Để GV phổ thông có một nguồn tư liệu dạy học điện tử Hoá học 11 nâng cao phong phú, chính xác, khoa học, dễ dàng khai thác, sử dụng theo hướng mở, phù hợp với mục tiêu, phương pháp dạy h
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN! i
DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay: 7
1.1.1 Phương hướng chung 7
1.1.2 Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay 8
1.2 Phương tiện dạy học và đổi mới phương tiện dạy học hóa học THPT 19
1.2.1 Phương tiện dạy học hóa học 19
1.2.2 Sử dụng phương tiện dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực 21
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 26
1.4 Cơ sở lí luận về tư liệu điện tử (TLĐT) 28
1.4.1 Khái niệm tư liệu điện tử 28
1.4.2 Đặc điểm của tư liệu điện tử 29
1.4.3 Những ưu điểm và hạn chế của tư liệu điện tử 29
1.4.4 Sử dụng một số phần mềm để xây dựng tư liệu điện tử 30
1.5 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông 31
1.5.1 Điều tra thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông 31 1.5.2 Nhận xét về thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
Trang 2có ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học trong trường trung
học phổ thông 33
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU DẠY HỌC ĐIỆN TỬ HÓA HỌC 11 - NÂNG CAO 35
2.1 Phân tích cấu trúc chương trình sách giáo khoa phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học lớp 11 nâng cao 35
2.1.1 Mục tiêu Chương 8: Dẫn xuất halogen, ancol – phenol 36
2.2 Xây dựng hệ thống tư liệu dạy học điện tử cho phần dẫn xuất hiđrocacbon chương trình hóa học lớp 11 nâng cao Trung học phổ thông 37
2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn xây dựng TLĐT 37
2.2.2 Công cụ thiết kế tư liệu điện tử (Giới thiệu phần mềm Lectora) 39
2.2.3 Quy trình xây dựng TLĐT 40
2.2.4 Thiết kế TLĐT phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao 41
2.2.5 Sử dụng tư liệu điện tử phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 để nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng tích cực 51
2.2.6 Gợi ý về phương pháp sử dụng các tư liệu dạy học điện tử phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao 63
2.3 Thiết kế hoạt động dạy học cho các tư liệu điện tử ở một số bài thuộc phần hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao 69
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 81
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 81
3.3 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 81
3.3.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 81
3.3.2 Chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 82
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 83
3.5 Xử lý kết quả thực nghiệm 83
3.5.1 Kết quả đánh giá của GV và HS 83
Trang 33.5.2 Đánh giá định lượng 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Trang 4
DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Địa điểm điều tra 32
Bảng 1.2 Thâm niên công tác 32
Bảng 1.3 Tỉ lệ % các phương pháp thường dùng 32
Bảng 1.4 Ảnh hưởng của cơ sở vật chất 33
Bảng 2.1 Gợi ý lựa chọn phương pháp dạy học cho các tư liệu dạy học điện tử phần hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao 63
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá của giáo viên về đĩa tư liệu dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao 83
Bảng 3.2 Bảng tiêu chí Cohen 87
Bảng 3.3.Bảng tiêu chí Hopkins 87
Bảng 3.4 Kết quả bài kiểm tra của các lớp ĐC và TN của chương 8, chương 9 88
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra chương 8 của 4 lớp 89
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra chương 9 của 4 lớp 90
Bảng 3.7 Bảng phân loại kết quả học tập 91
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng các lớp TN, lớp ĐC của trường THPT Dương Xá và THPT Yên Viên 92
Bảng 3.9: Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng xử lí bằng phần mềm 92
Bảng 3.10 Bảng hệ số tương quan rSB 93
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Trang chủ của tư liệu điện tử 42
Hình 2.2 Chương 8 : Dẫn xuất halogen – Ancol - Phenol 42
Hình 2.3 Chương 9 : Anđehit – xeton – Axit cacboxylic– Tư liệu điện tử 43
Hình 2.4 Bài 51: Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon– Tư liệu điện tử 43
Hình 2.5 Bài 51/ mục III- Tính chất hóa học/ 51.8 /+ Cơ chế SN1 44
Hình 2.6 Tư liệu 51.8 /+ Cơ chế SN1 – Tư liệu điện tử 45
Hình 2.7 Tư liệu 55.5 Phenol tác dụng với dd NaOH- Tư liệu điện tử 46
Hình 2.8 Tư liệu 51.13 Chất CFC và sự phá hủy tầng Ôzon - Tư liệu điện tử 46
Hình 2.9 Tư liệu 51.1 Phản ứng Clo hóa Metan - Tư liệu điện tử 47
Hình 2.10 Tư liệu 51.5 Danh pháp thông thường - Tư liệu điện tử 48
Hình 2.11 Tư liệu 51.3 Dẫn xuất halogen không no - Tư liệu điện tử 48
Hình 2.12 Tư liệu 51.12 Nhựa PVC và môi trường - Tư liệu điện tử 49
Hình 2.13 Tư liệu Bài 52: Luyện tập dẫn xuất halogen - Tư liệu điện tử 50
Hình 2.14 Tư liệu A Hướng dẫn xây dựng tư liệu điện tử 50
Hình 2.15 Tư liệu B Hướng dẫn sử dụng tư liệu điện tử 51
Hình 2.16: Tư liệu 55.6 Phenol tác dụng với dung dịch Brom- Tư liệu điện tử 54
Hình 2.17: Tư liệu 54.1 Phản ứng của ancol etylic với Na - Tư liệu điện tử 56
Hình 2.18: Tư liệu 55.1: Phân biệt phenol và ancol thơm - Tư liệu điện tử 57
Hình 2.19: Tư liệu 51.9: Mô phỏng phản ứng thế Cl bằng nhóm OH- TLĐT 58
Hình 2.20: Tư liệu 53.6 : Hằng số vật lí của một số ancol - Tư liệu điện tử 60
Hình 2.21: Tư liệu 54.9 : Quy trình nấu rượu ngô Bắc Hà- Tư liệu điện tử 61
Hình 2.22: Tư liệu 55.8 : Nhân chứng chất độc màu da cam- Tư liệu điện tử 62
Hình 3.1 Đường tích lũy bài kiểm tra chương 8 89
Hình 3.2 Đường tích lũy bài kiểm tra chương 9 90
Hình 3.3 Biểu đồ phân loại kết quả học tập của học sinh chương 8 91
Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả học tập của học sinh chương 9 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông ( ICT- Information and Communication Technology) đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có giáo dục Trong bối cảnh đó, nền giáo dục nước ta đã và đang đổi mới theo hướng ứng dụng ICT và thiết bị hiện đại nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học
Những năm gần đây, ngành giáo dục nước ta chú trọng đặc biệt đến việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học như là một hướng đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Chỉ thị 29/2001/CT BGD-ĐT của Bộ trưởng BGD&ĐT ngày 30/7/2001 và chỉ thị số 55/2008/CTBGDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ
thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 20082012 đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy và học
ở từng cấp học" Gần đây nhất Bộ GD&ĐT đã ra công văn số 4960/BGDĐT-CNTT
ngày 27/7/2011 về việc thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011-2012 Yêu cầu các sở GDĐT hướng dẫn xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm h ọc 2011 – 2012 nhằm đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và ứng dụng công nghệ thông tin m ột cách thiết thực và hiệu quả trong công tác quản lý của nhà trường và công tác đào tạo nguồn nhân lực về công nghệ thông tin Các sở GDĐT giao bộ phận chuyên trách về CNTT xây dựng kế hoạch dạy, học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đo ạn 2011-2015 Bộ GDĐT (Cục CNTT) hướng dẫn khung xây dựng kế hoạch Dự án ứng dụng CNTT cần xây dựng trên tinh thần hiệu quả, tiết kiệm, tránh trùng lặp và cần có công nghệ
hiện đại song phù hợp với điều kiện thực tế
Qua đó vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường phổ thông hiện nay đang có những chuyển biến rõ rệt và đã cho những hiệu quả thiết thực trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn hóa học nói riêng Đối với giáo viên phổ thông để ứng dụng CNTT vào dạy học, cần có một nguồn tài liệu dạy học
