy học Hóa học Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài

- Phương pháp xử lý thống kê toán học kết quả thực nghiệm, đưa ra những kết quả phân tích định tính, định lượng từ đó rút ra kết luận cho đề tài

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề đổi mới phương

pháp dạy học ở THPT – Dạy học theo góc

Chương 2 Thiết kế và vận dụng dạy học theo góc vào giảng dạy

chương hiđrocacbon không no – Lớp 11 nâng cao

Chương 3.Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT – DẠY HỌC THEO GÓC 1.1 Đổi mới phương pháp dạy học[1,11,15,17]

1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới

Giáo dục thế kỷ 21 chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến:

- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật đặc biệt là công nghệ thông tin

- Sự tương tác ở mức độ cao của các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội

- Nhu cầu tự khẳng định của từng cộng đồng, vùng miền và lãnh thổ

- Quá trình toàn cầu hoá

Các yếu tố tác động trên đã dẫn đến những biến đổi cơ bản sau đây:

- Sự thay đổi của mục tiêu giáo dục: từ chủ yếu trang bị kiến thức và kỹ năng sang hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách của người học

- Không gian giáo dục và các loại hình đào tạo được mở rộng Người học không nhất thiết phải đến lớp và giảm dần sự tiếp xúc trực diện với giáo viên

- Sự giao thoa giữa các môn học và ngành học ngày càng lớn

- Xu hướng giáo dục toàn diện được đề cao

- Internet trở thành một phương tiện giáo dục quan trọng Nhờ internet quá trình tìm kiếm, trao đổi thông tin, sự hội nhập giữa các nền văn hoá trở nên vô cùng thuận lợi

- Sự thay đổi các phương tiện và phương pháp dạy học: Máy tính cá nhân ngày càng trở nên quan trọng với trường lớp Phương pháp thuyết giảng

Trang 14

Tháng 4 năm 1996 Unesco đã cho ra ấn phẩm : “Học tập: Mô ̣t kho báu

tiềm ẩn” (Learning: The Treasure Within ) trong đó đề ra phương châm học

suốt đời dựa trên 4 cô ̣t tru ̣: học để biết , học để làm , học để cùng sống với

- Ở Trung Quốc, việc cải cách giáo dục được tiến hành ở các cấp, song đặc biệt chú ý đến giáo dục đại học theo hướng: điều chỉnh cơ cấu các trường đại học và cao đẳng, cải cách chế độ thi cử và mở rộng quy mô tuyển sinh đại học, như mở rộng giới hạn tuổi thí sinh, tăng số môn thi vào đại học

- Ở Hàn Quốc, chú trọng mục tiêu giáo dục (Điều 2 của Luật Giáo dục) với các điểm chủ yếu: Phát triển kiến thức và thói quen cần thiết cho sự phát triển, giáo dục tinh thần bất khuất, tinh thần yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc

và sự nghiệp hoà bình thế giới, gìn giữ và phát triển văn hoá dân tộc…

- Ở Liên bang Nga, Luật giáo dục bảo đảm tính nhân văn, ưu tiên cho các giá trị chung của con người, sự phát triển tự do của cá nhân, bồi dưỡng tinh thần công dân, lòng yêu nước, giữ gìn tính chất truyền thống của giáo dục, song bảo đảm sự tự do và đa nguyên trong giáo dục, phát triển dân chủ

Trang 15

Song song với việc thay đổi mục tiêu giáo dục các nước này cũng đã có những thay đổi lớn về phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, đào tạo ra những con người toàn diện, có trình độ chuyên môn cao,

có trách nhiệm công dân, có khả năng hợp tác quốc tế, có ý thức học tập và tự đào tạo, truyền bá, bảo vệ văn hóa dân tộc

1.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở Việt Nam

1.1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hóa học

- Sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và quốc tế đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục Việt Nam đang ở trong giai đoạn công nghiệp hoá nền kinh tế và xã hội Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh Mặt khác, thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Việc gia nhập WTO của Việt Nam trước hết sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện toàn cầu hoá và xã

Trang 16

1.1.2.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học

Thế kỉ XXI được đặc trưng bởi nền kinh tế tri thức nên giáo dục phải đào tạo ra những con người có trí tuệ phát triển, giầu tính sáng tạo và tính nhân văn Do vậy, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu của nền giáo dục Việt Nam Việc đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện theo các hướng sau:

- Tìm hiểu bản chất và hoàn thiện các phương pháp dạy học truyền thống Khai thác những điểm mạnh, tích cực trong các phương pháp dạy học hiện có chú ý tăng cường tính tích cực, chủ động tìm tòi, sáng tạo của người học, tăng khả năng vận dụng tri thức vào cuộc sống, sản xuất

- Phối kết hợp một cách hợp lý một số phương pháp khác nhau để phát huy cao độ hiệu quả của giờ học theo hướng dạy học tích cực

- Kết hợp phương pháp dạy học với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại (phương tiện nghe nhìn, camera, máy tính, projector,…) tạo ra tổ hợp các phương pháp dạy học có sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học Tiếp thu

có chọn lọc một số quan điểm, phương pháp tích cực trong khoa học giáo dục hiện đại như dạy học kiến tạo, dạy học tương tác, dạy học theo góc,…

