1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương III các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000) lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn

106 624 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều GV dạy lịch sử đã ứng dụng công nghệ thông tin CNTT vào dạy học trong nhà trường, được coi là một trong các biện pháp tỏ ra rất hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ ÁNH VÂN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

DẠY HỌC “CHƯƠNG III: CÁC NƯỚC Á, PHI VÀ MĨ LATINH

Trang 2

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BGĐT : Bài giảng điện tử

CNTT : Công nghệ thông tin

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng1.1: Thống kê tình hình sử dụng công nghệ thông tin trong dạy

học lịch sử 29 Bảng 2.1: Các tranh ảnh, bản đồ, lược đồ lịch sử của chương III: Các

nước Á, Phi và Mĩ Latinh (SGK Lịch sử lớp 12) 51 Bảng 2.2: Niên biểu các sự kiện thể hiện sử biến đổi của khu vực

Đông Bắc Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai 62 Bảng 2.3: Thống kê kết quả kiểm tra thực nghiệm 74

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Mục lục iv

Chương 1: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 Cơ sở lí luâ ̣n 10

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài 10

1.1.2 Mục tiêu – nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông 14

1.1.3 Quan niệm về nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT và việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT có sự hỗ trợ của CNTT 17

1.1.4 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử và con đường hình thành kiến thức lịch sử cho HS ở trường THPT với sụ hỗ trợ của CNTT 20

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong da ̣y ho ̣c li ̣ch sử ở trường THPT 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Thực tiễn việc ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay 26

1.2.2 Một số biện pháp khuyến khích giáo viên và học sinh sử CNTT để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường THPT 34

1.2.3 Một số lọai hình CNTT có thể ứng dụng trong dạy học lịch sử 36

Chương 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG III: CÁC NƯỚC Á, PHI VÀ MĨ LA TINH (1945 – 2000 LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 42

2.1 Vị trí, mục tiêu của chương III trong chương trình bộ môn Lịch sử ở trường THPT 42

2.1.1 Vị trí 42

2.1.2 Mục tiêu 44

2.2 Những nội dung cơ bản của chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh cần khai thác để ứng dụng CNTT, nâng cao hiệu quả dạy học 45

Trang 5

2.3 Một số biện pháp ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng dạy

học chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000) 48

2.3.1 Ứng dụng CNTT chuẩn bị tư liệu điện tử dạy học 48

2.3.2 Ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng các bước trong quá trình dạy học 56

2.4 Những lưu ý khi giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả của chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000) 62

2.4.1 Giáo viên lựa chọn kênh hình để thiết kế các Slide hình ảnh trên phần mềm PowerPoint, hỗ trợ cho bài giảng điện tử 62

2.4.2 Dựa vào bài viết tham khảo khai thác được trên Internet để xây dựng các bài miêu tả, tường thuật, giải thích, nêu đặc điểm 63

2.5 Những yêu cầu cơ bản khi ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông 65

2.5.1 Bảo đảm các nguyên tắc của phương pháp dạy học lịch sử 65

2.5.2 Say mê đối với nghề, có ý thức và hiểu được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học bộ môn 66

2.5.3 Kĩ năng và hiểu biết về công nghệ thông tin trong dạy học bộ môn 68

2.6 Kết quả thực nghiệm của đề tài 71

2.6.1 Mục đích thực nghiệm 71

2.6.2 Đối tượng thực nghiệm 71

2.6.3 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 71

2.6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Khuyến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 82

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thời đại “bùng nổ” thông tin, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống con người Thế giới không những có sự mở rộng, giao lưu về kinh tế, xã hội, văn hoá

mà còn được kết nối với nhau thông qua Internet Sức mạnh số đang mang lại những lợi ích to lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộcsống và ở nhiều quốc gia, giáo dục luôn là ưu tiến hàng đầu, được coi là “chìa khóa” thành công hội nhập quốc tế Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực, trong đó giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng phát triển Đứng trước những thách thức to lớn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, Đảng đã xác định ứng dụng công nghệ khoa học hiện đại vào giáo dục, đặc biệt là công nghệ thông tin là vấn đề cấp thiết

Trong giáo dục, những môn khoa học xã hội và nhân văn trong đó có Lịch sử ngày càng chiếm vị trí quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có nhiều ưu thế góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu giáo dục Bằng việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, bộ môn giúp học sinh khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách chân thực, hình thành các phẩm chất tốt đẹp

Trong những năm gần đây, việc học tập lịch sử ở trường phổ thông (THPT) đã thu được những thành quả đáng khích lệ: xuất hiện nhiều giáo viên dạy giỏi với những phương pháp dạy học (PPDH) tich cực làm cho chất lượng dạy và học lịch sử được cải thiện đáng kể Tuy nhiên vẫn còn khá phổ biến

tình trạng “thầy đọc – trò chép”, hoặc lối giảng giải một chiều nên chất lượng

bộ môn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước Ngoài ra, tình trạng “dạy chay”, dạy dàn trải kiến thức, không xác định được kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài dẫn đến dạy dập khuôn theo SGK cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng của bộ môn Thậm chí, ở nhiều nơi học sinh đã làm những câu

ca dao chế giễu giáo viên dạy sử “Thầy đọc giáo án, trò ngán vô cùng, chúng

Trang 7

em phát khùng, chê thầy cô dốt”,… Tình trạng trên còn xuất phát từ quan niệm

xã hội coi lịch sử là một trong những môn phụ trong hệ thống các môn khoa học xã hội Quan niệm này ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân, đặc biệt là thế

hệ đi trước, vì vậy mà việc dạy lịch sử của giáo viên và việc học tập lịch sử của học sinh vẫn chưa được đầu tư một cách đúng đắn

Tình hình trên cho thấy việc đổi mới, cải tiến để nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho toàn xã hội

Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của môn lịch sử là tính không lặp lại, việc hình thành biểu tượng lịch sử cho học sinh là công việc quan trọng hàng đầu của giáo viên (GV) dạy sử Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, các lĩnh vực đời sống con người ngày càng được công nghệ hoá cao độ Nhiều GV dạy lịch sử đã ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học trong nhà trường, được coi là một trong các biện pháp tỏ ra rất hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Tuy nhiên, nhiều giáo viên sử dụng CNTT vào dạy học lịch sử lại gặp phải những khó khăn GV đã tập hợp được đủ nguồn tư liệu, tài liệu cần thiết, phù hợp với nội dung bài dạy nhưng lại thiếu kĩ năng, thao tác máy tính để

“biến” những nguồn tài liệu và ý tưởng đó trở thành một bài dạy sinh động và

có chất lượng, giúp học sinh tiếp thu bài học hứng thú hơn

Phần lịch sử thế giới hiện đại lớp 12 THPT giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2000 chương trình chuẩn là một trong những nội dung quan trọng và có thế

ứng dụng CNTT một cách hiệu quả Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học “Chương III: Các nước

Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” lớp 12 trung học phổ thông chương trình chuẩn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp lớp cao học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình, bài viết về lí luận dạy học, về sử dụng các loại phương tiện trực quan trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng

Nhà giáo dục học N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học như thế nào”

– (NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1997) đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng về

Trang 8

lí luận dạy học bộ môn, như: quan niệm về giáo dục lịch sử, những yêu cầu đối với giờ học lịch sử, những biện pháp nâng cao hiệu quả giờ học… Theo Đairi:

“Giờ học là một tổ chức dạy học, là một bộ phận nhỏ sinh động của quá trình

sư phạm, gắn bó một cách hữu cơ với toàn bộ hệ thống quá trình đó” [14, tr 6] Thái Duy Tuyên trong cuốn “Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại”

(NXB Giáo dục, 1998), khi đề cập tới tính hiệu quả của bài học trong dạy học

đã nêu rõ: “Trong giáo dục, khi đánh giá thực trạng, người ta thường sử dụng hai khái niệm: Hiệu quả trong và hiệu quả ngoài Hai hiệu quả này có liên quan mật thiết với nhau, hiệu quả trong là tiền đề, là cơ sở tạo ra hiệu quả ngoài Hiệu quả ngoài là mục đích, vì rốt cuộc giáo dục là để phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển bản thân”.[33, tr 367]

PGS.TS Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (cb) trong giáo trình “ Phương pháp dạy học lịch sử”, NXB giáo dục, Hà Nội, 1998, cho rằng: “Hiệu quả dạy học lịch sử được xác nhận không chỉ bằng việc hình thành kiến thức, kết quả giáo dục mà còn bằng việc phát triển tư duy, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh”

[20,tr 204]

Nhóm tác giả PGS.TS Trịnh Đình Tùng (cb), Trần Viết Thụ, Đặng Văn

Hồ, Trần Văn Cường trong cuốn “Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở các trường phổ thông cơ sở”, NXB ĐHSP Hà Nội, 2005, đã trình bày có hệ thống

các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan và phần ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Các tác giả kết luận, khi nghiên cứu, học tập phương pháp dạy học lịch sử không chỉ nắm vững lí luận mà quan trọng hơn phải biết vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn dạy học

