1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11

199 1,8K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 3,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Luật giáo dục, điều 24.2 ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC

SINH HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

11

Trang 3

1.1.4 Các quan điểm tích hợp trong dạy học 17

1.1.6 Ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Sinh học 22

1.2.2 Thực trạng dạy học theo quan điểm tích hợp ở trường THPT 33

Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG DẠY

2.2.1 Tích hợp Toán học vào dạy học Sinh học 37

3.1 Mục đích, nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm 153

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

175

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong Luật giáo dục, điều 24.2 ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động vào tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Nghị quyết Trung ương II khóa VIII đã khẳng định

“Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện

và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân, nhất là thanh niên”

Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, nhìn chung giáo dục ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới

Về nội dung: kiến thức còn hàn lâm cứng nhắc, coi trọng lý thuyết hơn thực hành, thiếu tính liên thông các bài học với nhau, nhiều vấn đề khai thác trùng lặp trong nhiều môn học, làm chương trình trở nên thiếu tính hệ thống, quá tải Về phương pháp: dạy học chủ yếu nặng về thuyết trình, ít có sự liên hệ kiến thức giữa các bộ môn với nhau cũng như kiến thức giữa các bài học trong cùng một

bộ môn Mục tiêu dạy học chỉ chú trọng vào việc cung cấp kiến thức mà ít chú trọng đến phát triển kỹ năng cho HS, ít có sự liên hệ giữa lý thuyết học trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống Trong khi các tình huống ngoài thực tiễn cuộc sống luôn mang tính tích hợp thì dạy học trong nhà trường còn thiếu sự tích hợp giữa các bộ môn

Trang 7

Do yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay: cùng với việc đổi mới nội dung, đổi mới PPDH đã trở thành một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục Đổi mới PPDH ở trường phổ thông là một vấn đề lớn, thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác giáo dục mà còn thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp xã hội

Chương trình SGK mới được xây dựng dựa trên quan điểm: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” Việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa mới theo quan điểm tích hợp là đòi hỏi tất yếu của nền giáo dục hiện đại

Chương trình phổ thông của nhiều nước chỉ gồm một số môn học tích hợp, phổ biến là các môn học như tiếng mẹ đẻ và văn chương, toán học, khoa học tự nhiên (Lý, Hóa, Sinh…), khoa học xã hội và nhân văn (Sử, Địa, Kinh tế, Luật…), ngoại ngữ (tiếng anh và một số ngoại ngữ chính), máy tính và công nghệ, giáo dục thể chất Trong khi đó, ở nước ta nội dung chương trình phổ thông được xây dựng chủ yếu theo cách tiếp cận mục tiêu, chương trình SGK mới hiện đang quá tải về khối lượng kiến thức và chưa thực sự chú trọng đến phát triển kỹ năng, cấu trúc chương trình lạc hậu so với thế giới, các môn học có

sự chồng chéo về kiến thức Xây dựng cấu trúc chương trình phổ thông theo hướng tích hợp các môn riêng rẽ, chỉ học chuyên sâu từng môn khi đào tạo nghề

là xu hướng tất yếu của giáo dục nước ta trong tương lai Vì vậy, việc GV vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học hiện đang là vấn đề cần thiết và cấp thiết

Trang 8

Các hoạt động xảy ra trong tế bào và cơ thể bao gồm nhiều phản ứng sinh lý và sinh hóa với cơ chế phức tạp, đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu rộng về các chuyên ngành liên quan Vì vậy, việc tích hợp các kiến thức Toán học, Vật lý, Hóa học vào Sinh học là cần thiết và hiệu quả

Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài:

“Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó – Sinh học 11”

lẻ, cần tích hợp các quá trình học tập này trong một tình huống có ý nghĩa với

HS Những tình huống có ý nghĩa phải là những tình huống có vấn đề, có nội dung liên môn, liên quan đến thực tiễn, và khi HS tham gia giải quyết vấn đề đó

sẽ hình thành cho mình những kỹ năng, năng lực thực tiễn hay là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo Vì thế tình huống có vấn đề phải là tình huống tích hợp

có ý nghĩa với HS, chứ không phải cái cớ để tích hợp Việc tích hợp này nhằm mục đích làm cho quá trình học tập mang lại cho HS những kỹ năng, năng lực thực tiễn nhưng các quá trình này được tiến hành ngay trên lớp học

Mục đích cuối cùng (mục tiêu tích hợp) của quá trình học tập là nhằm hình thành cho HS những năng lực thực tiễn – khả năng HS có thể đối phó với những

Trang 9

tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống Các quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt thông qua các năng lực hình thành cho HS, một số mục tiêu tích hợp cho mỗi năm học (trong một môn học hay một nhóm môn học)

Dạy học tích hợp có sự soi sáng của nhiều môn học Một môn học có sự đóng góp của nhiều môn học khác, nhưng cũng cần lưu ý đến việc lựa chọn thông tin cần cung cấp cho HS Cần tránh việc cùng một lúc cung cấp quá nhiều thông tin làm cho HS bị chìm ngập trong khối lượng lớn thông tin với lý do các thông tin này ít nhiều có quan hệ với tình huống phải giải quyết Cần phân biệt những thông tin quan trọng và ít quan trọng hơn, không nên mất nhiều thời gian vào việc dạy và học những điều không cần thiết trong khi những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian Vì thế khi tích hợp cần chọn lọc thông tin phù hợp với tình huống, mục đích của bài học đặt ra

X Roegiers đã nêu lên vai trò của môn học và sự tương tác giữa các môn học [44]:Quan điểm “trong nội bộ môn học”: nên ưu tiên các nội dung môn học, sử dụng kiến thức của phân môn này để dạy học kiến thức phân môn khác trong bộ môn khoa học Các kiến thức trong một môn học được kết nối với nhau một cách

hệ thống, logic và chặt chẽ Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ

Quan điểm “đa môn”: đề nghị những tình huống, những đề tài có thể nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau nghĩa là theo những môn học khác nhau Theo quan điểm này, những môn học tiếp tục được duy trì một cách riêng

rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu của đề tài Như vậy các môn học không thực sự được tích hợp

Trang 10

nhiều môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết vấn đề cho trước, các quá trình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau liên quan đến vấn đề phải giải quyết

Quan điểm “xuyên môn”: chủ yếu phát triển các kỹ năng mà HS có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, những kỹ năng này được gọi là kỹ năng xuyên môn Có thể lĩnh hội những kỹ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học