Tóm lại, phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là đổi mới cách dạy và đổi mới cách học

Trang 17

10

1.1.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện trong nhiều văn bản như:

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ: “Hơn bao giờ hết,

bước vào giai đoạn này nhà trường phải đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, tiếp thu những kiến thức hiện đại, tự tìm giải pháp cho các vấn đề do cuộc sống công nghiệp hiện đại đặt ra”

Luật Giáo dục (2005), cũng ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Nghị quyết Đại hội đại biểu lần IX của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới phương

pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”

Chúng ta cần vận dụng một cách sáng tạo các phương pháp dạy học hiện đại theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức, tính chủ động, sáng tạo của học sinh, tăng cường tự học, tự nghiên cứu, từng bước áp dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học

Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, tại mục 5.2 cũng ghi rõ: “Đổi

mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát

Trang 18

1.1.3 Cơ sở phương pháp luận cho việc đổi mới phương pháp dạy học

1.1.3.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng dạy học chú trọng đến người học để tìm ra những phương pháp dạy học có hiệu quả Dạy học lấy học sinh làm trung tâm đặt vị trí của người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa những tiềm năng của từng người học Do vậy vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy Người giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn động viên các hoạt động độc lập của học sinh, đánh thức các tiềm năng của mỗi học sinh giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống

1.1.3.2 Dạy học theo hướng hoạt động hóa người học

Định hướng hoạt động hoá người học đã chú trọng đến việc giải quyết vấn đề dạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người học, hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá, sử dụng phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin trong quá trình dạy học Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của học sinh Để học sinh học tập tích cực, tự giác cần làm cho học sinh biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân Để có tư duy sáng tạo thì phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập Như vậy, ngay trong

Trang 19

12

bài học đầu tiên của môn học phải đặt học sinh vào vị trí của người nghiên cứu, người khám phá, chiếm lĩnh tri thức mới và coi việc xây dựng phong cách “ học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học

1.1.3.3 Quan điểm kiến tạo trong dạy học

Tư tưởng về dạy học kiến tạo đã có từ lâu, nhưng lý thuyết kiến tạo (Construcktivism) được phát triển từ khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, được đặc biệt chú ý từ cuối thế kỷ XX Piagiê, Vygotsky cũng đồng thời là những đại diện tiên phong của thuyết kiến tạo Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Khi học tập, mỗi người hình thành thế giới quan riêng của mình Tất cả những gì mà mỗi người trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong “bức tranh toàn cảnh về thế giới” của người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới

* Cơ sở của lí thuyết kiến tạo

- Học trong hoạt động: Học là một hoạt động đặc thù của con người, trong đó người học vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động Bởi vậy, cách học tốt nhất là học trong hoạt động và thông qua hành động Do đó, thầy giáo phải tổ chức tình huống để đưa học sinh vào hoạt động, qua đó học sinh kiến tạo được kiến thức, phát triển trí tuệ và nhân cách

- Học là sự vượt qua khó khăn về nhận thức: Những quan niệm sai lầm thường tạo nên những trở lực cho học sinh trong quá trình nhận thức Vì thế, người ta nói rằng dạy học là xây dựng cái mới trên nền cái cũ

- Học trong sự tương tác: Thông qua sự tương tác giúp cho học sinh hiểu

rõ và nắm vững hơn các kiến thức khoa học Do đó, việc học của học sinh sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn Thông qua thảo luận, tranh luận, kiến thức đến với

Trang 20

13

học sinh sẽ tự nhiên hơn, không áp đặt và gượng ép

- Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề: Thường trước những vấn

đề được học sinh chấp nhận, thì các em có hứng thú và nhu cầu tìm cách giải quyết Chính sự tò mò đã tạo cho các em quyết tâm tìm tòi câu trả lời Đây là yếu tố tạo nên sự tích cực của hoạt động nhận thức ở học sinh

* Tiến trình dạy học theo lí thuyết kiến tạo

Dạy học theo lí thuyết kiến tạo gồm ba pha

- Pha chuyển giao nhiệm vụ: Trong pha này ta cần làm cho học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập

- Pha hành động giải quyết vấn đề: Dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên, học sinh tham gia hoạt động để xây dựng kiến thức cho bản thân

- Pha tranh luận hợp thức hoá kiến thức và vận dụng kiến thức mới: Các kiến thức mà học sinh đưa ra có khi chưa đầy đủ, chưa thật chính xác và khoa học Vì vậy, giáo viên cần tổ chức cho học sinh tranh luận, qua đó bổ sung, chỉnh lí và hoàn chỉnh kiến thức mà học sinh cần thu nhận Cuối cùng, giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức mới vào những tình huống tượng tự

* Hoạt động của giáo viên trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo

- Tạo không khí học tập

- Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ quan niệm riêng

- Tổ chức cho học sinh tranh luận về những quan niệm của mình

- Trọng tài trong những trường hợp ý kiến tranh luận không ngã ngũ

- Tạo điều kiện và giúp học sinh nhận ra các quan niệm sai lầm của mình

Trang 21

14

và tự giác khắc phục chúng

- Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học

- Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức thu nhận

Các phương pháp dạy học tích cực hình thành và phát triển từ lâu, tuy nhiên do những yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những con người phát triển, năng động và sáng tạo, nên các phương pháp này ngày càng được đặc biệt quan tâm hơn Trong các phương pháp dạy học tích cực, người ta đề cao vai trò hoạt động của học sinh, nhưng không hề hạ thấp hay giảm nhẹ vai trò của giáo viên Trái lại, người giáo viên càng có vai trò quan trọng hơn và được chuyển đổi từ vai trò là người truyền đạt kiến thức sang vai trò là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn hoạt động nhận thức của học sinh

1.1.3.4 Quan điểm dạy học tương tác

Dạy học tương tác là sự tác động qua lại giữa người dạy (giáo viên) và người học (học sinh) với các yếu tố khác trong hoạt động dạy học

Trong kiểu dạy học này giáo viên là người thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học nhưng không “làm thay” học sinh Còn học sinh tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học của bản thân dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Hoạt động dạy và học thống nhất với nhau nhờ

Trang 22

15

với nhau trong hình thức học nhóm, nghiên cứu theo nhóm thảo luận lớp, tổ… hay giữa học sinh với tài liệu học tập, phương tiện dạy học, dạy học tương tác nhất thiết phải bao gồm sự hợp tác, sự trao đổi và biến đổi

Quan điểm tương tác là một hướng tiếp cận hoạt động dạy học, không chỉ dừng lại ở việc xác định đúng các yếu tố tham gia hoạt động dạy học, mà còn làm rõ các chức năng riêng biệt của từng yếu tố và sự tác động tương hỗ của chúng, đặc biệt là hai yếu tố dạy và học tạo thành một liên kết chặt chẽ Môi trường cũng tạo ra ảnh hưởng đến hoạt động dạy và hoạt động học, ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả hoạt động dạy học

1.1.4 Phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT

1.1.4.1 Khái niệm

* Tính tích cực

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Theo GS.TS.Trần Bá Hoành tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ

và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục

* Phương pháp tích cực

Phương pháp tích cực để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào người dạy

Trang 23

16

1.1.4.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

* Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh

Trong phương pháp tích cực, người học, đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Thông qua đó, tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những trí thức đã được giáo viên sắp đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Từ đó, vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng

đó, không rập theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động

* Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu học Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ có được lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay, người ta nhấn mạnh hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ngay trong trường phổ thông, không phải tự học ở nhà mà cả tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

* Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm

Nếu trình độ kiến thức tư duy học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì

Trang 24

17

khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường

độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tự đánh giá để điều chỉnh cách học, giáo viên cần tạo thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà mỗi thầy cô cũng như nhà trường phải trang bị cho học sinh

Với phương pháp này, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình

1.2 Phong cách học tập và dạy học theo góc [15,16,17,24]

1.2.1 Phong cách học tập

1.2.1.1 Khái niệm về “Phong cách học tập”

“Phong cách học tập là những đặc điểm tâm lý ưu thế, tương đối bền vững của cá nhân, qui định cách tiếp nhận, xử lý và lưu giữ thông tin trong

môi trường học tập”

Trang 25

18

Chẳng hạn, một số người thấy rằng việc đọc sách sẽ giúp họ hiểu rõ hơn một khái niệm mới trong khi một số khác lại thiên về diễn giải bằng lời, qua những hình ảnh, movie cụ thể Tương tự, con người có thể thay đổi cách thể hiện hiệu quả nhất những hiểu biết của mình, có thể là bằng đồ thị, lời nói hay bài viết…

1.2.1.2 Tổng quan về các phong cách học tập

- Người học tích cực và chịu khó suy ngẫm: Những người thuộc nhóm này được mô tả là rất năng động và có chịu khó suy ngẫm hoặc đôi khi năng động và có tinh thần tìm tòi Họ rất năng động có xu hướng thích làm việc theo nhóm và thích trao đổi, giải thích và áp dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết vấn đề Người học bằng suy nghĩ thích làm việc độc lập và suy nghĩ kỹ

về một nhiệm vụ trước khi bắt đầu thực hiện Họ không thích các bài học lý

Thông thường, học sinh có các mức độ yêu thích khác nhau và có thể điều chỉnh việc học của họ khi giáo viên đưa ra hướng dẫn và dàn bài cho một cách thức tiếp cận học tập cụ thể

Trang 26

19

- Người học bằng hình ảnh và bằng trao đổi miệng: Người học bằng hình ảnh nhớ tốt nhất những gì họ nhìn thấy tranh ảnh, đồ thị, biểu đồ, phim ảnh và các minh chứng Người học trao đổi bằng miệng sử dụng từ ngữ nhiều hơn diễn giải bằng lời nói và bằng văn bản Mọi người học nhiều hơn khi các thông tin được truyền đạt bằng cả hình ảnh và ngôn ngữ Hầu hết người học đều thấy được ích lợi từ việc thông thạo với cả hai hình thức giảng dạy trên Giáo viên cần phải xem xét số lượng các tài liệu trực quan sẵn có trong lớp học, thông thường giáo viên sử dụng rất ít các thông tin bằng hình ảnh Giáo viên thường yêu cầu các học sinh phải lắng nghe, đọc các thông tin viết trên bảng và sách giáo khoa, các tài liệu được phát

