1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông

127 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, việc xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ học tác phẩm văn ở Trung học phổ thông nói riêng là vấn đề rất bức xúc trong nhà trường phổ thông.Việc đánh giá hiệu quả mộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Phan Tro ̣ng Luâ ̣n

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin ĐHSP Đại học sư phạm

ĐHQG HN Đại học Quốc gia Hà Nội ĐHSP HN Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Khảo sát giờ dạy 23

Bảng 3.1 Bảng thuyết minh các tiêu chí sử dụng trong giáo án “Chiếc thuyền ngoài xa” 109

Bảng 3.2 Bảng thuyết minh các tiêu chí sử dụng trong giáo án “Ai đã đặt tên cho dòng sông” 111

Bảng 3.3 Thang điểm đánh giá 113

Bảng 3.4 Kết quả bài kiểm tra của lớp 12D1 (THPT Phạm Hồng Thái) 113

Bảng 3.5 Kết quả bài kiểm tra của lớp 12D (THPT Tây Hồ) 113

Bảng 3.6 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở tiết học bài: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”của Hoàng Phủ Ngọc Tường 114

Bảng 3.7 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài dạy “Chiếc thuyền ngoài xa" của nhà văn Nguyễn Minh Châu 114

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Mục đích, nhiệm vụ dạy văn là căn cứ để xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ học tác phẩm văn chương 7

1.1.2 Đặc trưng của tác phẩm văn chương là một căn cứ để xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ học 14

1.1.3 Dạy học tác phẩm văn chương gắn liền với phong trào đổi mới dạy theo hướng học sinh là bạn đọc 19

1.2 Cơ sở thực tế 22

1.2.1 Khảo sát các tiêu chí trong giờ dạy tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông 22

1.2.2 Có nhiều khuynh hướng giảng dạy khác nhau 26

1.2.3 Thực trạng có nhiều quan niệm về hiệu quả giờ dạy học tác phẩm văn chương theo hướng khác nhau 34

CHƯƠNG 2: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT GIỜ DẠY TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 36

2.1 Tiêu chí 1: Giờ dạy học tác phẩm văn chương phải tạo được hiệu quả cân đối cả ba mặt: Kiến thức - kĩ năng - giáo dục 36

2.1.1 Những kiến thức GV cần cung cấp cho học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương 36

2.1.2 Những kĩ năng GV cần hình thành cho học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương 42

2.1.3 Giờ học tác phẩm văn chương phải có tính giáo dục 44

Trang 6

2.2 Tiêu chí 2: Giờ dạy học tác phẩm văn chương phải đúng bản chất thẩm mĩ, nhân văn 46

2.2.1 Dạy tác phẩm văn chương phải khác biệt với những môn học khác 462.2.2 Tác phẩm văn chương là một thông điệp thẩm mĩ 462.2.3 Hiệu quả của giờ dạy tác phẩm văn chương là hiệu quả thẩm

mĩ ở người học sinh 49

2.3 Tiêu chí 3: Giờ dạy học tác phẩm văn chương phải là giờ học

đã thực sự đổi mới phương pháp 54

2.3.1 Mục đích, tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học 542.3.2 Đổi mới giờ dạy học tác phẩm văn chương 55

2.4 Tiêu chí 4: Ứng dụng CNTT vào giờ dạy tác phẩm văn chương

có hiệu quả 63

2.4.1 Lợi ích của ứng dụng CNTT vào giờ dạy học tác phẩm văn chương 632.4.2 Ứng dụng CNTT vào giờ dạy tác phẩm văn chương phải phù hợp để đạt hiệu quả 64

2.5 Tiêu chí 5: Hiệu quả thu nhận ở từng học sinh sau giờ học tác phẩm văn chương 66

2.5.1 Vì sao lại đặt vấn đề đánh giá hiệu quả thu nhận ở từng học sinh sau giờ học tác phẩm văn chương 662.5.2 Những mặt học sinh cần thu nhận được sau giờ học tác phẩm văn chương 662.5.3 Cách đánh giá hiệu quả học sinh thu nhận sau giờ học TPVC 69

2.6 Tiêu chí 6: Phong cách giáo viên và nghệ thuật điều khiển lớp học 70

2.6.1 Phong cách giáo viên 702.6.2 Nghệ thuật điều khiển lớp học 72

Trang 7

CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM CÁCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT

SỐ GIỜ DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG 76

3.1 Mục đích thể nghiệm 76

3.2 Đối tượng thể nghiệm và đối chứng 76

3.2.1 Lớp dạy thể nghiệm và đối chứng 76

3.2.2 Bài dạy thể nghiệm và đối chứng 76

3.2.3 Giáo viên dạy thể nghiệm và đối chứng 77

3.3 Nô ̣i dung, phương pháp thể nghiê ̣m 77

3.3.1 Nội dung chuẩn bị công việc thể nghiệm 77

3.3.2 Phương pháp tiến hành thể nghiê ̣m 78

3.4 Quá trình thể nghiệm 78

3.5 Giáo án thể nghiệm 79

3.5.1 Thiết kế giáo án 79

3.5.2.Thuyết minh hệ thống các tiêu chí sử dụng trong bài thể nghiệm109 3.6 Kết quả thể nghiệm và đánh giá 112

3.6.1 Đánh giá bằng điểm bài kiểm tra được thống kê, phân loại theo từng lớp trong từng trường 113

3.6.2 Đánh giá bằng điểm bài kiểm tra được thống kê, phân loại theo từng bài học cụ thể 114

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hiện nay, việc xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ học tác phẩm văn ở Trung học phổ thông nói riêng là vấn đề rất bức xúc trong nhà trường phổ thông.Việc đánh giá hiệu quả một giờ văn vẫn chưa thật nhất

trí trong sinh hoạt chuyên môn của nhiều trường Cái chính là chưa xây dựng được căn cứ, tiêu chí đánh giá dựa trên những hiểu biết toàn diện, cân đối chức năng cơ bản của việc dạy học văn trong nhà trường phổ thông Do đó, trong các tiết dự giờ đánh giá, đặc biệt trong các tiết thao giảng dẫn tới tình trạng khác nhau Các cách đánh giá cũng không thống nhất Người đánh giá cao, người người đánh giá thấp, thậm chí có người lại chê bai không đạt hiệu quả Mặt khác, lại có những người khen hấp dẫn, sáng tạo, v.v…Điều này dẫn đến tình trạng phân tâm trong dạy học Người dạy thực sự mất phương hướng trước nhiều ý kiến đánh giá trái chiều

1.2 Việc xác định mục đích của dạy văn nói chung và đánh giá hiệu quả của giờ dạy học tác phẩm văn chương nói chung đang diễn ra rất sôi nổi cả trong nước và ngoài nước Có thể nói, đây là vấn đề thời sự nóng bỏng đối

với tình trạng dạy và học hiện đại Trên thế giới có rất nhiều khuynh hướng, quan niệm, lí thuyết nêu ra như Tzventan Todorov, Vladimir LinKov và nhiều những nhà văn hóa văn học bàn luận về vấn đề này nhưng vẫn không thống nhất Vladimir LinKov - Giáo sư khoa báo chí trường Đại học tổng hợp Lomonosov nước Nga cho rằng: “trọng tâm của dạy Văn là bình giảng” Tzventan Todorov- là người có một vị trí đặc biệt đối với văn học Pháp và thế giới thì lại đánh giá tình trạng dạy học cũng như hiệu quả của dạy học văn ngày nay rất thẳng thắn: “Chúng ta đang phải đối diện với một thực trạng là văn học đang bị lôi kéo vào sự phi lí; thay vì đi tìm kiếm ý nghĩa đích thực của tác phẩm, chúng ta đã áp dụng một các thô thiển các phương pháp cấu trúc học, kí hiệu học, những kĩ thuật phê bình và xem đó là một mục đích cứu

Trang 9

cánh trong việc tiếp cận văn chương Ngoài ra, văn học đã đặt chúng ta vào một tình huống không thể thoái thác, phải đối diện với một thực trạng là dạy văn chỉ chú trọng nội dung thi pháp, nghệ thuật, không chú trọng nội dung đề

ra, không chú trọng người học học được cái gì, chỉ loanh quanh trong lí thuyết hơn là giảng dạy trực tiếp chính tác phẩm Vì vậy, văn học nhà trường đang lâm nguy, mâu thuẫn giữa bản chất và mục đích” [13, tr 254-257]

Không chỉ có những ý kiến trái chiều từ các nhà văn hóa văn học trên thế giới, trong thực tế đời sống văn học nước ta những năm gần đây xác định mục đích việc dạy văn nói chung hay việc đánh giá hiệu quả giờ văn chương nói riêng còn rất nhiều các ý kiến không thống nhất Phạm Toàn thì cho rằng:

“Dạy văn là bình giảng” Trong khi Tố Hữu : “Dạy văn là sự rung động” Không chỉ vậy mà còn nhiều ý kiến trái chiều khác trong việc xác định mục đích và nhiệm vụ dạy văn Gs Nguyễn Đức Nam: “Hãy trả lại bản chất nghệ thuật kì diệu cho bộ môn Văn trong nhà trường” [13, tr 275] Có thể thấy rõ rất nhiều quan điểm không thống nhất

1.3 Việc xác định tiêu chí đánh giá giờ dạy trở thành định hướng quan trọng để người giáo viên tu dưỡng nghiệp vụ và cơ quan giáo dục định hướng được nội dung bài giảng, chỉ đạo chuyên môn

Thực trạng nhiều cách đánh giá vẫn chưa thống nhất dẫn tới nhiều cách

dạy không thống nhất Việc hiểu, cắt nghĩa và đánh giá khác nhau về các tác

phẩm đã và đang trở thành một hiện tượng thời sự Từ các hướng tiếp cận khai thác cũng như quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu nên mỗi tác phẩm văn chương được khai thác từ nhiều khía cạnh khác nhau, thậm chí đối lập nhau Có khi thiên về nguy cơ chỉ chú trọng tri thức đơn thuần,có khi thiên về truyền giảng những châm ngôn đạo đức khô khan, những giáo lí chết cứng hoặc biến giờ văn thành giờ giải trí lãng phí thời gian hoặc dạy văn kiểu thày đồ, dạy văn mà không dạy người, không rèn người hoặc dạy người mà không dạy bằng văn, v.v…Không chỉ dẫn tới cách dạy khác nhau mà việc đánh giá không đúng, không chính xác sẽ trở thành định hướng sai lệch cho

Trang 10

giáo viên trong quá trình giảng dạy Bởi một cách đánh giá rất phiến diện của

cá nhân hoặc của người quản lí chuyên môn không nắm vững tiêu chí đánh giá thì rất có thể sẽ đưa đến những khuynh hướng dạy học sai lệch khác nhau