X Roegiers cũng cho rằng cần có sự cần thiết vượt lên trên các nội dung học tập Các kiến thức học được chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng được huy động vào các tình huống cụ thể và những kiến thức đó sẽ được HS ghi nhớ lâu hơn Học chỉ để nhớ, để biết và giải quyết vấn đề trong bài học thì chưa đủ, HS phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào những tình huống xảy ra trong thực tiễn, đó là những tình huống phức hợp đòi hỏi người giải quyết phải

có năng lực thực tiễn Học không chỉ dừng lại ở mức hiểu mà phải ở mức độ biết

áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá những kiến thức đã lĩnh hội Theo chiều hướng này quan điểm tích hợp nhằm đáp ứng lại một trong những thách thức của xã hội chúng ta là đảm bảo cho mỗi HS có khả năng huy động hiệu quả những kiến thức, năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất hiện và nếu có thể, để đối phó với những khó khăn bất ngờ, tình huống chưa từng gặp

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu cơ sở

lý luận về tích hợp và các biện pháp nhằm vận dụng tích hợp vào quá trình giảng dạy thực tiễn:

Đào Trọng Quang với bài “Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm” đã đề cập bản chất của sư phạm tích

Trang 11

hợp, quan điểm tích hợp, một số nguyên tắc chỉ đạo tích hợp, một số kỹ thuật tích hợp

Đỗ Ngọc Thống đã nêu một hệ thống quan điểm tích hợp và dạy học theo hướng tích hợp Trong cuốn “Đổi mới dạy và học ngữ văn ở THCS”, tác giả đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa cộng gộp các kiến thức (Combinaison) và tích hợp kiến thức (Integration)

Nguyễn Minh Hoài (2006), “Dạy học tác phẩm Bến quê của Nguyễn Minh Châu trong chương trình ngữ văn 9 theo quan điểm tích hợp”

Vũ Xuân Thủy (2008), “Dùng phương pháp tiếp cận tích hợp để phát triển chương trình đào tạo nghề hàn từ trình độ trung cấp lên trình độ cao đẳng tại trường trung cấp nghề cơ điện và xây dựng ở Bắc Ninh”

Cao Kiều Khanh (2007), “Dạy học thao tác lập luận phân tích cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực”

Nguyễn Hữu Tâm (2003), “Vậndụng quan điểm tích hợp vào bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao ở nhà trường THPT”

Nguyễn Xuân Cường (2008), “Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học nghề điện trong các trường dạy nghề của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”

Nguyễn Đăng Trung (2004), “Vận dụng quan điểm sư phạm tích hợp trong dạy học môn giáo dục học ở các trường cao đẳng sư phạm”

Trong công trình “Sử dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị trong giảng dạy bộ môn lịch sử THPT theo quan điểm tích hợp liên môn”, Phạm Văn Thiên

Trang 12

Còn Trần Viết Thụ (1997), trong công trình nghiên cứu “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hóa trong SGK lịch sử THPT”, tác giả đã vận dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị vào quá trình giảng dạy

bộ môn lịch sử theo quan điểm liên môn

Trong công trình “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu sinh lý người ở lớp 9 THCS”, tác giả Lê Trọng Sơn đã nhấn mạnh giáo dục dân số là vấn đề quan trọng, việc tích hợp giáo dục dân số vào môn Sinh học 9 là thích hợp đối với nội dung môn học cũng như độ tuổi của HS

Khi nghiên cứu về sư phạm tích hợp, đã có nhiều công trình được công bố, nhiều cuộc hội thảo được tổ chức Từ năm 1960 đến 1974 đã có 208 chương trình trong tổng số 392 được điều tra và được coi là đã tích hợp ở nhiều mức độ khác nhau Từ năm 1990 trở lại đây, vấn đề tích hợp càng được phổ biến rộng rãi

ở các quốc gia và khu vực, với nhiều mức độ khác nhau

Như vậy, việc vận dụng những quan điểm tích hợp vào giảng dạy đã và đang thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục cũng như GV Những công trình nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục và GV đã khẳng định việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học là một trong những xu hướng dạy học tất yếu hiện nay

Chương trình SGK theo hướng tích hợp đã được xây dựng xuyên suốt từ cấp Tiểu học đến THPT Theo các tác giả biên soạn bộ SGK mới cũng khẳng định “bên cạnh những hướng cải tiến chung của chương trình như giảm tải, tăng thực hành, gắn với đời sống, cải tiến nổi bật nhất của chương trình là hướng tích hợp”

Như vậy trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, những cuộc hội thảo khoa học về quan điểm tích hợp và định hướng sử dụng tích

Trang 13

hợp trong dạy học Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề tích hợp mới chỉ được nghiên cứu chủ yếu về cơ sở lý luận, việc vận dụng vào thực tế dạy học mới chỉ bước đầu được thực hiện ở cấp học Tiểu học và THCS, ở bậc THPT ít được thực hiện

và còn mang tính hình thức, thiếu hiệu quả

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất hướng triển khai và vận dụng quan điểm dạy học tích hợp vào dạy học một số kiến thức khó trong chương trình Sinh học 11

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Dạy học một số kiến thức khó trong chương trình Sinh học 11 theo quan điểm tích hợp

4.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức dạy học – Sinh học 11 theo quan điểm tích hợp

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quan điểm dạy học tích hợp

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn vấn đề dạy học tích hợp theo hướng tích cực hóa nhận thức của người học

- Phân tích chương trình Sinh học ở THPT và chương trình Sinh học 11, những nội dung kiến thức khó theo quan điểm tích hợp

Trang 14

- Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính khả thi và hiệu quả của đề tài

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kế và tổ chức dạy học một

số nội dung kiến thức khó trong chương trình Sinh học 11

6 Giả thuyết nghiên cứu

Những giải pháp dạy học theo quan điểm tích hợp mà đề tài đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Phân tích và tổng hợp các quan điểm về dạy học tích hợp làm cơ sở lý luận cho đề tài, đặc biệt là các quan điểm vận dụng tích hợp trong dạy học Sinh học

Nghiên cứu tài liệu của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục ở bậc THPT

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phân tích cấu trúc chương trình Sinh học 11, đặc biệt là những phần có nội dung kiến thức khó

- Phương pháp điều tra:

Khảo sát việc dạy học Sinh học ở một số trường THPT thông qua dự giờ rút kinh nghiệm, đánh giá sự vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Sinh học; Lấy ý kiến GV thông qua phiếu điều tra, đánh giá học sinh thông qua bài kiểm tra

Trang 15

- Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu được được xử lý bằng thống

kê toán học Kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả học của người học được phân tích định tính và định lượng

8 Cấu trúc luận văn

Mở đầu

Kết quả nghiên cứu

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp

Chương II: Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những nội dung khó - Sinh học 11

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận và khuyến nghị

Công trình khoa học đã công bố của tác giả

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 16

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC SINH HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

1.1 Cơ sở lý luận của dạy học tích hợp

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Tích hợp

Tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ [28, 1217]

Tích hợp (intergration) là sự thống nhất, sự hòa nhập thành một hệ thống nhất, là sự hợp nhất, hòa nhập

Trong giáo dục hiện đại, tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau

Trong dạy học người ta chia ra hai kiểu tích hợp là tích hợp ngang và tích hợp dọc:

- Tích hợp ngang: tích hợp kiến thức và kỹ năng giữa phân môn này với kiến thức và kỹ năng của phân môn khác

- Tích hợp dọc: tích hợp giữa kiến thức và kỹ năng mới với kiến thức và

kỹ năng mà người học đã được học từ trước đó theo nguyên tắc đồng trục, vòng tròn đồng tâm hay xoáy trôn ốc Những kiến thức và kỹ năng đã được lĩnh hội ở bài học, lớp học, bậc học sau bao hàm kiến thức và kỹ năng của bài học, lớp học, bậc học trước nhưng cao hơn và sâu sắc hơn Chương trình được biên soạn theo

Trang 17

hướng tích hợp có vai trò giúp GV và HS sẽ có cái nhìn khái quát, liên hệ kiến thức giữa các bài học trong một môn học cũng như giữa các môn học với nhau

1.1.1.2 Tích hợp trong dạy học

Theo X Roegiers (1996), tích hợp trong dạy học là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ quá trình học tập tương lai hoặc hòa nhập HS vào cuộc sống lao động Như vậy, quan điểm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa [44]

Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó, quan điểm tích hợp dự định những hoạt động tích hợp trong đó HS học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kỹ năng và những động tác đã lĩnh hội một cách rời rạc Quan điểm tích hợp sàng lọc những thông tin hữu ích để hình thành các năng lực và mục tiêu tích hợp

Trên thế giới, quan điểm tích hợp được áp dụng ở nhiều môn học khác nhau với các mức độ khác nhau Ví dụ ở Malaixia, chương trình Tiểu học là

“The Intergrated curriculum for Rrimary school” (chương trình giảng dạy tích hợp cho trường Tiểu học) đã thể hiện các hướng tích hợp cụ thể là: tích hợp nhiều kỹ năng trong một môn học, tích hợp nhiều kỹ năng trọng số môn học, hấp thụ kiến thức nội dung môn học khác qua các môn đang dạy, tích hợp các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp qua các môn học, tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa, tích hợp kiến thức và thực tiễn

Tích hợp trong dạy học thể hiện qua nhiều cách tiếp cận: lồng ghép

Trang 18

Có thể nói ở Việt Nam, quan niệm này mới chỉ được tiếp nhận chủ yếu ở mức độ lý luận và lồng ghép ở mức độ thấp Tích hợp được thể hiện qua lồng ghép: đưa nội dung cần bổ sung vào nội dung môn học chính, hoặc tích hợp nhiều môn học tạo thành môn học mới Trong giới hạn đề tài, tôi mong muốn tích hợp các kiến thức Toán học, Vật lý, Hóa học có liên quan nhằm hỗ trợ cho dạy học Sinh học 11, đặc biệt là những nội dung kiến thức khó

Theo Xavier Roegiers (1996), sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính từ trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động

Như vậy, sư phạm tích hợp không ngoài mục đích là nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa thông qua việc:

- Giúp HS học cách sử dụng kiến thức của mình vào các tình huống có ý nghĩa: Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa, mang các thông tin cốt yếu, gần gũi với HS, giúp HS giải quyết các vấn đề kiến thức mới

- Tích hợp các mục tiêu học tập: Để giải quyết một tình huống tích hợp,

HS cần tích hợp nhiều kỹ năng, trong đó có những kỹ năng cơ bản, thiết yếu

Sư phạm tích hợp ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra cho ngành giáo dục Xavier Roegiers (1996), cho rằng “Khoa sư phạm tích hợp dựa trên tư tưởng năng lực, tức là biết sử dụng các kỹ năng trong một tình huống có vấn đề” Ông cũng chỉ ra rằng trong quá trình dạy học tích hợp có một số đặc điểm sau [44]:

- Nhà trường phải tiếp tục là một đảm bảo cho những giá trị quan trọng của xã hội Chỉ có thông qua giá trị đó, thì toàn bộ các hoạt động học tập và hoạt động nghề nghiệp mới có ý nghĩa

Trang 19

- Nhà trường không chỉ có chức năng ưu tiên là truyền đạt kiến thức và thông tin, mà còn giúp HS có khả năng tìm thông tin, quản lý thông tin và tổ chức các kiến thức

- Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung

cố gắng dạy HS cách sử dụng kiến thức của mình vào những tình huống có ý nghĩa với HS

Theo Phạm Văn Lập (1998), Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần kiến thức khác của cùng môn học Thí dụ, toán học được sử dụng như một công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinh học, tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình sinh học …[24]

1.1.2 Mục đích của dạy học tích hợp

Mục đích tích hợp trong dạy học là làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, tiến hành trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hòa nhập thế giới học đường với cuộc sống

Mục đích tích hợp là phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần thiết giúp HS vận dụng để xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo

Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp HS vận dụng kiến thức trong những

Trang 20

nó chú trọng tập dượt cho HS nhiều kiến thức, kỹ năng vào các tình huống thực

tế, có ích cho cuộc sống

Ngoài ra, tích hợp trong dạy học là giúp người học xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học Trong quá trình học tập, HS được học các khái niệm khác nhau trong một môn học và trong nhiều môn học khác nhau Điều quan trọng là HS phải biểu đạt được các khái niệm đã học trong những mối quan hệ của các môn học, có cái nhìn khái quát về khái niệm đó trong một tổng thể các môn học với nhau Nguồn thông tin càng đa dạng phong phú, thì HS càng hiểu khái niệm ở nhiều góc cạnh, hiểu kiến thức càng sâu sắc hơn Trên cơ sở đó HS mới có thể làm chủ kiến thức và vận dụng kiến thức đã học đó nhằm đương đầu với những tình huống thử thách trong cuộc sống

Khi các kỹ năng cơ bản được vận dụng vào tình huống cụ thể sẽ dẫn đến hình thành những năng lực cần thiết Đối với một chương trình đào tạo, thì các năng lực này chính là hệ thống mục tiêu người học phải đạt được sau khi kết thúc một chương trình (một khóa học, một chương hay một bài học)

Trang 21

1.1.3 Mô hình và phương pháp tích hợp

Theo X Roegiers (1996) đã đưa ra hai mô hình và phương pháp tích hợp trong các mô hình đó [44]:

Mô hình 1: Tích hợp các môn học xung quanh một mục tiêu học tập chung

Mục đích: tích hợp hoàn toàn một số giáo trình riêng rẽ vào một giáo trình duy nhất

Phương pháp: tìm những môn học với những mục tiêu bổ sung cho nhau

và khai thác tính bổ sung đó

Mô hình 2: Tích hợp môn học theo đề tài tích hợp

Mục đích: xác định những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau đồng thời vẫn duy trì những quá trình học tập riêng lẻ

Ứng dụng: - Cách 1: những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối mỗi năm học hay cuối những bậc học Theo cách này, các môn học vẫn được duy trì riêng lẻ, nhưng sau một năm học, bậc học HS sẽ được đánh giá theo khả năng thực hiện một bài tập tích hợp

