ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN MẠNH TRANG THIẾT KẾ SÁCH ĐIỆN TỬ E- BOOK CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”VẬT LÝ LỚP 12 NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MẠNH TRANG
THIẾT KẾ SÁCH ĐIỆN TỬ (E- BOOK) CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”VẬT LÝ LỚP 12 NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Vật lý)
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TÔN TÍCH ÁI
TS TÔN QUANG CƯỜNG
HÀ NỘI - 2011
Trang 24
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu (Luận điểm khoa học) 3 6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp mới của đề tài 4 8 Cấu trúc của luận văn 5 Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học – yêu cầu cấp bách của thời đại 6
1.2 Xu hướng đổi mới PPDH Vật lý 6 1.2.1 Xác định nhu cầu, phong cách học môn Vật lý của học sinh 8
1.2.2 Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lý 8
1.2.3 Xác định yêu cầu về nội dung bài dạy học môn Vật lý 9
1.2.4 Lựa chọn phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học 10
1.3 Cơ sở lý thuyết của tự học 12
1.3.1 Tự học là gì ? 12
1.3.2 Các hình thức của tự học 14
1.3.3 Chu trình tự học của học sinh 14
1.3.4 Nội dung, vai trò của tự học 15
1.3.5 Tự học qua mạng và lợi ích của nó 17
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý 18
Trang 31.4.1 Giáo dục và công nghệ 18
1.4.2 Vai trò của CNTT trong dạy học Vật lý 19
1.4.3 Tình hình sử dụng máy tính và khai thác các phần mềm để dạy học ở nước ta hiện nay 20
1.5 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học vật lý 22
1.5.1 Ưu điểm 22
1.5.2 Hạn chế 23
1.6 Giới thiệu về E-Learning 23
1.6.1 Khái niệm E-learning 24
1.6.2 Một số hình thức E-learning 24
1.6.3 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới 25
1.6.4 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam 26 1.7 Cơ sở lí thuyết về E-Book 26 1.7.1 Khái niệm về E-book 26 1.7.2 Ưu và nhược điểm của E – book 27
1.7.3 Các yêu cầu của việc thiết kế E – book [31] 28
1.8 Các phần mềm sử dụng thiết kế E-book 29
1.8.1 Phần mềm hệ thống Windows 29
1.8.2 Phần mềm thiết kế Web Macromedia Dreamweaver 30
1.8.3 Phần mềm trình diễn Power Point 30
1.8.4 Phần mềm Violet 30
1.8.5 Một số phần mềm Vật lý 31
Kết luận chương 1 32
Chương : T I T K S C ĐI N T (E-BOOK) C ƯƠNG NG ĐI N OA C IỀU VẬT LÝ L 1 N M T NG CƯ NG N NG L C T C CỦA C SIN 33
1 Giới thiệu khái quát chương trình SGK Vật lý lớp 1 33
Trang 46
2.1.1 Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình Vật lý lớp 12 33
2.1.2 Mục tiêu xây dựng chương trình môn Vật lý lớp 12 33
2.1.3 Nội dung SGK Vật lý lớp 12 35
2.1.4 Điểm mới của SGK Vật lý lớp 12 ( theo chương trình chuẩn) so với SGK CCGD
35 2.2 Đặc điểm cấu trúc nội dung chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 36 2.2.1 Vị trí chương “Dòng điện xoay chiều” trong chương trình vật lý phổ thông 36
2.2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương “Dòng điện xoay chiều” vật lý lớp 12 36
2.3 Nội dung khoa học của các kiến thức trong chương “Dòng điện xoay chiều”
37 2.3.1.Cường độ dòng điện 37
2.3.2 Điện áp 39
2.3.3 Mạch xoay chiều nối tiếp 43
2.3.4 Các máy điện 46
2.4 Nội dung về kiến thức chương “ Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 51
2.4.1 Khái niệm về các đại lượng vật lý đặc trưng cho dòng điện xoay chiều 51
2.4.2 Mạch điện xoay chiều sơ cấp: 52
2.4.3 Mạch điện xoay chiều không phân nhánh 53
2.4.4 Sản xuất dòng điện xoay chiều 55
2.4.5 Biến đổi dòng điện xoay chiều 56
2.4.6 Truyền tải điện năng đi xa 57
2.5 Chuẩn kiến thức, kĩ năng chương “ Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 57
2.5.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình 57
2.5.2 Hướng dẫn thực hiện 58
6 Tìm hiểu tình hình dạy chương òng điện xoay chiều Vật lý lớp 1
Trang 52.6.1 Nội dung tìm hiểu 68
2.6.2 Phương pháp điều tra tìm hiểu 69
2.6.3 Kết quả điều tra tìm hiểu 69
2.6.4 Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn và sai lầm của học sinh 73
2.6.5 Ý tưởng sư phạm của việc xây dựng E-book chương “Dòng điện xoay chiều”
73 7 Thiết kế và sử dụng E-book chương òng điện xoay chiều Vật lý lớp 12 THPT 74 2.7.1 Xây dựng cấu trúc nội dung của khóa học 74