Trang 8phong phú, chính xác và khoa học Các nguồn tài liệu này có thể khai thác từ nhiều nguồn khác nhau : Các đĩa CDROM phần mềm tư liệu dạy học trong và ngoài nước, từ internet, từ trao đổi tư liệu sưu tầm của giáo viên…
Thực tế cho thấy, hầu hết việc ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên còn mang tính tự phát, nên có rất nhiều tư liệu được xây dựng chưa phù hợp với nội dung kiến thức, cũng như phương pháp dạy học
Muốn có được tư liệu dạy học điện tử một cách hữu ích, người giáo viên bên cạnh thời gian sưu tầm tư liệu còn phải bỏ nhiều thời gian cho việc lựa chọn tư liệu, tìm hiểu tư liệu và cách khai thác và sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả
Để GV phổ thông có một nguồn tư liệu dạy học điện tử Hoá học 11 nâng cao phong phú, chính xác, khoa học, dễ dàng khai thác, sử dụng theo hướng mở, phù
hợp với mục tiêu, phương pháp dạy học và đối tượng học tập thì việc “Xây dựng và
hướng dẫn khai thác sử dụng tư liệu dạy học điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao, trung học phổ thông theo hướng dạy học tích cực” là rất cần thiết, có ý nghĩa
cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông,
việc tự học qua mạng, qua hệ thống E-learning và các E-book đang được phổ biến rộng rãi Người học có thể học bất cứ lúc nào, bất kì ở đâu, với bất kì ai, học những vấn đề mà bản thân quan tâm, phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với yêu cầu công việc …qua đó mỗi cá nhân có thể tự bổ sung ngu ồn tri thức cho chính mình Trên mạng Internet đã xuất hiện rất nhiều website viết về học tập như: violet.vn, hocmai.vn, onthi.com, onbai.com Cũng có không ít các website về Hoá học cung cấp các tư liệu điện tử để giúp cho GV và HS phổ thông có thể tham khảo
để dạy và học nhưng đối với GV và HS phổ thông sẽ chưa thực sự thuận lợi khi tìm kiếm kiến thức bộ môn bởi lẽ đa số các trang web trên là những trang web mở , các
tư liệu mà các thành viên cung cấp có thể chưa được kiểm định một cách chính xác
Trang 9Bên cạnh đó đã có khá nhi ều đề tài về thiết kế trang web, e-book ,thư viện tư liệu điện tử từ khóa luận tốt nghiệp của sinh viên đến các luận văn thạc sỹ của học viên cao học như:
- Phạm Ngọc Bằng (2004) Nghiên cứu và xây dựng phần mềm một số mô
phỏng để dạy các bài về sản xuất hoá học trong chương trình phổ thông Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPHN
- Nguyễn Thị Ánh Mai (2006) Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các
chương về lí thuyết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT Luận văn Thạc sĩ
khoa học giáo dục, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thị Kim Ánh (2007) Thiết kế giáo trình điện tử và áp dụng phương
pháp dạy học vi mô để rèn luyện một số kĩ năng dạy học, góp phần nâng cao năng lực tự học cho sinh viên khoa Hóa học ĐHSP Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPHN
- Phạm Ngọc sơn ( 2007) Đồ họa cơ chế phản ứng Hóa hữu cơ Luận văn
thạc sĩ khoa học giáo dục/ Phạm Ngọc sơn ĐHSP Hà Nội
- Đinh Thị Hồng Nhung (2007) Thiết kế E -book hoá học vô cơ 11 ban nâng
cao Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội
- Nguyễn Thúy Hằng (2008) Thiết kế E-book hóa học lớp 12 nâng cao phần
kim loại Đại học Sư phạm Hà Nội
- Lê Thị Dạ Thảo (2008) Thiết kế E-book hóa học lớp 11 phần hữu cơ ban
KHTN Đại học Sư phạm Hà Nội
- Nguyễn Thị Thủy (2008) Sử dụng công nghệ thông tin để đánh giá và xây
dựng phần mềm kiểm tra hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phần hóa học cơ
sở góp phần nâng cao năng lực tự kiểm tra đánh giá của học sinh chuyên hóa Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHGD-ĐHQGHN
- Hoàng Anh Tuấn (2010) Xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu điện tử môn
hoá học lớp 12 góp phần đổi mới phương pháp dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPHN
Trang 10- Nguyễn Trí Ngẫn (2010) Thiết kế E-book hỗ trợ học sinh tự học phần kim
loại hóa học lớp 12 chương trình nâng cao, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPTPHCM
- Trịnh Lê Hồng Phương (2011) Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ dạy và học
phần cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học – chương trình trung học phổ thông chuyên, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, trường ĐHSPTPHCM
Trên đây chúng tôi mới chỉ liệt kê tên đề tài của một số khoá luận tốt nghiệp
và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến ứng dụng CNTT trong dạy và học hoá học, còn khá nhiều các khoá luận tốt nghiệp luận văn thạc sĩ khác nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên các khoá luận, luận văn đều có ưu điểm chung
là góp phần nâng cao hiệu quả cho việc tự học, tự nghiên cứu kiến thức của học sinh, cung cấp tư liệu cho GV và học sinh tham khảo để dạy học và tự học Bên cạnh những ưu điểm các đề tài nghiên cứu còn một số tồn tại sau:
- Một số website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được
- Một số tư liệu trên các website mở chưa được kiểm định chất lượng một cách chắc chắn từ những tổ chức kiểm định có thẩm quyền
- Các tư liệu điện tử còn chưa được đa dạng phong phú, chủ yếu dưới dạng tư liệu chưa có sự hướng dẫn sử dụng trong dạy học như thế nào cho có hiệu quả
- Phần dẫn xuất hiđrocacbon là phần nội dung khó nên các đề tài chưa khai thác được sâu và vốn tư liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy
và học tập chưa đa dạng
3 Mục đích nghiên cứu
Sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học lớp phần dẫn xuất hiđrocacbon lớp 11 nâng cao và đề xuất biện pháp sử dụng hệ thống tư liệu điện tử đó góp phần đổi mới phương pháp dạy và học hóa học ở trường phổ thông hiện nay
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng dạy học tích cực Việc sử dụng các phương tiện dạy học hóa học và vấn đề
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
4.2 Phân tích nội dung chương SGK Hóa học 11 nâng cao ( đặc biệt phần Hóa học
hữu cơ) làm cơ sở cho việc sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu điện tử hỗ trợ cho
GV trong dạy học môn hóa học ở trường phổ thông
4.3 Xây dựng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học 11 nâng cao, chương 8: Dẫn
xuất halogen Ancol-Phenol và chương 9: Andehit-Xeton- Axit cacboxylic
4.4 Hướng dẫn khai thác sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử tạo điều kiện cho
giáo viên sử dụng dễ dàng trong quá trình dạy học
4.5 Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống tư
liệu điện tử sử dụng trong dạy học hóa học 11 THPT
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT
5.2 Đối tượngnghiên cứu: Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống tư liệu điện
tử Hóa học 11 nâng cao theo hướng dạy học tích cực
6 Phạm vi nghiên cứu
Chương 8 : Dẫn xuất halogen Ancol - Phenol
Chương 9: An đehit – Xeton – Axitcacboxylic
Hoá học 11 nâng cao – Trung học phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết (Phương pháp phân tích, tổng hợp,
lý luận, mô hình hoá, chuyên gia, sưu tầm tài liệu…)
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (dự giờ học tập và trao đổi kinh nghiệm, phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm,…)
- Nhóm phương pháp toán học (phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục, )
Trang 128 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống tư liệu dạy học điện tử (dưới dạng Web)
phong phú , sắp xếp một cách khoa học và hướng dẫn khai thác sử dụng hệ thống
tư liệu dạy học điện tử theo hướng dạy học tích cực một cách cụ thể sẽ giúp cho giáo viên sử dụng một cách dễ dàng thuận tiện, góp phần đổi mới phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông
9 Đóng góp mới của đề tài
9.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, vai
trò của CNTT và vấn đề sử dụng CNTT trong dạy học hóa học Điểu tra phân tích thực trạng việc sử dụng các ứng dụng của CNTT trong dạy học nói chung và môn hóa học nói riêng ở một số trường THPT thuộc thành phố Hà Nội
9.2 Xây dựng hệ thống các tư liệu hình ảnh ( tĩnh , động), movie thí
nghiệm, thí nghiệm mô phỏng thiết kế dưới dạng Single file Executable (exe) và
đề xuất cách sử dụng hệ thống tư liệu điện tử đó trong dạy học theo hướng dạy học tích cực
9.3 Thiết kế các hoạt động dạy học có sử dụng tư liệu điện tử theo phương
pháp dạy học tích cực cho 7 bài thuộc chương 8,9 Hóa học 11 – Nâng cao và tiến hành TNSP
10 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học
Chương 2: Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học 11 nâng cao – Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay: [12], [13], [14]
1.1.1 Phương hướng chung
Với sự phát triển của các mạng khoa học - công nghệ tạo nên những bước nhảy vọt trong thời buổi hiện nay đã đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghệ sang kỷ nguyên thông tin và phát triển tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội hiện nay Vì thế mà khoảng cách giữa các phát minh khoa học - công nghệ và áp dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp; kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng
đa dạng, phong phú và tăng theo cấp số nhân
Với sự phát triển của các quốc gia hiện nay thì nó càng đòi hỏi phải tăng suất lao động, năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, internet đã tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hóa, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc dân tộc
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh chóng hơn Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh
tế - xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thệ hệ hiện nay và mai sau
Đổi mối giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó
Trang 14chặt chẽ với nghiên cứu khoa học- công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục
từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển
Vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước
Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yêu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học
1.1.2 Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay[12]
1.1.2.1 Dạy học hướng vào người học
Đây là quan điểm được đánh giá là tích cực vì việc dạy học chú trọng v ào người học để tìm ra phương pháp d ạy học có hiệu quả Có thể nhấn m ạnh một số điểm quan trọng trong phương pháp dạy học hướng vào người học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho học sinh thich nghi với đời sống xã hội Tôn trọng nhu cầu, khả năng, hứng thú và lợi ích của học sinh
- Về nội dung : Chú trọng việc bồi dưỡng kĩ năng thực hành , vận dụng kiến thức, năng lực để giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn , hướng vào sự chuẩn bị kiến thức cho học sinh hòa nhậ p với xã hội Dạy học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động Khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải đối từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng; “từ
Trang 15học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”
- Về phương pháp: Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh ho ạt động độc lập hoặc theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích bảng số liệu…) thông qua đó học sinh v ừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được rèn luyện về phươn g pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu Giáo viên quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể học sinh để xây dựng bài học Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh Những
dự kiến của giáo viên ph ải được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh
và cách tổ chức các hoạt động đó, cùng với khả năng diễn biến các hoạt động của học sinh để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, thực hiện giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của học sinh , tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi em
- Về hình thức tổ chức dạy học : Không khí lớp học thân mật tự chủ , bố trí lớp học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học Giáo
án bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hóa , tạo điều kiện cho sự phát triển năng khiếu của từng cá nhân
- Về kiểm tra đánh giá: Giáo viên đánh giá một cách khách quan , học sinh tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước vào một phần mới của chương trình Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại
kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ
và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tình huống thực tế Nội dung kiểm tra cần chú ý đến các mức độ: Tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo kết hợp với các phương tiện kĩ thuật sẽ tạo điều kiện tăng nhịp độ
Trang 16kiểm tra, giúp học sinh có thể thường xuyên tự kiểm tra, làm giảm nhẹ lao động chấm bài của giáo viên
- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc sống
Như vậy việc dạy học hướng vào người học đã đặt người học vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học, với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội, đó chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học hướng vào người học
1.1.2.2 Dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học”
- Bản chất của dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học” là định hướng người học đến việc giải quyết các vấn đề, dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích cực của người học Sử dụng phương tiện, kĩ thuật trong dạy học đặc biệt là công nghệ thông tin, hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá Theo hướng đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất:
+ Học sinh phải hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt
là hoạt động tư duy
+ Dựa vào tính đặc thù của bộ môn để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng và phong phú trong giờ học
+ Hướng đẫn học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập
- Học tập và sáng tạo - Vai trò mới của người giáo viên: Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của học sinh Để học sinh học tập tích cực tự giác cần làm cho học sinh biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân ḿ ình Để có tư duy sáng tạo th́ phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập Muốn vậy ngay trong bài học
Trang 17đầu tiên của môn học phải đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu,người khám phá Ngược lại nhờ cách học nghiên cứu khám phá và cách học sáng tạo đó mà học sinh nắm vững kiến thức , biết sử dụng kiến thức mét cách linh hoạt rồi tiếp tục sáng tạo
ra cái mới Cách tốt nhất để h́nh thành và phát triển năng lực nhận thức , năng lực sáng tạo của học sinh là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, h́nh thành quan điểm đạo đức Vì vậy cần phải coi xây dựng phong cách “học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới PPDH
Ngày nay việc học tập của học sinh mang nhiều ý nghĩa tự học , c̣òn người giáo viên cần chú ý đến dạy cách học thông qua quá trình dạy học Trong khi khẳng định vai tṛ ò của người giáo viên không hề suy giảm, cần phải thấy rằng tính chất của vai tṛò này đã thay đổi: người GV không phải là nguồn phát thông tin duy nhất, không chỉ lo truyền thụ kiến thức, không phải là người làm mọi việc cụ thể trên lớp Trách nhiệm chủ yếu của GV là làm các công việc sau:
+ Thiết kế: Lập kế hoạch, chuẩn bị kế hoạch dạy học, bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và h́ ình thức tổ chức (tức là soạn giáo án theo những yêu cầu mới, có chỉ rõ mục tiêu, nội dung, cách tổ chức và điều khiển họat động của HS, chỉ rõ hệ thống họat động của HS )
+ Ủy thác, tạo động cơ: Biến ý đồ của dạy học của GV thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của HS
+ Điều khiển: Điều khiển và tổ chức hoạt động của HS theo cá nhân hay nhóm, kể cả điều khiển về mặt tâm lý, bao gồm sự động viên, trợ giúp, đánh giá
+ Thể chế hoá: Biến những kiến thức riêng của từng HS thành tri thức khoa học của xã hội mà HS cần tiếp thu, tạo điều kiện cho HS vận dụng tri thức thu được
để giải quyết một số vấn đề liên quan trong đời sống và sản xuất
- Các biện pháp hoạt động hoá người học:
+ Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo ra các h́nh thức hoạt động đa dạng
phong phú giúp HS chủ động tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng trong giê học như:
Tăng cường sử dụng TN hoá học, các phương tiện trực quan
Trang 18Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều h́ ình thức hoạt động của HS như :
TN, dự đoán lí thuyết, mô h́ình hoá, giải thích, thảo luận nhóm giúp HS được hoạt động tích cực chủ động
+ Đổi mới hoạt động học tập của HS và tăng thời gian dành cho HS hoạt
động trong giờ học Hoạt động của GV chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn, điều
khiển các hoạt động và tư duy của HS khi giải quyết các vấn đề học tập thông qua các hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm GV cần động viên HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động Việc tăng thời gian hoạt động của HS có thể thực hiện bằng nhiều cách như:
Giảm thuyết tŕ ình của GV xuống dưới 40-50% thời gian của một tiết học , tăng đàm thoại giữa thầy và tṛ ò, trong đó ưu tiên sử dụng PP đàm thoại nêu vấn đề Tập luyện cho HS được thảo luận, tranh luận
Khi HS nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp, GV cần đặt ra những câu hỏi tổng hợp, HS phải so sánh, khái quát hóa, suy luận nhằm khắc sâu và vận dụng sáng tạo kiến thức Cần yêu cầu HS phát biểu nội dung theo ý hiểu của các em
mà không phụ thuộc vào từng từ trong sách
Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn PP học tập của HS trên cơ sở luyện tập cho HS được trình bày về PP tiếp cận vấn đề và vận dụng tổng hợp, sáng tạo kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập hay trong thực tiễn
+ Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực sáng tạo của HS Có thể thực hiện biện pháp này bằng nhiều cách như:
Thường xuyên sử dụng tổ hợp PPDH phức hợp - dạy học nêu vấn đề và dạy cho HS giải quyết các vấn đề học tập (bài toán nhận thức) và các vấn đề có liên quan đến thực tiễn từ thấp đến cao
Tăng cường sử dụng các câu hỏi, bài tập để HS phải suy luận, sáng tạo, trong
đó có các bài tập sử dụng h́ình vẽ
Từng bước đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá cao (và ngày càng cao) những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS và đánh giá cao kiến thức về
Trang 19TN hoá học, kĩ năng thực hành cũng như kĩ năng biết vận dụng sáng tạo kiến thức
để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thực tiễn
+ Sử dụng phương tiện kĩ thụât dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin
trong dạy học hoá học Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm: đèn chiếu, máy
chiếu phim, rađio, cacset, tivi, camera, máy vi tính …,cùng các giá mang thông tin như: bản trong (sử dụng cho máy chiếu hắt ), phim, đĩa và băng từ (sử dụng cho camera, máy vi tính, đầu kĩ thuật số…)
Máy chiếu hắt được sử dụng để tŕnh chiếu các h́ ình ảnh tĩnh được in lên bản trong, do đó có thể vẽ , in các h́ình vẽ, sơ đồ, bài tập, câu hỏi hệ thống hoá…để tiết kiệm thời gian dành cho HS hoạt động
Sử dụng máy chiếu đa năng kết hợp cùng với máy vi tính cho phép ta đưa ra các h́ình ảnh động phục vụ rất tốt cho việc mô tả các quá tŕnh hoá học , giúp các em
dễ dàng tưởng tượng hơn, tiết kiệm được thời gian hơn…
Hiện nay đã có nhiều phần mềm hoá học do các tác giả trong nước và các phần mềm của nước ngoài phục vụ rất tốt cho việc dạy học hoá học ở trường phổ thông như: phầm mềm xây dựng bài tập trắc nghiệm, TN ảo, biểu diễn cấu tạo không gian của hợp chất hữu cơ, mô phỏng, đĩa CD, TN hoá học …
1.1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực.[12]
Phương pháp dạy và học tích cực phát triển ở học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, do đó nó đề cao vai trò của học sinh: Học bằng hoạt động, thông qua hoạt động của chính bản thân mình mà học sinh chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và phẩm chất đạo đức, còn giáo viên chủ yếu giữ vai trò người
tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện thành công các hoạt động học tập Có thể nêu ra các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy và học tích cực là:
- Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết Khi giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình huống, họ được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, được làm thí nghiệm, được
Trang 20khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của người học Qua đó, người học không những chiếm lĩnh các kiến thức và kĩ năng mới mà còn làm chủ được cách thức xây dựng kiến thức, do đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội được rèn luyện
- Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát triển các năng lực mà họ có thể sử dụng trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường,
ở hiện tại cũng như trong tương lai
- Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự học từ đó mà tạo cho học sinh sự hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khởi động lòng ham muốn vốn có trong mỗi học sinh để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển, xã hội tri thức
- Những phương pháp dạy học chú trọng đến việc tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác theo nhóm, lớp học Khi áp dụng phương pháp dạy và học tích cực thì giáo viên buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ làm việc, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của học sinh
- Những phương pháp dạy học có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan, nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn như: máy vi tính, các phần mềm dạy học đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo năng lực và nhu cầu của mỗi học sinh, giúp các em tiếp cận được với các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong xã hội phát triển
- Những phương pháp dạy học có sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá
đa dạng khách quan, tạo điều kiện để học sinh được tham gia tích cực vào hoạt động
tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá phải đa dạng phong phú với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, máy vi tính và phần mềm kiểm tra để đảm bảo tính khách quan, phản ánh trung thực tình trạng kiến thức của học sinh và quá trình đào tạo Sự thay đổi khâu đánh giá sẽ có tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực
- Một số phương pháp dạy học tích cực
Trang 21a Phương pháp trực quan
Là phương pháp dạy học có sử dụng các phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy học
b Phương pháp đàm thoại tìm tòi
Đàm thoại tìm tòi là phương pháp trao đổi giữa GV và HS, trong đó thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để trò lần lượt trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại dưới sự chỉ đạo của thầy Qua hệ thống hỏi – đáp, trò lĩnh hội được nội dung của bài học
Có ba phương án cơ bản sử dụng phương pháp đàm thoại:
- GV đặt ra hệ thống những câu hỏi riêng rẽ rồi chỉ định HS trả lời Nguồn thông tin cho cả lớp là tổ hợp các câu trả lời của HS
- GV đặt cho cả lớp một câu hỏi chính, HS lần lượt trả lời từng bộ phận của câu hỏi đó Người sau bổ sung cho người trước, cuối cùng GV chỉnh lí, kết luận về kiến thức HS cần nắm vững
- GV nêu ra câu hỏi chính, kèm theo những gợi ý nhằm tổ chức cho HS tranh luận hoặc đặt ra những câu hỏi phụ cho nhau để giúp nhau giải đáp
Nhìn chung phương pháp dạy học này thường được sử dụng nhiều vì qua các câu hỏi, GV tìm hiểu được việc nắm và vận dụng kiến thức của HS, biết được điểm yếu, điểm mạnh của HS để kịp thời có biện pháp điều chỉnh Hơn nữa, nó đảm bảo được hiệu quả giờ ôn tập, luyện tập
c Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề (PP phát hiện và GQVĐ) [13] Khái niệm: Dạy học phát hiện và GQVĐ là quan điểm dạy học nhằm phát triển
năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề HS được đặt trong tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức Dạy học phát hiện và GQVĐ là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của HS, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của HS
Trang 22Cấu trúc của một bài học theo PP phát hiện và GQVĐ thường gồm 3 giai đoạn và 10 bước :
Giai đoạn 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết
+ Lập kế hoạch giải quyết
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
Giai đoạn 3: Kết luận
+ Thảo luận kết quả và đánh giá
+ Khẳng định hay bác bỏ giải thuyết nêu ra
+ Phát biểu kết luận
+ Đề xuất vấn đề mới
Khâu quan trọng nhất trong PPDH này là tạo tình huống có vấn đề, điều chưa biết là yếu tố trung tâm gây sự hứng thú nhận thức, kích thích tư duy, tính tự giác tích cực trong hoạt động nhận thức của HS Trong dạy học hóa học, GV có thể
sử dụng thí nghiệm hoá học, bài tập nêu vấn đề để tạo tình huống có vấn đề
Như vậy, trong dạy học phát hiện và GQVĐ, GV đưa HS vào tình huống có vấn đề rồi giúp HS tự lực giải quyết vấn đề đặt ra Bằng cách đó HS vừa nắm được tri thức, vừa nắm được phương pháp nhận thức tri thức đó, tư duy sáng tạo phát triển, HS còn có được khả năng phát hiện vấn đề và vận dụng kiến thức vào tình huống mới
Có thể tổ chức các hoạt động học tập theo các mức độ HS tham gia phát hiện và giải quyết vấn đề:
- Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu vấn đề, lập kế hoạch và giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV GV đánh giá kết quả làm việc
của HS
Trang 23- Mức 2: GV đặt vấn đề, nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánh giá
- Mức 3: GV cung cấp thông tin, tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện và xác định vần đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp HS thực hiện các cách giải quyết vần đề GV và HS cùng đánh giá
- Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc
Những điểm cần lưu ý khi sử dụng:
Điều kiện thực hiện phương pháp này có hiệu quả khi:
d Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Là phương pháp dùng lời để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi tiết dễ hiểu cho học sinh tiếp thu Phương pháp này được sử dụng lâu đời nhất trong lịch sử dạy học
Trước một vấn đề hoàn toàn mới hay tóm tắt các kiến thức đã học, GV có thể trình bày bài giảng với một khối lượng kiến thức lớn cho nhiều người cùng nghe, đối với HS sẽ dễ hiểu vấn đề
Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, HS bị rơi vào tình trạng thụ động, phải cố gắng nghe để hiểu, để ghi nhớ
Nhiệm vụ của GV khi diễn giảng là làm nổi bật những điểm cơ bản trong toàn
bộ bài giảng hoặc từng phần Để đạt được hiệu quả cao trong giờ học, GV cần chuẩn bị chu đáo:
Trang 24- Nêu bật được những điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất dưới dạng các vấn đề, các câu hỏi, và giải quyết dần từng vấn đề
- Hệ thống được các kiến thức cần nhớ, cần hiểu
- Chỉ ra được các kiến thức HS thường hiểu sai hoặc nhầm lẫn
Giáo viên thường sử dụng phương pháp này khi tiến hành tóm tắt các nội dung kiến thức cần nhớ trong bài ôn tập, thể hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần hay toàn bộ chương trình
e Phương pháp dạy học theo nhóm
Phương pháp dạy học này được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực, hướng vào HS và đạt hiệu quả cao Trong đó thảo luận nhóm đóng vai trò chủ yếu nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, đồng thời phát huy cao độ khả năng hợp tác, giúp đỡ nhau học tập Mỗi cá nhân HS được giúp đỡ nhau trong hoạt động chung nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập HS học được phương pháp hợp tác, trình bày và bảo vệ ý kiến riêng của mình
Dạy học theo nhóm dưới sự tổ chức và điều khiển của GV, HS chia thành từng nhóm nhỏ rồi liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thức tác động qua lại của các thành viên và bằng trí tuệ tập thể để hoàn thành các nhiệm vụ học tập
Cấu trúc chung của quá trình dạy học theo nhóm:
Hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu Tự nghiên cứu cá nhân
Tổ chức thảo luận nhóm Hợp tác với các bạn trong nhóm
Tổ chức thảo luận lớp Hợp tác với các bạn trong lớp Kết luận, đánh giá Tự đánh giá, tự điều chỉnh Phương pháp này được sử dụng trong trường phổ thông như một phương pháp trung gian giữa hoạt động độc lập của từng HS với hoạt động chung của cả lớp Phương pháp này còn bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định cho một tiết học nên GV phải biết tổ chức hợp lí và HS đã quen với hoạt
Trang 25động này thì mới có kết quả tốt Mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ một đến ba hoạt động nhóm, mỗi hoạt động cần 5 đến 10 phút
Hoạt động trong nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức cộng đồng Mô hình này nhằm chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội trong đó mỗi người sống và làm việc theo phân công hợp tác với tập thể cộng đồng
Ngoài ra còn có một số phương pháp dạy học theo hướng tích cực như: Phương pháp grap dạy học trong dạy học hoá học, phương pháp algorit dạy học trong dạy học hoá học, dạy học theo hoạt động, …
1.2 Phương tiện dạy học và đổi mới phương tiện dạy học hóa học THPT
1.2.1 Phương tiện dạy học hóa học [12]
1.2.1.1 Khái niệm phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là tập hợp các đối tượng vật chất (sự vật, hiện tượng, thiết bị và mô hình đại diện cho hiện thực khách quan) được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS Nó là nguồn tri thức phong phú sinh động, là phương tiện giúp cho HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo
1.2.1.2 Các phương tiện dạy học trong dạy học hóa học
Phương tiện dạy học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường bao gồm 4 loại:
- Phương tiện trực quan
- Các phương tiện kĩ thuật dạy học
- Thí nghiệm nhà trường (gồm các thiết bị, dụng cụ phòng thí nghiệm, hóa chất,
kĩ thuật tiến hành các thí nghiệm trong nhà trường)
- Sách giáo khoa
Ở phần này chỉ xét các phương tiện trực quan và các phương tiện kĩ thuật dạy học, trong đó có các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông
* Các loại phương tiện trực quan trong dạy học hóa học
+ Mẫu vật: vật thật, mẫu vật phân phát (mẫu các chất hóa học, kim loại, phi kim,
hợp kim, các loại dầu mỏ, tơ, lụa), các sản phẩm nhân tạo (cao su, tơ lụa, gốm sứ,
Trang 26thủy tinh, polime,…), các bộ sưu tập (về quặng kim loại, về nguyên liệu và sản phẩm sản xuất gang, thép, )
+ Mô hình: như mô hình cấu tạo nguyên tử, mô hình obitan nguyên tử, mô hình
cấu tạo phân tử một số hợp chất hữu cơ như metan, etilen, axetilen, benzen…
+ Hình vẽ, sơ đồ: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, bảng tính tan, sơ đồ
cấu tạo nguyên tử của một số nguyên tố hóa học, sơ đồ cấu tạo lò luyện gang và thép, lò quay sản xuất clanh-ke…