Cuốn “Con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường Phổ thông” (NXB ĐHSP, Hà Nội, 2006) của GS.TS Nguyễn Thị Côi thì đi sáu

vào phân tích bản chất của quá trình dạy học lịch sử dựa trên những cơ sở lí luận và

thực tiễn khoa học, trong đó có phần tích hợp CNTT trong dạy học bộ môn

Liên quan đến đề tài còn có các tài liệu như “Phát triển tư duy trong dạy học lịch sử” (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1982), “Nâng cao hiệu quả bài học lịch

Trang 9

sử trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông” của Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (cb) (NXB Giáo dục, 1999); “Hệ thống các thao tác trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông” của Kiều Thế Hưng (NXB Đại Học

Quốc gia, Hà Nội, 1999), …

Một số kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục Lịch sử đăng trên tạp

chí chuyên ngành cũng đề cập đến, ví như: GS.TS Nguyễn Thị Côi với “ Hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông: thực trạng và giải pháp” (Tạp chí

Nghiên cứu lịch sử, số 7, 2007) đã nêu lên thực trạng và giải pháp dạy học lịch

sử ở trường phổ thông hiện nay

2.2 Các công trình, bài viết liên quan đến ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử

Cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” của nhóm

tác giả Nguyễn Thị Côi (cb) dành khá nhiều trang nghiên cứu về các loại phương tiện kĩ thuật và việc bồi dưỡng kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet, sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông [12, tr 122 - 146]

Các bài viết đăng trên tạp chí, Hội thảo đề cập đến việc ứng dụng CNTT trong DHLS theo hướng đổi mới phương pháp và phát huy tính tích cực của HS

gồm: Nguyễn Mạnh Cường với “Sử dụng công nghệ thông tin – viễn thông để nâng cao hiệu quả dạy – học và đổi mới phương thức đào tạo”; Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng với bài viết “Nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” (Tạp chí Giáo dục, số

202, 2008); Phan Ngọc Liên, Đoàn Văn Hưng có bài “ Sử dụng công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” (Tạp chí Giáo dục số 159, 2007); Nguyễn Mạnh Hưởng với “Sử dụng Công nghệ thông tin để dạy bài “ Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954””, Lịch sử lớp 12 (Tạp chí thiết bị giáo dục, số 50,2009) và bài viết “ Đặc trưng việc dạy học lịch

sử và con đường hình thành kiến thức cho học sinh với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” (Tạp chí Giáo dục, số 235, 2010), cùng đó là bài viết “ Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy bài “Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở

Trang 10

miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 – 1975)” – Lịch sử lớp 12” (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 236, 2010); Phan Trọng Luân với “ Công nghệ thông tin với việc giảng dạy các môn khoa học và nhân văn trong nhà trường” (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 8, 1998); “Cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng công nghệ thông tin và các thiết bị dạy học hiện đại” của Đỗ Thị Thanh Thiên (Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 1, 2004), Thiết

kế giáo án điện tử của Nguyễn Thị Thu Hà (Tạp chí Giáo dục số 201, 2008),

Nguyễn Huy Tú với bài viết “Về dạy học bằng máy tính điện tử” (Nghiến cứu

1954 ở lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) với sự hỗ trợ của CNTT”- Hà Nội,

2011; các luận văn tốt nghiệp của sinh viên phương pháp của Bùi Thị Hương -

“Sử dụng CNTT đê nâng cao hiệu quả bài học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, lớp 12 THPT (Chương trình chuẩn)”- Hà Nội 2010; Nguyễn Thị Diệu Linh – “Sử dụng CNTT để hướng dẫn HS khai thác kênh hình khi DH phần LS thế giới 1917 – 1945 THPT (chương trình chuẩn)” Hà Nội, 2010; Vũ Thị Hoa Mai – “Sử dụng CNTT để tạo biểu tượng cho HS khi

DH chương III LS Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)” - Hà Nội, 2010

2.3 Những vấn đề các công trình nghiên cứu chưa làm rõ

Các đề tài về ứng dụng CNTT rất phong phú và đa dạng, đã tập trung nghiên cứu và làm rõ được:

+ Tính cấp thiết và vai trò của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử

ở trường phổ thông

+ Đi sâu vào tìm hiểu về thực trạng ứng dụng CNTT hiện nay ở các trường THPT trên cả nước

Trang 11

+ Trình bày các biện pháp sư phạm, các phần mềm CNTT có ứng dụng cao và vận dụng cụ thể vào từng bài học lịch sử

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cũng chưa chỉ rõ cách thức để tiếp cận các nguồn tài liệu và sưu tập tài liệu điện tử để phục vụ cho việc chuẩn bị xây dựng giáo án điện tử

2.4 Những vấn đề luận văn cần tập trung làm rõ

Trong phạm vi của luận văn tập trung các vấn đề sau:

- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn việc ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay: tính cấp thiết, thực trạng, khó khăn, nguyên nhân và thách thức

- Đề tài xin đề xuất một số phần mềm có tính ứng dụng cao nhằm khai thác, sưu tập, xử lí và xây dựng hệ thống tư liệu điện tử phục vụ cho việc thiết kế bài giảng điện tử để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử nói chung và chất lượng Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000) nói riêng Những nguồn tài liệu quý giá trên của các tác giả đã giúp tôi chọn và giải quyết đề tài này

3 Đối tƣợng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình DHLS ở trường THPT

với sự hỗ trợ của CNTT theo hướng phát huy tính tích cực

- Đề tài không đi sâu vào lĩnh vực thuộc về kĩ thuật, công nghệ, mà sẽ

tập trung nghiên cứu sở lí luận và thực tiễn của vấn đề Từ đó, đề xuất các biện pháp ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả bộ môn, vận dụng vào DHLS

“Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000)” lớp 12 THPT (Chương trình chuẩn)

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nội dung

Đề tài không đi sâu vào lĩnh vực thuộc về kĩ thuật, công nghệ, mà sẽ tập

trung nghiên cứu sở lí luận và thực tiễn của vấn đề Từ đó, đề xuất các một số các phần mềm có tính ứng dụng cao, có hiệu quả trong việc sưu tầm, xử lí các nguồn

Trang 12

tài liệu (tranh ảnh, bản đồ lịch sử và phim ảnh) và xây dựng các bước của quá trình dạy học có ứng dụng CNTT nhằm nâng cao CLDH bộ môn nói chung và

dạy học “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” nói riêng

- Sử dụng CNTT để nâng cao hiệu quả các bài học Lịch sử Thế giới hiện đại từ

năm 1945 – 2000, vận dụng cụ thể vào “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” Lịch sử lớp 12 THPT

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu lí luận dạy học, lí luận về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung

và dạy học nói riêng

- Xác định vị trí, mục tiêu của “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh”

và nội dung để xây dựng quy trình khi sử dụng các phần mềm điện tử để xây dựng hồ sơ tư liệu điện tử và thiết kế giáo án điện tử

- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của việc thực hiện quy trình trên

- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: Khai thác các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học,

phương pháp dạy học bộ môn, nghiên cứu chương trình, nội dung SGK Lịch

sử lớp 12 THPT – Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000), CNTT trong dạy học Lịch sử

- Phương pháp điều tra gồm: dự giờ, quan sát, điều tra xã hội học, trao

đổi thảo luận với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục

Trang 13

- Thực nghiệm sư phạm: Soạn giáo án và tiến hành thực nghiệm sư

phạm dạy học lớp 12 của một số trường THPT

- Phương pháp thống kê: tiến hành phân tích xử lý kết quả thực nghiệm

7 Giả thuyết khoa học

Nếu áp dụng có hiệu quả các ứng dụng phẩn mềm CNTT vào để xây

dựng giáo án điện tử thì không chỉ nâng cao chất lượng dạy học “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ la tinh giai đoạn 1945 – 2000” mà còn góp phần nâng

cao vai trò CNTT đối với nhà trường phổ thông

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu luận văn muốn đóng góp thêm vào bộ môn lý luận phương pháp dạy học lịch sử nói chung, lý luận về việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử phổ thông nói riêng, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Trang 14

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính được trình bày trong 2 chương:

- Chương 1: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông - Cơ sở lí luận và thực tiễn

- Chương 2: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” lớp 12 trung học phổ thông

(chương trình chuẩn)

Trang 15

CHƯƠNG 1 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – CƠ SỞ LÍ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sơ ̉ lí luâ ̣n

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

* Chất lượng dạy học

Dạy học là một hoạt động chủ yếu của hoạt động giáo dục, trong đó chất lượng dạy học là một bộ phận quan trọng hợp thành chất lượng giáo dục Chất lượng dạy học (CLDH) thể hiện ở việc giáo viên truyền thụ cho học sinh hiểu và biết được những kiến thức như thế nào? Kiến thức đó có tác dụng thế nào tới sự phát triển tư duy của học sinh, có giúp các em ứng dụng vào thực tế hay không, được tiến hành qua một bài hay một quá trình dạy học Song dạy học là hoạt động của một quá trình thống nhất, nên khi đánh giá chất lượng người ta còn chú ý đến cả kết quả học tập, rèn luyện của học sinh

Như vậy, CLDH là kết quả giảng dạy và học tập xét cả về mặt định lượng

và định tính so với các mục tiêu bộ môn cũng như sự góp phần vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Nghĩa là xét trên cả mặt nhận thức – giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của học sinh

* Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử

CLDH ở trường phổ thông thể hiện ở kết quả của giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh đạt mức tối đa nhưng không nhồi nhét kiến thức