2.7.2 Quy trình thực hiện E-book 75
2.7.3 Sử dụng E-book chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp12 78
Kết luận chương 2 96
Chương 3: TH C NGHI M SƯ PHẠM 97
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 97 3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 97
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 97
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 97
3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 98
3.3.1 Chuẩn bị cho quá trình thực nghiệm 98
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 99
3.3.3 Quan sát tình hình học tập và ghi nhận sự khác biệt ở nhóm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
99 3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 101
3.4.1 Xử lí kết quả các bài kiểm tra của nhóm lớp ĐC và TN 101
3.4.2 Kiểm định giả thuyết thống kê 110
3.4.3 Tổng hợp kết quả thực nghiệm 111
3.4.4 Kết quả hoạt động của E-book chương “Dòng điện xoay chiều” 112
Trang 7CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 89
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.13 Bảng so sánh phần trăm các nhóm điểm số qua các lần kiểm tra 109
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương “ Dòng điện xoay chiều” 37
Trang 1011
Hình 2.20: Giao diện sơ đồ logic bài “Đại cương về dòng điện xoay chiều” 83
Hình 3.3 Biểu đồ phân phối tần suất tích luỹ điểm kiểm tra lần 1 104
Hình 3.6 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy điểm kiểm tra lần 2 106
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học kỹ thuật thể hiện là sự phát triển như vũ bão của công nghệ truyền thông vào các mặt của đời sống xã hội Trong xã hội tri thức, con người là chủ thể kiến tạo nên xã hội, lấy tri thức xác định vị thế xã hội Yêu cầu xã hội đặt ra đối với giáo dục phải giải quyết mâu thuẫn là tri thức phát triển rất nhanh mà thời gian đào tạo có hạn, giáo dục phải tạo ra con người mới có năng lực đáp ứng thị trường lao động, có khả năng hoà nhập, cạnh tranh quốc tế
Luật giáo dục (2005), điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Bác Hồ đã dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Xã hội ngày càng phát triển với sự bùng nổ của thông tin, khoa học, kĩ thuật và công nghệ, lượng kiến thức cần cập nhật ngày càng nhiều vì thế tự học đang trở thành chiếc chìa khóa vàng trong việc chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Nếu rèn cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Chỉ có tự học học sinh mới có lòng say mê học tập phát huy hết năng lực sáng tạo của mình Chính vì tầm quan trọng của tự học mà việc phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động tự học và phương châm học suốt đời đang là một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Có nhiều hình thức tự học khác nhau trong đó
có thể sử dụng E-book trong tự học E-book có những lợi thế mà sách in thông thường không thể có được đó là: rất gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về kích cỡ, màu sắc và các thao tác cá nhân tùy theo sở thích của người học Một đặc điểm nổi bậc đó là khả năng lưu trữ thông tin, chuyển tải được thông tin kiến thức đầy đủ thông qua các media Tuy nhiên trong quá trình dạy học có những điểm khác biệt giữa học tập theo lớp học có GV giảng dạy và học tập từ xa thông qua E-book
Trang 12Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, việc áp dụng các phương tiện trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết, đặc biệt là việc sử dụng các thí nghiệm Tuy nhiên trong quá trình dạy học không phải lúc nào giáo viên cũng có thể dùng các mô hình, tranh
vẽ hay thí nghiệm cho HS sử dụng nhất là các thí nghiệm phức tạp không thể thực hiện do các điều kiện về thời gian, CSVC Nhờ sự phát triển của CNTT ứng dụng vào quá trình dạy học sử dụng các video ghi lại các quá trình Vật lý (bằng các chức năng quay nhanh, chậm, làm dừng hình và có thể xem nhiều lần nhờ MTĐT), cho phép ta quan sát cẩn thận
và có thể nghiên cứu (dưới dạng khảo sát) sâu và rộng hơn, xoá bỏ ngăn cách giữa nhà trường và tự nhiên gây hứng thú học tập cho học sinh, tiết kiệm thời gian, giải phóng học sinh khỏi những thao tác không cần thiết