- Cách 2: Việc tích hợp được thực hiện đều đặn trong năm học Bản chất của sư phạm tích hợp là tạo điều kiện cho HS phát triển một cách toàn diện, phát triển các năng lực, kỹ năng sống song song các kiến thức đơn thuần Mỗi bài học có một hệ thống mục tiêu cụ thể Khi các kỹ năng cơ bản được vận dụng vào các tình huống tích hợp, sẽ hình thành ở người học các năng lực Các năng lực được hình thành trong tất cả các môn học trong cả năm học tạo

Trang 22

1.1.4 Các quan điểm tích hợp trong dạy học

Theo d’hainaut (1977), có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học:

- Quan điểm đơn môn: có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của mỗi môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ

- Tích hợp đa môn: những tình huống được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau

- Tích hợp liên môn: trong dạy học, những tình huống chỉ có thể được tiếp cận hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Đó là sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước, các quá trình học tập sẽ không bị rời rạc mà liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần giải quyết

- Tích hợp xuyên môn: có thể phát triển các kỹ năng mà HS có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, chẳng hạn nêu một giả thuyết, đọc các thông tin, thông báo thông tin, giải một bài toán… Những kỹ năng này là kỹ năng xuyên môn, có thể lĩnh hội được những kỹ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học

Nhu cầu phát triển của xã hội ngày nay yêu cầu nhà trường phải dạy học

và giáo dục theo quan điểm liên môn và xuyên môn Trong đó, quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở HS những kỹ năng xuyên môn, có thể ứng dụng ở mọi nơi Một kỹ năng trở nên vô nghĩa nếu

nó không được tác dụng lên một kiến thức nào đó Kỹ năng không mang tính bộ môn, chỉ có kiến thức mang tính bộ môn còn kỹ năng mang tính xuyên môn

Trang 23

Theo Xavier Roegers, có 4 cách tích hợp chia làm 2 nhóm lớn: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học; Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau

- Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm

học hay cuối cấp học Ví dụ, các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học được dạy riêng trong cả năm học, nhưng cuối năm hay cuối cấp có một phần về những vấn đề chung của khoa học tự nhiên hay những ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức các môn học mới giải quyết được tình huống có vấn đề Đặc trưng của Sinh học là phải vận dụng kiến thức các môn Vật lý, Hóa học rất nhiều

Những ứng dụng cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm cụ thể đều đặn trong năm học Ví dụ các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học được các

GV khác nhau giảng dạy riêng rẽ trong năm học nhưng bản chất chương trình đã

bố trí xen kẽ một số chương trình tích hợp liên môn giúp HS có sự liên hệ giữa kiến thức các môn học với nhau

- Phối hợp quá trình học tập các môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp

Cách này được áp dụng cho các môn học khác nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung nhau, thường dựa vào một số môn học

cơ bản như Văn, Toán Khi đó các môn học tích hợp do một GV giảng dạy Cách này phổ biến ở bậc tiểu, các tình huống cần giải quyết ở mức độ đơn giản Ví dụ bài tập đọc tích hợp kiến thức lịch sử, khoa học; bài toán tích hợp kiến thức dân

số, môi trường

Trang 24

thức về con người và sức khỏe, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội, động vật và thực vật, bầu trời và mặt đất

Càng lên các cấp học cao hơn thì hệ thống các khái niệm trong các môn học ngày càng phức tạp, bản chất và logic phát triển của mỗi môn học càng chặt chẽ, vì vậy mỗi môn học do một GV đảm nhiệm

1.1.5 Vai trò của tích hợp trong dạy học

Dạy học từng môn riêng rẽ giúp HS hình thành kiến thức khoa học một cách hệ thống, dạy học tích hợp giúp HS liên hệ kiến thức trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống

Dạy học tích hợp giúp HS trở thành người lao động tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống

Khuynh hướng dạy học theo hướng tích hợp cho phép rút ngắn được thời gian dạy học, đồng thời tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tin của chương trình và nội dung SGK phổ thông Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các bộ môn trong nhà trường phổ thông, nhất là tình trạng biệt lập giữa chương trình và SGK ở các cấp học, đặc biệt ở một số chương trình đồng tâm

Việc giảng dạy tích hợp rèn cho HS ý thức và kỹ năng vận dụng kiến thức

đã học để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập Đối với một số nội dung kiến thức, người GV chỉ nên giới thiệu ở chừng mực cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập Nhờ đó, có thể qua đó khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của người học Cần đánh giá cao những HS biết sử dụng kiến thức phân môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của phân môn khác Đó

là những thói quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện tiếp thu và vận dụng để

Trang 25

dễ dàng hơn phương pháp nghiên cứu liên ngành ở các bậc học cao hơn, cũng như khi vào đời, có khả năng giải quyết dễ dàng hơn các vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là tình huống tích hợp

Dạy học tích hợp giúp HS sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã học ở tất cả các môn vào giải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong nhà trường gần lại với kiến thức xã hội

Dạy học tích hợp giúp HS học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại

Ngoài ra, dạy học tích hợp còn đảm bảo cho HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách có hữu ích một tình huống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa gặp

HS có thể được học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các tư liệu học tập được biên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa học một cách hợp lý HS có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu PPDH của thầy thực sự chuyển hóa thành phương pháp dạy cách học cho trò, theo cách tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề mà HS là trung tâm, tập dượt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn

Hơn nữa, dạy học tích hợp giúp HS rèn luyện tư duy khái quát, năng lực liên hệ và mở rộng kiến thức; giúp HS dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức; giảm cường độ học tập cho HS…

Trang 26

rời cuộc sống hàng ngày cũng như không tách rời các môn học riêng rẽ mà có sự liên hệ các môn học với nhau và với thực tiễn cuộc sống Không còn sự tách rời hai thế giới nhà trường và thực tiễn cuộc sống, dạy học riêng rẽ từng môn học sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống nhưng khó áp dụng vào thực tiễn vốn mang các tình huống tích hợp Dạy học tích hợp nhằm nêu bật cách sử dụng kiến thức nhằm giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, giúp HS khi ra đời sẽ trở thành người lao động có ý thức và tự lập, người công dân có trách nhiệm với xã hội, người chủ của đất nước

Dạy học tích hợp giúp HS phát triển phối hợp nhiều kỹ năng, trong đó có những kỹ năng mà các môn học đơn lẻ khó hình thành được

 Tuy nhiên khi dạy học tích hợp cũng gặp phải những khó khăn sau:

- Cả GV và HS phải làm quen với PPDH mới Trong khi GV cũng như HS chủ yếu thụ động, sức ỳ lớn

- Nhìn chung, khối lượng kiến thức trong chương trình còn nặng so với nhận thức của HS

- Phần lớn ở các trường phổ thông, các tư liệu giảng dạy bổ sung cho bài giảng, các phương tiện dạy học còn thiếu