Để thực hiện mục tiêu này, GV cần xây dựng cho mình kế hoạch dạy học toàn diện cho cả năm học, từng học kỳ, từng chương, từng bài Mỗi năm học,

GV cần có sự điều chỉnh kế hoạch dạy học sao cho hợp lí với tình hình chung, điều kiện cụ thể, xác định kiến thức phù hợp với sách giáo khoa, trình độ học sinh, đồng thời lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp nhằm đạt kết quả cao nhất,[5; tr.19]

Trang 16

* Giáo án điện tử và Bài giảng điện tử

Giáo án là “bản kế hoạch của một tiết lên lớp, trong đó nêu rõ các bước chủ yếu trong công việc của thầy giáo và HS ở trên lớp, đồng thời cũng nêu được một cách vắn tắt nội dung và PP của công việc đó nhằm đạt được mục đích cụ thể và rõ ràng mà thầy giáo xác định trước theo yêu cầu của chương trình học” [22; tr.154]

“Giáo án” và “bài giảng” là hai khái niệm khác nhau, vì “giáo án” là bản

kế hoạch của một tiết lên lớp, còn “bài giảng” là việc thực thi bản kế hoạch

đó Xuất phát từ xu hướng đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào đổi mới PP để

nâng cao chất lượng DH, hiện nay nhiều GV quan niệm bài học nghiên cứu kiến thức mới soạn thảo trên các phần mềm (thường là phần mềm PowerPoint, Violet) là “GAĐT”, hoặc “BGĐT” Theo chúng tôi, GV không nên đồng nhất

hai khái niệm này vì:

Thứ nhất, “GAĐT” và “BGĐT” là hai khâu của quá trình DH ở trường

phổ thông, nhưng đều có sự hỗ trợ của máy tính và các công cụ đa phương tiện Trong đó, để thực hiện một tiết dạy trên lớp với sự hỗ trợ của CNTT, GV phải có sự chuẩn bị từ trước (ở nhà), phải thiết kế toàn bộ kế hoạch hoạt động

DH của mình trên các slide trình chiếu của máy tính, đó là“GAĐT” Khi tổ

chức cho HS học tập trên lớp, GV sử dụng bản kế hoạch ấy với toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình đã được chương trình hóa một cách uyển chuyển, linh hoạt và sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện cùng với năng lực tổ chức, nghiệp vụ sư phạm vốn có, góp phần nâng cao hiệu quả bài

học – đó là “BGĐT”

Thứ hai, nếu chúng ta đồng nhất khái niệm “GAĐT” với “BGĐT” sẽ dễ gây ngộ nhận cho nhiều GV khi cho rằng có thể thay thế hoàn toàn “giáo án truyền thống”, thậm chí thay cho phấn trắng – bảng đen, các loại đồ dùng trực

quan khác và cả vai trò của GV trong khâu tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS Vì, mọi thứ đã được thiết kế và lưu sẵn trên máy tính, khi DH

trên lớp, GV chỉ cần nhấn chuột trình chiếu slide, rồi “đọc lại” những nội

Trang 17

dung ấy trên màn hình cho HS chép (những nội dung đã được GV đánh máy trên các slide ở nhà) Đây thực sự là một quan niệm sai lầm, không những

không từ bỏ được lối DH truyền thống “thầy đọc, trò chép”, mà còn sáng tạo

ra một PPDH mới tệ hại hơn là “thầy kích chuột và đọc”để “trò nhìn, chép”

Ở đây, “BGĐT” nên được hiểu là một phương tiện DH hiện đại, trong

đó nội dung của bài học đã được số hóa, chương trình hóa trong môi trường Multimedia nhằm hỗ trợ cho bài giảng trên lớp của GV đạt hiệu quả cao theo

một kế hoạch giảng dạy đã chuẩn bị từ trước (GAĐT); đồng thời nó cũng là

một quá trình lên lớp của GV có sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện điện tử nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ DH trong những tình huống

sư phạm linh hoạt, thể hiện sự tương tác đa chiều, có kết hợp với các phương pháp dạy học truyền thống và hiệu quả

* Công nghệ thông tin và truyền thông

Từ cuối những năm 70 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Tin học” (Tiếng Pháp Informatique) đã bắt đầu được sử dụng Những năm 90, thuật ngữ “Công nghệ thông tin” (tiếng Anh là Information Technology) xuất hiện và ngày càng trở nên thông dụng trong thời đại của nền văn minh kinh tế tri thức

Ở Việt Nam, từ khi có Nghị quyết 49 CP (1993) về phát triển CNTT thì thuật ngữ này ngày càng phổ biến Từ năm 2000, thế giới bắt đầu sử dụng thuật ngữ “Công nghệ thông tin và truyền thông” (Information and Communication Technology - ICT)

CNTT là một lĩnh vực khoa học rộng lớn nghiên cứu các khả năng và các phương pháp thu thập, lưu trữ, truyền và xử lí thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kỹ thuật (máy tính điện tử và các thiết bị thông tin khác)

ICT - Công nghệ thông tin và truyền thông được hiểu là một “tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lí thông tin” Các công nghệ này bao gồm máy tính,

Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến), và điện thoại Trong những năm gần đây, người ta đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để khai thác

Trang 18

hiệu quả nhất máy tính và Internet, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Nhưng ICT không phải chỉ bao gồm các phương tiện kể trên, nó còn bao hàm các phương tiện lâu đời hơn như điện thoại, đài và vô tuyến, nhưng hiện nay ít được chú ý Chẳng hạn, đài và vô tuyến đã được sử dụng cho giáo dục mở và

từ xa trên 40 năm nay Mặc dù vậy, giáo trình trên giấy vẫn là rẻ nhất, dễ tiếp cận, là hình thức chính ở những nước phát triển và đang phát triển Hiện nay, việc sử dụng máy tính và Internet ở nước ta vẫn còn sơ khai do cơ sở hạ tầng hạn chế và phí truy nhập Internet cao

* Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử với sự hỗ trợ của CNTT

Việc nâng cao hiệu quả dạy – học với sự hỗ trợ của CNTT cần được xem xét trong quan điểm của công nghệ giáo dục để có những chuyển đổi cần thiết

và đồng bộ về hình thức và nội dung Giáo viên và học sinh cần được bồi dưỡng về giáo dục điện tử, cách thức vận dụng công nghệ mới để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống

Tích hợp những thành tựu của CNTT và truyền thông vào quá trình dạy học sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả và đổi mới PPDHLS ở trường THPT ICT là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện nay, nó thâm nhập và cho phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kĩ thuật, xã hội và nhân văn Hiệu quả rõ rệt là chất lượng giáo dục tăng lên cả về mặt lí thuyết và thực hành Vì thế, nó là chủ

đề lớn được tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học thế giới (UNESCO) chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, dự

đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của CNTT”

Theo các chuyên gia giáo dục, nếu việc ứng dụng CNTT trong DHLS có hiệu quả thì sẽ có tác dụng lớn trên cả 3 mặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy - học của thầy và trò,

Trang 19

khắc phục tình trạng “dạy chay”, “học chay”, khá phổ biến ở nhiều nhà trường phổ thông hiện nay Bởi vì, theo các chuyên gia giáo dục, nếu cứ áp dụng PPDH truyền thống (thầy đọc – trò chép) thì 90% tri thức của học sinh được tiếp nhận qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm

sự chú ý, nhưng nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (tức là huy động cùng một lúc nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của học sinh đạt hơn 90%

- Hồ sơ tư liệu dạy học: bao gồm tất cả những loại tài liệu có liên quan đến việc

dạy, học của thầy và trò, phù hợp với nội dung chương trình bộ môn

- Hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch sử: là loại hồ sơ tư liệu được tập hợp

một cách có hệ thống các nguồn tài liệu có liên quan đến bài học lịch sử như tranh ảnh lịch sử, bản đồ, khái niệm lịch sử và tài liệu tham khảo, được xây dựng trên đĩa CD- rom có hệ thống với sự hỗ trợ của CNTT, giúp GV dễ dàng sử dụng

để thiết kế giáo án điện tử, nâng cao CLDH bộ môn

1.1.2 Mục tiêu – nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông

Mục tiêu giáo dục chung của Nhà nước là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu giáo dục nói chung, ở cấp THPT nói riêng là “cái đích: phải nhằm tới để đạt được những kết quả trong sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh, bao gồm các mặt trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục,…

Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, phát huy năng lực cá nhân

Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, thông qua ngày 2/12/1998 (được sửa đổi và bổ sung năm 2005) nêu rõ

Trang 20

mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT được xây dựng trên cơ sở mục tiêu giáo dục của cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta

về sử học và giáo dục Mục tiêu môn học cũng căn cứ vào nội dung, đặc trưng của việc hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, yêu cầu của tình hình và nhiệm

vụ cách mạng hiện nay

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, căn cứ vào đặc trưng cụ thể của từng môn học ở nhà trường THPT, bộ môn lịch sử có mục tiêu:

- Về kiến thức: sẽ cung cấp cho học sinh:

+ Những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức đã học ở THCS, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử của bậc THPT

+ Những nét chính về sự biến đổi trong mối quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000, cũng như sự phát triển của lịch sử nhân loại dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại

+ Cung cấp những kiến thức sơ giản về phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử để nâng cao, cải tiến phương pháp học tập, phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Học lịch sử ở trường THPT học sinh sẽ có được biểu tượng chân thật về quá khứ lịch sử: sự kiện lịch sử, không gian, thời gian, nhân vật quan trọng, hình thành khái niệm, rút ra bài học và quy luật lịch sử Trên cơ sở biểu tượng chính xác và chân thực ấy, HS còn phải hiểu được ý nghĩa, bản chất của tri thức lịch sử, những mối liên hệ bên trong và bên ngoài của các sự kiện, qua tiến hành các hoạt động tư duy (phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp, suy luận,…)

- Về tư tưởng, tình cảm: sẽ nhằm giáo dục HS :

Trang 21

+ Quan điểm, tư tưởng, lập trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách, tình cảm thông qua học tập lịch sử

+ Lòng yêu lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và phát triển những thành quả cách mạng mà dân tộc đã đạt được

+ Có thái độ khâm phục và tự hào trước những thành tựu lao động mà nhân dân thế giới đã đạt được

+ Tinh thần đoàn kết quốc tế, hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình dân chủ

+ Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế + Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng

- Về phát triển: sẽ bồi dưỡng các em:

+ Tư duy biện chứng trong nhận thức và thực hành, biết phân tích, đánh giá, liên hệ,

+ Kĩ năng học tập, thực hành bộ môn: sử dụng SGK, các tài liệu tham khảo khác, khả năng trình bày nói và viết, làm và sử dung một số đồ dùng trực quan, đặc biệt là đồ dùng quy ước bằng CNTT phục vụ các giờ học nội khóa

và ngoại khóa của HS

+ Vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay

Một cách khái quát, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường THPT là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở đó, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành Thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, việc dạy học lịch sử ở THPT góp phần nâng cao sự hiểu biết mà HS đã tiếp thu ở THCS, đặc biệt trình độ lí thuyết trong nhận thức lịch

sử và năng lực thực hành

Tóm lại, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở đó, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành

Trang 22

Các nhiệm vụ trên được hình thành và củng cố, tạo ra các năng lực chủ yếu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta, đó là:

+ Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng và phẩm chất đã hình thành trong việc dạy học và giáo dục, trong học tập, giao tiếp, dám nghĩ, dám làm và biết chịu trách nhiệm

+ Năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để có thể chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong học tập, lao động, sinh sống cũng như hòa nhập với môi trường tự nhiên, cộng đồng xã hội

+ Năng lực giao tiếp, ứng xứ với lòng nhân ái, có văn hóa và thể hiện tinh thần trách nhiệm với gia đình cộng đồng xã hội

+ Năng lực tự khẳng định, biểu hiện ở tinh thần phấn đấu học tập và lao động, không ngừng rèn luyện bản thân, có khả năng tự đánh giá và phê phán trong phạm vi môi trường hoạt động của bản thân

1.1.3 Quan niệm về nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT và việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT có sự hỗ trợ của CNTT

Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kĩ thuật mà đặc trưng của nó là khối lượng thông tin khổng lồ ngày càng tăng, mức độ lí thuyết ngày càng cao Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin đang nhảy vọt ở cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI dẫn tới khoảng cách phát minh khoa học và áp dụng thực tiễn ngày càng rút ngắn, do đó đòi hỏi con người có trình độ khoa học và công nghệ ngày càng lớn

Hiện nay CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo trên nhiều khía cạnh, trong đó có cả việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới công nghệ dạy và công nghệ học Các thuật ngữ này được hiểu theo đúng nghĩa công nghệ

Công nghệ dạy học hay công nghệ đào tạo, công nghệ giáo dục đều được hiểu là cùng một ý tưởng, với từ tiếng Anh được dùng phổ biến hiện nay là Education Technology

Trang 23

Có 2 cách hiểu khác nhau về nội dung của công nghệ giáo dục:

- Theo nghĩa hẹp công nghệ giáo dục – đào tạo được hiểu là việc dạy và học được thực hiện với sự hỗ trợ của các phương tiện, các công nghệ và kĩ thuật hiện đại Các công nghệ này cần có tính chuyển giao cho người khác Trong các phương tiện và công nghệ này, công nghệ thông tin có ảnh hưởng mạnh

mẽ và sáng tạo nhất đối với công nghệ giáo dục

- Theo nghĩa rộng như UNESCO định nghĩa: Là tập hợp gắn bó chặt chẽ những phương pháp, phương tiện và kĩ thuật học tập đánh giá, được nhận thức

và được sử dụng tùy theo những mục tiêu đang theo đuổi và có liên hệ với những nội dung giảng dạy và những lợi ích của người học Đối với người dạy,

sử dụng công nghệ giáo dục thích hợp có nghĩa là biết tổ chức quá trình dạy học và đảm bảo sự hình thành của quá trình đó

Như vậy, đổi mới PPDH bằng CNTT là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI và UNESCO dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của CNTT

Dạy và học thực chất là quá trình thực hiện việc phát và thu thông tin Học

là quá trình thiếp thu có định hướng và có sự tái tạo, phát triển thông tin Vì vậy những người dạy (hay máy phát tin) đều nhằm mục đích là phát ra được nhiều thông tin với lượng thông tin lớn liên quan đến môn học, đến mục đích dạy học

Thông tin được hiểu càng có giá trị nếu có gây ra sự bất ngờ lớn, sự bất ngờ càng lớn này được đo bằng xác suất xuất hiện càng bé Lượng thông tin càng lớn thì người học sẽ cảm thấy thú vị Còn người học như một cái máy thu

có nhiều cửa vào (tai, mắt, mũi) phải biết tiếp nhận thông tin qua nhiều cửa, biết tách thông tin hữu ích ra khỏi nhiễu, phải lưu giữ thông tin trong bộ nhớ trong (não) hay bộ nhớ ngoài (sách, vở,…) Mỗi một cửa vào này tiếp nhận một loại mã hóa thông tin riêng biệt Vì vậy, muốn truyền lượng thông tin lớn,

ta phải biết tận dụng tất cả các phương tiện có thể đưa lượng thông tin vào các

Trang 24

cửa này: có những thông tin rất khó vào tai thì phải chuyển đổi dạng mã hóa, chế biến để cho vào mắt

Vì vậy, cùng một bài học viết dưới dạng văn bản, nếu ta chỉ truyền nội dung văn bản tới người học thì lượng thông tin sẽ rất ít, người học sẽ kém hứng thú Hoặc chỉ truyền thông tin bài học theo một chiều, không có sự hỏi đáp, thì thông tin thu được của người học sẽ méo mó, sai lệch dẫn đến người học hiểu sai bài

Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo nghĩa của công nghệ thông

tin là “phương pháp làm tăng giá trị lượng thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”

Với vai trò của CNTT đối với giáo dục, nhiều nước phát triển như Nhật, Anh,… Đã xác định việc ứng dụng CNTT trong nhà trường là một phần rất quan trọng trong giáo dục Vì vậy, họ sẽ xây dựng các trung tâm máy tính điện tử cho các viện nghiên cứu, cho các trường học, các thư viện,…Việc sử dụng tin học vào các trường phổ thông trên thế giới hiện nay được xem xét ở 2 góc độ:

- Thứ nhất: Máy tính là đối tượng dạy học (học sinh sẽ được học về máy tính)

- Thứ hai: Sử dụng máy vi tính như công cụ dạy học

Tùy từng điều kiện cụ thể, mỗi nước có cách đi và phương hướng phát triển riêng Tuy nhiên, các nước trên đều có xu hướng chung là từng bước vững chắc đưa nội dung tin học vào phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy học và sử dụng máy tính điện tử như công cụ trợ giúp cho dạy – học

Cùng với sự phát triển của máy tính điện tử là sự phát triển của các phần mềm hệ thống và ứng dụng Đặc biệt trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt, các phần mềm ứng dụng ngày càng được sử dụng nhiều hơn và ngày càng phát huy thế mạnh của mình trong các lĩnh vực kinh tế, kĩ thuật, khoa học và giáo dục Nhiều phần mềm ứng dụng trong dạy học đã lần lượt ra đời, theo tác giả Monet phần mềm tin

học là nội dung “thông minh” trong máy tính…

Trang 25

Ở Việt Nam gần đây chính phủ đã thông qua nhiều đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa tin học vào nhà trường

Viện khoa học giáo dục có trách nhiệm nghiên cứu vấn đề đưa tin học vào nhà trường phổ thông Đến nay đã bước đầu giải quyết các vấn đề:

- Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu giảng dạy về tin học

- Đưa tin học trước hết vào môn Toán sau đó là các môn khác

- Bồi dưỡng và đào tạo GV có thể trực tiếp tham gia dạy tin học và hướng dẫn các giáo viên khác biết sử dụng máy tính đặc biệt và các phần mềm hỗ trợ dạy học