Về phần mềm dạy học có thể khai thác từ nhiều nguồn: Sản phẩm nước ngoài hiện bán tự do trên thị trường khá phong phú và rẻ, nhưng nói chung không sát với chương trình giáo dục Việt nam; sản phẩm nội địa, chuyên nghiệp có bản quyền như “sách giáo khoa điện tử”, “Gia sư”, Phần mềm dạy học Vật lý của các tác giả Phạm Xuân Quế, Nguyễn Th-ượng Chung, phần mềm dạy học Vật lý của Công ty thiết bị giáo dục II- Bộ GD&ĐT phát hành, phần mềm dạy Vật lý do trường Đại học Bách khoa Hà Nội sản xuất , phần mềm dạy học có thể khai thác trên Net (Internet, Intranet ) miễn phí; sản phẩm do giáo viên tự làm như VatLy_Student_Soft của thầy giáo Nguyễn Thành Tương Thực tế ở Việt Nam các tài liệu hướng dẫn tự học đặc biệt là E-book Vật lý chưa nhiều Trong các E-book Vật
lý lớp 12 thì có E-book nội dung theo SGK cũ, có E-book chưa chú ý tới nội dung luyện tập cho HS, chưa hướng dẫn HS cách tự học, chưa sát chương trình sách giáo khoa Vật lý
12 xuất bản năm 2008…
Từ những lý do trên để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lý, chúng tôi
lựa chọn đề tài: Thiết kế sách điện tử (e-book) chương “Dòng điện xoay chiều” Vật
lý lớp 12 nhằm tăng cường năng lực tự học của học sinh
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề xuất một cách thiết kế sách điện tử (E-book), đưa ra giải pháp hoàn thiện sách điện tử (E-book) chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 nhằm tăng cường năng lực tự học của học sinh
Trang 132.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu và lựa chọn các tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm thiết kế và
hỗ trợ cho việc xây dựng E-book từ đó nêu rõ ưu điểm khi sử dụng các phần mềm
- Nghiên cứu lý luận về quá trình dạy học, các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý
- Nghiên cứu nội dung chương trình Vật lý lớp 12 chương “Dòng điện xoay chiều” Tìm kiếm các tư liệu hỗ trợ cho HS khi học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật
lý lớp 12
- Thiết kế E-book chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 (xuất bản năm 2008) dưới dạng website với nhiều kênh thông tin, hình thức đa dạng, giao diện đơn giản, dễ sử dụng
- Đánh giá năng lực tự học của HS khi sử dụng E-book trên trong học tập thông qua thực nghiệm sư phạm
3 Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế sách điện tử (E-book) chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 gồm
8 bài, mỗi bài có các mô đun mục tiêu bài học, mô đun nội dung bài học, mô đun bài tập, mô đun tài liệu bổ sung; bên cạnh đó là các môđun Thí nghiệm, Graph, Thi trắc nghiệm, Diễn đàn thảo luận nhằm chuyển tải được thông tin kiến thức một cách đầy đủ, sinh động, phong phú và đa dạng các media: văn bản, hình ảnh, âm thanh, thí nghiệm
mô phỏng …; tạo đươc giao tiếp hai chiều, dễ dàng đưa vào các thư viện điện tử hiện đang rất phổ biến
Thời gian: từ ngày 05/11/2011 đến ngày 11/12/2011
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp12 của giáo viên
và học sinh lớp 12
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 dưới dạng số hóa hỗ trợ quá trình tự học của học sinh
5 Giả thuyết nghiên cứu (Luận điểm khoa học)
Trang 14Việc thiết kế được sách điện tử (E-book) chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý
12 theo hướng tăng cường năng lực tự học của học sinh, kết hợp dạy học bằng E-book này với các hình thức dạy học khác sẽ tăng cường năng lực tự học của HS và nâng cao chất lượng việc dạy học Vật lý ở trường phổ thông
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học, các tài liệu về PPDH ở trường phổ thông, các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới PPDH Vật lý, đổi mới kiểm tra đánh giá để làm sáng tỏ những quan điểm đề tài sẽ vận dụng về việc tổ chức tình huống học tập, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lý
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo đặc biệt là nội dung chương trình Vật lý lớp 12 chương “Dòng điện xoay chiều”, các tư liệu về dòng điện xoay chiều, xác định mức độ nội dung các kiến thức những khái niệm Vật lý mà học sinh cần nhớ, hiểu, vận dụng ở chương này