Có thể thấy rõ, việc xác định tiêu chí đánh giá giờ dạy có ý nghĩa hết sức quan trọng với tất cả những người làm trong ngành giáo dục Cụ thể: Đối với người giáo viên, việc đánh giá đúng và chính xác hiệu quả của một giờ dạy học sẽ giúp cho người thày có được những thông tin ngược kịp thời bổ ích để điều chỉnh, tổ chức giờ dạy học được tốt hơn Đồng thời, động viên khích lệ giáo viên yêu nghề hơn để từ đó vươn lên để đạt thành tích cao trong hoạt động dạy học của mình Hơn nữa, việc nắm vững các tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ học sẽ giúp người thày tự hoàn thiện mình để có những giờ dạy hiệu quả Đối với tất cả những người làm trong nghề quản lí giáo dục, đặc biệt

là các chuyên viên văn, tổ trưởng chuyên môn cần nắm vững các tiêu chí đánh giá thì sẽ đánh giá được xác thực hơn, đồng thời có những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hiệu quả hơn, khoa học hơn để nâng cao hiệu quả dạy và học trong nhà trường Trước thực trạng hiện nay, chúng ta có thể thấy rõ nếu không có sự đồng nhất chung giữa các vị chuyên viên, phê bình văn học, các nhà chỉ đạo chuyên môn và các nhà nghiên cứu trong ngành văn học về cái gì là cốt lõi của bộ môn này thì sẽ dẫn tới sự không tương xứng trong văn học

1.4 Công cụ đánh giá duy nhất hiện nay là phiếu dự giờ còn nhiều bất cập, gây nhiều tranh cãi

Trong những năm vừa qua, nhà trường đã sử dụng một công cụ để đánh giá giờ dạy của giáo viên, đó là phiếu dự giờ Song, chúng tôi thấy phiếu dự giờ hiện hành có nhiều điểm bất cập gây nhiều tranh cãi đối với cả người dạy

và người dự Phiếu dự giờ chung chung, đồng nhất tất cả các môn học, không

có những tiêu chí dành riêng đối với môn Văn, môn học nghệ thuật ngôn từ

thì chưa có các tiêu chí đánh giá riêng

Trang 11

Ngoài công cụ duy nhất là phiếu dự giờ dùng để đánh giá hiệu quả dạy học, việc đánh giá giờ dạy còn mang tính chủ quan của người đánh giá là các chuyên viên Sở Giáo dục đào tạo, cán bộ thanh tra, cán bộ quản lí, các giáo viên của các trường học, tổ trưởng chuyên môn, v.v… Họ có một nhiệm vụ chung là đánh giá việc dạy của giáo viên thông qua việc dự giờ, nhận xét và xếp loại giờ dạy rồi đánh giá GV dạy tốt hay không, đồng thời cũng lấy đó làm căn cứ cơ bản để kết luận GV thực hiện nhiệm vụ được giao tốt không (tất nhiên là có kèm với việc kiểm tra hồ sơ giáo án, việc chấp hành nền nếp, nội quy, sự phối kết hợp với đồng nghiệp, v.v…) Tuy nhiên, khi thực hiện nhiệm vụ chung ấy thì giữa họ cũng chưa thống nhất các tiêu chí đánh giá hiệu quả dạy học, chưa thống nhất trong cách đánh giá sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn Thậm chí tính chủ quan người dự có thể làm sai lệch khi đánh giá

Cần phải ta phải xem lại cách đánh giá hiệu quả giờ học đối với môn học đặc thù này Cần phải thay đổi cách đánh giá bởi thực tế lâu nay chúng ta chỉ dựa trên nhưng đánh giá mang tính ngành dọc tức là chỉ có những nhận xét đánh giá của chuyên viên là chính xác mà quên mất vai trò đánh giá của các

em học sinh những chủ thể tiếp nhận kiến thức hàng ngày Để đánh giá hiệu quả của một giờ dạy học nói chung hay giờ dạy học tác phẩm văn chương nói riêng thì cần phải chú ý tới hiệu quả ấy đạt được ở học sinh mức độ nào Cần

có sự thống nhất trong cách đánh giá, đặc biệt cần phải kết hợp cả hai yếu tố trên nhằm có cái nhìn chính xác và khách quan hơn trong nhân xét

Xuất phát từ những vấn đề có tính lí luận và cơ sở thực tiễn, tôi nhận thấy cách đánh giá qua phiếu dự giờ hiện hành và sự bất đồng quan điểm trong cách đánh giá như hiện tại còn quá nhiều bất cập không nên dùng để đánh giá hiệu quả của giờ dạy được nữa Cần phải xây dựng một số tiêu chí mới để đánh giá hiệu quả giờ dạy học của giáo viên phù hợp, chính xác và khoa học hơn Đặc biệt là đối với môn Văn, bởi nếu không có những tiêu chí đánh giá riêng hiệu quả của một giờ dạy học Văn thì sẽ đồng nhẩt cách đánh giá môn

Trang 12

học này với những môn học khác.Vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài “Xác

định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông”

Tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá còn chung chung, đồng nhất môn Văn với tất cả các môn học Vì chưa có tiêu đánh giá riêng đối với môn học môn học đặc thù nên đã dẫn tới tình trạng không thống nhất trong cách dạy cũng như cách đánh gía cũng như hiệu quả môn học chưa cao

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Xác lập được tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông trên cơ sở lí luận đặc thù môn Văn trong nhà trường

- Vận dụng vào dạy học và đánh giá dạy học Văn ở nhà trường phổ

thông 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận có liên quan đến việc đánh giá hiệu quả giờ dạy Văn ở Trung học phổ thông

- Khảo sát các tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ dạy Văn theo mẫu

- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của các tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ dạy Văn ở Trung học phổ thông

- Đưa ra được tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông

Trang 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:

- Những vấn đề liên quan đến việc đánh giá hiệu quả giờ dạy ở Trung học phổ thông

- Các tiêu chí để đánh giá hiệu quả đối với giờ dạy Văn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là:

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của giờ học Văn ở Trung học phổ thông hiện hành

- Trường THPT tại quận Tây Hồ và Ba Đình, Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

- Tổng kết lí luận từ các công trình nghiên cứu về phương pháp đánh giá tiết dạy, các yếu tố để tạo thành một giờ dạy hiệu quả, về các tiêu chí đánh giá giờ dạy văn

- Khảo sát theo mẫu thông qua dự giờ, trao đổi tổ chuyên môn về cách đánh giá

- Xử lí thông tin, hội nghị

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận

Chương 2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương

ở trung học phổ thông

Chương 3 Thể nghiệm cách đánh giá hiệu quả một số giờ dạy học tác phẩm

văn chương ở trung học phổ thông

Trang 14

Qua thực tiễn giảng dạy trong nhà trường từ những thói quen giảng dạy của nhiều giáo viên ngữ văn và qua một số công trình nghiên cứu lí luận dạy học văn thì có thể thấy rất rõ khuynh hướng quá chú trọng đến việc rèn kĩ năng làm bài trong giờ giảng văn: Trước xu thế cải tiến chương trình hiện nay, các phân môn tiếng Việt, làm văn đã gộp chung thành chương trình ngữ văn, “ba thành một” Mặc dù vậy nhưng ở THPT, chủ yếu các tiết làm văn thường phân ra nhiều thể Chẳng hạn toàn bộ chương trình Ngữ văn THPT số tiết là văn tự sự, văn thuyết minh, các thao tác lập luân chiếm đa số Còn văn nghị luận xã hội và và nghị luận văn học thì số tiết không nhiều Trong khi đó

Trang 15

các giờ kiểm tra đánh giá thì lại chủ yếu kiểm tra nghị luận văn học về nội dung các tác phẩm văn học trong chương trình chứ hiếm khi kiểm tra văn thuyết minh Vì vậy, trong giờ văn các giáo viên thường trú trọng đến việc rèn

kĩ năng viết bài cho học sinh GV thường định hướng với tác phẩm này thì có bao nhiêu dạng đề bài, dạng đề ra sao Cụ thể là giảng dạy tác phẩm văn chương như một môn học chủ yếu với những tri thức khoa học thiên về rèn kĩ năng đáp ứng yêu cầu thi cử, thiên về kĩ năng kĩ xảo mà coi nhẹ hoặc bỏ qua phương diện mét nghệ thuật ngôn từ với những thông tin thẩm mĩ và những tri thức nghệ thuật nhằm khơi dậy những cảm xúc, tình cảm, lí tưởng, thị hiếu thẩm

mĩ Đặc biệt với các em học sinh khối 11,12 thì ngoài việc định hướng dạng

đề kiểm tra thì các thày cô thường quá trú trọng rèn học sinh cách làm bài thi tốt nghiệp, bài thi Đại học Các giờ lên lớp chủ yếu rèn kĩ năng chuẩn bị cho học sinh đi thi đã trở thành thói quen của dạy học của phần đông các giáo viên Có nhiều học sinh thi đỗ với thành tích cao gắn liền với thanh danh, lợi ích của thày giáo Việc rèn kĩ năng làm bài cho học sing là quan trọng, cần thiết nhưng chưa phù hợp với giờ dạy tác phẩm văn chương bởi phân môn trong chương trình đã có các tiết làm văn riêng Trong giờ dạy học tác phẩm văn chương, thông qua những lời bình giảng của thày, học sinh sẽ khắc ghi và vận dụng khi làm bài Nếu quá chú trọng việc rèn kĩ năng trong giờ dạy tác phẩm văn chương thì chưa đủ để hiệu quả của một giờ học tác phẩm văn chương nói chung hay hiệu quả giáo dục học sinh toàn diện nói riêng

Bên cạnh khuynh hướng quá chú trọng đến việc rèn kĩ năng làm bài trong giờ giảng văn thì ngược lại, không ít giáo viên khi lên lớp giảng dạy tác phẩm văn chương lại quá quan tâm tới giáo dục thẩm mĩ Việc giáo dục thẩm

mĩ là quan trọng Bởi theo ý kiến của Charles DuBos cho rằng: "Văn học, đó là

tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng" Cái đẹp trong văn chương, nghệ thuật

là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất trong quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực Văn chương là một hình thái ý thức đặc thù mang tính thẩm mĩ Hay nói cách khác, tính thẩm mĩ gắn liền với bản chất của văn chương

Trang 16

Tuy nhiên, khi dạy văn chỉ thiên về những rung động thẩm mĩ thì lại chưa đạt được mục tiêu của giáo dục Hơn nữa, việc kiểm tra kết quả học tập môn văn, nội dung kiểm tra cũng chỉ tập trung vào một phần kiến thức văn học, kĩ năng tạo lập văn bản chứ không phải những trải nghiệm, cảm xúc thẩm mĩ trong văn học Mục tiêu của giáo dục là Văn học cùng với môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cung cấp cho học sinh có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh kiến thức văn học, kiến thức cuộc sống của con người, xã hội, những

kĩ năng nhất định Đặc biệt, không thể tách biệt giáo dục thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ trong văn chương tới các em học sinh