+ Tranh vẽ, ảnh: Ảnh một số nhà máy sản xuất, ảnh một số nhà khoa học nổi
tiếng…
* Các loại phương tiện kĩ thuật dạy học:
Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm các phương tiện nghe – nhìn và các máy dạy học, trong đó các phương tiện nghe – nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất Các phương tiện nghe – nhìn bao gồm:
+ Các giá mang thông tin: bản trong, phim, băng từ ghi âm, băng từ ghi hình,
đĩa ghi âm, đĩa ghi hình,…
+ Các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin: đèn chiếu
hắt, đèn chiếu đa năng (Projector), máy chiếu phim, radio, băng, máy thu hình (tivi), máy ghi hình (camera), đầu video, máy vi tính
1.2.1.3 Vai trò của phương tiện dạy học trong dạy học hóa học
- Cung cấp cho HS những kiến thức đầy đủ, rõ ràng, chính xác, sâu sắc, bền
vững Phương tiện dạy học được sử dụng với tư cách là nguồn gốc, là xuất xứ của
kiến thức để HS tìm kiếm, phát hiện, xây dựng kiến thức hóa học mới, hoặc với tư cách kiểm tra lí thuyết Phương tiện dạy học có thể được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, được dùng trong nghiên cứu tài liệu mới, trong khâu hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Dùng các phương tiện dạy học trong dạy học hóa học nên HS dễ hiểu bài, tiếp thu bài nhanh, hiểu bài sâu sắc và nhớ bài lâu hơn Khi nghiên cứu thế giới vi mô như nguyên tử, ion, phân tử thì vai trò của phương tiện dạy học lại càng quan trọng
Trang 27- Làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập hóa học, nâng
cao lòng tin của HS vào khoa học Nội dung học tập hóa học sinh động hơn là do
phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc thiết bị quá phức tạp, giúp làm sáng tỏ cấu tạo của các dụng cụ máy móc phức tạp trong sản xuất hóa học Cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn là thí nghiệm Nó là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức, giúp HS có lòng tin vào khoa học
- Phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực quan sát, năng lực tư
duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa), tính tích cực tự giác, óc sáng tạo của HS, làm thay đổi phong cách tư duy và hành động của các em Khi sử dụng các
phương tiện dạy học, HS sẽ tăng cường sức chú ý, quan sát đối với các hiện tượng nghiên cứu, dễ dàng tiến hành các quá trình phân tích, tổng hợp các hiện tượng để rút ra kết luận chính xác
- Tăng năng suất lao động của giáo viên và học sinh Sử dụng phương tiện
dạy học giúp GV tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học tập của HS; Tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giải phóng GV khỏi những công việc đơn thuần: đọc cho HS chép câu hỏi, bài tập, vẽ sơ đồ, mô tả dụng cụ thí nghiệm…; Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS được thuận lợi và có hiệu quả cao hơn Như vậy, phương tiện dạy học giúp tối đa hóa thời gian học tập, tối thiểu hóa các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác thầy – trò, trò – trò
1.2.2 Sử dụng phương tiện dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực[11], [12], [14], [19]
Trong các phương tiện dạy học hóa học, thí nghiệm hóa học có vai trò rất quan trọng Dưới đây chúng tôi trình bày những phương pháp dạy học tích cực có sử dụng thí nghiệm hóa học và cách sử dụng một số phương tiện dạy học khác
1.2.2.1 Sử dụng thí nghiệm hoá học theo hướng dạy học tích cực
Trong dạy học hoá học, thí nghiệm hoá học thường được sử dụng để chứng minh, minh hoạ cho những thông báo bằng lời của GV về các kiến thức hoá học Thí nghiệm cũng được dùng làm phương tiện để nghiên cứu tính chất các chất, hình thành các khái niệm hoá học Sử dụng thí nghiệm trong dạy học hoá học được coi là
Trang 28tích cực khi thí nghiệm hoá học được dùng làm nguồn kiến thức để HS khai thác, tìm kiếm kiến thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lí thuyết, hình thành khái niệm Các thí nghiệm dùng trong giờ dạy hoá học chủ yếu
do HS thực hiện nhằm nghiên cứu kiến thức, kiểm tra giả thuyết, dự đoán Các thí nghiệm phức tạp được GV biểu diễn và cũng được thực hiện theo hướng nghiên cứu Các dạng sử dụng thí nghiệm hoá học nhằm mục đích minh hoạ, chứng minh cho lời giảng được hạn chế dần và được đánh giá là ít tích cực Thí nghiệm hoá học được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu do GV biểu diễn hay do HS, nhóm
HS tiến hành đều được đánh giá là có mức độ tích cực cao
a Sử dụng theo phương pháp kiểm chứng:
Có thể dùng thí nghiệm hóa học để kiểm chứng lại các lí thuyết đã học hoặc
để kiểm chứng những dự đoán, suy lí lí thuyết Với những kiến thức mà HS đã biết được dạy lại với mục đích mở rộng, đào sâu kiến thức hoặc với những kiến thức có thể dự đoán được từ các lí thuyết đã học (đa số thí nghiệm về tính chất của hợp chất
vô cơ học ở trung học phổ thông được sử dụng theo phương pháp này)
b Sử dụng theo phương pháp nghiên cứu:
Khi sử dụng phương pháp này học sinh trực tiếp tác động vào đối tượng, đề xuất các giả thuyết khoa học, những dự đoán, những phương án giải quyết vấn đề
và lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết Thí nghiệm hóa học được dùng như là nguồn kiến thức để HS nghiên cứu tìm tòi, như là phương tiện xác nhận tính đúng đắn của các giả thuyết, dự đoán khoa học đưa ra Người GV cần hướng dẫn các hoạt động của HS như:
- Học sinh hiểu và nắm vững vấn đề cần nghiên cứu
- Nêu ra các giả thuyết, dự đoán khoa học trên cơ sở kiến thức đã có
- Lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết
- Quan sát, mô tả đầy đủ các hiện tượng thí nghiệm
- Xác nhận giả thuyết, dự đoán đúng qua kết quả của thí nghiệm
- Giải thích hiện tượng, viết phương trình hóa học và rút ra kết luận
Trang 29Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu sẽ giúp HS hình thành kĩ năng nghiên cứu khoa học hoá học, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề
c Sử dụng theo phương pháp nêu vấn đề:
Trong dạy học nêu vấn đề khâu quan trọng nhất là xây dựng bài toán nhận thức hay tạo ra các tình huống có vấn đề Trong dạy học hoá học ta có thể dùng movie thí nghiệm, hình ảnh để tạo ra mâu thuẫn nhận thức, gây ra nhu cầu tìm kiếm kiến thức mới trong HS Khi dùng movie thí nghiệm để tạo tình huống có vấn
đề, có thể tiến hành như sau:
- Giáo viên nêu ra vấn đề cần nghiên cứu bằng movie thí nghiệm
- Tổ chức cho HS dự đoán kết quả thí nghiệm, hiện tượng sẽ xảy ra trên cơ sở
kiến thức đã có của HS
- Hướng dẫn HS quan sát hiện tượng Hiện tượng của thí nghiệm không đúng
với đại đa số dự đoán của HS sẽ tạo ra mâu thuẫn nhận thức, kích thích HS tìm tòi giải quyết vấn đề Kết quả là HS nắm vững kiến thức, tìm ra con đường giải quyết vấn đề và có niềm hứng thú khám phá
d Sử dụng theo phương pháp đối chứng:
Để hình thành khái niệm hoá học giúp HS có kết luận đầy đủ, chính xác về một quy tắc, tính chất của các chất cần hướng dẫn HS sử dụng thí nghiệm hóa học ở dạng đối chứng để làm nổi bật, khắc sâu nội dung kiến thức mà HS cần chú ý.Từ các thí nghiệm đối chứng, tiến hành và quan sát sẽ rút ra được nhận xét đúng đắn, xác thực và nắm được phương pháp giải quyết vấn đề học tập bằng thực nghiệm
GV cần chú ý HS cách tiến hành thí nghiệm đối chứng, dự đoán hiện tượng trong các thí nghiệm, quan sát và rút ra kết luận về kiến thức thu được
Trong dạy học hoá học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp nêu vấn đề được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực vì tư liệu điện tử được dùng làm nguồn kiến thức để HS khai thác, tìm kiếm rút ra tính chất hóa học, hình thành các khái niệm, giúp HS cách tư duy độc lập, tự lực sáng tạo và có kĩ năng nghiên cứu tìm tòi
Trang 301.2.2.2 Sử dụng phương tiện dạy học khác theo hướng dạy học tích cực