- Để dạy theo hướng tích hợp, GV phải mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu và soạn giáo án, lập kế hoạch dạy học

- Có thể nói hiện nay chưa có những bộ sách tham khảo chuẩn, tích hợp đầy đủ kiến thức liên quan đến môn học, quá nhiều sách tham khảo, trong khi chất lượng nhiều cuốn sách không đảm bảo, gây khó khăn cho HS

- Còn tỷ lệ khá lớn GV chưa đầy đủ kỹ năng và kiến thức để sử dụng các phương tiện dạy học và tư liệu dạy học để dạy học theo hướng tích hợp

Trang 27

 Khi vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học GV cần chú ý những điều sau:

- Dạy học tích hợp không chỉ dựa trên mục tiêu của môn học mà phải dựa trên mục tiêu của cả cấp học, mục tiêu của các bộ môn học khác trong chương trình dạy học

- GV phải biết vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các kỹ năng trong quá trình dạy học Quá trình dạy học tích hợp không thể thực hiện một cách máy móc mà GV cần chắt lọc kiến thức, chỉ dạy những kiến thức cần thiết, tránh sự lặp lại

- Quan điểm tích hợp trong dạy học phải được quán triệt trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, từ khâu xác định mục tiêu dạy học, lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến khâu kiểm tra – đánh giá

1.1.6 Ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Sinh học

Ngày nay sự xâm nhập của các khoa học vào nhau, mô hình nghiên cứu và ứng dụng khoa học được phát triển, đây là xu hướng phát triển của xã hội loài người Trong nghiên cứu khoa học, sự xâm nhập của lĩnh vực khoa học ngày càng sâu sắc và rộng rãi, là tất yếu khách quan do tính logic trong mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng tạo nên

Nghiên cứu Sinh học trong mối quan hệ với các khoa học khác cho phép làm sáng tỏ các kiến thức Sinh học và bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng Các hệ thống sống có sự tác động của các quy luật lý, hóa nhưng nó không làm mất đi đặc trưng của quy luật Sinh học Trong Sinh học, các phương pháp nghiên cứu Toán học, Vật lý, Hóa học thâm nhập một cách rộng rãi, các

Trang 28

Khi giải thích bản chất vật lý, hóa học của các quá trình, cơ chế Sinh học, hình thành ở HS quan điểm duy vật: sự thống nhất vật chất của tự nhiên gắn với đặc trưng khác biệt về chất của từng cấp cấp độ cấu trúc của vật chất Các quá trình vật lý, hóa học được thể hiện trong hệ thống sống nhưng bị chi phối bởi các quy luật của tổ chức sống [2].

Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ sinh học, Sinh học tập trung nghiên cứu thế giới sống ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô, có sự thâm nhập ngày càng mạnh

mẽ của các nguyên lý và phương pháp của nhiều ngành khoa học khác Các phương pháp thực nghiệm lý hóa giúp hiểu sâu hơn về cấu trúc của các tổ chức sống, cơ chế của các quá trình sống ở cấp độ phân tử và tế bào làm cho Sinh học ngày càng trở thành khoa học, chính xác Các phương pháp toán học giúp cho việc mô hình hóa các tổ chức sống phức tạp và tìm hiểu các quy luật vận động của chúng, đưa Sinh học từ trình độ thực nghiệm – phân tích lên thành tổng hợp – hệ thống Nếu trước kia Sinh học phát triển dựa vào các phương pháp sinh học thuần túy thì ngày nay các phương pháp phi sinh học có vai trò to lớn, Sinh học ngày càng thu hút sự đóng góp rộng rãi của nhiều môn khoa học khác Sinh học hiện đại đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, phát triển với nhịp độ rất nhanh, vừa phân hóa thành nhiều ngành nhỏ vừa hình thành những lĩnh vực liên ngành

Chính vì vậy để nâng cao chất lượng dạy học Sinh học nói chung và chất lượng dạy học Sinh học 11 nói riêng, quá trình dạy học cần đặt Sinh học vào mối quan hệ với các khoa học khác, cần tích hợp kiến thức các khoa học khác như công cụ làm sáng tỏ kiến thức Sinh học Với giới hạn của luận văn Thạc sỹ này, tôi nghiên cứu việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học những nội dung khó – Sinh học 11

Trang 29

cơ chế của quá trình, nêu được ảnh hưởng của môi trường, biết nguyên tắc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống)

* Về kỹ năng:

- Rèn luyện kỹ năng tư duy phân tích – quy nạp, chú trọng phát triển tư duy lý luận (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa…) đặc biệt là kỹ năng nhận biết, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và thực tiễn cuộc sống

- Rèn luyện kỹ năng, thí nghiệm thực hành trong phòng thí nghiệm trong thực tiễn sản xuất

- Phát triển kỹ năng học tập đặc biệt là kỹ năng tự học, kỹ năng thu thập

và xử lý thông tin, lập bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng làm báo cáo nhỏ và trình bày trước tập thể

Trang 30

* Về thái độ:

- Củng cố niềm tin vào thế giới quan khoa học trong việc nhận thức và giải thích bản chất của các hiện tượng của thế giới sống, tạo cho HS hứng thú tìm hiểu sự đa dạng trong hoạt động sống của thế giới sinh vật, xây dựng ý thức vaanjdungj các tri thức và kỹ năng học được vào thực tiễn cuộc sống lao động và học tập

- Xây dựng ý thức tự giác, thói quen bảo vệ thiên nhiện, bảo vệ môi trường sống, có thái độ và hành vi đúng đắn

- Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng

- Kiến thức lý thuyết cùng các thí nghiệm thực hành giúp HS nhận thức được vai trò quan trọng không thể thiếu được của thiên nhiên, có ý thức lao động sản xuất, có ý thức giữ gìn, bảo vệ sức khỏe của bản thân, tránh xa những tệ nạn

Trang 31

* Mục tiêu chương II:

- Nêu được cảm ứng là dấu hiệu đặc trưng của sự sống, cảm ứng có vai trò giúp sinh vật tồn tại và phát triển

- So sánh được các hình thức cảm ứng ở động vật và thực vật (về cơ chế, biểu hiện và vai trò) Trên cơ sở đó, xác định được sự thống nhất giữa sinh vật và môi trường sống

* Mục tiêu chương III:

- Nêu được sinh trưởng và phát triển là một trong những đặc điểm cơ bản của sự sống

- Nêu được cơ sở tế bào học của quá trình sinh trưởng và phát triển ở động vật và thực vật

- Phân biệt được sự khác nhau trong sinh trưởng và phát triển của thực vật

* Mục tiêu chương IV:

- Nêu được sinh sản là một trong những đặc điểm cơ bản của cơ thể sống

Trang 32

- Lý giải vai trò của sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài

- Giải thích được cơ chế điều hòa sinh sản dựa trên cơ sở khoa học của việc ứng dụng kiến thức sinh sản vào thực tiễn trồng trọt và chăn nuôi, chăm sóc

và bảo vệ sức khỏe ở người

1.2.1.2 Quan điểm xây dựng chương trình [35, tr 3 – 6].

* Đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, hiện đại, kỹ thuật và thiết thực:

Chương trình thể hiện được những tri thức cơ bản, hiện đại trong các lĩnh vực sinh học, ở các cấp tổ chức sống, đồng thời lựa chọn những vấn đề thiết yếu trong Sinh học có giá trị thiết thực cho bản thân HS và cộng đồng, ứng dụng vào đời sống, sản xuất, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường…

Chương trình phản ánh được những thành tựu mới của Sinh học, đặc biệt

là lĩnh vực công nghệ sinh học đang có tầm quan trọng trong thế kỷ XXI và vấn

đề môi trường có tính toàn cầu

Chương trình quán triệt được quan điểm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp để giúp HS thích ứng với các ngành nghề liên quan đến Sinh học

và tìm hiểu những ứng dụng kiến thức Sinh học trong sản xuất và đời sống

* Quán triệt quan điểm sinh thái và tiến hóa:

Chương trình quán triệt quán điểm sinh thái và tiến hóa thể hiện ở các đối tượng tìm hiểu được đặt trong mối quan hệ mật thiết giữa cấu tạo và chức năng giữa cơ thể và môi trường

Trang 33

Các nhóm sinh vật về cơ bản được trình bày theo hệ thống tiến hóa từ nhóm có tổ chức đơn giản đến nhóm có tổ chức phức tạp Các cấp tổ chức sống được trình bày từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn

* Thể hiện cấu trúc chương trình Trung học cơ sở và Trung học phổ thông:

Các kiến thức Sinh học trong chương trình Trung học cơ sở đề cập tới các đối tượng cụ thể (vi sinh vật, nấm, thực vật, động vật và con người), trong đó chủ yếu trình bày các kiến thức về cấu tạo và chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể, riêng lớp 9 đề cập tới các mối quan hệ di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường

Các kiến thức Sinh học trong chương trình Trung học phổ thông được trình bày theo các cấp tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: tế bào  cơ thể  quần thể - loài  quần xã  hệ sinh thái – sinh quyển, cuối cùng tổng kết những đặc điểm chung của các tổ chức sống theo quan điểm tiến hóa – sinh thái

Các kiến thức trình bày trong chương trình THPT là kiến thức sinh học đại cương, chỉ ra những nguyên tắc tổ chức, những quy luật vận động chung cho giới sinh vật Quan điểm này được thể hiện theo từng ngành nhỏ trong Sinh học:

Tế bào học, Di truyền học, Tiến hóa, Sinh thái học, đề cập đến những quy luật chung, không phân biệt từng nhóm đối tượng

Chương trình được thiết kế theo mạch kiến thức và theo kiểu đồng tâm,

mở rộng qua các cấp học như chương trình THPT dựa trên chương trình THCS

và được phát triển theo hướng đồng tâm, mở rộng Chương trình THCS đề cập tới các lĩnh vực Sinh học tế bào, Sinh lý học, Di truyền học, Sinh thái học ở mức

Trang 34

* Phản ánh phương pháp đặc thù của môn học:

Chương trình phản ánh sắc thái Sinh học là khoa học thực nghiệm, cần tăng cường phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực hành mang tính nghiên cứu, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS dưới sự hướng dẫn của GV Mặt khác, chương trình cần dành thời lượng thích đáng cho hoạt động ngoại khóa như tham quan cơ sở sản xuất, tìm hiểu thiên nhiên, đặc biệt là các lĩnh vực Vi sinh học, Di truyền học, Sinh thái học…

* Thể hiện sự tích hợp các mặt giáo dục và quan hệ liên môn:

Chương trình phải thể hiện được mối liên quan về kiến thức giữa các phân môn, các vấn đề có quan hệ mật thiết như giữa Tế bào học, Sinh lý học, Di truyền học, Tiến hóa, Tâm lý học, Giáo dục học Mặt khác, chương trình cần chú

ý tích hợp giáo dục môi trường, giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, giáo dục dân số, phòng chống ma túy và HIV/AIDS…

Chương trình còn thể hiện sự phối hợp kết hợp các môn học khác nhau như Toán học, Hóa học, Vật lý, Địa lý, Kỹ thuật nông nghiệp, Tâm lý học, Giáo dục học…

Về cấu trúc chương trình THPT thể hiện rõ quan điểm nghiên cứu sự sống theo các cấp tổ chức từ nhỏ đến lớn như phân tử, bào quan, tế bào, cơ thể, quần thể - loài, quần xã, hệ sinh thái – sinh quyển Mỗi cấp tổ chức đều nghiên cứu cấu trúc, hoạt động sống, mối quan hệ giữa các cấu trúc, giữa cấu tạo và chức năng hoạt động, giữa cấp tổ chức và môi trường

Về mặt logic nội dung, thế giới sống được cấu tạo nên từ thành phần nhỏ

là phân tử, các thành phần nhỏ kết hợp theo một thể thức riêng tạo nên cấp tổ chức cao hơn, nhưng về quá trình nhận thức có thể không phù hợp với logic khoa

Trang 35

học, nên tùy từng cấp học, lớp học mà chương trình được cấu trúc khác nhau như lớp 6, 7 nghiên cứu sự sống ở cấp cơ thể Nhưng lớp 10 lại nghiên cứu cấp độ từ phân tử đến tế bào, lớp 11 nghiên cứu cấp cơ thể nhưng chủ yếu là cơ thể đa bào,

và chủ yếu nghiên cứu hoạt động sinh lý

Kiến thức Sinh học được nghiên cứu ở THPT là kiến thức Sinh học đại cương, nó chỉ ra các nguyên tắc tổ chức, đồng thời chỉ ra quy luật vận động chung của thế giới sống

Chương trình Sinh học phổ thông được cấu trúc theo kiểu đồng tâm, xoáy

ốc từ THCS đến THPT

1.2.1.3 Cấu trúc chương trình

- Sinh học 11 củng cố, tiếp nối và phát triển những kiến thức Sinh học ở bậc học Trung học cơ sở và lớp 10 Sinh học 6 và sinh học 7 chủ yếu đề cập phân loại, đặc điểm hình thái và cấu tạo các cơ quan, hệ cơ quan của động vật và thực vật Sinh học 8 đề cập giải phẫu và sinh lý người Sinh học 10 đề cập sinh học ở mức tế bào, nghiên cứu cấu trúc và các chức năng sống trong phạm vi tế bào thực vật, động vật và vi sinh vật Sinh học 11 đề cập các hoạt động sống, các quá trình sinh học cơ bản ở mức cơ thể như chuyển hóa vật chất và năng lượng, cảm ứng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, mối quan hệ phụ thuộc giữa các quá trình sinh học ở mức cơ thể và mức tế bào, tác động của môi trường đến các quá trình sinh học của cơ thể