- Trang bị máy tính điện tử và nối mạng Internet trong nhà trường

- Đưa tin học vào thành môn học chính trong nhà trường

Như vậy, khi tin học đã trở thành một môn học bắt buộc trong nhà trường

phổ thông thì mục tiêu “ứng dụng máy tính điện tử làm công cụ dạy học” là

không thể thiếu, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục

1.1.4 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử và con đường hình thành kiến thức lịch

sử cho HS ở trường THPT với sụ hỗ trợ của CNTT

Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúc xuất hiện đến nay Đặc trưng cơ bản của môn lịch sử khác với các môn học ở trường THPT

là tính không lặp lại, những sự kiện đã xảy ra hoàn toàn khách quan với ý muốn của con người, chỉ diễn ra duy nhất một lần trong quá khứ Vì vậy, trong quá trình học tập lịch sử, HS không thể trực tiếp quan sát đối tượng nghiên cứu giống như các môn khoa học tự nhiên khác như Hóa học, Vật lí, Sinh học, Khi HS học lịch sử, giáo viên không thể tiến hành các thí nghiệm về lịch sử để dựng lại quá khứ cho các em quan sát

Theo quy luật nhận thức khách quan của con người, quá trình nhận thức

nói chung và quá trình nhận thức lịch sử nói riêng bao giờ cũng đi “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng " và " từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn"; cái gì càng gần thì càng nhớ lâu, càng xa thì càng nhanh quên Nhưng

HS học lịch sử lại đi từ xa đến gần: các em học từ thời nguyên thuỷ đến cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại Vậy chúng ta phải làm gì, bằng phương pháp và

Trang 26

biện pháp nào để các em có được tính "trực quan sinh động" khi học tập lịch

sử? Đó là yêu cầu lớn, cũng là vai trò và trách nhiệm của mỗi GV dạy sử Mỗi

GV phải biết lựa chọn những kiến thức cơ bản để khắc sâu cho các em sự kiện lịch sử với đầy đủ tính thời gian, không gian, nhân vật, qua đó phác họa ở các em những bức tranh quá khứ chân thực nhất

Do đặc trưng của việc học tập lịch sử, con đường nhận thức của HS bao giờ cũng phải đi từ cung cấp sự kiện đến tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra bài học lịch sử,… Trong đó, cung cấp sự kiện để tạo biểu tượng lịch sử cho HS là một việc khó khăn vì yêu cầu cơ bản của dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những hình ảnh về các sự kiện đúng như nó tồn tại, mà sự kiện đó các

em không được trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiện nay, với kinh nghiệm và hiểu biết của các em Vì vậy, trong việc tạo biểu tượng, GV phải làm cho các sự kiện lịch sử khách quan xích gần lại với khả năng hiểu biết của các em Việc tạo biểu tượng lịch sử cho HS không dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất của chúng, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện Vì vậy, biểu tượng rất gần gũi với khái niệm đơn giản, sự thống nhất giữa hai biện pháp này là một trong những đặc điểm chung của phát triển tư duy Trong học tập lịch sử, cũng như trong các môn học khác, hai quá trình này vừa tiến hành một cách độc lập, vừa gắn liền nhau trong một thể tự nhiên

của quá trình giáo dục Sácđacôp trong “Tư duy học sinh”, đã khẳng định

không có khái niệm nào dù trừu tượng đến mấy mà không chứa đựng trong nó nội dung cảm tính nào đó, và không có hình tượng nào dù là cụ thể đến mấy

mà không hướng vào từ - tức chữ viết… Nhờ có từ mà học sinh tự gợi ý ra những biểu tượng cần thiết đối với các em Ngoài ra, nhờ có từ mà học sinh có thể liên hợp những biểu tượng đã có của mình thành những hình ảnh khác nhau, tạo ra những hình tượng bóng bẩy, ẩn dụ,…

Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, các lĩnh vực trong đời sống của con người ngày càng được công nghệ hóa cao độ Con người có những phát minh khoa học mang tính chiến lược để tiếp cận

Trang 27

ngày càng gần và chính xác với quá khứ của mình, điều này đã được lịch sử tận dụng và ứng dụng vào dạy học Khi dạy học lịch sử, GV kết hợp trình bày sinh động với tư liệu điện tử sinh động, các hình ảnh được phóng to, đậm nét, đẹp mắt, HS được nghe, nhìn nên nhớ kiến thức rất lâu Các hình ảnh được trình chiếu, minh họa thêm bằng nguồn tư liệu tham khảo phong phú, sẽ tạo biểu tượng một cách rõ ràng cho các em về bức tranh quá khứ

Cụ thể: Khi muốn tái hiện lại “Bức tường Beclin” – biểu tượng của

sự phân chia hai cực trong thời kì Chiến tranh lạnh (Bài 2 “Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 – 1991) Liên bang Nga (1991 – 2000)”), giáo

viên có thể cho học sinh quan sát bức ảnh “Bức tường Beclin”, không phải

là bức ảnh đen trắng trong SGK mà là bức ảnh màu được phóng to trên máy chiếu kết hợp với ngôn ngữ của GV (miêu tả, phân tích) Cụ thể và sinh động hơn nữa GV có thể chiếu phim về bức tường Beclin cho HS xem, đoạn phim là những hình ảnh chân thực về quá trình bức tường được xây dựng nhằm ngăn cách cư dân Đông Beclin và Tây Beclin đi lại, cuối cùng là những hình ảnh bức tường này bị phá bỏ trước sự vui mừng, phấn khởi của cư dân nước Đức,… Khi quan sát ảnh, đặc biệt là được xem phim HS sẽ nhớ rất lâu những hình ảnh về vị trí của bức tường trong thủ

đô Beclin cũng như vai trò của nó trong mối quan hệ hai cực thời kì Chiến tranh lạnh

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong da ̣y học li ̣ch sử ở trường THPT

Sự ra đời của máy tính, các phần mềm tin học và mạng Internet là biểu hiện cho sự phát triển không ngừng của ngành CNTT CNTT là một phương tiện kĩ thuật tham gia vào quá trình giáo dục và nó có nhiều ưu điểm hơn các phương tiện khác, tác dụng của nó tới công việc dạy và học dễ dàng hơn và tiện lợi hơn vì khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều hình thức phong phú và sinh động cho quá trình dạy học

Trang 28

a Đối với giáo viên

Sử dụng CNTT vào hoạt động dạy học sẽ từng bước nâng cao trình độ và

kĩ năng sử dụng tin học của giáo viên Việc sử dụng CNTT trong giảng dạy sẽ giúp thiết kế bài giảng lịch sử dễ dàng hơn, tiết kiệm được thời gian và công sức trong bài giảng có nhiều sự kiện, nhiều đoạn tường thuật, miêu tả Khi có

sự hỗ trợ của CNTT làm cho bài giảng với những hình ảnh và âm thanh sống động sẽ được truyền tải đến học sinh mà GV chỉ có sử dụng thao tác đơn giản

nhất là “kích chuột” Vì vậy, qua bài giảng GV sẽ nắm bắt được mức độ tiếp

thu của HS để rút ra kinh nghiệm, điều chỉnh bài giảng của mình và có PPDH phù hợp và hiệu quả hơn GV sẽ lựa chọn các tài liệu trực quan cần cho từng phần của bài học và sử dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy Nó cho phép GV mô phỏng, minh họa nhiều quá trình, hiện tượng xã hội mà HS không thể quan sát trực tiếp được, những âm thanh, hình ảnh, màu sắc sinh động, kèm theo những đoạn văn bản, lời bình, tác động đồng thời hoặc tiếp nhau lên các giác quan, giúp HS học tập hiệu quả hơn, nắm vững kiến thức và đạt được các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết Phần mềm dạy học kiểm tra, đánh giá, cung cấp giúp cho GV thuận tiện trong việc ra câu hỏi, đề kiểm tra cũng như khách quan chấm bài kiểm tra đó

Với phần mềm “mở”, GV có thể xây dựng, thiết kế những bài giảng, bài

tập,…để làm tư liệu giảng dạy Các tài liệu trong phần mềm có thể sao chép ra đĩa mềm hay in ra giấy một cách dễ dàng, tiết kiệm được thời gian và công sức chuẩn bị để tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động tự học của HS Đồng thời, công việc này giúp HS tự tìm tri thức, tự ôn tập, luyện tập theo nội dung tùy chọn, theo các mức đọ tùy thuộc và năng lực của các em

Nếu hoạt động dạy học truyền thống gắn liền với phấn - bảng, là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh khá độc hại liên quan tới phổi của GV thì việc sử dụng CNTT sẽ giúp cho GV đỡ vất vả hơn trong giờ lên lớp, sẽ hạn chế được phần nào việc dung phấn - độc hại cho cơ thể

Trang 29

Đồng thời, GV sẽ ngày càng nâng cao được trình độ chuyên môn và PPDH, GV mới thực hiện được nhuần nhuyễn việc tổ chức và hướng dẫn, điều khiển quá trình học tập của HS trên những phương tiện kĩ thuật hiện đại

b Đối với học sinh

Theo tổng kết của một số công trình nghiên cứu khoa học thì: chúng ta học bằng: nghe 11%, nhìn 83% Chúng ta nhớ những gì mà chúng ta đọc 10%, nghe 20%, nhìn 20%, nhìn và nghe 50%; nói và làm 90% Trong đó CNTT với những nội dung như các phần mềm, mạng Internet cung cấp cho chúng ta những phương tiện truyền thông đa chức năng (Multimedia) Đặc điểm của nó là cung cấp thông tin dưới dạng kênh chữ, kênh hình, kênh âm thanh và hình bao gồm tranh ảnh, các đoạn video, hệ thống âm thanh thực,… hệ thống biểu đồ, bản đồ