- Người học theo trình tự và học theo cụm chung: Người học theo trình

tự có xu hướng theo sát các bước logic và có sự hiểu biết qua các bước do đó bước nọ kế tiếp bước kia một cách logic Người học theo cụm chung lại có xu hướng học nhảy cóc, nghiên cứu tài liệu một cách ngẫu nhiên mà không cần xét đến các mối liên kết và sau đó bất ngờ „nắm được nó‟ Thông thường, người học theo cụm chung cần một “không gian thở” để suy nghĩ, xem xét bức tranh tổng thể và tạo ra những mối liên kết

Người học theo trình tự có thể không hiểu hết được tài liệu nhưng ngược lại họ có thể làm được điều gì đó với nó (giống như làm bài tập về nhà hay thi

đỗ trong một kỳ thi) do những mẩu thông tin mà họ tiếp nhận được kết nối với nhau một cách logic Người học theo cụm chung thiếu khả năng tư duy theo trình tự, nói cách khác, họ có thể gặp nhiều khó khăn cho tới khi họ có được một bức tranh tổng thể

1.2.1.3 Lớp học phân hóa

Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng

Trang 27

20

người học trên cơ sở am hiểu từng cá thể, giáo viên tiếp cận người học ở tâm

lí, năng khiếu, mơ ước, …Có thể nói trong phương pháp dạy học phân hóa giáo viên phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”

Đặc điểm cơ bản của dạy học phân hóa là:

- Phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập

- Biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập

- Dạy học phân hóa là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy học đồng loạt

Các hình thức của dạy học phân hóa:

- Phân hóa theo hứng thú: căn cứ vào đặc điểm hứng thú học tập của học sinh để tổ chức cho người học tìm hiểu khám phá nhận thức

- Phân hóa theo sự nhận thức: Lấy sự phân biệt nhịp độ làm căn cứ phân hóa Nhịp độ được tính bằng lượng thời gian chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ khác Lớp học có nhiều nhịp

độ, chẳng hạn như nhóm có nhịp độ nhận thức nhanh, nhóm có nhịp độ nhận thức trung bình, nhóm có nhịp độ nhận thức chậm

- Phân hóa giờ học theo sức học: Căn cứ vào trình độ học lực có thực của

người học để tổ chức những tác động sư phạm phù hợp với người học tích cực học tập Dựa trên trình độ khá, trung bình, yếu mà giáo viên giao cho học sinh những nhiệm vụ tương ứng

- Phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của người học: Với

nhóm học sinh có nhu cầu tìm tòi, hiểu biết cao cần xác định nhiệm vụ học tập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung, tài liệu học tập cho học sinh tự học Với nhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao thì việc phân hóa dạy học phải

Trang 28

1.2.2.1 Thuyết đa trí tuệ (đa năng lực) của Howard Gardner

Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner - một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard - đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm dịch “Cơ cấu của trí tuệ”), trong đó có công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences)

Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau

“là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ

Sau đây là 7 loại trí thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó:

- Trí thông minh về toán học/logic (mathematical/logical): những người

có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua các lập luận logic, thích toán học, lập trình, chơi xếp hình,…

- Trí thông minh về ngôn ngữ/lời nói (verbal/linguistic): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua việc nói và viết, thích đọc, chơi ô chữ,…

- Trí thông minh về thị giác/không gian (visual/spatial): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua hình ảnh, đồ vật, sử dụng tốt bản đồ và định hướng tốt trong không gian,…chúng ta không nên

Trang 29

- Trí thông minh về âm nhạc/giai điệu (musical/rhythmic): những người

có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua các giai điệu, âm nhạc, thích chơi nhạc cụ, hát, đọc truyền cảm các tác phẩm,…

- Trí thông minh hướng ngoại (interpersonal): những người sở hữu trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua sử dụng các kỹ năng xã hội, giao tiếp, hợp tác làm việc với người khác, thích gặp gỡ và trò chuyện, có khả năng thông hiểu người khác,…

- Trí thông minh hướng nội (intrapersonal): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua tình cảm, cảm giác, điều khiển và làm chủ tốt việc học của mình, hiểu rõ các suy nghĩ của bản thân, từ đó có thể hiểu được cảm xúc, tình cảm của người khác,…

Năm 1996, Gardner có bổ sung thêm 2 loại trí thông minh mà ông và đồng nghiệp đang nghiên cứu:

- Trí thông minh hướng về thiên nhiên (naturalist): người có khả năng học tập thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời,…

- Trí thông minh về sự tồn tại (existential): người có khả năng học tập thông qua việc thấy bức tranh tổng thể, thông qua những câu hỏi như “Tại sao chúng ta tồn tại ở đây?”, “Vai trò của tôi trong thế giới này là gì?”, “Vai trò của tôi trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là gì?” Loại trí tuệ này tìm

Trang 30

và về logic/toán học là không chính xác Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp…đồng thời hướng tất cả mọi học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét Nhiều học sinh đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng

Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng

1.2.2.2 Bản chất của dạy học theo góc

Là một hình thức tổ chức hoạt động học tập, trong đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học, nhằm đạt được mục tiêu học sâu một nội dung hoặc một bài học

Dạy học theo góc là mỗi lớp học được chia ra thành các góc nhỏ, ở mỗi góc nhỏ người học có thể lần lượt tìm hiểu nội dung kiến thức từng phần của bài học Người học phải trải qua các góc để có cái nhìn tổng thể về nội dung

Trang 31

Ta nói rằng ở mỗi góc học sinh đã học theo một phong cách khác nhau Quá trình học tập được chia thành các khu vực (các góc) bằng cách phân chia nhiệm vụ và tư liệu học tập nhằm đạt được cùng một kiến thức cụ thể

Các tư liệu và nhiệm vụ học tập ở mỗi góc, giúp học sinh khám phá xây dựng kiến thức và hình thành kỹ năng theo các cách tiếp cận khác nhau Ví dụ

để học bằng cách trải nghiệm thì ở góc trải nghiệm cần có nhiệm vụ cụ thể, các thiết bị thí nghiệm hóa học, hóa chất, dụng cụ, phiếu học tập …

Người học có thể độc lập lựa chọn cách thức học tập riêng trong nhiệm vụ chung Các hoạt động của người học có tính đa dạng cao về nội dung và bản

chất

Nhóm tại mỗi góc được hình thành là do tập hợp các cá nhân có cùng phong cách học mà không phải là sự áp đặt của giáo viên

1.2.2.3 Quy trình tổ chức dạy học theo góc

Quy trình tổ chức dạy học theo góc có thể chia làm 2 giai đoạn như sau:

* Giai đoạn 1 : Chuẩn bị:

Bước 1: Xác định môi trường học tập với “cấu trúc cụ thể”

Bước 2: Thiết kế các nhiệm vụ và hoạt động ở mỗi góc góc: đặt tên góc; thiết kế nhiệm vụ ở mỗi góc và quy định thời gian; xác định và chuẩn bị thiết

bị, đồ dùng và tư liệu; Hướng dẫn học sinh chọn và luân chuyển góc

* Giai đoạn 2 : Tổ chức dạy học theo góc

Trang 32

25

Bước 1: Lựa chọn nội dung

Bước 2: Xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng góc

Bước 3: Thiết kế các hoạt động để thực hiện nhiệm vụ ở từng góc

Bước 4: Tổ chức thực hiện học theo góc

Bước 5 : Tổ chức trao đổi/chia sẻ (thực hiện linh hoạt)

Mỗi góc đều thể hiện sự đa dạng về phong cách học, do đó người học có

sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình Điều này cho phép giáo viên giải quyết vấn đề đa dạng trong nhóm

Học sinh hướng tới việc thực hành, khám phá và thực nghiệm tại các góc khác nhau giúp học sâu, học thoải mái cùng một nội dung học tập

Thường đối với một số môn khoa học tư nhiên như Vật lí, Hóa học, Sinh học, môn khoa học ở tiểu học có thể thiết kế góc theo phong cách học

* Góc theo hình thức hoạt động khác nhau

Tại các góc người học được nghiên cứu cùng một nội dung theo các hình thức khác nhau: góc mĩ thuật, góc trải nghiệm, góc thảo luận,…

1.2.4 Ưu nhược điểm của phương pháp dạy học theo góc

1.2.4.1 Ưu điểm của dạy học theo góc

Trang 33

26

- Học sinh được học sâu và hiệu quả bền vững: Học sinh được tìm hiểu một nội dung theo các cách khác nhau: nghiên cứu lí thuyết, thí nghiệm, quan sát và áp dụng do đó học sinh hiểu sâu, nhớ lâu hơn so với việc chỉ ngồi nghe giáo viên giảng bài

- Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái của học

sinh: Học sinh được chọn góc theo phong cách học và tương đối độc lập trong việc thực hiện các nhiệm vụ nên tạo được hứng thú và sự thoải mái cho học sinh

- Tạo được nhiều không gian hơn cho những thời điểm học tập mang tính tích cực: Các nhiệm vụ và hình thức học tập thay đổi tại các góc tạo cho học sinh có nhiều cơ hội khác nhau ( khám phá, thực hành, áp dụng, sáng tạo, chơi,…) Điều này cũng giúp gây hứng thú, kích thích tính tích cực của học sinh

- Tăng cường sự tương tác cá nhân giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh: Giáo viên luôn theo dõi và trợ giúp hướng dẫn khi học sinh yêu cầu nên tạo ra sự tương tác cao giữa giáo viên và học sinh đặc biệt là các học sinh trung bình, yếu sẽ có nhiều thời gian được giáo viên hướng dẫn hơn vì giáo viên không phải giảng bài Ngoài ra, học sinh cũng được tạo điều kiện để

hỗ trợ và hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập

- Đáp ứng được sự khác biệt của học sinh về sở thích, phong cách, trình

độ và nhịp độ: Tùy theo sở trường, năng lực, học sinh có thể chọn góc xuất phát và cách luân chuyển góc phù hợp với mình Bài tập/nhiệm vụ ở mỗi góc cũng có phiếu học tập hỗ trợ kèm theo để giúp học sinh có trình độ khác nhau

có thể hoàn thành Ngoài ra, trong một số trường hợp cũng có những góc/khu vực dành cho học sinh có tốc độ học nhanh hơn