1.1.1.1 Dạy học tác phẩm văn chương phải coi trọng cung cấp kiến thức

Mục đích của việc dạy văn là không thể tách biệt những kiến thức về văn học Tuy nhiên, do đặc điểm cấu tạo chương trình ngày nay không còn phân môn văn học sử, lí luận văn học mà chia thành ba phân môn: Đọc Văn, Tiếng Việt, Làm văn Người thày cần ý thức được đặc điểm cấu tạo của chương trình, của phân môn để chủ động lên kế hoạch giảng dạy trong mỗi tiết học hiệu quả toàn diện

Thứ nhất, phải cung cấp cho học sinh kiến thức văn học sử trong giờ dạy học tác phẩm văn chuơng Trong giờ học tác phẩm văn chương, không phải chỉ dạy tác phẩm theo những lát cắt dọc, cắt ngang, theo nhân vật hay theo những câu hỏi vụn vặt mà thông qua việc dạy tác phẩm, người thày cần cung cấp cho học sinh những kiến thức về văn học sử, phải cho học sinh hiểu được lịch sử văn học, phải đặt tác phẩm vào tiến trình phát triển của nền văn học nước nhà, giúp học sinh hiểu được những thành công, những cách tân cũng như sự đóng góp của tác phẩm về nội dung cũng như đề tài làm phong phú nền văn học dân tộc cụ thể thế nào Hơn nữa, đây cũng là một trong những khía cạnh nói về giá trị tác phẩm của nhà văn, thành công của tác giả

và đóng góp cho nền văn học nước nhà Nếu dạy tác phẩm văn chương mà coi nhẹ mặt hiểu biết kiến thức văn học sử trong dạy học văn, không đặt tác phẩm vào tiến trình văn học sử thì sẽ đưa đến chỗ hạ thấp chất lượng văn ở học sinh

Trang 17

phổ thông một cách đáng lo ngại Tình trạng này kéo dài, diễn ra thường xuyên liên tục sẽ dẫn tới hậu khôn lường Đó là tình trạng hổng kiến thức, những hiện tượng nhầm lẫn tác giả, tác phẩm, niên đại, khuynh hướng, trào lưu, giai đoạn văn học, v.v…sẽ không phải là ít

Ngoài việc cung cấp cho học sinh những tri thức về văn học sử thì trong giờ văn cần phải đạt được những tri thức về lý luận văn học

Có thể thấy rõ những lỗ hổng trong kiến thức về lí luận văn học khá phổ biến trong học sinh THPT nhiều năm qua Bởi dưới sự chỉ đạo chuyên môn các cơ quan giáo dục, những tri thức về lí luận văn học văn học không còn là môn riêng Các đề bài định hướng kiểm tra đánh giá học sinh hay kì thi tốt nghiệp THPT thường vắng bóng các câu hỏi về lí luận văn học Vì vậy mà vai trò của bộ môn lí luận văn học trong nhà trường phổ thông bị coi nhẹ một cách nghiêm trọng.Tuy nhiên, những tri thức lí luận văn học lại có vai trò rất quan trọng, đặc biệt có tác động rất lớn đối với thành công hay thất bại một giờ dạy nói chung và chất lượng học văn của học sinh nói riêng

Có thể nói, nó chính là chìa khóa lý luận hàng ngày mà giáo viên và học sinh phải sử dụng Đối với GV, việc nắm vững những tri thức lí luận văn học chính là công cụ định hướng cho học sinh phân tích, đánh giá tác phẩm, tác giả, tìm hiểu các trào lưu, các trường phái, các quy luật phát triển của lịch

sử văn học Việt Nam Còn đối với học sinh, những kiến thức lý luận văn học

sẽ giúp các em cảm thụ và phân tích được đúng một tác phẩm văn chương, một tác giả hoặc một hiện tượng văn học trong SGK hay trong đời sống văn học của xã hội mà các em tiếp cận, đánh giá

Không chỉ có ý nghĩa đặc biệt rất quan trọng đối với hiệu quả giảng dạy văn, những trí thức lí luận văn học còn góp phần khắc phục khuynh hướng xã hội học dung tục đồng thời làm cho việc dạy học và học văn được trả lại bản chất thẩm mĩ vốn có của nó Hiện nay lối dạy văn xã hội học dung tục đang là mối lo ngại trong nhà trường Cùng với dịch vụ phim ảnh, video, là nạn phát hành sách đen và làn sóng sách báo phim ảnh nước ngoài tràn vào Để cho

Trang 18

học sinh, nhất là những học sinh sắp ra trường phổ thông có khả năng tự đề kháng, người thày dạy văn không thể tự bằng lòng với lối giảng dạy văn chương thiên về thưởng thức rung cảm “Phải dạy cho học sinh thoát khỏi trình độ “thích thú đau khổ” Muốn vậy, không thể không vũ trang cho học sinh một vốn liếng lí luận cần thiết, không thể không giảng dạy lí luận văn học cho học sinh một cách cẩn thận đến nơi đến chốn”.[12, tr.356]

1.1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cuộc sống xã hội

Những tác phẩm văn chương vốn chứa đựng trong nó những nguồn tri thức phong phú, đa dạng từ những sự kiện lớn lao như những biến động sâu

xa trong cuộc sống của nhân loại trên trái đất, bão táp chiến tranh, hưng phế của các triều đại, cách mạng và bạo loạn, chiến tranh, hòa bình, v.v…và cả những biến động trăn trở suy tư trong sâu thẳm tâm hồn con người thì văn chương đều ẩn chứa Thậm chí những tác phẩm văn chương càng ưu tú càng

là nguồn tri thứ khai thác không bao giờ vơi cạn

Đặc điểm quan trọng của tác phẩm văn chương không chỉ chứa đựng những đặc điểm của thời đại lịch sử sản sinh ra tác phẩm mà còn có mối liên

hệ sinh động với cuộc sống và thời đại tiếp theo Do đó, dạy học văn không phải chỉ khai thác cuộc sống trong tác phẩm mà phải làm cho học sinh hiểu được cuộc sống xã hội mà nhà văn phản ánh trong tác phẩm Qua đó, các em biết chia sẻ, trân trọng đồng thời góp phần định hướng cho các em về cách sống để trở thành người chân chính, vị tha, sống có ích

Dạy học văn gắn liền với đời sống không thoát li tác phẩm văn chương

và phải đảm bảo đặc điểm riêng của phân môn, phải làm cho học sinh cảm thụ đầy đủ cái riêng, cái mới, giá trị chân thực và sức hấp dẫn nghệ thuật trong văn chương Ngoài ra, dạy học văn gắn với đời sống không phải chỉ đơn thuần khuyên răn học sinh yêu cái này ghét cái kia mà phải giúp họ nhận thức, khám phá cuộc sống và sự thật trong đời thông qua cuộc sống được mô

tả trong văn học Học sinh phải vận dụng kinh nghiệm sống trong lịch sử xã

Trang 19

hội và kinh nghiệm cá nhân để lựa chọn những vấn đề quan trọng nhất, cần thiết nhất, hấp dẫn nhất trong tư tưởng, tình cảm của con người, trong những tình thế, hoàn cảnh khác nhau

Khi giảng dạy, người thầy cần vận dụng tri thức văn học và đời sống, phải lựa chọn những vấn đề quan trọng nhất của cuộc sống mà tác phẩm đặt

ra, tránh những liên hệ cuộc sống một cách vụn vặt, tùy hứng Cần đảm bảo nguyên tắc dạy học văn gắn liền với đời sống được xây dựng trên nguồn gốc

xã hội Do đó bản chất thẩm mĩ và chức năng xã hội của văn học phải gắn liền với mục đích đào tạo giáo dục con người, kết hợp việc học tập với hoạt động

xã hội để giáo dục con người

1.1.1.3 Dạy học tác phẩm văn chương không thể coi nhẹ nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ

Trong các sáng tác phẩm văn chương, bức tranh cuộc sống hiện thực và diện mạo tinh thần con người trong văn chương bao giờ cũng chứa đựng sự đánh giá của nhà văn, về cuộc sống Đó là kết quả của của sự phản ánh hiện thực dưới ánh sáng của lí tưởng xã hội tiến bộ, lí tưởng thẩm mĩ của người nghệ sĩ Bằng tác phẩm của mình, người nghệ sĩ thường gợi lên ở người đọc những suy nghĩ và tình cảm về cuộc sống Có thể nói, trong mỗi tác phẩm văn

chương là một kho tàng thẩm mĩ vô cùng phong phú mà nhà văn muốn gửi

đến người đọc

Khi giảng dạy tác phẩm văn chương, ngoài việc cung cấp kiến thức văn chương, rèn kĩ năng thì người thày không thể coi nhẹ nhiệm vụ giáo dục thẩm

mĩ: “Dạy văn mà chỉ chú trọng đến hiểu biết, coi nhẹ tình cảm nhân loại, những

tình cảm thẩm mĩ có nghĩa là không dạy văn chương mà là dạy một thứ xã hội dung tục, chỉ làm cái công việc nhàm tẻ của sự minh họa Dạy văn có nhiệm vụ cực kì quan trọng xuất phát từ bản chất đặc thù của môn văn là phát triển tâm hồn tình cảm cho học sinh Một tình cảm trong sáng thanh lọc trước số phận một nhân vật đã là một dấu hiệu về đạo đức Nhạy cảm trước cái đẹp của thiên nhiên, của con người, của cuộc đời gắn liền với với ý thức và khát vọng vươn

lên cái đẹp, cái cao thượng, bảo vệ cái đẹp và sáng tạo cái đẹp” [12, tr 44-45]

Trang 20

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, tuôi trẻ có nhiều biểu hiện thấp kém

về thẩm mĩ, ảnh hưởng bởi những thứ thẩm mĩ thô lậu rẻ tền thướng gặp trong đời sống hàng ngày của một số thanh niên Chính vì vậy, môn văn trong nhà trường phải góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ phát triển thẩm

mĩ lành mạnh cho tuổi trẻ, coi đó như một nhiệm vụ lâu dài và cấp bách trong

sự nghiệp đấu tranh chống tàn dư và sự xâm nhập của văn hóa tư sản, góp phần vào xây dựng một nền văn hóa tư sản góp phần xây dựng một nền văn

hóa thẩm mĩ mới cho xã hội

1.1.1.4 Dạy học tác phẩm văn chương nhằm mục tiêu chiến lược là giáo dục nhân cách cho học sinh

Giáo dục là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng đối với giáo dục nói chung hay môn văn nói riêng Chức năng của văn chương ngoài là một môn học còn là công cụ giáo dục đặc biệt Văn học không chỉ giúp con người nhận thức về thế giới bên ngoài mà qua đó còn giúp con người nhận thức về chính bản thân mình, để thức tỉnh, để điều chỉnh mình hoàn thiện hơn