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm thiết kế xây dựng book, ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý trên thế giới và ở Việt Nam
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu việc dạy, việc học trên lớp và tự học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 ở trường THPT nhằm sơ bộ đánh giá tình hình dạy học chương này
- Tìm hiểu việc sử dụng hệ thống mạng máy tính và máy tính phục vụ giảng dạy các môn học ở trường THPT
- Quan sát, dự giờ, phỏng vấn và điều tra bằng phiếu đối với GV và HS về việc áp dụng CNTT trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông hiện nay; đánh giá của GV, HS về giờ học có sử dụng CNTT; ý kiến của GV, HS về vấn đề ứng dụng CNTT
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy song song lớp đối chứng và lớp thực nghiệm ở trường THPT Tân Lập theo phương án đã thiết lập Phân tích định tính
và định lượng kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, từ đó rút ra kết luận của đề tài
7 Những đóng góp mới của đề tài
Về mặt lí luận:
- Tổng quan về cơ sở lí luận của việc đổi mới PPDH Vật lý
Trang 15- Giới thiệu về E – learning và tình hình ứng dụng E – learning trong dạy học
Về mặt thực tiễn:
- Sử dụng CNTT để thiết kế các bài học dưới dạng E-book
- Thiết kế E-book chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12
- Tiến hành áp dụng E-book chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 vào giảng dạy tại các trường THPT
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thiết kế sách điện tử (e-book) chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý lớp 12 nhằm tăng cường năng lực tự học của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con ngừơi, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn Xã hội đòi hỏi ngừơi có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các
tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan
hệ với mọi nguời Chính vì thế một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải tập
trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và
học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử…” [2, tr.68]
Có thể nói mục tiêu cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới họat động học tâp chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
1.2 Xu hướng đổi mới PPDH Vật lý
Mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học là giúp cho học sinh tích cực chủ động sáng tạo trong học tập, xóa bỏ thói quen học tập thụ động Từ những nhận định trên
có thể thấy rằng việc đổi mới PPDH cần phải đặt trong một hệ thống chứ không thể coi PPDH là một thành tố độc lập
Trang 17Hình 1.1: Tóm tắt quy trình lập kế hoạch dạy học
Đánh giá cải tiến, phát triển chuyên môn
Xác định, phân tích nhu cầu người học
Xác định mục đích, mục tiêu
Thiết kế cấu trúc Nội dung
Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học
Xác định hình thức, PP kiểm tra đánh giá
KTĐG thường xuyên
Trang 181.2.1 Xác định nhu cầu, phong cách học môn Vật lý của học sinh
Môn học Vật lý được triển khai bắt đầu từ việc tìm hiểu và nhận diện được nhu cầu và phong cách học tập của học sinh Các thông tin đầy đủ về nhu cầu, kỳ vọng và phong cách học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên phác họa được kế hoạch tổ chức triển khai và quản lí hiệu quả việc dạy học, thúc đẩy các quá trình tìm kiếm cơ hội hỗ trợ cho học sinh trong suốt quá trình dạy học Các phương pháp tìm hiểu học sinh Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp để thu thập thông tin về học sinh Các phương pháp cần đảm bảo tính tích hợp, đa chiều, mở và đơn giản (bằng các con đường tự nhiên nhất)
1.2.2 Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lý
Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lý được coi là khâu trọng tâm cho việc lập kế hoạch dạy học và kiểm tra đánh giá sau này
Mục tiêu dạy học được xây dựng nhằm thực hiện 2 chức năng chính:
- Định hướng trong dạy và học
- Căn cứ để kiểm tra đánh giá kết quả tiến bộ của học sinh
Dựa trên mục tiêu yêu cầu của phân phối chương trình, giáo viên cần cụ thể hóa các mục tiêu đáp ứng các chỉ số về các tiêu chí hành vi (làm được gì?), tiêu chí thực hiện (làm được bao nhiêu là đủ) và tiêu chí điều kiện (làm được trong điều kiện nào?)