- Mỗi chương trong sinh học 11 được chia làm hai phần: phần A – Sinh học cơ thể thực vật, phần B – Sinh học cơ thể động vật Mặc dù được chia làm

Trang 36

và động vật có nguồn gốc thống nhất Sự khác biệt trong chức năng sống nói lên

sự đa dạng, sự tiến hóa thích nghi của động vật và thực vật với môi trường sống

- Trong cơ thể thực vật và động vật, giữa cấu tạo của các bộ phận (mô, cơ quan) phù hợp với chức năng

- Ở các cơ thể thực vật và động vật (từ mức độ cơ thể có tổ chức thấp đến mức độ cơ thể có tổ chức cao), các cơ quan và hệ cơ quan thể hiện xu hướng tiến hóa về cấu tạo và chức năng thích nghi với môi trường sống

- Sự phụ thuộc của cơ thể thực vật và động vật vào điều kiện sống Các thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể có thể làm thay đổi hoạt động của các cơ quan và hoạt động của toàn bộ cơ thể Tuy nhiên, thực vật và động vật đều có khả năng điều tiết, các hoạt động của cơ thể, giúp cơ thể thích ứng với điều kiện sống luôn thay đổi

- Liên hệ kiến thức đã học với một số hiện tượng tự nhiên có ở giới thực vật và động vật, nhận thức được khả năng con người có thể chủ động điều tiết các hoạt động sống của thực vật và động vật thông qua tác động lên các quá trình sinh lý của cơ thể

- Ứng dụng các kiến thức lý thuyết vào hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, bảo vệ môi trường, vào y học bảo vệ sức khỏe con người

Chương trình Sinh học 11 gồm 4 chương, mỗi chương gồm 2 phần, cụ thể như sau:

- Chương I: Giới thiệu về chuyển hóa vật chất và năng lượng, gồm 2 phần:

Phần A: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, gồm 14 bài, từ bài

1 đến bài 14, giới thiệu về sự chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cơ thể thực vật (trao đổi nước, trao đổi khoáng, quang hợp, hô hấp và các yếu tố ảnh hưởng đến các chức năng đó cũng như sự ứng dụng kiến thức vào tăng năng suất cây trồng)

Trang 37

Phần B: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật, gồm 7 bài, từ bài

15 đến bài 21, giới thiệu về sự chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cơ thể động vật (tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn và cân bằng nội môi)

- Chương II: Giới thiệu về cảm ứng, gồm 2 phần:

Phần A: Cảm ứng ở thực vật, gồm 3 bài, từ bài 23 đến bài 25, giới thiệu về hướng động (vận động định hướng) và ứng động (vận động cảm ứng)

Phần B: Cảm ứng ở động vật, gồm 8 bài, từ bài 26 đến bài 33, giới thiệu

về cảm ứng, điện thế nghỉ, điện thế hoạt động, xinap, tập tính của động vật

- Chương III: Giới thiệu về sinh trưởng và phát triển, gồm 2 phần:

Phần A: Sinh trưởng và phát triển ở thực vật, gồm 3 bài, từ bài 34 đến bài

36, giới thiệu về sinh trưởng sơ cấp và thứ cấp, hoocmon thực vật và sự phát triển ở thực vật

Phần B: Sinh trưởng và phát triển ở động vật, gồm 4 bài, từ bài 37 đến bài

40, giới thiệu về sinh trưởng phát triển qua biến thái và không qua biến thái ở động vật, vai trò của hoocmon động vật và ảnh hưởng của môi trường đối với sự sinh trưởng và phát triển của động vật và người

- Chương IV: Giới thiệu về sinh sản, gồm 2 phần:

Phần A: Sinh sản ở thực vật, gồm 3 bài, từ bài 41 đến bài 43, giới thiệu về sinh sản vô tính và hữu tính ở thực vật, các phương pháp nhân giống vô tính

Phần B: Sinh sản ở động vật, gồm 4 bài, từ bài 44 đến bài 47, giới thiệu về sinh sản vô tính, hữu tính ở động vật, cơ chế điều hòa sinh sản, điều khiển sinh

Trang 38

1.2.2 Thực trạng dạy học theo quan điểm tích hợp ở trường THPT

Qua quá trình dự giờ, thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp và trực tiếp giảng dạy chúng tôi nhận thấy rằng:

- Phần lớn HS coi việc học Sinh học là nhiệm vụ bắt buộc, chỉ một số ít yêu thích môn Sinh học còn đa số HS coi đây là môn học phụ, không yêu thích, không hứng thú

- Số đông HS chỉ quen lối học thuộc lòng, học vẹt do phương pháp học thụ động, máy móc theo kiểu đối phó Rất ít HS có thể vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết một vấn đề lý thuyết hay thực tế, số HS có phương pháp học chủ động sáng tạo chiếm tỷ lệ thấp

- Đa số HS khi học môn Sinh học không liên hệ với kiến thức đã học ở các

bộ môn khác

- Quá trình giảng dạy ở lớp chọn, bồi dưỡng đội tuyển HS giỏi cấp trường, cấp huyện và cấp tỉnh, quá trình bồi dưỡng đội tuyển giải toán máy tính gặp nhiều khó khăn do GV thiếu nguồn tài liệu tham khảo

- Đa số GV chưa có quan điểm đầy đủ về tích hợp, cũng như tích hợp dọc

và tích hợp ngang Trong số phiếu thu được thấy rằng GV đã có những hình

Trang 39

dung bước đầu về quan điểm tích hợp trong dạy học nhưng còn nhầm lẫn và không hiểu bản chất của tích hợp ngang và tích hợp dọc

- Đa số GV mới chỉ được tiếp cận quan điểm tích hợp trong dạy học thông qua sách giáo viên, còn những tài liệu sâu rộng về quan điểm tích hợp chưa đến được với GV

- Đa số GV chưa quan tâm lắm đến những vấn đề có tính chất lý thuyết, cụ thể ở đây là việc trang bị cho mình những kiến thức công cụ về vấn đề tích hợp

Đa số chỉ vận dụng một cách máy móc

- Đa số GV cho rằng mình đã sử dụng cả 2 cách tích hợp là tích hợp ngang

và tích hợp dọc trong dạy học Tuy nhiên thực tế là GV có sử dụng tích hợp tuy nhiên không hiểu rõ bản chất là tích hợp ngang hay tích hợp dọc

Qua phân tích chúng tôi thấy rằng GV đã có thái độ tích cực trong việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học, tuy nhiên chưa thực sự hiểu đúng bản chất của quan điểm tích hợp cũng như cách thức tích hợp Vì vậy nhà trường nên tạo điều kiện để GV tiếp cận dễ dàng hơn với những hướng dẫn, tài liệu nghiên cứu để GV nắm chắc hơn nữa bản chất quan điểm tích hợp để có sự vận dụng phù hợp và hiệu quả