Vì vậy, dạy học tác phẩm văn chương mà không liên hệ giáo dục nhân cách học trò thì có thể coi như chưa thực sự đạt hiệu qủa của một giờ dạy học

Giá trị giáo dục của văn học trước hết biểu hiện ở khả năng đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống để họ tự rèn luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn Về tư tưởng, văn học giúp hình thành trong người đọc một tư tưởng tiến bộ, giúp họ có thái độ và quan điểm đúng đắn về cuộc sống Về tình cảm, văn học giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, làm cho tâm hồn con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn Về đạo đức, văn học nâng đỡ cho nhân cách của con người phát triển, giúp họ biết phân biệt phải trái, đúng sai và có quan hệ tốt đẹp với mọi người Giá trị giáo dục là khả năng văn học có thể thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, tình cảm của con người theo chiều hướng tích cực, tốt đẹp, tiến bộ, đồng thời làm cho con người ngày càng hoàn thiện về đạo đức Nhưng điều đặc biệt là tác dụng giáo dục của văn học không phải ngay lập tức mà dần dần thấm sâu nhưng rất lâu

Trang 21

bền, nó gợi những cảm nghĩ sâu xa về con người và cuộc đời, nó gián tiếp đưa

ra những bài học, những đề nghị về cách sống

Văn học không chỉ góp phần hoàn thiện bản thân con người mà còn hướng họ tới những hành động cụ thể, thiết thực vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn Đành rằng, đã là giờ dạy học văn, mục đích chính là cung cấp kiến thức văn học Tuy nhiên, khi nói đến cung cấp kiến thức trong giờ văn nó không phải là những kiến thức máy móc chết cứng Kiến thức chính là phương tiện nhận thức, là công cụ để học sinh tự nhận thức khám phá và sáng tạo, đặc biệt trong giờ văn, kiến thức chỉ thực sự trở thành phát huy sức mạnh của nó khi nào khơi dạy được từ bên trong người tiếp nhận tâm lí sáng tạo Cho nên việc cung cấp kiến thức cốt là để cho học sinh tự mình ý thức về mình để sống có nhân cách hơn Mục đích cao nhất của dạy học văn không phải chỉ là thông báo một số kiến thức mà là cung cấp những khả năng để tự

học sinh giải quyết các vấn đề và các bài toán cuộc đời của bản thân họ Trong

nhận thức đã có giáo dục, trong tri thức đã có tư tưởng, trong hiểu biết đã có hành động Cứ thế, văn chương và việc dạy học văn chương sẽ thực sự trở thành một hoạt động tự phát triển nhân cách tự nhiên, tự giác vô cùng kì diệu

“Dạy văn không phải để tạo ra những kiểu người mọt sách hay những ông đồ trói gà không chặt, chỉ biết rung đùi thưởng thức những câu thơ, câu phú mà

thiếu đi những năng lực hành động trong đời sống thực tiễn”.[12, tr.45]

1.1.2 Đặc trưng của tác phẩm văn chương là một căn cứ để xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả giờ học

Một thiếu sót kéo dài trong nhiều năm ở không ít giáo viên và cả ở các nhà phương pháp là sự nhận biết còn mơ hồ về đặc trưng của môn văn trong nhà trường Khi nói đến môn văn, điều người ta quan tâm trước hết là tính chất văn, tính chất nghệ thuật ngôn từ, bản chất thẩm mĩ của nó Nhưng điều không kém phần quan trọng cần nêu là tính chất môn học, tính chất nhà trường (sư phạm) của môn văn Đó là sự khác biệt một tác phẩm văn chương trong nhà trường Cần phải có được một cách nhìn toàn diện, thống nhất về

Trang 22

đặc trưng môn văn để việc dạy học văn nói chung và dạy học tác phẩm văn trong nhà trường phổ thông nói riêng đạt hiệu quả Đặc trưng của văn chương trong nhà trường gồm những đặc trưng sau:

1.1.2.1 Tác phẩm văn chương ở trường phổ thông mang tính chất của một môn khoa học

Tác phẩm văn chương trong nhà trường không đồng nhất với tác phẩm

văn chương ngoài xã hội Văn học nhưng là văn trong nhà trường Chỉ thêm hai tiếng thôi nhưng bao nhiêu vấn đề đặt ra Khác với các sáng tác văn chương ngoài xã hội, tác phẩm văn chương đi vào sách giáo khoa trong các nhà trường phải trải qua sự lựa chọn của người soạn sách tuân theo những yêu cầu của cơ quan giáo dục

Môn văn trong chương trình học được sắp xếp thành một hệ thống chặt chẽ theo các niên đại, tiến trình phát triển Vì vậy trong các sáng tác văn chương trong nhà trường có bóng dáng của từng giai đoạn, thời kì lịch sử nhất định với nếp sống, nếp sinh hoạt, nghĩ suy, quan niệm con người thời kì ấy

Tính chất khoa học biểu hiện ở tính chất xã hội, thời đại lịch sử là một trong những thuộc tính quan trọng của tác phẩm văn chương ở nhà trường Nội dung tác phẩm phản ánh thời đại tác phẩm ra đời, tái hiện cuộc sống của một xă hội, một thời kì lịch sử nhất định Ngoài ra, tính chất khoa học của tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông còn thể hiện ở chỗ nó chính là

phương tiện nhận thức, là cơ sở để hình thành những kiến thức về lịch sử văn

học, lí luận văn học, ngôn ngữ và tiếng Việt

Tác phẩm văn chương trong nhà trường có đặc điểm riêng khác biệt với tác phẩm ngoài đời sống cả về những dấu hiệu hình thức bên ngoài (do cách trích tuyển của sách giáo khoa), cho đến quá trình tiếp thu, lĩnh hội.Vì vậy,

“việc đọc tác phẩm văn chương trong nhà trường, về cơ bản, cũng phải bám sát những nguyên lý của khoa học văn học, nhưng đồng thời cũng phải cần thiết vận dụng những quy luật về giáo dục, dạy học”

Trang 23

1.1.2.2 Tác phẩm văn chương ở trường phổ thông mang tính chất nghệ thuật ngôn từ

“Tác phẩm văn chương nào cũng là một tập hợp ngôn ngữ Ngôn ngữ

là vật liệu thứ nhất của văn chương, thông qua những hệ thống tín hiệu đó mà

mà nhà văn đến với bạn đọc”[12, tr.119] Tùy từng tài năng sáng tạo của mỗi nhà văn nhà thơ, tùy từng loại thể mà phương thức phương thức biểu hiện ngôn từ cũng khác nhau Nhưng nói chung, dù là tự sự hay là trữ tình thì tác phẩm văn học nào cũng lấy ngôn ngữ làm vật liệu biểu hiện Ngôn ngữ cấu tạo thành hình ảnh, tính cách mà trong thơ, truyện hay kịch nói lại có những dấu ấn riêng Bằng sáng tạo ngôn ngôn ngữ nghệ thuật của mình nhà văn tạo nên một hình thức độc đáo trong tác phẩm

Nếu ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt mà nhà văn dùng làm chất liệu

để sáng tác văn chương thì ngôn từ là lời nói được sử dụng với tất cả phẩm

chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của nó Ngôn từ chính là chất liệu của văn học bởi trong nghệ thuật không có hình tượng nghệ thuật chung chung mà chỉ có các hình tượng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể Người nghệ sĩ, ngay khi xây dựng ý đồ và tư duy hình tượng đã dựa hẳn trên khả năng của chất liệu Nếu nhà điêu khắc tư duy bằng hình khối, mảng, đường nét; nhạc sĩ tư duy bằng giai điệu và âm sắc của nhạc cụ; nhà viết kịch tư duy bằng không gian của sân khấu và thời gian diễn xuất thì nhà văn không thể không tư duy nghệ thuật bên ngoài các khả năng của nghệ thuật ngôn từ

Khác với các loại h́ ình nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, sân khấu, v.v… văn học sử dụng chất liệu ngôn từ với đặc trưng cơ bản là dùng hình tượng để phản ánh cuộc sống Theo M.Bakhtin

là một “hiện thực cuộc sống đã được thẩm mĩ hóa” Ngôn từ trong văn học được coi là thứ ngôn từ đặc biệt, được chưng cất từ hiện thực ngôn ngữ của toàn dân Đúng như Maiacôpski từng viết: “Hãy luyện đến hàng ngàn quặng chữ - Mới thu về một chữ mà thôi” Nhờ sự “nung chảy” cô đúc gọt giũa từ hiện thực mà ngôn ngữ văn học có được tính hình tượng Tuy nhiên, bằng

Trang 24

ngôn từ đa dạng mà mỗi thể loại xây dựng hình tượng riêng theo đặc trưng riêng, thường thì hình tượng cảm xúc trong thơ ca và hình tượng nhân vật trong văn xuôi Vì vậy, ngôn từ trong tác phẩm văn chương vừa được sử dụng như tín hiệu thẩm mĩ vừa là cái biểu đạt cho các tín hiệu thẩm mĩ

Khả năng của nghệ thuật ngôn từ trong văn chương có sức mạnh khác biệt hẳn với các kênh điện ảnh, âm nhạc hay hội họa bởi đó là kết quả sáng tác của nhà văn Ngôn từ nghệ thuật trong văn chương giàu tính hình tượng nhất, giàu sức biểu hiện nhất, được tổ chức một cách đặc biệt nhất để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng thẩm mĩ tới người đọc Bằng chất liệu ngôn ngữ, ngôn từ có khả năng gợi những những hình tượng nghệ thuật đưa ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng khiến người ta xúc động, sảng khoái, khâm phục Ví dụ: Bằng chất liệu ngôn ngữ và hình ảnh trong văn học dân gian, Tú Xương đã khiến người đọc không chỉ hiểu được

sự vất vả của bà Tú mà còn cảm phục về người phụ nữ bởi đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, không quản ngại nắng mưa vất vả cực nhọc hy sinh vì chồng con Hoặc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tác giả Nguyễn Đình Chiểu

đã xây dựng nên bức tượng đài nghệ thuật về hình ảnh người nông dân chiến

sỹ trong tư thế chủ động, tiến công anh dũng, v.v…

Có thể thấy, văn là nghệ thuật bằng lời, nghệ thuật ngôn từ đạt đến một trình độ nghệ thuật nào đó có sức lay động tâm hồn con người Đó cũng chính

là một trong những sức mạnh của văn chương mà người dạy văn bằng phương pháp dạy học thích hợp, phải trả về cho tác phẩm văn chương sức mê hoặc của nghệ thuật