Tham khảo tiêu chí SMART trong xây dựng mục tiêu:
S (specific): cụ thể, chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu
M (measuable): quan sát được, đo đếm được
A (achiveable): khả thi, vừa sức
R (realistic): thực tế
T (time-scale): có giới hạn về thời gian
Gợi ý xây dựng mục tiêu dạy học môn Vật lý
- Xác định mục tiêu chuẩn (trung bình) cần phải đạt
- Bắt đầu bằng tuyên bố: “sau bài học này (phần này, chương này ) người
học sẽ/có thể/phải:……….”
- Sử dụng các động từ chỉ hành vi, có thể quan sát, lượng hóa được
- Sử dụng 6 thang bậc tư duy nhận thức của B.J.Bloom để phân cấp mức mục tiêu:
- Gộp nhóm các mục tiêu cùng cấp
Trang 19- Hệ thống hóa các mục tiêu theo ma trận
Hình 1.2: Hệ thống hóa các mục tiêu theo ma trận
- Chia sẻ ý kiến đồng nghiệp
1.2.3 Xác định yêu cầu về nội dung bài dạy học môn Vật lý
Nội dung chương trình (ND1) và nội dung dạy học cụ thể trên lớp (ND2)
ND1: là toàn bộ nội dung kiến thức được thiết kế mang tính tổng thể, chung
cho một cấp học, chương trình học, được được trình bày theo một trật tự logic khoa học, được qui định và thể chế hóa (chương trình sách giáo khoa)
ND2: là những nội dung dạy học theo chương trình nhưng đã được cấu trúc
lại nhưng vẫn đảm bảo tính hệ thống, logic khoa học, được trình bày trong các hình thức
dạy học khác nhau mang dấu ấn cá nhân của giáo viên (trong từng trường hợp dạy học
cụ thể)
Như vậy, để đảm bảo thực hiện đúng, đủ các yêu cầu về nội dung dạy học của chương trình đề ra, đảm bảo mục tiêu dạy học đồng thời dung hòa được những áp lực về thời gian, không gian, đối tượng…bất kỳ giáo viên nào cũng cần phải thực hiện quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể
Việc cấu trúc lại nội dung chương trình dạy học giúp cho giáo viên:
- Tăng khả năng áp dụng đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (trong và ngoài giờ lên lớp)
- Phân bổ thời gian triển khai một cách hợp lý (có thể coi là một trong những giải pháp “giảm tải” hiện nay)
- Tăng cơ hội dạy học phân hóa (cho toàn lớp/ nhóm/cá nhân)
- Tăng cơ hội học tập tích cực cho học sinh
Trang 20Trong đó: N1 …… N10 là các nội dung theo yêu cầu của chương trình
N1, N3, N7 là những nội dung cốt lõi (ND2CL)
N2, N5, N4, N9 là những nội dung cơ bản (ND2CB)
N6, N8, N10 là những nội dung bổ trợ (ND2BT)
Như vậy chẳng hạn đối với ND2CL (gồm N1, N3, N7) giáo viên có thể sẽ sử dụng nhiều thời gian hơn để giảng bài trên lớp, cho học sinh làm bài luyện tập, tăng cường hơn các phương pháp tích cực… nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chắc chắn
Nhưng đối với các nội dung bổ trợ ND2BT (gồm N6, N8, N10), giáo viên có thể không dạy trực tiếp trên lớp mà tích hợp vào các bài tập nghiên cứu, tình huống… để giao cho học sinh về nhà làm (có hướng dẫn và tiêu chí kiểm tra đánh giá)
1.2.4 Lựa chọn phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học
Việc lựa chọn các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, phương tiện và môi trường dạy học đóng vai trò quyết định đến tính hiệu quả và hiệu suất của quá trình dạy học Vật lý, nó đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên, năng lực sư phạm (và đương nhiên