- CNTT làm tăng hứng thú học tập cho HS, khi ứng dụng vào dạy HS sử giúp bài học trở nên sinh động, phong phú, giàu hình ảnh giảm sự khô khan CNTT giúp HS trong mỗi môi trường học tập sáng tạo hơn, tăng cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân, đồng thời động viên các em trở thành những con người sáng tạo, thích khám phá McAlister và các cộng sự (2005) đã đưa ra những con số quan

trọng trong nghiên cứu của Ban giáo dục Anh có tên “ Thế hệ trẻ và CNTT – truyền thông (Young people and ICT”): 80% trẻ em thích sử dụng máy vi tính,

86% cho rằng máy vi tính đã giúp đỡ chúng rất nhiều trong học tập, 74% các bậc phụ huynh tin tưởng cho rằng con em họ sáng tạo hơn khi chơi với máy vi tính

- CNTT giúp HS đáp ứng được nhu cầu cá nhân

Việc sử dụng CNTT tạo cơ hội cho HS truy cập dễ dàng với các nguồn thông tin trực tuyến (Kleiman, 2002), bài học trực tuyến, câu hỏi trực tuyến và các tài liệu học tập điện tử khác

Dưới dạng thông tin đó, khi ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học, học sinh sẽ tiếp thu kiến thức từ nhiều hướng nhiều nguồn khác nhau, làm cho các giác quan của HS hoạt động linh hoạt và khả năng tư duy của các em thêm nhanh nhạy Điều đó đương nhiên sẽ có tác dụng tốt cho việc đổi mới PPDH lấy học sinh làm trung tâm

Trang 30

- CNTT giúp HS phát triển đa trí tuệ

Theo như kết quả nghiên cứu của Menn (1993,trích dẫn ở tạp chí giáo dục

số 161) về đánh giá ảnh hưởng của cách HS ghi nhớ chỉ 10% những gì các em đọc, 20% những gì các em nghe, 30% là nghe với điều kiện có hình ảnh minh họa thông tin đó; 50% những gì các em quan sát được từ một người nào đó làm và giải thích về vấn đề đó; các em sẽ ghi nhớ được 90% lượng thông tin nếu tự bắt tay vào làm dù chỉ tiến hành trên các mô phỏng Điều này cho thấy

để “đánh thức” thông minh của người học và khuyến khích khả năng học tập của họ cần phải xây dựng một môi trường học tập đáp ứng được yêu cầu cá nhân, điều này thì CNTT tỏ ra chiếm ưu thế vì những hình ảnh sống động giúp

HS ghi nhớ nhanh nhất và thúc đẩy mọi năng lực giác quan HS

- CNTT khuyến khích HS học tập kiến tạo

Môi trường học tập mang tính kiến tạo hiểu là môi trường giúp người học tập một cách có tính xây dựng (kiến tạo) Vì đây là môi trường học tập mở, Internet đã đẩy biên giới học tập ra ngoài khuôn viên cũ, phát triển hơn vì tạo điều kiện cho người học từ mọi nơi trên thế giới có thể giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau qua mạng Như vậy việc trao đổi thông tin không phải chỉ mang tính chất địa phương mà còn mang tính chất toàn cầu

c Ý nghĩa

- Giáo dưỡng: Tích hợp CNTT trong dạy học góp phần quan trọng vào cung cấp kiến thức và tạo biểu tượng lịch sử cho HS tiết kiệm thời gian và công sức của giáo viên trong bài giảng có nhiều sự kiện, nhiều đoạn tường thuật, miêu

tả Lênin đã nói: “Từ trực quan sinh động đến từ duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thức khách quan” Hoặc người xưa cũng đưa ra châm ngôn:

“trăm nghe không bằng một thấy” đã khẳng định được tầm quan trọng của việc “quan sát” đối tượng khi nhận thức, nhất là trong dạy - học lịch sử

- Tư tưởng, tình cảm, thái độ:

Trang 31

Những hiệu ứng sinh động, hình ảnh, âm thanh chân thực, đa dạng và phong phú sẽ có tác động rất lớn tới việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ của các em

- Phát triển: Việc sử dụng CNTT trong DHLS góp phần phát triển khả năng quan sát, hình dung, tưởng tượng, tái tạo hình ảnh quá khứ, phát triển năng lực học tập bộ môn như phân tích, so sánh, đánh giá, nhận xét, khái quát,… các sự kiện, hiện tượng lịch sử và các kĩ năng học tập bộ môn (vẽ bản đồ, lập niên biểu,…) nhận thức lịch sử thông qua nhân vật lịch sử Như cố thủ tướng Phạm

Văn Đồng đã nói: “Dạy bất cứ cái gì đều phải dạy trí thông minh của người học chứ không phải bắt cái trí nhớ làm việc rồi tả lại”, bộ môn Lịch sử giúp

HS rèn luyện kĩ năng quan sát, kĩ năng tái tạo, tư duy sáng tạo

ta, việc ứng dụng những thành tựu của khoa học kĩ thuật vào nền giáo dục cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện qua các chỉ thị của Bộ giáo dục và Đào tạo đã triển khai rộng rãi trên cả nước những năm gần đây

CNTT được ứng dụng rộng rãi trong dạy học nói chung và dạy học lịch

sử nói riêng cũng kéo theo việc xây dựng giáo án điện tử phục vụ công tác giảng dạy phải được đầu tư hơn trước Nhưng trên thực tế, việc sử dụng giáo

án điện tử trong dạy học chưa có hiệu quả Số các tiết học có sử dụng CNTT ở các trường THPT rất hạn chế HS một tháng hoặc hai tháng mới được học tiết dạy trên máy chiếu, hoặc khi nhà trường có các tiết thao giảng thì GV mới được khuyến khích sử dụng Như vậy, GV nâng cao CLDH qua đổi mới PPDH bằng CNTT rất hạn chế Việc GV không không được khuyến khích sử dụng CNTT trong dạy học đã đưa đến tình trạng là không quan tâm đến hoạt động

Trang 32

xây dựng tư liệu điện tử trong dạy học bộ môn Chỉ khi nào cần sử dụng, giáo viên mới đi sưu tập trên mạng Internet hoặc các nguồn khác, nhưng rất khó khăn không đáp ứng được nhu cầu, cho đến hiện nay, phần lớn các GV ở các trường phổ thông không có hoặc có rất ít các kĩ năng sử dụng phẩn mềm tin học để xây dựng giáo án điện tử, nâng cao chất lượng dạy học

Hiện nay, bằng những nguồn kinh phí khác nhau, tất cả các trường THPT trên phạm vi cả nước (bao gồm các loại hình trường Công lập, Dân lập, Bán công ở thành thị, miền núi, đồng bằng,…) đều đã trang bị về cơ sở vật chất và đáp ứng được điều kiện ứng dụng CNTT để đổi mới PP, nâng cao chất lượng DH Ít nhất, mỗi trường THPT có một phòng dạy mẫu, được trang bị máy chiếu có kết nối với máy vi tính và những phương tiện cần thiết khác Tuy nhiên, việc trang bị này chưa đồng bộ giữa các vùng, miền: những trường phổ thông ở thành thị và trường đạt chuẩn Quốc gia được trang bị nhiều hơn, GV được ứng dụng thường xuyên và hiệu quả tốt hơn

Hai là, đa phần Ban lãnh đạo, quản lí ở các trường THPT và GVLS ủng

hộ phong trào ứng dụng CNTT trong dạy học, vì nó góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng giáo dục Nhiều nơi, lãnh đạo nhà trường khuyến khích

cả về vật chất lẫn tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi để GV các bộ môn đẩy mạnh phong trào ứng dụng CNTT trong giảng dạy Nhiều trường THPT ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Thái Nguyên,… sẵn sàng bỏ ra hàng chục triệu đồng đầu tư cho các bộ môn mua sắm tư liệu điện tử, phần mềm hỗ trợ phục

vụ giảng dạy,

Ba là, nhằm đẩy mạnh phong trào ứng dụng CNTT trong DH, từ năm

2005, Bộ GD - ĐT và các Sở GD - ĐT nhiều tỉnh liên tiếp mở các khóa tập huấn, bồi dưỡng cho GV bộ môn tích hợp CNTT vào PPDH Nhiều dự án, chương trình giáo dục giữa Bộ GD - ĐT với các tập đoàn lớn được kí kết, nhằm tập huấn cho GV sử dụng hiệu quả CNTT trong giảng dạy Trong các dự

án, khóa bồi dưỡng và tập huấn này, giảng viên tổ PPDH của các trường đại

học sư phạm được coi là nòng cốt Ví như các chương trình “Teaching to the

Trang 33

Future” (Dạy học cho tương lai do tập đoàn Intel® của Mĩ tài trợ)

và “Partners in Learning” (Chia sẻ đồng nghiệp, do tập đoàn Microsoft của

Mĩ tài trợ

Bốn là, việc ứng dụng CNTT trong DHLS ngày càng trở nên phổ biến ở

các trường THPT trên cả nước, hình thức và biện pháp sử dụng cũng rất đa dạng, phong phú 100% tiết dạy của GVLS tại hội thi GV dạy giỏi các cấp và hội giảng nhân dịp kỉ niệm ngày 20/11 hàng năm đều sử dụng CNTT trong