Ngoài thí nghiệm hoá học, GV còn sử dụng các phương tiện dạy học hoá học khác như: mô phỏng, sơ đồ, hình vẽ, biểu bảng, phương tiện nghe nhìn (máy chiếu, bản trong, băng hình, máy tính, …) Phương tiện dạy học được sử dụng trong các loại bài dạy hoá học nhưng phổ biến hơn cả là các bài hình thành khái niệm, nghiên cứu các chất Các bài dạy hoá học có sử dụng phương tiện dạy học đều được coi là giờ học tích cực nhưng nếu GV dùng phương tiện dạy học là nguồn kiến thức để HS tìm kiếm, phát hiện, kiến tạo kiến thức mới sẽ là các giờ học có tính tích cực cao hơn nhiều
Hoạt động của GV:
- Nêu mục đích và phương pháp quan sát phương tiện trực quan
- Trưng bày phương tiện trực quan và nêu yêu cầu quan sát
- Nêu yêu cầu nhận xét, kết luận và giải thích
Hoạt động tương ứng của HS:
- Nắm được mục đích nghiên cứu qua phương tiện trực quan
- Quan sát phương tiện trực quan, tìm ra những kiến thức cần tiếp thu
- Rút ra nhận xét, kết luận về những kiến thức cần lĩnh hội qua các phương tiện trực quan đó
a Sử dụng mô hình, hình vẽ
Thực hiện một cách đa dạng dưới các hình thức như :
- Dùng mô hình, hình vẽ, sơ đồ, … có đầy đủ chú thích là nguồn kiến thức để HS khai thác thông tin, hình thành kiến thức mới Ví dụ như các hình vẽ dụng cụ điều chế các chất giúp HS nắm được các thông tin về thiết bị, dụng cụ, hoá chất dùng để điều chế chúng
- Dùng hình vẽ, sơ đồ, … không có đầy đủ chú thích giúp học sinh kiểm tra các thông tin còn thiếu
- Dùng hình vẽ, mô hình, … không có chú thích nhằm yêu cầu HS phát hiện kiến thức ở mức độ khái quát hoặc kiểm tra kiến thức, kĩ năng
Trang 31Ví dụ: Dụng cụ dưới đây dùng để điều chế chất khí nào trong số các khí sau:
O 2 , Cl 2 , H 2 , NO, N 2 , CO 2 , CH 3 Cl ,CFCl 3 Hãy xác định các chất trong dụng cụ A, B được dùng để điều chế các khí đó
Như vậy HS phải quan sát hình vẽ, phân tích đi đến nhận xét khái quát:
- Chất khí được điều chế phải nặng hơn không khí và không tác dụng với không khí ở nhiệt độ thường
- Chất khí được điều chế bằng tương tác của một chất rắn với một chất lỏng hoặc tương tác giữa một chất lỏng với một chất lỏng
Từ sự phân tích khái quát đó HS xác định dụng cụ trên được dùng để điều chế các chất khí: O2, Cl2, CO2
Các chất dùng để điều chế các khí đó được chứa trong:
- Dụng cụ A: H2O2, HClđ , dd HCl hoặc H2SO4
- Dụng cụ B: MnO2, KMnO4, CaCO3
b Sử dụng bản trong và máy chiếu:
Thực tế dạy học đã xác định sử dụng bản trong và máy chiếu đã trợ giúp tích cực cho quá trình dạy học hoá học ở tất cả các cấp học, bậc học Việc sử dụng bản trong, máy chiếu rất đa dạng giúp cho GV cụ thể hoá các hoạt động một cách rõ ràng và tiết kiệm được thời gian cho các hoạt động của GV và HS Bản trong và máy chiếu có thể được sử dụng trong các hoạt động:
- Đặt câu hỏi kiểm tra: Giáo viên thiết kế câu hỏi, làm bản trong và chiếu lên
- GV giao nhiệm vụ, điều khiển các hoạt động của HS (qua phiếu học tập), GV thiết kế nhiệm vụ, làm bản trong,chiếu lên và hướng dẫn HS thực hiện
- Hướng dẫn cách tiến hành thí nghiệm và nghiên cứu tính chất các chất
Trang 32- Giới thiệu mô hình, hình vẽ mô tả thí nghiệm… GV chụp vào bản trong, chiếu lên cho HS quan sát, nhận xét…
- Tóm tắt nội dung, ghi kết luận, tổng kết một vấn đề học tập, lập sơ đồ tổng kết vào bản trong rồi chiếu lên
- Chữa bài tập, bài kiểm tra: GV in nội dung bài giải, đáp án vào bản trong và chiếu lên
Hoạt động của HS chủ yếu là đọc thông tin trên bản trong, tiến hành các hoạt động học tập và dùng bản trong để viết kết quả hoạt động (câu trả lời, báo cáo kết quả hoạt động, nhận xét, kết luận…) rồi chiếu lên để cho cả lớp nhận xét đánh giá
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học [2], [8], [9], [22]
Hiện nay, thế giới đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg; Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm thiết
bị ghi âm, chụp hình, quay phim, máy quét hình, và một số thiết bị khác, tạo cơ sở
hạ tầng CNTT cho GV sử dụng vào quá trình dạy học của mình
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT và truyền
Trang 33thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho HS các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của HS Như vậy, việc chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: ChemOffice, Cabri, Crocodile, ChemWin, Violet, … , hệ thống www, Elearning và các phần mềm đóng gói, tiện ích khác Do
sự phát triển của CNTT và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công
cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Nhờ có
sử dụng các phần mềm dạy học này mà HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của GV tới từng gia đình HS thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi HS Thông qua giáo án điện tử, GV cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT và truyền thông
đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người
Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho HS, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động khám phá, tìm kiếm tri
Trang 34thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng CNTT so với phương pháp dạy dạy truyền thống là:
- Môi trường thông tin đa phương tiện kết hợp hình ảnh, video, âm thanh, văn bản, biểu đồ, … được trình bày sinh động tạo điều kiện cho người học tiếp thu kiến thức, gây hứng thú học tập nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường
- Công nghệ và trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau; là nguồn thông tin phong phú, sinh động, lượng thông tin truyền đạt cao trong thời gian ngắn
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet,…có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập với các hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý,
HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của CNTT và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học
Có thể khẳng định rằng, môi trường CNTT và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
1.4 Cơ sở lí luận về tƣ liệu điện tử (TLĐT) [18]
1.4.1 Khái niệm tư liệu điện tử
TLĐT là các tài liệu dạy học được số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định được lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy
Trang 35tính Dạng thức số hóa có thể là văn bản, slide, bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video clip, các ứng dụng tương tác và hỗn hợp của các dạng thức nói trên TLĐT bao gồm tư liệu tĩnh và tư liệu đa phương tiện Tư liệu tĩnh là các file text, slide, bảng dữ liệu Tư liệu đa phương tiện có thể gồm những loại sau đây:
- Các file âm thanh để minh họa hay diễn giảng kiến thức
- Các file flash hoặc tương tự được tạo ra từ các phần mềm đồ họa dùng để
mô phỏng kiến thức
- Các file video được lưu trữ trong các định dạng mpeg, avi hay các định dạng có hiệu ứng tương tự
- Các file trình diễn tổ hợp các thành phần trên theo một cấu trúc nào đó
1.4.2 Đặc điểm của tư liệu điện tử
Người học luôn được tiếp xúc, nắm bắt thông tin từ nhà trường, trong lớp học
và các tổ chức khác, điều này có tác động quan trọng thúc đẩy HS học tập Tất cả các giao tiếp nói trên đều được TLĐT chuyển tải qua tất cả các dạng truyền thông (media) như: văn bản, âm thanh, hình ảnh và hình ảnh động
TLĐT sử dụng trong giáo dục phải đạt các yêu cầu sau: đơn giản, gọn nhẹ dễ mang theo, dễ sử dụng, không đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp và đặc biệt là giá thành rẻ, chi phí sử dụng thấp để tạo thuận lợi cho việc dạy và học có thể chủ động
mọi lúc, mọi nơi
Như vậy TLĐT là tài liệu được sử dụng thông qua các thiết bị điện tử, nó có thể thay thế người GV để truyền đạt kiến thức đồng thời HS có thể phần nào tìm kiếm được các giải đáp khi có thắc mắc cần hỏi Ngoài ra TLĐT cần có khả năng rèn luyện tư duy và kỹ năng cho HS, có thể tạo được những tương tác hai chiều người - máy