1.1.2.3 Sáng tác văn chương thực chất là gửi thông điệp thẩm mĩ của nhà văn đến người đọc

Tác phẩm văn chương là sản phẩm tinh thần mang đậm dấu ấn cá nhân

và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, là con đẻ tinh thần của cá tính sáng tạo nghệ sĩ mang đậm dấu ấn của phong cách cá nhân độc đáo Xét về mục đích, ý đồ sáng tác

Trang 25

thì tác phẩm văn chương bao giờ cũng thể hiện một ý định của người cầm bút

Ý định đó không phải là một lời tuyên bố khô khan, một khái niệm trừu tượng Ý định đó bao giờ cũng được được cấu tạo nên bởi hai yếu tố hợp thành, gắn quện vào nhau, đó là hiện thực khách quan và chủ quan tác giả Nhà văn muốn bày tỏ một vấn đề, một quan niệm, một thái độ về cuộc sống đến những bạn đọc, cho nên bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng là lời tri

âm, một tấc lòng của tác giả cùng người thanh khí Thông điệp ấy có thể gửi gắm qua chi tiết nghệ thuật, qua diễn biến cốt truyện hoặc qua nhân vật, v.v…Tuy nhiên, trong mỗi TPVC bao giờ cũng là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với đời sống

Tác phẩm là con đẻ của nhà văn, mỗi tác phẩm văn học là một thông điệp thẩm mĩ của nhân vật gửi đến bạn đọc mà họ luôn muốn người đọc đón nhận ý đồ sáng tác của mình “Bạn đọc thân mến!” – nhà văn Pháp A.Phuarochie đã viết như thế trong lời nói đầu cuốn tiểu thuyết của mình, “Anh

đã mua tác phẩm này và điều mong muốn của tác giả là anh hãy đọc nó và cố gắng để mình tranh luận và giải trí với tác phẩm Nếu anh không tìm thấy những điều tương tự như vậy trong cuốn sách thì anh có thể xem thời gian và

số tiền anh bỏ ra là vô tích sự Tôi có thể đảm bảo với anh rằng cuốn tiểu thuyết không chỉ được viết ra để trao đổi, giải trí mà trước hết nhằm tới một mục đích

đã định trước” Khi sáng tác, trong chương mục nào đó, tác giả đã ý thức được vai trò của công chúng nhất định, những người có khả năng tiếp nhận tác phẩm

đã truyền đạt, gửi gắm vào họ những sáng tạo trong tư tưởng nghệ thuật của mình Đúng vậy, mỗi nhà văn khi sáng tác đều thể hiện một ý đồ tư tưởng, cảm xúc hóa nhất định và luôn mong chờ bạn đọc đón nhận được thông điệp tình cảm của mình gửi gắm qua thông tác phẩm

Bên cạnh tính chất là môn môn khoa học giúp học sinh hiểu biết về kiến thức văn chương thì văn chương vẫn là môn học có tính nghệ thuật nên ngoài việc đọc văn, hiểu cảm thụ văn chương, bình giảng, bình luận, đánh giá cắt nghĩa sâu tác phẩm thì không được coi nhẹ việc giáo dục thẩm mĩ, giáo dục chất nhân

Trang 26

văn của tác phẩm văn chương cho học sinh Tác phẩm văn chương không thỉ là môn học mà còn là thông điệp thẩm mĩ, là một công cụ giáo dục đặc biệt

1.1.3 Dạy học tác phẩm văn chương gắn liền với phong trào đổi mới dạy theo hướng học sinh là bạn đọc

1.1.3.1 Yêu cầu coi học sinh là bạn đọc

Xu hướng dạy học ngày nay chỉ trú trọng đến văn bản, chú ý đến người dạy chứ chưa chú ý đến vai trò bạn đọc của học sinh Đây cũng là cách là dạy học áp đặt, chưa thực sự đề cao hoạt động của học sinh trong giờ dạy, chưa mang lại hiệu quả một cách toàn diện Đặc biệt, công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở trung học theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo cũng

là sự vận dụng sáng tạo kịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học hiện đại Người dạy áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp chủ yếu là thuyết trình giảng giải, thày nói trò ghi GV lo trình bày cặn kẽ nội dung bài học, tranh thủ truyền thụ vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mình Trên lớp, GV chủ động thực hiện giáo án theo các bước đã chuẩn bị Giáo án chỉ chú trọng văn bản, thiết kế chủ yếu chỉ khai thác lát cắt dọc, ngang, theo chủ đề hay nhân vật mà thày định sẵn Học sinh tiếp thu thụ động, cố hiểu và nhớ những điều GV đã giảng, trả lời những câu hỏi GV nêu

ra về những vấn đề đã dạy GV dự kiến chủ yếu là những hoạt động trên lớp của chính mình (nói, viết bảng, vẽ sơ đồ, biểu diễn thí nghiệm, đặt câu hỏi,

v.v…), hình dung trước một chút ít về những hành động hưởng ứng của học sinh (sẽ trả lời câu hỏi ra sao, sẽ giải bài tập theo cách nào, v.v…)

Không chỉ người dạy mà người đánh giá dự giờ cũng chủ yếu đánh giá cách giảng bài của giáo viên xem họ diễn thuyết ra sao mà hầu như bỏ quên mất vai trò bạn đọc của học sinh đối với tác phẩm văn chương

Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng văn bản, không chú ý bạn đọc, không có bạn đọc thì chưa thành tác phẩm, văn bản không có tác dụng Người ta thường nói đến vòng đời tác phẩm văn chương: Đó là vòng khép kín đan kết nhiều quá trình, nhiều quan hệ: Cuộc sống, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc, cuộc sống Có thể nói

Trang 27

đó là mối quan hệ máu thịt Tác phẩm đến với bạn đọc vốn không đồng nhất

về nhiều điều kiện cảm thụ nên tác động của tác phẩm cũng không giống nhau Người đọc có những điều kiện chủ quan, có sự lựa chọn nhất định đối với tác phẩm Mối quan hệ giữa tác phẩm văn chương với bạn đọc không phải

là mối quan hệ ổn định nhất thành bất biến Đặc biệt, tác phẩm văn chương đi vào nhà trường đã chịu sự lựa chọn tuân theo những yêu cầu của nhà soạn sách, đã lược bớt hoặc trích dẫn Những tác hay không nhất thiết đã được chọn dạy trong nhà trường Một tác phẩm hay và tốt nhiều khi vẫn không thể

và không có điều kiện giữ nguyên vẹn khi đưa vào sách giáo khoa như truyện ngắn Chí phèo đã lược bớt nhiều đoạn, Hạnh phúc của một tang gia chỉ là một đoạn trích trong tiểu thuyết Số đỏ Hoặc những đoạn trich truyện Kiều trong sách giáo khoa văn lớp 10 không phải là những đoạn hay nhất, và Truyện Kiều cũng chưa hẳn là sáng tác hay nhất của Nguyễn Du tác phẩm khi đến tay bạn đọc đã bị trừu tượng hóa một cách tương đối khỏi những mối liên hệ với lịch sử, xã hội, tác giả Bạn đọc thông thường ít chú ý đến tác giả, ít tìm hiểu đến hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Cái gọi là cuộc sống lớn hơn của tác phẩm ít được chú ý Tác phẩm trong nhà trường được sắp xếp theo một hệ thống chặt chẽ Khi giảng dạy, người giáo viên cần phải cần phải có ý thức về tính hệ thống của những tác phẩm, những bài văn trích giảng Sự hỗ trợ của nhà phê bình, nghiên cứu cũng có hiệu lực trong một chừng mực nhất định Tuy nhiên, người thày không chỉ chủ động khai thác tác phẩm thật hay, thật kĩ theo hướng riêng mình vì làm như vậy sẽ thui chột sự sáng tạo, áp đặt sự cảm thụ một chiều, coi học sinh là thùng chứa Phải đề cao vai trò của bạn đọc, nếu không có bạn đọc thì sự tồn tại của tác phẩm văn chương không có giá trị

1.1.3.2 Yêu cầu coi học sinh phải là chủ thể

Một trong những vấn đề then chốt trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy văn có thể rút ra từ tư tưởng văn nghệ và giáo dục của Đảng ta cũng như

từ thực tiễn giảng dạy văn 40 năm qua Đó là vấn đề chủ thể học sinh Học

Trang 28

sinh cần được xác định như là một chủ thể có ý thức trong quá trình giảng dạy văn và học văn trong nhà trường cách mạng.

Phát huy năng động của chủ thể, năng lực sáng tạo mỗi người cũng như phát huy tính chủ thể học sinh chính là đáp ứng đòi hỏi có ý nghĩa thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang đặt ra cho các ngành khoa học cũng như các nhà khoa học

Đề cao vai trò chủ thể học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập văn hóa nói chung cũng như văn học nói riêng chính là tìm một phương hướng cơ bản để nâng cao hiệu quả dạy văn Phương hướng đó không những phù hợp với yêu cầu của thời đại khoa học hiện nay mà còn là vấn đề thuộc bản chất chính trị của chế độ ta phù hợp với quan điểm nhân văn cộng sản và nhận thức luận mác xít về tư duy và khoa học với con người Song vì chưa nhận thức được vấn đề nột cách toàn diện có căn cứ khoa học nên việc cải tiến phương pháp nhiều khi còn chắp vá tùy tiện ít hiệu quả Thậm chí có những sáng kiến quý báu như “giảng dạy theo ba đối tượng” cuối cùng không được kết luận và triển khai Có khi còn xa vào chủ nghĩa nghiệp vụ tầm thường Vấn đề chủ thể học sinh chưa được nhận thức một cách toàn diện có

cơ sở lý luận khoa học Công việc cải tiến còn bó hẹp vào một vài biện pháp, thủ pháp, nhiều khi rất hình thức Hơn nữa, vấn đề chủ thể học sinh lâu nay chưa được nhận thức một cách toàn diện nên nội dung của việc phát huy năng lực chủ thể học sinh còn phiến diện Có hiện tượng tuyệt đối hóa một vài cải tiến về phương pháp dạy văn coi là tích cực nhưng lại không dựa vào đặc điểm và quy luật nhận thức của bản thân chủ thể học sinh, có khi chỉ thấy phương pháp, có khi chỉ thấy tư duy mà không thấy nhân cách học sinh một cách toàn diện, v.v…Ngoài ra, trong giáo dục cũng như trong giảng dạy văn học, sai lầm kéo dài khá lâu nay đã coi học sinh chủ yếu như một khách thể, một đối tượng thụ động chịu sự tác động của giáo viên, của giáo tài, của tiến trình giảng dạy mà không thấy rõ chính bản thân học sinh cũng là một chủ thể năng động trong tiến trình sai phạm đó Một cách nhìn nhận sáng rõ vai trò