Trang 34

27

- Trách nhiệm của học sinh trong quá trình học tập được tăng lên: Làm việc theo góc đòi hỏi học sinh phải có tính tự định hướng và tự điều chỉnh Các em cũng có thể quyết định khi nào thì các em cần nghỉ giải lao ( góc tạm nghỉ )

- Có thêm cơ hội để rèn luyện kỹ năng và thái độ: ví dụ như tính táo bạo, khả năng lựa chọn, sự hợp tác, giao tiếp, tự đánh giá

- Đối với giáo viên có nhiều cơ hội để quan sát học sinh, hỗ trợ trực tiếp từng

em và đánh giá một cách tổng thể hơn

- Dạy học theo góc sẽ tạo ra môi trường học tập lành mạnh, tích cực hơn Đặc biệt, với phương pháp này học sinh sẽ được học lý thuyết kết hợp với rèn kỹ năng thực hành, việc học gắn với thực tế đặc biệt ở góc áp dụng và góc thực nghiệm Đồng thời, học sinh cũng được khuyến khích nỗ lực đạt kết quả bằng mọi cách

1.2.4.2 Hạn chế của dạy học theo góc

- Không gian lớp học là một khó khăn để áp dụng học theo góc: Cần không gian lớp học lớn nhưng số lượng học sinh vừa phải Nếu lớp học đông và chật thì

đó sẽ là một khó khăn

- Cần nhiều thời gian cho hoạt động học tập: Cùng một nội dung nhưng học sinh khai thác theo các cách khác nhau nên cần thời gian nhiều hơn Ngoài ra cần thời gian hướng dẫn học sinh chọn góc, hướng dẫn nhóm và học sinh cần thời gian để luân chuyển góc

- Giáo viên cần nhiều thời gian và trí tuệ/năng lực cho việc chuẩn bị và sắp xếp: Giáo viên phải thiết kế các nhiệm vụ, văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ, phiếu hỗ trợ, đáp án, công cụ đánh giá… và chuẩn bị đồ dùng, phương tiện cho mỗi góc Giáo viên cũng cần có thời gian để sắp xếp lớp học trước giờ vào lớp và sau giờ học lại phải sắp xếp lại

Trang 35

28

- Khả năng áp dụng: Không phải bài học/nội dung nào cũng áp dụng được phương pháp dạy học theo góc Đối với giáo viên mới, khi áp dụng phương pháp này thì việc tổ chức, quản lí và giám sát họa động học tập cũng như đánh giá được kết quả học tập của học sinh là việc làm không dễ

Do vậy dạy học theo góc không thể thực hiện thường xuyên mà cần thực hiện ở những nơi có điều kiện Với học sinh quá nhỏ thì không nên tổ chức học theo góc vì khả năng tự đọc các nhiệm vụ, làm việc tự giác, chủ động để xây dựng kiến thức và rèn luyện kỹ năng còn bị hạn chế

1.2.5 Điều kiện để dạy học theo góc đạt hiệu quả tốt

- Khi xây dựng nhiệm vụ của các góc phải vừa đủ khó để hấp dẫn học sinh Các nhiệm vụ đặt ra phải không quá dễ cũng không quá khó để thu hút được học sinh tìm tòi, khám phá Nhiệm vụ giàu ý nghĩa, thiết thực, mang tính kích thích, thúc đẩy đối với học sinh Nhiệm vụ phải tạo ra cơ hội cho học sinh áp dụng những kinh nghiệm đã có để từ đó có khả năng sáng tạo ra cái mới

- Giáo viên cần thiết kế có chỗ cho học sinh sáng tạo và được thực hành Đây

là một yêu cầu rất khó đối với giáo viên bởi lẽ phải thiết kế sao cho có phần yêu cầu học sinh phải sáng tạo khi thực hiện nhiệm vụ, có như vậy mới phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh Thêm vào đó cũng cần tăng lượng thực hành cho học sinh bởi qua quá trình thực hành giúp học sinh nhớ lâu hơn và tích cực hơn trong nhận thức Đảm bảo học sinh được thực sự tham gia vào hoạt động và biết áp dụng vào thực tế

- Các góc học tập theo các phong cách học khác nhau cùng thực hiện một nội dung hay các nội dung cho mục tiêu học tập, tạo điều kiện để học sinh biết, hiểu, vận dụng và sáng tạo

- Chọn nội dung bài học phải phù hợp với đặc trưng của học theo góc

Không phải bài nào cũng có thể tổ chức học theo góc, vì vậy không nên lạm

Trang 36

- Học sinh được chọn góc xuất phát và thực hiện nhiệm vụ luân phiên qua các góc đảm bảo học sâu và học thoải mái Điều này giúp cho học sinh phát huy được hết sở trường của mình, thể hiện hết khả năng từ đó tiếp thu kiến thức một cách chủ động, hiểu sâu và tạo hứng thú trong học tập

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học

1.3.1 Vai trò của CNTT trong dạy học

Công nghệ thông tin ( Information Technology ) là ngành ứng dụng công

nghệ quản lý và xử lý thông tin CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin

Nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 đã nhấn mạnh vai trò của CNTT: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Một số vai trò quan trọng của CNTT trong quá trình dạy học:

* CNTT giúp mở rộng đường đến với giáo dục

CNTT là một công cụ mạnh mẽ, tiềm năng để mở rộng các cơ hội giáo dục, cả chính thức và không chính thức, cho cư dân những vùng sâu, vùng xa

và nông thôn vốn vẫn không được học hành vì các lý do xã hội, văn hóa như

Trang 37

30

người thiểu số, nữ giới, người tàn tật, người già cũng như cho tất cả những người vì lý do kinh tế hay do eo hẹp về thời gian đã không thể đăng ký đến

học ở trường

Tiếp cận những tài nguyên đào tạo từ xa trên các phương tiện khác nhau,

có thể tiếp cận được bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào trong ngày với số lượng người không hạn chế CNTT cũng tạo điều kiện tiếp cận với những nguồn tài nguyên con người như những chuyên gia, nhà nghiên cứu, giáo sư, lãnh đạo doanh nghiệp và các bạn bè ở khắp thế giới

* CNTT giúp chuẩn bị lực lượng lao động

Một trong những lý do phổ biến nhất cho việc sử dụng CNTT trong các lớp học là để chuẩn bị tốt hơn cho thế hệ học sinh hiện tại, khi họ làm việc trong môi trường CNTT, đặc biệt là máy tính, Internet và các công nghệ liên quan, ngày càng trở nên phổ biến Kiến thức cơ bản về công nghệ hoặc khả năng sử dụng CNTT một cách có hiệu quả vì thế đã được xem như là một lợi thế cạnh tranh trong thị trường công việc đang ngày càng toàn cầu hóa

Tiềm năng của CNTT nhằm củng cố quá trình thu nạp kỹ năng làm việc

đã ràng buộc việc sử dụng CNTT như một công cụ để tăng chất lượng giáo dục, gồm cả việc chuyển sang giảng dạy theo kiểu lấy học sinh làm trung tâm

* CNTT có thể giúp tăng chất lượng giáo dục

CNTT có thể nâng cao chất lượng giáo dục bằng nhiều cách: Nâng cao động lực và sự tham gia của người học, bằng cách tạo thuận lợi cho việc thu nhận các kỹ năng cơ bản và bằng cách tăng cường đào tạo giáo viên Khi được sử dụng hợp lý CNTT có thể giúp chuyển sang cách dạy và học theo kiểu hướng vào người học

Trang 38

31

Tạo động lực cho học tập Video và các phần mềm trong máy tính có thể được sử dụng để cung cấp những nội dung mới và có tính thử thách nhằm thu hút người học

Hơn thế, các máy tính được kết nối với nhau thông qua mạng Internet làm tăng động lực cho người học, đem lại cơ hội kết nối, trao đổi giữa một người với các sự kiện trên thế giới

Tạo thuận lợi trong việc thu nhận những kỹ năng cơ bản, chuyển tải các

kỹ năng và khái niệm cơ bản và là cơ sở cho những kỹ năng ở mức cao hơn, khả năng sáng tạo có thể được nảy sinh thông qua việc luyện tập và thực hành

* CNTT làm chuyển đổi môi trường học tập sang mô hình Môi trường

lấy người học làm trung tâm

Các nhà nghiên cứu cho rằng sử dụng CNTT hợp lý có thể gây xúc tác chuyển mô hình cả về nội dung lẫn phương pháp giáo dục học, trung tâm của cải cách giáo dục trong thể kỷ 21 Nếu như được thiết kế và thực hiện đúng đắn, giáo dục được hỗ trợ bởi CNTT có thể thúc đẩy việc giành kiến thức và

kỹ năng nhằm tạo khả năng cho các học sinh có thể kéo dài công cuộc học tập của mình suốt đời

Khi áp dụng đúng đắn, CNTT tạo cho học sinh học tập năng động, khuyến khích sự trao đổi và hợp tác giữa học viên, giáo viên và các chuyên gia trong cùng lĩnh vực, thúc đẩy sự tận dụng những thông tin đang có và tạo

ra được những sản phẩm thực dụng hơn giúp cho quá trình học tập sáng tạo hơn

Tóm lại, với sự bùng nỗ thông tin, ngày càng có nhiều phần mềm phục

vụ việc dạy và học, rõ ràng không thể không đổi mới phương pháp dạy và học, không thể dạy học theo lối cũ được Việc ứng dụng CNTT vào dạy và

Trang 39

32

học đã được các nhà giáo dục nghiên cứu và đã nâng thành lí luận kết hợp với các thành tựu mới của các nghiên cứu về giáo dục Tuy nhiên, làm thế nào để việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp có hiệu quả, kết quả hơn hẳn cách dạy và học cũ, đó là điều cần phải trao đổi, bàn bạc, rút kinh nghiệm

1.3.2 Ưu và nhược điểm của ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học

* Ưu điểm:

- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera … với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan

- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy

ra trong điều kiện nhà trường

- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực

và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực

Trang 40

33

tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

* Nhược điểm:

Theo nhận định của một số chuyên gia thì việc đưa công nghệ thông tin

và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân Cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh Giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và học sinh

dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng

“slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh

- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặt khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên Chính vì vậy đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Armstrong, Thomas (dịch giả: Lê Quang Long) (2011), Đa trí tuệ trong lớp học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa trí tuệ trong lớp học
Tác giả: Armstrong, Thomas (dịch giả: Lê Quang Long)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Vụ Giáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
3. Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường (2005), Phát triển năng lực nhận thức thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Tài liệu hội thảo tập huấn dự án phát triển giáo dục THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực nhận thức thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
4. Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường (2009), Lý luận dạy học hiện đại, Potsdam – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường
Năm: 2009
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007). Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 11, môn hóa học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 11, môn hóa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Hoàng Chúng (1993), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
9. Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Năm, Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biều, Đào Vân Hạnh (1995), Thực trạng về phương pháp dạy học hóa học ở các trường THPT, Kỷ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về phương pháp dạy học hóa học ở các trường THPT
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Năm, Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biều, Đào Vân Hạnh
Năm: 1995
10. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
11. Dự án Việt Bỉ (2003-2009) Bộ phiếu đánh giá dạy học tích cực và 3 phương pháp học theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ phiếu đánh giá dạy học tích cực và 3 phương pháp học theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án
14. Dự án Việt – Bỉ (Tháng 8-2010), Tài liệu hướng dẫn tăng cường năng lực sư phạm cho cán bộ giảng dạy của các cơ sở đào tạo giáo viên THPT &TCCN, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn tăng cường năng lực sư phạm cho cán bộ giảng dạy của các cơ sở đào tạo giáo viên THPT & "TCCN
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
16. Kiều Phương Hảo (2010), Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc góp phần rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên Hóa học trường ĐHSP, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc góp phần rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên Hóa học trường ĐHSP
Tác giả: Kiều Phương Hảo
Năm: 2010
17. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa. NXB Đại học sư phạm. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm. Hà nội
Năm: 2006
19. Đặng Thị Oanh - Nguyễn Thị Sửu (2006). Bài giảng phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong chương trình sách giáo khoa hóa học phổ thông. Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong chương trình sách giáo khoa hóa học phổ thông
Tác giả: Đặng Thị Oanh - Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Đỗ Quyên (2008). Phong cách học tập và ảnh hưởng của nó đến khối lượng ghi nhớ từ vựng tiếng Anh của học sinh lớp 6 tại thành phố Đà Nẵng. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tập và ảnh hưởng của nó đến khối lượng ghi nhớ từ vựng tiếng Anh của học sinh lớp 6 tại thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Thị Đỗ Quyên
Năm: 2008
24. Carol Ann Tomlinson – The differentiated Classroom (Responding to the Needs of all learners), Association for Supervision and Curriculum Development Alexandria, VA US Sách, tạp chí
Tiêu đề: The differentiated Classroom (Responding to the Needs of all learners)
25. Debbie Candau, Jennifer Doherty, Robert Hannafin, Jonh Judge, Judi Yost, Paige – Intel Teach to the Future, NXB Lao động xó hội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intel Teach to the Future
Nhà XB: NXB Lao động xó hội
26. Gardner, Howard. Multiple Intelligences: The Theory in Practice. New York: Basic, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multiple Intelligences: The Theory in Practice
6. Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 Khác
8. Nguyễn Cương (1995), Các biện pháp hoạt động hóa người học trong dạy học bộ môn hóa học ở trường phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Khác
13. Dự án Việt Bỉ (2007, 2008, 2009), Tài liệu tập huấn thực hành đánh giá kĩ năng áp dụng 3 phương pháp, Tài liệu hội thảo đánh giá kết quả áp dụng dạy học tích cực Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Thâm niên công tác - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 1.2 Thâm niên công tác (Trang 43)
Bảng 1.3: Điều kiện cơ sở vật chất - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 1.3 Điều kiện cơ sở vật chất (Trang 43)
Bảng 1.4: Các phương pháp thường sử dụng - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 1.4 Các phương pháp thường sử dụng (Trang 44)
Hình 1.1: Cấu trúc logic chương hiđrocacbon không no - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 1.1 Cấu trúc logic chương hiđrocacbon không no (Trang 52)
Bảng kiến thưc hỗ trợ các nhân - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng ki ến thưc hỗ trợ các nhân (Trang 80)
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích (Trang 99)
Hình 3.1.b. Đồ thị lũy tích bài kiểm tra cuối chương(đầu ra) - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 3.1.b. Đồ thị lũy tích bài kiểm tra cuối chương(đầu ra) (Trang 100)
Hình 3.1.a. Đồ thị tần suất bài kiểm tra cuối chương(đầu ra) - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 3.1.a. Đồ thị tần suất bài kiểm tra cuối chương(đầu ra) (Trang 100)
Hình 3.2. Đồ thị tổng hợp phân loại kết quả học tập của học sinh - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 3.2. Đồ thị tổng hợp phân loại kết quả học tập của học sinh (Trang 101)
Bảng 3.5. Bảng phân loại kết quả học tập sau thực nghiệm - Vận dụng dạy học theo góc vào chương Hidrocacbon không no lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 3.5. Bảng phân loại kết quả học tập sau thực nghiệm (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w