DH Nhiều trường THPT ở thành thị và các trường đạt chuẩn Quốc gia, số GVLS thiết kế và sử dụng GAĐT trở nên phổ biến, thường xuyên hơn, góp phần đáng kể vào nâng cao chất lượng bộ môn

Năm là, hiệu quả của các tiết học LS có ứng dụng CNTT thường cao

hơn giờ học truyền thống về nhiều mặt Bài học LS trở nên sinh động, hấp dẫn, HS hứng thú, dễ hiểu và nhớ lâu kiến thức Nhờ việc ứng dụng CNTT trong DH thường xuyên nên tỉ lệ HS khá, giỏi của các trường phổ thông năm

sau cao hơn năm trước Theo Báo Vietnam.net: trường THPT Dân lập Ngôi

Sao, thành phố Hồ Chí Minh có tỉ lệ HS khá, giỏi (chiếm hơn 80 %) một phần

do GV tích cực ứng dụng CNTT trong DH

Tuy nhiên, thực tiễn ứng dụng CNTT để đổi mới PP, nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình thưc hiện Nhìn chung, GV mới chỉ vận dụng phổ biến ở các thành phố lớn, trường đạt chuẩn Quốc gia, còn khu vực miền núi, hải đảo, nông thôn, vùng sâu vùng xa chưa có sự chuyển biến tích cực, việc ứng dụng nhiều khi còn mang tính hình thức Nhiều GV sau khi được tiếp cận với máy vi tính và các phần mềm DH lại tuyệt đối hoá vai trò của CNTT trong DHLS, cho rằng nó có thể thay thế hầu hết những hình thức, phương tiện DH truyền thống Một số GV khi ứng dụng CNTT mới chỉ chú ý đến các thao tác kĩ thuật, chưa chú trọng kết hợp giữa PP sử dụng phương tiện DH hiện đại với các hoạt động tổ cho HS nhận thức, chưa phát huy được tính tích cực của HS và các hoạt động tương tác giữa GV với HS và giữa HS với nhau, Không ít GV tỏ ra rất cố gắng tiếp

Trang 34

cận và ứng dụng CNTT vào DH, nhưng do thiếu tài liệu hướng dẫn về lí luận, biện pháp sử dụng, chưa có kinh nghiệm, nên còn lúng túng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa kiểu DH truyền thống với DH có sự hỗ trợ của CNTT

Vì thế, không ít tiết học LS có sử dụng CNTT bị GV biến thành bài trình chiếu

kênh chữ, giới thiệu kênh hình, theo kiểu “thầy kích chuột, còn HS nhìn chép”

Trong quá trình thực hiện đề tài, để tìm hiểu thực tiễn việc dạy học lịch sử

ở trường phổ thông nói chung và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử nói riêng, chúng tôi đã tiến hành điều tra cơ bản về tình hình sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử

- Địa bàn điều tra: Chúng tôi đã tiến hành điều tra ở một số trường phổ thông

ở Hải Phòng với gần 30 phiếu điều tra cho giáo viên và 200 phiếu điều tra đối với học sinh Từ kết quả thu được, chúng tôi đã tổng kết và đánh giá:

Bảng1.1: Thống kê tình hình sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử

(Kết quả đối với giáo viên)

Số lƣợng Câu hỏi điều tra Câu hỏi trả lời

30 Theo thầy (cô), việc ứng dụng

CNTT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có vai trò quan trọng như thế nào?

Rất quan trọng

5

Bình thường

17

Không quan trọng

8

30 Thầy (cô) đã từng thiết kế bài

giảng lịch sử trên phần mềm Microsoft PowerPoint chưa?

Thường xuyên

4

Đôi khi

11

Không bao giờ

15

30 Lí do các thầy cô không ứng

dụng CNTT thường xuyên vào các tiết dạy là gì?

- Do thiếu cơ sở, vật chất

- Do không có đầy đut tư liệu

- Do thiếu kí năng sử dụng máy tính,…

30 Nếu được học lớp bồi dưỡng

về CNTT, thầy (cô) có tham gia không?

21

Có, nhưng phải hỗ trợ

9

Không

0

Trang 35

(Kết quả điều tra học sinh)

82

170 Ở trường, các em

có thường xuyên được học các môn học có sử dụng CNTT không?

1 lần/tuần

44

Chỉ dùng khi

có người dự giờ

126

Chưa bao giờ

0

200 Các em có thích

học môn Lịch sử

có ứng dụng công nghệ thông tin không?

26

195 Học Lịch sử có sử

dụng CNTT các

em nhận thấy thế nào?

16

Nhận xét:

Kết quả điều tra cho thấy:

- Về phía giáo viên: Mặc dù giáo viên có nhận thức về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử, nhưng vẫn tồn tại ý kiến bộ môn lịch sử không cần thiết sử dụng CNTT Việc dạy học Lịch sử có sử dụng CNTT (cụ thể là ứng dụng phần mềm thiết kế bài giảng Microsoft Power Point) trên thực tế ít được tiến hành hoặc tiến hành không thường xuyên

Trang 36

Một thực tế là đội ngũ GV ở các trường trung học phổ thông của chúng ta hiện nay có độ tuổi cao (từ 40 trở lên) và được đào tạo từ lâu Trong bối cảnh khoa học CNTT đang phát triển nhanh chóng và tạo nên xu hướng đổi mới phương pháp dạy học tăng cường sử dụng CNTT và các phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học, nhiều giáo viên không bắt kịp với sự thay đổi đó, cộng với tâm lí ngại thay đổi, dẫn đến hậu quả là chưa có kĩ năng cơ bản về sử dụng máy tính vào quá trình giảng dạy

- Về phía học sinh: Một thực tế cho thấy, đa số các em cho rằng môn Lịch sử

là một môn phụ, học rất khô khan và khó nhớ vì lượng kiến thức nhiều với sự kiện chồng chéo… Do đó làm giảm sự quan tâm của HS đối với môn sử, các

em giành nhiều thời gian và công sức vào học các môn mà các em gọi là “môn chính” Vì vậy, sách giáo khoa phổ thông nên giảm hơn nữa lượng kênh chữ

và thay vào đó là kênh hình sẽ giúp các em dễ dàng nắm bắt được kiến thức và

sự yêu thích đối với bộ môn lịch sử

Hiện nay, GV chưa ứng dụng CNTT vào giảng dạy một cách rộng rãi, mà chỉ tiến hành khi có các giáo viên khác dự giờ Trong khi đó, HS lại tỏ ra hứng thú khi được học các bài giảng lịch sử có ứng dụng CNTT Tuy nhiên khi ứng

dụng CNTT, một số thầy cô vẫn dạy theo phương pháp truyền thống “thầy đọc, trò chép”, hoặc thiên về “biểu diễn” làm cho giờ học lịch sử vẫn căng

thẳng, mệt mỏi, khó nhớ và hiều bài sâu sắc

Tóm lại, từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và môn Lịch sử nói riêng ở trường phổ thông là hết sức quan trọng và thiết thực Nó càng trở nên cấp thiết hơn khi CNTT đang phát triển những bước nhảy vọt, nếu không đổi mới phương pháp và hình thức dạy học thì sẽ trở nên lạc hậu Vấn đề là cần có các khóa bồi dưỡng CNTT cho GV

để họ có kĩ năng sử dụng và ứng dụng Mặt khác, bản thân mỗi GV cũng cần

tự học qua tài liệu hướng dẫn nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ này, đáp ứng sự phát triển của nền giáo dục hiện đại

* Nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng như vậy? Theo chúng tôi thì:

Trang 37

Một, do xã hội chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của bộ môn LS Ở

các trường phổ thông hiện nay từ cấp quản lý đến GV, phụ huynh và HS

thường cho rằng LS là “môn phụ”, “môn học thuộc” Tâm lí coi thường LS

còn khá phổ biến ở các cấp quản lý giáo dục và nhà trường, nên hay cắt xén chương trình khi khong thi tốt nghiệp môn Sử, cử GV môn Ngữ văn, Giáo dục công dân dạy môn Sử,…

Hai, những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng tới chất

lượng DHLS Ngay từ khi bước vào bậc THPT, đa số phụ huynh và HS đã xác định khối thi vào đại học là A, B, D, rất ít em hướng theo khối C (Văn, Sử, Địa) Trong quá trình học ở bậc THPT, HS chủ yêu tập trung học các môn sẽ thi đại học, những môn khác chỉ học đối phó

Ba, việc đào tạo GVLS cho các trường phổ thông chưa đồng bộ GVLS

ở trường THPT hiện nay được đào tạo từ nhiều nguồn: ĐHSP Trung ương, ĐHSP vùng, địa phương, dân lập, ĐHQG,… nhưng không được kiểm tra, đánh giá kĩ Chương trình và chất lượng đào tạo giữa các cơ sở đào tạo có

nhiều khác biệt nên chất lượng GV không đồng đều Hiện tượng GV “phát thanh” lại SGK, biến bài học LS thành bài chính trị vẫn diễn ra Không ít

GVLS ở trường phổ thông non yếu cả về kiến thức thông sử lẫn PPDH và năng lực sư phạm