1.4.3 Những ưu điểm và hạn chế của tư liệu điện tử
1.4.3.1 Ưu điểm
- GV sử dụng tư liệu điện tử tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS nghiên cứu bài học HS cũng có thể sử dụng đĩa tư liệu để tự học trên máy tính
Trang 36- Chuyển tải được thông tin kiến thức bằng đầy đủ các media: văn bản, hình ảnh,
âm thanh và tiếng nói, hình ảnh động (video)
- Có thể sử dụng mọi nơi, mọi lúc, sử dụng nhiều lần, lặp lại từng phần tùy nhu cầu
- Kích thước gọn nhẹ, dễ dàng mang theo người, sử dụng dễ dàng, chỉ cần có một máy tính với cấu hình vừa phải
- Giá thành rẻ, chỉ bằng 25 - 30% so với giáo trình in cùng khối lượng nội dung
- Khả năng tái sử dụng rất cao: có thể chỉnh sửa (cỡ chữ, màu sắc, các thao tác cá nhân hóa tùy theo sở thích người sử dụng) nếu cần, sử dụng độc lập trên web và trên cácn phương tiện lưu trữ khác (USB, CD, )
- Dễ vận chuyển đến mọi nơi thông qua gửi e-mail hoặc truyền tệp trên mạng
- Dễ dàng đưa vào các thư viện điện tử hiện đang rất phát triển
1.4.3.2 Hạn chế
- Do hạn chế về tốc độ đường truyền nên các tư liệu điện tử đặt trên mạng hoặc trong đĩa CD chủ yếu là dạng text, hình ảnh, ít dùng media đa phương tiện (video, âm thanh), nếu sử dụng nhiều media thì tốc độ truyền tải của tư liệu sẽ chậm
- Việc học qua tư liệu điện tử sẽ có một số vấn đề HS khó tiếp thu hơn so với được nhìn và nghe giảng trực tiếp, ví dụ đối với những phần thao tác thực hành HS cần được nhìn kỹ cách làm mẫu của GV
- Mặt khác cũng có một số trường không đáp ứng được đủ phương tiện dạy học hiện đại nên không phải lúc nào cũng có thể sử dụng tư liệu điện tử trong dạy học
1.4.4 Sử dụng một số phần mềm để xây dựng tư liệu điện tử
Hiện nay có rất nhiều phần mềm có thể xây dựng tư liệu điện tử như: Lectora Enterprise Edition, LectureMaker, Adobe Dream Weaver CS3, Adobe Presenter 7
Qua một thời gian tìm hiểu, chúng tôi đi đến việc lựa chọn phần mềm
Lectora Enterprise Edition Sở dĩ tôi sử dụng Lectora làm công cụ để xây dựng đĩa
tư liệu điện tử vì nó có một số ưu điểm sau :
+ Dễ sử dụng, thao tác đơn giản do Lectora làm việc chủ yếu bằng biểu tượng + Các trang liên kết với nhau bằng cách link, vì thế thuận lợi cho việc xây
Trang 37dựng đĩa tư liệu dưới dạng Web
+ Sản phẩm được đóng gói thành file chạy autorun dưới nhiều dạng: Rom, HTML, SCORM, hay single file Executable đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của một phần mềm xây dựng tư liệu điện tử
Ngoài ra chúng tôi sử dụng một số phần mềm tiện ích khác:
* Phần mềm viết và vẽ công thức cấu tạo ChemOffice
Chương trình ChemOffice có rất nhiều tính năng và hỗ trợ nhiều chương trình hóa học khác Trong ChemOffice chúng tôi sử dụng chủ yếu 2 chương trình:
- Chem3D Ultra 10.0: dùng để vẽ hoặc chuyển công thức dạng 2D sang 3D
- ChemDraw Ultra 10.0: dùng để vẽ công thức cấu tạo (dạng 2D) của các chất
vô cơ và hữu cơ, từ công thức có thể biết tên chất hoặc ngược lại, có thể viết tên gọi của chất, sau đó ChemDraw có thể tự vẽ công thức cấu tạo của chất
* Phần mềm SWF & FLV Converter
Phần mềm SWF & FLV Converter giúp chuyển đổi định dạng swf, flv, exe…
sang định dạng avi, images…
* Phần mềm Total Video Converter (TVC)
TVC hỗ trợ chuyển đổi qua lại hơn 30 định dạng file video phổ biến hiện nay (trong đó có đuôi Flv mà rất ít các chương trình khác có) và hỗ trợ cả các loại file
âm thanh
* Phần mềm Adobe Photoshop CS3
Adobe Photoshop CS3 là một phần mềm xử lý ảnh chuyên nghiệp Photoshop
cho phép chỉnh sửa ảnh, ghép ảnh, phục chế ảnh, … một cách dễ dàng và hiệu quả
1.5 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông
1.5.1 Điều tra thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông
1.5.1.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học trong trường Trung học phổ thông (THPT) tại huyện
Trang 38Gia Lâm thành phố Hà Nội
1.5.1.2 Đối tượng điều tra
Tiến hành thăm dò ý kiến của các GV bộ môn hóa tại 5 trường THPT thuộc huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012 (xem phiếu điều tra số 1 ở phụ lục)
Bảng 1.1 Địa điểm điều tra
4 Trường THPT Nguyễn Văn Cừ Huyện Gia Lâm – Hà Nội
5 Trường THPT Lý Thánh Tông Huyện Gia Lâm – Hà Nội
1.5.1.3 Kết quả điều tra
Bảng 1.2 Thâm niên công tác
Thâm niên giảng dạy
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không dùng
Trang 39Theo kết quả trên, ta có thể thấy các phương pháp dạy học tích cực cũng đã được GV quan tâm và sử dụng, tuy nhiên phương pháp dạy học theo góc còn chưa được áp dụng phổ biến ở một số quận, huyện trên địa bàn Hà Nội
Bảng 1.4 Ảnh hưởng của cơ sở vật chất
Điều kiện cơ sở vật chất Số phiếu
Thực tế điều tra cho thấy 5 trường Trung học phổ thông thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội đã có đủ điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo mức tối thiểu cho việc
áp dụng CNTT trong dạy học và điều kiện cơ sở vật chất tác động khá lớn đến việc triển khai dạy học bằng các phương pháp tích cực có áp dụng CNTT
Như vậy, trong 5 trường THPT đã khảo sát các GV đã tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, cụ thể đã cố gắng triển khai áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm đạt được kết quả cao nhưng vẫn ở mức độ chưa thường xuyên, và chưa dám triển khai một số phương pháp còn mới đối với GV như phương pháp dạy họctheo hợp đồng, dạy học dự án và dạy học theo góc
Dù đều công nhận vai trò của CNTT trong dạy học ngày nay nhưng đa số
GV vẫn chỉ sử dụng các hoạt động đơn giản, ít sử dụng đến sự hỗ trợ của các thiết
bị, máy móc đặc biệt và CNTT (Ví dụ dạng: Phiếu học tập, thảo luận câu hỏi, báo cáo TNG ) hoặc chỉ sử dụng CNTT như là công cụ để soạn giáo án, hay trình chiếu bài giảng bằng powerpoint hỗ trợ viết bảng Nguyên nhân do trình độ tin học và thời gian còn hạn chế do HS thiếu sự hợp tác, kết hợp nhịp nhàng, thiếu chủ động,
Trang 40cách bố trí lớp học của các trường để chia nhóm, góc chưa thuận lợi…
Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hoá học của giáo viên đã và đang rất phát triển Hiện nay, tư liệu dạy học điện tử hóa học được tìm thấy ở nhiều trang web, và các đề tài luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa hóa học với số lượng khá lớn, Tuy nhiên, tư liệu dạy học điện tử vẫn chưa được biên soạn một cách hệ thống, tài liệu hướng dẫn sử dụng chưa đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của GV và HS Nhiều GV vẫn còn lúng túng trong việc lựa chọn tư liệu điện tử cho từng phần, từng bài học Đã có nhiều bài giảng sử dụng tư liệu điện
tử nhưng GV vẫn chưa biết cách lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để khai thác các kiến thức từ hệ thống tư liệu dạy học điện tử theo hướng tích cực sao cho hiệu quả
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, thông qua các cơ sở được điều tra và thực trạng ở một số trường Trung học phổ thông, chúng tôi thấy rằng: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử môn hóa học 11 nâng cao Trung học phổ thông góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực là hết sức cần thiết Tư liệu dạy học điện tử giúp HS có thể nắm bắt được các khái niệm khó, trừu tượng một cách nhanh chóng mà không phải phụ thuộc quá nhiều vào lời giảng diễn tả của GV Nhờ đó GV không mất nhiều thời gian vào việc diễn giảng mà dành thời gian đó hướng dẫn HS học cách học Mặt khác nó chính là nguồn tư liệu quý giá của mỗi GV để sử dụng, từ đó tiếp tục nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện thêm những hệ thống tư liệu mới, tiếp cận được với CNTT và bắt nhịp được với sự phát triển về CNTT và truyền thông như vũ bão của thế giới