Trang 29

chủ thể học sinh đưa đến một đổi thay rất cơ bản trong quan điểm, nội dung phương pháp dạy học

Chính vì vậy, nội dung của việc phát huy năng lực chủ thể học sinh chính là sự huy động một cách có cơ sở khoa học phù hợp với quy luật cảm thụ văn học những năng lực chủ quan của bản thân học sinh để học sinh chủ động tích cực hứng thú tham gia vào quá trình dạy và học văn, do đó tạo được một hiệu quả toàn diện về tư tưởng, thẩm mĩ, về hiểu biết và kĩ năng, về văn học và nhân cách

1.2 Cơ sở thực tế

1.2.1 Khảo sát các tiêu chí trong giờ dạy tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông

Để nghiên cứu thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở THPT, tôi

đã tiến hành khảo sát giáo án và dự giờ của đồng nghiệp theo mức độ đạt được các tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ học tác phẩm văn chương Bởi

lẽ, khảo sát là một phương pháp khoa học nhằm nắm bắt tình hình dạy học tác phẩm văn chương của các giáo viên trong nhà trường THPT.Chất lượng, hiệu quả của giờ dạy được đánh giá theo các tiêu chí và mức độ tiếp thu bài của học sinh là cơ sở thực tiễn để đề tài luận văn xây dựng, hoàn thiện, thống nhất cách đánh giá hiệu quả của giờ dạy học tác phẩm văn chương theo các tiêu chí

Ngoài ra, tôi cũng tiến hành khảo sát theo mẫu thông qua dự giờ; kết thúc giờ dạy tiến hành trao đổi với tổ chuyên môn về cách đánh giá theo các tiêu chí; xử lí thông tin qua hội nghị cùng cán bộ quản lí chuyên môn, chuyên viên phụ trách môn Văn về hiệu quả một giờ dạy tác phẩm văn chương

Sau khi khảo sát, tôi nhận thấy tình hình dạy học tác phẩm văn chương

và cách đánh giá hiệu quả giờ dạy văn vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất

Trang 30

Bảng 1.1 Khảo sát giờ dạy

Tên bài

dạy

Giáo viên,

(số năm công tác)

Địa điểm

(trường)

Kết quả bài dạy

(Hiệu quả đạt được; hạn chế cần

Trường THPT Phạm Hồng Thái

- Bài giảng có áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng HS tích cực

- Kiến thức của GV còn non yếu, tư duy hệ thống chưa mạch lạc Kiến thức trong bài giảng rất rối, chưa toát lên được thông điệp thẩm mĩ của nhà văn về cái đẹp khi xây dựng nhân vật Huấn Cao Gv chưa hiểu bản chất cũng như không nắm được phong cách của nhà văn Nguyễn Tuân

THPT Quang Trung

- GV áp dụng CNTT phù hợp với bài, mức độ vừa phải

- Hệ thống kiến thức bài chưa mạch lạc, các đề mục của bài chưa thống nhất Chí phèo

(Nam

Cao)

Trần Phương Loan (3 năm)

THPT Đại

Mỗ

- Phong cách ngôn ngữ truyền cảm

- Chưa hiểu được thông điệp thẩm mĩ

mà nhà văn gửi đến bạn đọc; chưa biết phân tích nhân vật Chí Phèo với những bi kịch trong cuộc đời nhân vật Hạnh

THPT Phạm Hồng Thái

- Phong cách ngôn ngữ truyền cảm, áp dụng CNTT khoa học, sử dụng đa dạng hóa các phương pháp trong giờ dạy văn, kiến thức khá vững vàng học sinh được cung cấp đa dạng kiến

Trang 31

Tên bài

dạy

Giáo viên,

(số năm công tác)

Địa điểm

(trường)

Kết quả bài dạy

(Hiệu quả đạt được; hạn chế cần

khắc phục)

đỏ - Vũ

Trọng

Phụng)

thức,kiến thức văn chương, kiến thức

xã hội đương thời, có liên hệ tich hợp

và giáo dục nhân cách học sinh,v.v

- Bên cạnh rất nhiều ưu điểm thì bài giảng của giảng của GV chưa toát lên được phong cách của nhà văn Vũ Trọng Phụng, một nhà văn quan niệm

“Tiểu thuyết là sự thực cuộc đời”, một ngòi bút từng được mệnh là Ông Vua Phóng sự đất Bắc

Vợ Nhặt

(Kim

Lân)

Nguyễn Thị Thu (5 năm)

Trường THPTDL

Lê Thánh Tông

Bài giảng chưa xác định được nội dung kiến thức trọng tâm; chưa biết cách tiếp cận tác phẩm; chưa tạo được hiểu quả thẩm mĩ của tác phẩm Bài giảng có những chi tiết thiên về Xã hội học dung tục

THPT Lý Thường Kiệt

- Giọng giảng nhẹ nhàng, chữ viết bảng đẹp

- Kiến thức còn non yếu; bố cục bài giảng không rõ ràng; dạy thoát li văn bản; đôi chỗ kiến thức văn bản chưa nắm vững

Chiều tối

(Hồ Chí

Minh)

Nguyễn Thúy Hòa (12 năm)

THPT Phạm Hồng Thái

- Giọng giảng truyền cảm; kiến thức vững vàng Nội dung bài giảng toát lên vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật của văn học Áp dụng phương pháp mới dạy học, đặc biệt kĩ năng vận dụng CNTT

Trang 32

Tên bài

dạy

Giáo viên,

(số năm công tác)

Địa điểm

(trường)

Kết quả bài dạy

(Hiệu quả đạt được; hạn chế cần

THPT Phạm Hồng Thái

- Áp dụng CNTT phù hợp, bài giảng làm rõ đặc trưng thể loại thơ Điên Giọng giảng truyền cảm

- GV quan tâm đến bài giảng nhiều, nặng cung cấp nhiều kiến thức nên hoạt động của học sinh bị coi nhẹ Vội vàng

(Xuân

Diệu)

Nguyễn Xuân Thành ( 3 năm)

- Bài giảng cung cấp cho học sinh kiến thức theo hệ thống khoa học

- Chưa tạo được hiệu quả cân đối ba mặt kiến thức- kĩ năng – giáo dục Học sinh chưa biết phương pháp tiếp cận tác phẩm GV hỏi học sinh quá nhiều câu hỏi nhỏ lẻ mang tính tự phát, chưa

đề cao hoạt động của học sinh Đặc biệt, bài giảng chưa tạo được hiệu quả thẩm mĩ, chưa làm sáng tỏ được quan niệm nhân sinh mới của một cái tôi táo bạo muốn gửi tới bạn đọc

THPT Phạm Hồng Thái

- Bài giảng rõ ràng mạch lạc Đa phần học sinh hiểu bài Đặc biệt, bài giảng tạo được hiệu quả thẩm mĩ văn chương đến với các em học sinh

- Bài giảng còn thiên về chuẩn kiến thức kĩ năng

Trang 33

1.2.2 Có nhiều khuynh hướng giảng dạy khác nhau

Từ những kết quả của việc khảo sát giờ dạy và trao đổi thông tin trong

tổ chuyên môn của các GV các trường có giáo viên thao giảng; Tôi nhận thấy không chỉ có tình trạng không thống nhất trong cách đánh giá mà tình hình dạy học tác phẩm văn chương ở THPT hiện nay có rất nhiều khuynh hướng

giảng dạy khác nhau Cụ thể:

1.2.2.1 Khuynh hướng dạy văn quá thiên về những rung cảm thẩm mĩ

Văn chương là một hình thái ý thức đặc thù mang tính thẩm mĩ Hay nói cách khác, tính thẩm mỹ gắn liền với bản chất của văn chương Tri thức

mà văn chương nghệ thuật chuyển tải không thông qua những định lý, công thứ,v.v mà qua những hình tượng nghệ thuật, đến với con người từ những

rung cảm thẩm mĩ

Vẫn biết rằng, đã là văn chương thì cần phải đem lại cho người nghe những khoái cảm thẩm mĩ Nhưng hiện nay, việc dạy học tác phẩm văn chương lại có xu hướng quá thiên về những rung động thẩm mĩ Đa số giáo viên dạy văn xem kinh nghiệm thẩm mĩ chỉ là phương tiện để cá nhân lĩnh hội các nội dung, kiến thức văn học và giảng dạy tác phẩm văn học Người dạy luôn cố gắng làm sao để học sinh biết rung động trước những áng văn hay, biết cảm thụ văn học đúng đắn cho dù đó là tác phẩm văn học cổ đại hay hiện đại

Tuy nhiên, việc dạy văn thiên về khuynh hướng thẩm mĩ không phải là mục đích của quá trình dạy học văn Mục đích của việc dạy và học văn trong nhà trường hết sức quan trọng, nó giúp hoàn thiện tâm hồn và nhân cách đẹp cho các thế hệ học sinh theo hướng “Dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp” Hơn nữa, việc kiểm tra kết quả học tập môn văn, nội dung kiểm tra cũng chỉ tập trung vào một phần kiến thức văn học, kĩ năng tạo lập văn bản chứ không phải những trải nghiệm, cảm xúc thẩm mĩ trong văn học

Trang 34

1.2.2.2 Khuynh hướng dạy văn thiên về thực hiện chuẩn kĩ năng

Hiện nay, khuynh hướng dạy học tác phẩm văn chương thiên về thực hiện theo chuẩn kiến thức - kĩ năng khá phổ biến Tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng ra đời đã trở thành kim chỉ nam đối với dạy học văn ngày nay Nó có vai trò quan trọng không chỉ trong việc dạy học thậm chí trong việc định hướng kiểm tra đánh giá cũng theo tài liệu chuẩn này Việc cung cấp kĩ năng trong

dạy văn đã trở thành mục tiêu của ngành giáo dục: Dạy chữ, dạy người và

hướng nghiệp Mục tiêu này đã được cụ thể hóa ở từng cấp học, lớp học,

phân môn, v.v… Chẳng hạn, ở cấp Trung học phổ thông: “Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn Trung học phổ thông là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc - hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản Chính vì thế, chương trình được tạo dựng theo hai trục tích hợp: Đọc văn và Làm văn” (Đỗ Ngọc Thống)

Phân môn Văn học có chức năng cung cấp một hệ thống tri thức phổ

thông, cơ bản, hiện đại về văn học Việt Nam và thế giới, thông qua việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị Chân – Thiện – Mĩ Học sinh không chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống

Phân môn Làm văn có chức năng rèn luyện kỹ năng viết văn bản Ban

đầu các đề thi chỉ yêu cầu làm nghị luận văn học, càng về sau, nghị luận xã hội càng được chú trọng Hiện nay, trong các đề thi Ngữ văn tốt nghiệp Trung học phổ thông và tuyển sinh Đại học có câu nghị luận xã hội 3 điểm, bàn về một tư tưởng đạo lý hoặc một vấn đề xã hội Nghĩa là việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại gần đời sống

Còn chức năng của phân môn Tiếng Việt là: Hình thành và rèn luyện

cho học sinh năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói, qua đó mà rèn luyện tư duy

Việc dạy văn theo khuynh hướng cung cấp kiến thức kĩ năng theo chuẩn kiến thức một phần nào đó giúp cho người dạy giảm tải, trọng tâm kiến

Trang 35

thức Bên cạnh lợi ích đó thì không ít những hạn chế từ khuynh hướng này cho cả người dạy văn lẫn người học văn

Với người dạy, việc thực hiện dạy văn thực hiện theo chuẩn kiến thức

kĩ năng mà ở đó kiến thức đã chia sẵn thành nhiều tầng, nhiều khâu, v.v… đã

vô tình biến người giáo viên như một cái máy nhất cử nhất động thực hiện theo một “lộ trình” định sẵn Điều này đã khiến giờ dạy văn, đặc biệt là giờ dạy tác phẩm văn chương thiếu hồn, thiếu những cảm xúc Hơn nữa, điều này làm mất đi khoái cảm thẩm mĩ của văn chương, thui chột kinh nghiệm thẩm

mĩ thui chột niềm yêu thích văn chương, sự sáng tạo.Trong khi đó văn chương cần sự sáng tạo Đúng như LêNin đã nói: “Không có cảm xúc thì không bao giờ con người có khát vọng đi tìm chân lí” [3,tr.16]

Đối với người học, việc dạy văn nếu quá thiên về chuẩn kiến thức, kĩ năng thì sẽ khiến học sinh nhớ các đơn vị kiến thức một cách máy móc theo ý sao cho đúng và đủ như lời dạy của thày Điều này dẫn tới tình trạng học sinh lười đọc tác phẩm văn chương Nếu có đọc tác phẩm thì các em cũng đọc sơ sài để lấy vài ba dẫn chứng, vài ba chi tiết, vài ba từ ngữ nhằm thêm thắt cho bài văn của mình ra “dáng vẻ” am hiểu sâu rộng Việc tiếp nhận kiến thức nhiều tầng lớp, nhiều khâu như thế đã dẫn đến sự thui chột kinh nghiệm thẩm

mĩ Hậu quả là người học có thể nói thao thao bất tuyệt về các tác phẩm đã học (do đã đọc các bài văn mẫu, các bài nghiên cứu) nhưng không thể cảm nhận được các tác phẩm văn chương khác dù là đơn giản

1.2.2.3 Khuynh hướng quá đề cao lời bình

Có thể thấy rõ vai trò của lời bình trong dạy văn vô cùng quan trọng Trong giờ dạy tác phẩm văn chương để thực sự thành công người thày cần phải bình văn Một lời bình hay, đúng lúc, đúng chỗ sẽ nâng cao giá trị thẩm

mỹ của bài văn, bài thơ, khơi dậy cũng như thắp sáng trái tim non trẻ của các

em niềm yêu thích văn chương Quan trọng hơn cả là tình yêu người, yêu đời

để các em biết ghét cái ác, cái xấu mà hướng tới chân, thiện mỹ Dạy văn là phải bình văn bởi đó là những giây phút đó trí tưởng tượng của học sinh được

Trang 36

bay bổng, sống với nhân vật, hoàn cảnh trong văn xuôi, kịch, hoặc như được

“bay lên” cùng những vần thơ giàu tính hoạ, tính nhạc Đúng như cố nhà thơ Xuân Diệu đã nói: “Mỗi áng văn, lời thơ là một cá lội, con bướm bay, con chim hót Việc nghiên cứu giảng dạy thơ văn là phải đưa được vào trái tim người đọc cái kỳ diệu của chim hót, bướm bay, cá lội, chứ không phải làm cho bướm ép dẹp, chim nhồi rơm và cá chết khô”

Tuy nhiên, từ ưu điểm trên mà nhiều người thày đã quá đề cao tới mức lạm dụng lời bình trong giờ dạy học Chúng tôi đã dự nhiều giờ thao giảng và nhận thấy giáo viên chỉ cố gắng bình những chi tiết nghệ thuật, tính chất đa nghĩa, tính tượng trưng của một chi tiết nào đó trong tác phẩm khiến giờ học rơi vào tình trạng hình thức, cốt truyện và những thông điệp mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm thì học sinh lại không nắm được

Khuynh hướng quá đề cao lời bình trong dạy học tác phẩm văn chương trở thành trào lưu trong dạy học Việc quá lạm dụng lời bình sẽ dẫn tới tình trạng độc diễn theo lối truyền thụ một chiều, thày chỉ mải mê thuyết trình với những lời bình sao cho hay Ngay cả những giờ giảng được đánh giá là thành công thì tính chất “độc diễn” của giáo viên vẫn thể hiện khá rõ nét Thậm chí

có những giờ dạy diễn ra rất rôm rả, sôi nổi, nhưng thực chất chỉ là một “màn kịch” dàn dựng khéo Nhiều giáo viên được khen là “dạy hay”, song thực chất

là “diễn thuyết” hay, và học sinh học xong là kiến thức cơ bản không nắm được gì nhiều, còn lời bình thì cứ trôi đi tuồn tuột theo mây gió Khuynh hướng quá đề cao lời bình trong dạy học tác phẩm văn chương sẽ dẫn tới việc dạy học thoát ly văn bản, chỉ bình cho sướng miệng, lọt lỗ tai trò nhưng thực

ra trò chẳng nắm được gì, thì đó là dạy văn theo “điệu sáo”, theo kiểu “múa

chữ” như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng phê phán trước đây

1.2.2.4 Khuynh hướng coi nhẹ hoạt động của học sinh, chỉ quan tâm đến nội dung giảng dạy của giáo viên

Ngoài việc quá đề cao lời bình trong giờ giảng, có thể thấy việc dạy học tác phẩm văn chương vẫn chủ yếu đề cao hoạt động dạy của người thày Việc

Trang 37

đổi mới phương pháp đề cao vai trò hoạt động của học sinh, lấy học sinh là trung tâm, là chủ thể đã diễn ra từ lâu nhưng hiện tượng giáo viên là trung tâm, giáo viên chỉ coi trọng những nội dung bài dạy cho xong vẫn là phổ biến

Trên lớp, GV Chỉ quan tâm đến bài của GV, không đề cao học sinh, chỉ

chủ động thực hiện giáo án theo các bước đã chuẩn bị Giờ dạy học thầy chỉ chăm chú dạy sao cho đủ, cho hết nội dung, sao cho khỏi cháy giáo án mà quên đi niềm yêu thích cũng như không đề cao vai trò của người học Lợi ích của người học chưa được đề cao, học sinh vẫn là những khán giả trung thành thụ động bởi đã có thày cảm nhận hộ Vai trò chủ động của người học chỉ là chủ động chép, chép được bao nhiêu thì chép, ý chính ý phụ không rõ ràng và

hệ quả tất yếu là học trò không hiểu bài mà thày cô vừa dạy

Trong giờ dạy học tác phẩm văn chương, đặc biệt cần đề cao vai trò bạn đọc sáng tạo của học sinh, vị trí của học sinh trong giờ văn cần là một chủ thể tích cực chứ không phải là cái bình chứa thụ động

1.2.2.5 Khuynh hướng quá đề cao công nghệ thông tin

Hiện nay CNTT đã rất phát triển và được áp dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có giáo dục Tuy nhiên, qua việc dự giờ thao giảng tiết đọc văn theo phương pháp mới của một vài đồng nghiệp, tôi nhận thấy ngoài một số ít tiết của những “tiền bối” có kinh nghiệm giảng dạy cũng như lựa chọn chắt lọc và phối hợp rất thành công, còn lại tôi cứ tự phân vân: không biết người ta dạy văn hay trình chiếu hình ảnh cho văn, chất văn tỏa ra

từ ngôn từ bay đi đâu hết Có lẽ, trò chỉ nhớ, ấn tượng và khắc sâu được mấy hình ảnh hoa lá, mấy kiểu chữ bay thật ấn tượng cùng mấy bức tranh” trực quan” mà không phù hợp chút nào Đó là hiện tượng quá nhiều chữ trong slide khiến thầy giảng không khớp lời với máy chiếu, trò căm cúi vội vàng ghi

mà chẳng nghe được lời giảng của thày; Giáo viên cứ "chiếu" kiến thức ngồn ngộn lên màn hình mà không có quy ước nào để học sinh nắm bắt kiến thức Điều này dẫn đến tình trạng học sinh ghi chép mải miết mà không sao ghi kịp, ghi ý phụ mà bỏ mất ý chính là chuyện thường Ngoài ra, một số giáo viên

Trang 38

còn sử dụng các kiểu hiệu ứng cho chữ "nhảy múa lung tung" khiến học sinh không tập trung học được mà cứ mải, v.v… xem chữ nhảy múa hấp dẫn quá

Có những bài thao giảng, giáo viên thay vì đầu tư nội dung và phương pháp thì lại quá chú ý đến viêc trang trí slide như viền các hình hoa, lá xung quanh rất đậm,chữ thì mờ nhạt và quá nhiều chữ trong một slide, thậm chí chèn cả những hình ảnh chẳng liên quan đến bài giảng để trang trí, nhằm minh hoạ điều gì?