Cuối cùng, hiện tượng bảo thủ, lạc hậu, chậm đổi mới về PPDH của GV

cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng bộ môn

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải tìm ra giải pháp để khắc phục

* Thách thức khi ứng dụng công nghệ thông trong dạy họcở các trường phổ thông hiện nay:

Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa CNTT và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:

Trang 38

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng

“slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng”

đòi hỏi GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho HS

- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các PPDH đồng thời phát huy ưu điểm của PPDH này làm hạn chế những nhược điểm của PPDH truyền thống Điều đó làm cho CNTT, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó

- Việc sử dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó

- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới PPDH bằng phương tiện chiếu

Trang 39

projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả

- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại

ở việc “xoá mù” tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và

công sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả

1.2.2 Một số biện pháp khuyến khích giáo viên và học sinh sử CNTT để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường THPT

Xuất phát từ tình trạng yếu kém của HS trong học tập lịch sử, nhiều Hội thảo về đổi mới PPDH bộ môn, các trường Đại học, Cao đẳng đã diễn ra như Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học

Sư phạm Thái Nguyên Tại các Hội thảo này, nhiều nhà giáo dục và giáo dục lịch sử đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao CLDH môn Lịch sử, trong đó có biện pháp ứng dụng CNTT Theo chúng tôi, để đẩy mạnh việc ứng dụng

CNTT vào dạy học, qua đó nâng cao CLDH Lịch sử thì:

+ Trước hết, cần nhận thức cho đúng về vị trí và vai trò của môn lịch sử

và việc cung cấp kiến thức lịch sử cho học sinh Xã hội, phụ huynh học sinh và

cả giáo viên bộ môn không nên lịch sử là môn phụ, không nên coi thường vai trò của việc giáo dục lịch sử, phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của bộ môn lịch sử

+ Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nên có những chính sách phù hợp đối với giáo viên dạy sử, thay đổi cách học tập và thi cử

+ Cần phải đào tạo được những đội ngũ GV chuẩn về kiến thức và kĩ năng sử dụng CNTT

+ Nhà nước cần quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật tạo môi trường thuận lợi cho giáo viên và HS có điều kiện dạy và học tiết học ứng dụng CNTT vào dạy học có hiệu quả

+ Nhà trường nên có chính sách khuyến khích GV sử dụng CNTT vào

Trang 40

các tiết dạy, không dừng lại ở các tiêt dạy mẫu, hội thao

+ Sở giáo dục cần có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các trường triển khai Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học (triển khai từ đâu và triển khai

như thế nào?), Mỗi năm cần tổ chức hội thi “Giáo viên sử dụng công nghệ Giỏi” hay giải “ Bàn phím vàng”, … để kích thích lòng đam mê sáng tạo

phục vụ cho sự nghiệp giáo dục

+ Các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục sớm đưa ra tiêu chí đánh giá tiết dạy có sử dụng CNTT, Chuẩn bài giảng điện tử để có cơ sở thẩm định, tạo ra ngân hàng bài giảng điện tử có chất lượng

+ Giáo viên bộ môn thường xuyên tổ chức cho HS sưu tầm các tranh ảnh, tài liệu điện tử môn lịch sử, học đi đôi với hành, hướng dẫn các em sưu tầm, tìm hiểu nguồn gốc xuất sứ, bảo đảm tính tư tưởng, khoa học,…

+ GV cần mạnh dạng, không ngại khó, tự thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử của mình sẽ giúp cho giáo viên rèn luyện được nhiều kỹ năng và phối hợp tốt các PPDH tích cực khác;

+ Khi thiết kế BGĐT cần chuẩn bị trước kịch bản, tư liệu (Video, hình ảnh, bảng đồ, ….), chọn giải pháp cho sử dụng công nghệ, sau đó mới bắt tay vào soạn giảng Nếu sử dụng MS PowerPiont làm công cụ chính cần lưu ý về Font chữ, màu chữ (Xanh/đen- trắng, vàng/đỏ) và hiệu ứng thích hợp (hiệu ứng đơn giản, nhẹ nhàn tránh gây mất tập trung vào nội dung bài giảng);

+ Nội dung bài giảng điện tử cần cô đọng, xúc tích, hình ảnh, các mô phỏng cần xác chủ đề (trong 1 slide không nên có nhiều hình hay nhiều chữ), những nội dung học sinh ghi bài cần có qui ước (có thể dùng khung hay màu nền) sẽ khắc phục được việc ghi bài của HS; Nội dung bài giảng chứa nhiều liên kết nhất là liên kết đến hệ thống câu hỏi để khắc phục những tình huống

sư phạm phát sinh (như nhắc lại kiến thức, dàn bài, hết giờ, … các liên kết nầy

có thể đặt trong slide chủ), cần khai thác thế mạnh của CNTT trong kiểm tra đánh giá và kiểm chứng kết quả (Cũng cố bài cần hướng đến các câu hỏi mang tính vận dụng hay các hình thức trắc nghiệm)

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2008). Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK 12, môn Lịch sử ở các lớp 10,11,12. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK 12, môn Lịch sử ở các lớp 10,11,12
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2009). Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 chương trình chuẩn và nâng cao. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 chương trình chuẩn và nâng cao
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2007). Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Bộ giáo dục và đào tạo (2008). Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn lịch sử. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn lịch sử
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
5. Nguyễn Ngọc Bảo (1995). Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1993 – 1996 cho giáo viên, Bộ giáo dục đào tạo, Vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
6. Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) (2010). Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học. Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
7. Nguyễn Hữu Châu (2005). Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
8. Nguyễn Thị Côi (2006). Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Côi (1996). Bài học Lịch sử ở trường phổ thông. Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 1996
10. Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Hữu Chí (1999). Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá học tập lịch sử ở trường THPT. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Hữu Chí (1999). "Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá học tập lịch sử ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Hữu Chí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế Bình (2010). Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Lịch sử lớp 12. Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế Bình (2010). "Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Lịch sử lớp 12
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế Bình
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2010
12. Nguyễn Thị Côi ( chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Lại Đức Thụ, Trần Đức Minh (2009). Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử. Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi ( chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Lại Đức Thụ, Trần Đức Minh
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2009
13. Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Thị Thế Bình (Đồng chủ biên) Đoàn Văn Hưng, Phạm Thị Tuyết (2008). Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử 12, tập 2 – Lịch sử Việt Nam từ 1919- 2000. ( Chương trình chuẩn và nâng cao). Nxb ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử 12, tập 2 – Lịch sử Việt Nam từ 1919- 2000. ( Chương trình chuẩn và nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Thị Thế Bình (Đồng chủ biên) Đoàn Văn Hưng, Phạm Thị Tuyết
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
14. N.G Đai ri (1973), Chuẩn bị bài học LS như thế nào? (Bản dịch tiếng Việt). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị bài học LS như thế nào
Tác giả: N.G Đai ri
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
15. Đoàn Văn Hƣng (2003). Ứng dụng CNTT nhằm góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT. Tạp chí khoa học, ĐHSPHN, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT nhằm góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT
Tác giả: Đoàn Văn Hƣng
Năm: 2003
16. Kiều Thế Hƣng (1999). Hệ thống thao tác sư phạm trong DHLS ở trường PTTH. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thao tác sư phạm trong DHLS ở trường PTTH
Tác giả: Kiều Thế Hƣng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
17. Nguyễn Mạnh Hưởng (2006). Sử dụng CNTT và truyền thông vào DHLS ở trường phổ thông”. Tạp chí Giáo dục, số 133, tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng CNTT và truyền thông vào DHLS ở trường phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng
Năm: 2006
18. Nguyễn Mạnh Hưởng (2008). Ứng dụng CNTT trong xây dựng và sử dụng tư liệu dạy học LS. Tạp chí thiết bị Giáo dục, số 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT trong xây dựng và sử dụng tư liệu dạy học LS
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng
Năm: 2008
19. Nguyễn Mạnh Hưởng (2008). Các biện pháp nâng cao hiệu quả bài học LS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT. Tạp chí Giáo dục, số 202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp nâng cao hiệu quả bài học LS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng
Năm: 2008
20. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (1998). PPDHLS. Nxb Giáo dục. HN 21. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2002). PPDHLS, Tập I. Nxb ĐHSP.HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDHLS". Nxb Giáo dục. HN 21. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2002). "PPDHLS
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (1998). PPDHLS. Nxb Giáo dục. HN 21. Phan Ngọc Liên (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục. HN 21. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2002). "PPDHLS
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các tranh ảnh, bản đồ, lược đồ lịch sử của chương III: Các - Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương III các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)  lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn
Bảng 2.1 Các tranh ảnh, bản đồ, lược đồ lịch sử của chương III: Các (Trang 56)
Bảng 2.2: Niên biểu các sự kiện thể hiện sử biến đổi của khu vực - Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương III các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)  lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn
Bảng 2.2 Niên biểu các sự kiện thể hiện sử biến đổi của khu vực (Trang 67)
Bảng 2.3: Thống kê kết quả kiểm tra thực nghiệm - Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương III các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)  lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn
Bảng 2.3 Thống kê kết quả kiểm tra thực nghiệm (Trang 79)
Hình ảnh của các nước tư bản mới phát triển - Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương III các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)  lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn
nh ảnh của các nước tư bản mới phát triển (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w