cả năng lực chuyên môn), khả năng dự báo các tình huống khó khăn cũng như hiểu biết thấu đáo về đối tượng học sinh trong lớp Việc triển khai, tổ chức các hình thức và phương pháp dạy học cần bám sát vào mục tiêu, nội dung và đối tượng người học
1.2.4.1 Yêu cầu của việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học:
- Đa dạng, tạo cơ hội đáp ứng phong cách học của học sinh
- Khả thi
- Thúc đẩy hứng thú, tích cực của học sinh
1.2.4.2 Yêu cầu của việc lựa chọn phương pháp dạy học:
- Khoa học và hiệu quả (phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học…)
- Khả thi (phù hợp năng lực, điều kiện khách quan, chủ quan, thời gian…)
- Hỗ trợ học tập tích cực (tạo cơ hội để dạy học phân hóa, tương tác…)
Trang 211.2.4.3 Yêu cầu của việc lựa chọn phương tiện dạy học:
- Tính sư phạm
- Tính kinh tế
- Tính khả thi
1.2.4.4 Yêu cầu tạo dựng môi trường học tập
- An toàn (môi trường bên ngoài và bên trong học sinh)
- Thân thiện
- Công bằng
Các hoạt động của giáo viên và học sinh cần được tính toán, cân nhắc, triển khai thử nghiệm và rút kinh nghiệm, cải tiến thường xuyên Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, cải tiến, khắc phục những nhược điểm của từng phương pháp cần được tiến hành thường xuyên song song với việc lấy ý kiến phản hồi từ học sinh và đồng nghiệp
Mặt khác, việc lựa chọn phương pháp, phương tiện và môi trường dạy học còn bị chi phối bởi triết lý giảng dạy và sự nhận thức của chính giáo viên về vai trò của bản thân và học sinh
Một số vai trò mới của người giáo viên theo quan điểm lí luận dạy học hiện đại:
- Người định hướng
- Người chỉ dẫn
- Người hỗ trợ
- Chuyên gia
Một khía cạnh không kém phần quan trọng hỗ trợ cho quá trình dạy học hiệu quả
là vấn đề xây dựng nguồn học liệu hỗ trợ dạy học
Nguồn học liệu này bao gồm:
- Học liệu hỗ trợ dạy học trên lớp
- Học liệu hỗ trợ học sinh tự học ở nhà
- Học liệu hỗ trợ kiểm tra đánh giá
- Học liệu phát triển chuyên môn (dành cho giáo viên)
Kết quả các nghiên cứu về quá trình dạy học đã chỉ ra sự thay đổi căn bản trong giáo dục (dạy học) hiện nay:
- Chuyển từ người dạy làm trung tâm sang người học làm trung tâm
Trang 22- Chuyển từ xu hướng truyền đạt, trình bày sang xu hướng kiến tạo (cùng kiến tạo), phát triển
- Chuyển từ tiếp cận hành vi (hoạt động) sang tiếp cận mục tiêu, tiếp cận nhận thức
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học dựa trên cơ sở những nghiên cứu tâm
lí về khả năng lưu giữ thông tin của học sinh Khả năng lưu giữ thông tin bằng đọc chỉ đạt 5%, bằng nghe chỉ đạt 15%, bằng nhìn đạt được 20%, vừa nghe vừa nhìn đạt 25%, bằng thảo luận đạt được 55%, thu nhận bằng kinh nghiệm hành động đạt được 75%, khi dạy lại cho người khác có thể đạt 90% [11]
Quan điểm về phương pháp dạy học hiện nay là cần chuyển từ phương pháp dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” Coi HS là chủ thể còn GV là tác nhân của quá trình dạy học