Hiện nay, việc thay phương pháp giảng dạy và ứng dụng CNTT vào bài giảng đã trở thành phổ biến Đã có nhiều trường học nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh bằng việc đầu tư máy chiếu ở từng lớp học Đó là việc nên làm, nhưng việc sử dụng đã đạt hiệu quả chưa,

có phù hợp với môn Ngữ văn hay không và đã cuốn hút được học sinh chưa thì lại là việc cần có những định hướng và giải pháp thích hợp

1.2.2.6 Khuynh hướng quá chú trọng câu hỏi

Trước xu hướng vận dụng phương pháp dạy học mới: Học sinh là trung tâm, là chủ thể năng động sáng tạo, tích cực mà nhiều giáo viên đã thay đổi phương pháp dạy học từ thày giảng sang thày hỏi để học sinh đựợc là trung tâm Theo Rubi Rubinxtenxtanh: “Yếu tố của quá trình tư duy thường là tình huống có vấn đề Con người bắt đầu tư duy từ khi có nhu cầu hiểu biết một cái gì” Đúng vậy, một điều kiện đã được thực tiễn sư phạm và thực tiễn cuộc sống xác nhận là kiến thức sẽ được lĩnh hội vững chắc nếu người học đó trải qua suy nghĩ, có vượt qua khó khăn để tìm kiếm

Việc nêu câu hỏi trong giờ dạy là quan trọng Tuy nhiên, nhiều giáo viên quá trú trọng câu hỏi trong giờ dạy Việc nêu quá nhiều câu hỏi trong một tác phẩm sẽ làm phá nát cấu trúc tác phẩm Điều quan trọng là không còn thời gian để bình văn

Một hiện tượng phổ biến là các câu hỏi mà giáo viên nêu trong giờ dạy tác phẩm văn chương cũng chỉ tập trung theo các câu hỏi theo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa mà học sinh đã soạn sẵn theo sách học tốt

Trang 39

Tiến trình tổ chức bài dạy của giáo viên chủ yếu chỉ tổ chức hướng dẫn cho học sinh trả lời các câu hỏi sách giáo khoa, không hề sáng tạo thêm khiến giờ dạy, nhàm chán vì học sinh đã trả lời sẵn Không có sự sáng tạo, không có sự mới lạ, không có lời bình, v.v… đã khiến cho giờ văn khô khan, nhạt nhẽo đơn điệu không có chỗ cho những rung động thẩm mĩ, không thể nào đạt được hiệu quả thẩm mĩ trong giờ học tác phẩm văn chương

Hơn nữa, hầu hết các câu hỏi giáo viên nêu trong giờ dạy vẫn nằm trong cơ sở của tư duy tái hiện kiến thức chưa có được sự thay đổi trong nhận thức Vì vậy, học sinh vẫn chủ yếu dựa vào những kiến thức có sẵn, tái hiện lại những sự kiện, hiện tượng văn học theo một phương thức quen thuộc Kết quả là chưa tạo ra được chất lượng mới về kiến thức và chưa được phát triển thêm về phương thức nhận thức Giờ học như thế hầu như đă làm chững lại những rung cảm thẩm mĩ, những xúc động trữ tình đậm chất văn nảy sinh từ chính tâm hồn học sinh trước mỗi tác phẩm văn chương mà thay vào đó là sự phân tích xét đoán thiên về lí trí, nhẹ rung cảm nghệ thuật

Không chỉ quá lạm dụng câu hỏi trong giờ dạy bỏ quên đi những rung động thẩm mĩ qua các lời bình, nhiều giáo viên còn tích hợp trong bài giảng của mình, biên soạn lồng vào phần cuối những câu hỏi giáo dục tư tưởng đôi khi xa lạ với vấn đề cơ bản mà nhà văn nhà thơ muốn nói tới hoặc ít phù hợp với giá trị chủ yếu của tác phẩm

Không có gì đáng nghi ngờ khi nói rằng phân tích tác phẩm, chúng ta cần có sự vận dụng câu hỏi nêu vấn đề một cách thuận lợi và xác đáng Nói như Rubinxtenxtanh:“Tư duy con người con người chỉ bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ một sự ngạc nhiên hay sự thắc mắc, từ một sự mâu thuẫn” Chúng ta cũng biết rằng cảm thụ văn học bao giờ cũng mang tính cá nhân rất sâu đậm Một bài giảng văn, một bài phân tích văn học có thể phân tích văn học muốn thành công cần có những câu hỏi, tình huống nêu vấn đề

và được học sinh tiếp nhận có ý thức Nếu như giờ học chỉ có người thày thao thao tự diễn thì cũng không phải là giờ học đạt hiệu quả Hiệu quả đạt

Trang 40

được phải là học sinh học được gì, tiếp thu được gì sau giờ học Tuy nhiên, việc nêu câu hỏi ở mức độ nào; loại câu hỏi nào phù hợp với từng nội dung và mức độ kiến thức thì lại cần giải pháp thích hợp

1.2.2.7 Khuynh hướng xã hội học dung tục trong văn chương

Hiện nay, khuynh huớng xã hội học dung tục giờ học tác phẩm văn

chuơng khá nặng nề Đây là một khuynh hướng khá phổ biến trong việc dạy

tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay Khuynh hướng xã hội học dung tục phá vỡ hiệu quả thẩm mĩ của môn Văn khiến giờ dạy tác phẩm văn chương bị mất đi đặc trưng của môn học Trong giờ học TPVC quá thiên về

tư liệu đời sống, nhân vật, con người xã hội mà bỏ quên mất nhà văn, người

đã sinh ra tác phẩm Dạy văn mà chỉ chú trọng lịch sử xă hội ,mà không chú trọng nội dung tình cảm thẩm mĩ; chú trọng nội dung nhận thức mà không quan tâm đến nội dung tình cảm; bài văn bị coi như một hiện tượng lịch sử xã hội hơn là một đối tượng thẩm mĩ, v.v…Đặc biệt, chủ nghĩa sơ đồ, bệnh sơ

đồ, khuynh hướng minh họa do lối nhận thức sai lầm như trên đã làm cho việc dạy văn chưa đạt được thẩm mĩ của giờ văn và không thoát khỏi lối mòn xã hội dung tục là vì vậy

Đã có nhiều tiếng than phiền, chê trách từ các cơ quan chỉ đạo giáo dục,

từ các nhà nghiên cứu, giáo sư và nhà văn cũng tỏ ý lo ngại cho việc dạy văn:

“Dạy văn mà như dạy chính trị”, “ Dạy thơ mà không gây được chấn động gì trong lòng học sinh”, “Giờ văn không còn là niềm hứng thú say mê đối với cả thầy và trò” ;“Cần trả lại bản chất thẩm mĩ cho văn học”.[12, tr.351]

“Tác hại của căn bệnh xã hội dung tục không phải chỉ riêng cho việc dạy văn mà đáng lo hơn cho việc hình thành nhân cách xã hội chủ nghĩa cho học sinh”.[12, tr.351] Bởi tính “con” và tính “người” là hai phương diện cấu trúc trong sinh thể con người Nhưng nếu trong giờ văn không mang lại những hiệu quả thẩm mĩ trong văn chương, giờ văn chỉ tác động đến nhận

thức lí trí mà không tác động đến sự lay động tâm hồn học sinh Trong giờ

văn học sinh lạnh lùng với số phận nhân vật, xa lạ với nỗi niềm rung động của

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thanh Bình (2011), “Hướng dẫn cách đọc hiểu dựa vào chủ đề văn bản trong giờ học môn Ngữ văn”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay (Xuân Tân Mão), tr. 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn cách đọc hiểu dựa vào chủ đề văn bản trong giờ học môn Ngữ văn”, "Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Lê Thanh Bình
Năm: 2011
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), “Hướng dẫn áp dụng chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học vào đánh giá giáo viên”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn áp dụng chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học vào đánh giá giáo viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2011
3. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2010
4. Bùi Minh Đức (2010), “Một số đề xuất góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương ở THPT”, Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay (11), tr. 27 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề xuất góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương ở THPT”, "Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Bùi Minh Đức
Năm: 2010
5. Bùi Minh Đức (2010), “Công nghệ thông tin với việc phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của học sinh trong dạy học Văn”, Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay (9), tr. 40 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin với việc phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của học sinh trong dạy học Văn”, "Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Bùi Minh Đức
Năm: 2010
6. Hà Minh Đức tuyển tập - tập 1 (2004), Lý luận văn học và báo chí. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học và báo chí
Tác giả: Hà Minh Đức tuyển tập - tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
7. Bùi Vĩnh Trường Giang (2011), “Một hướng khai thác mới khi dạy học các văn bản ngữ văn ở trường THCS”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay (3), tr.21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng khai thác mới khi dạy học các văn bản ngữ văn ở trường THCS”, "Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Bùi Vĩnh Trường Giang
Năm: 2011
8. Trần Thị Hạnh (2010), “Những thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn văn”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay (11), tr. 46 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn văn”, "Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Năm: 2010
9. Nguyễn Minh Hoạt (2011), “Dạy Nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên nghành Ngữ văn cần bám sát nhiệm vụ giáo dục, dạy học ở trường THPT”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay (Xuân Tân Mão), tr. 42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy Nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên nghành Ngữ văn cần bám sát nhiệm vụ giáo dục, dạy học ở trường THPT”, "Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Nguyễn Minh Hoạt
Năm: 2011
10. Nguyễn Trọng Hoàn (2001), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương. Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2001
11. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2002
12. Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn học. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn học
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Phan Trọng Luận (2011), Văn học nhà trường- Những điểm nhìn. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhà trường- Những điểm nhìn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2011
14. Phan Trọng Luận (2011), Văn học nhà trường- Nhận diện tiếp cận đổi mới. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhà trường- Nhận diện tiếp cận đổi mới
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2011
15. Phương Lựu (2003), Lý luận Văn học. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
16. Lê Đức Ngọc (2011), Đo lường và đánh giá thành quả học tập. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2011
17. Chu Văn Sơn (2002), Phân tích tác phẩm văn học lớp 11. Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học lớp 11
Tác giả: Chu Văn Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2002
18. Trần Đình Sử (2010), Lý luận và phê bình văn học. Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2010
19. Đoàn Thị Tâm (2011), “Một số vấn đề về dạy học hàm ngôn chương trình Ngữ văn ở THPT”, Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay (4), tr. 19-20, 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy học hàm ngôn chương trình Ngữ văn ở THPT”, "Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Đoàn Thị Tâm
Năm: 2011
20. Phạm Thị Thanh (2010), “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giờ dạy Văn học Sử ở trường THPT”, Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay (5), tr. 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giờ dạy Văn học Sử ở trường THPT”, "Tạp chí dạy và học ngày nay Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Phạm Thị Thanh
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Khảo sát giờ dạy - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 1.1. Khảo sát giờ dạy (Trang 30)
Hình  tượng  người  đàn  bà  được  nhà  văn - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
nh tượng người đàn bà được nhà văn (Trang 96)
Bảng 3.1. Bảng thuyết minh các tiêu chí sử dụng trong giáo án - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 3.1. Bảng thuyết minh các tiêu chí sử dụng trong giáo án (Trang 116)
Bảng 3.2. Bảng thuyết minh các tiêu chí sử dụng trong giáo án - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 3.2. Bảng thuyết minh các tiêu chí sử dụng trong giáo án (Trang 118)
Bảng 3.5. Kết quả bài kiểm tra của lớp 12D( THPT Tây Hồ) - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 3.5. Kết quả bài kiểm tra của lớp 12D( THPT Tây Hồ) (Trang 120)
Bảng 3.3. Thang điểm đánh giá - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 3.3. Thang điểm đánh giá (Trang 120)
Bảng 3.7. Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài dạy - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 3.7. Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài dạy (Trang 121)
Bảng 3.6. Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở tiết học bài: - Xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả một giờ dạy học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông
Bảng 3.6. Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở tiết học bài: (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w