Trang 40

Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC NHỮNG KIẾN THỨC KHÓ – SINH HỌC 11

2.1 Quy trình dạy học tích hợp

Nhằm phát triển năng lực ở người học, để quá trình dạy học tích hợp được hiệu quả, người GV cần có một kế hoạch dạy học cụ thể Trước tiên, cần xác định rõ mục tiêu tích hợp, tìm vấn đề tích hợp, xác định mức độ tích hợp và chọn thời điểm tích hợp hợp lý

Về hình thức, tích hợp có thể được thực hiện thông qua câu hỏi chứa đựng nội dung tích hợp; tích hợp thông qua bài giảng của GV; tích hợp thông qua phần củng cố cuối bài học; tích hợp thông qua việc sử dụng các phương tiện dạy học và tích hợp thông qua giao các bài tập cho HS

2.1.1 Xác định mục đích tích hợp

Mục đích dạy học tích hợp các kiến thức thuộc các bộ môn Toán học, Vật

lý, Hóa học vào bài giảng Sinh học nhằm làm sáng tỏ bản chất quá trình Sinh học, các quy luật Sinh học Kiến thức thuộc các bộ môn khác nhau có mối quan

hệ mật thiết với nhau, có sự bổ sung kiến thức cho nhau Qua đó, người học có thể hiểu rõ hơn bản chất vấn đề

Ngoài ra, việc tích hợp các mặt giáo dục vào bài giảng Sinh học giúp HS rèn luyện các kỹ năng học tập cần thiết, giúp HS vận dụng những gì đã học được trong nhà trường để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

2.1.2 Tìm vấn đề tích hợp

- Vấn đề tích hợp phải là vấn đề trọng tâm hay vấn đề khó, vấn đề quan trọng của bài học

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo (2003), “Cơ sở lý luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm”, Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm”, "Kỷ yếu 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam
Tác giả: Đinh Quang Báo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2003
2. Đinh Quang Báo (1996), Lý luận dạy học Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
3. Lê Khánh Bằng, Đặng Văn Đức (1995), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Lê Khánh Bằng, Đặng Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1995
4. Bộ GD – ĐT (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 11 môn Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 11 môn Sinh học
Tác giả: Bộ GD – ĐT
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
5. Lê Anh Chới (2003), “Dạy ngữ văn theo hướng tích hợp”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy ngữ văn theo hướng tích hợp
Tác giả: Lê Anh Chới
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
Năm: 2003
6. Nguyễn Xuân Cường (2008), “Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học nghề điện trong các trường dạy nghề của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, Luận văn Thạc sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học nghề điện trong các trường dạy nghề của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Tác giả: Nguyễn Xuân Cường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
7. Hồ Ngọc Đại (1994), Tâm lý học dạy học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1994
8. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) (2008), Sinh học 11. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 11
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
9. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) (2007), Sinh học 11 – Sách giáo viên. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 11 – Sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
10. Bùi Văn Đường (2002), “Tích hợp trong dạy học ngữ văn bậc THCS”, Tạp chí Giáo dục, số 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học ngữ văn bậc THCS”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Bùi Văn Đường
Năm: 2002
11. Trịnh Hữu Hằng, Đỗ Công Huỳnh (1999), Sinh lý học người và động vật. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học người và động vật
Tác giả: Trịnh Hữu Hằng, Đỗ Công Huỳnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1999
12. Trần Bá Hoành, “Dạy học tích hợp”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
13. Trần Bá Hoành (2002), Đại cương phương pháp dạy học Sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương phương pháp dạy học Sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
14. Trần Bá Hoành (2000), “Định hướng việc tích hợp đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ trong các giáo trình ở Đại học sư phạm”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2, tr. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng việc tích hợp đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ trong các giáo trình ở Đại học sư phạm
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
Năm: 2000
15. Trần Bá Hoành (1999), “Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên”, "Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1999
16. Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao (2000), Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
17. Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức (1997), Giáo dục học đại cương II. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương II
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 1997
18. Nguyễn Thanh Hùng (2006), “Tích hợp trong dạy học ngữ văn”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học ngữ văn”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2006
19. Nguyễn Thế Hưng (2007), “Một số kinh nghiệm để có một bài giảng hay”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Đại học Sư phạm Huế, tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm để có một bài giảng hay”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng
Năm: 2007
20. Nguyễn Thế Hưng (2007), “Nâng cao chất lượng dạy học một số kiến thức khó môn Sinh học – Trung học phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 192, tr. 40 – 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng dạy học một số kiến thức khó môn Sinh học – Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.4: Hấp thủy kế. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.4 Hấp thủy kế (Trang 76)
Hình 2.8: Quang phổ hấp thụ của Chlorophin a và Chlorophin b. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.8 Quang phổ hấp thụ của Chlorophin a và Chlorophin b (Trang 86)
Hình 2.9: Sơ đồ giải thích lá cây có màu xanh. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.9 Sơ đồ giải thích lá cây có màu xanh (Trang 87)
Hình 2.13: Sơ đồ quá trình nitrat hóa với các enzim xúc tác. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.13 Sơ đồ quá trình nitrat hóa với các enzim xúc tác (Trang 110)
Hình 2.14: Sơ đồ chu trình Nitơ trong tự nhiên. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.14 Sơ đồ chu trình Nitơ trong tự nhiên (Trang 112)
Hình 2.20: Sơ đồ cấu tạo của các phycobilin. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.20 Sơ đồ cấu tạo của các phycobilin (Trang 121)
Hình 2.22: Đo tốc độ quang hợp của cây thủy sinh (Elodea). - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.22 Đo tốc độ quang hợp của cây thủy sinh (Elodea) (Trang 123)
Hình 2.25: Phản ứng sáng của quang hợp. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.25 Phản ứng sáng của quang hợp (Trang 127)
Hình 2.26: Sơ đồ quang hệ I và quang hệ II. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.26 Sơ đồ quang hệ I và quang hệ II (Trang 128)
Hình 2.27: Phản ứng tối của quang hợp. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.27 Phản ứng tối của quang hợp (Trang 129)
Hình 2.28: Chu trình Crep (Chu trình axit tricacboxilic – ATC). - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.28 Chu trình Crep (Chu trình axit tricacboxilic – ATC) (Trang 136)
Hình 2.32: Các mức năng lượng tự do và những sản phẩm trung gian - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.32 Các mức năng lượng tự do và những sản phẩm trung gian (Trang 149)
Hình 2.33: Chu trình axit xitric. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.33 Chu trình axit xitric (Trang 150)
Hình 2.34: Giai đoạn dẫn truyền hydro và tổng hợp ATP trong hô hấp hiếu khí. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 2.34 Giai đoạn dẫn truyền hydro và tổng hợp ATP trong hô hấp hiếu khí (Trang 150)
Hình 3.1: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 1. - Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11
Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 1 (Trang 169)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w