- Học để không chỉ nắm kiến thức mà cả phương pháp giành lấy kiến thức
- Học cách học và cách tự đánh giá
- Bồi dưỡng năng lực tự học
- Học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm
- Học hướng về những mục tiêu và những yêu cầu có thể thực hiện được
- Học để phát huy bản thân và để tham gia vào sự phát triển xã hội
- Học có phân hóa và với cường độ cao
- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại
- Tiến tới công nghệ hóa việc dạy học
Học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng tụt hậu
1.3 Cơ sở lý thuyết của tự học
1.3.1 Tự học là gì ?
Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là vấn đề đặc biệt được quan tâm Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học Khả năng này cần rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Lí thuyết dạy học theo cơ chế “chuyển vào trong” thế giới nội tâm của người học kho tàng tri thức, tri thức trở thành tài sản riêng của người học là lý thuyết có ý nghĩa sâu sắc để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Muốn tri thức tự nhiên và xã hội trở thành tài sản riêng của người học thì người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức, khơi gợi
Trang 23của người dạy họ phải thực sự có tự do nội tâm (hoạt động nhận thức rất tích cực, khả
năng liên tưởng, tưởng tượng và được phát triển cá tính) và niềm đam mê cao cả (động
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tự học:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đào tạo, GS Viện sĩ Nguyễn Cảnh
Toàn - một tấm gương lớn về tự học cho rằng: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm,
cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó trở thành sở hữu của mình”.[34]
Còn theo cố GS Nguyễn Văn Đạo ( Đại học Quốc gia Hà Nội ) đã có một vài
suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “ Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người Số
thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng ¼ của một đời người Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động
sáng tạo Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò quan trọng
Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mối con người trong quá trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú, của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng ứng dụng Kiến thức tự học bao giờ cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo Tự học xét cho kỹ là một vấn đề then chốt của Giáo dục và Đào tạo, đồng thời cũng là vấn đề có ý nghĩa văn hoá, khoa học, xã hội và chính trị sâu sắc Đề
Trang 24cao tự học trong suốt bối cảnh hiện nay của đất nước và thế giới là một cách nhìn vừa thực tế, vừa có ý nghĩa chiến lược
Như vậy, có thể nói là con người ai cũng phải học, khi nói đến học thì điều đương nhiên là phải tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng các nhân Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy đồng thời giúp học sinh có lòng ham học Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi con người
1.3.2 Các hình thức của tự học
Tự học có thể diễn ra theo 3 hình thức:
- Tự học không có hướng dẫn : Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng
các kiến thức trong đó
- Tự học có hướng dẫn : Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc
bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp : Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một số tiết
trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.3.3 Chu trình tự học của học sinh
Chu trình tự học của học sinh là một chu trình gồm 3 giai đoạn:
Hình 1.3 Chu trình tự học
Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
(1)Tự nghiên cứu (2) Tự thể hiện
(3)Tự kiểm tra
Tự điều chỉnh
Trang 25Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ đối với người học) và tạo ra sản phẩm thô
có tính chất cá nhân
Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai,
tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.3.4 Nội dung, vai trò của tự học
1.3.4.1 Nội dung của tự học
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “ tự học là hoạt động chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng,
kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học.”
Về nội dung hoạt động tự học cần bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Một là: Chuẩn bị cho hoạt động tự học:
- Xác định nhu cầu và động cơ, kích thích hứng thú học tập
- Xác định mục đích và nhiệm vụ dạy học
- Xây dựng kế hoạch
Trang 26Hai là: Tự lực nắm vững nội dung học vấn:
- Lựa chọn tài liệu và hình thức tự học
- Tiếp cận thông tin
- Xử lý thông tin
- Phổ biến thông tin
Ba là: Kiểm tra và đánh giá [40]
1.3.4.2 Vai trò của tự học
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học giúp cho con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân
- Tự học khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn
Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với học sinh THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp
tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi học sinh biết cách tự học, học sinh sẽ
“có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
- Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với học sinh THPT, nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… học sinh sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
- Tự học của học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Với lối dạy
Trang 27theo hướng “nhồi nhét” trong các nhà trường phổ thông hiện nay, học sinh khó có thể có thời gian để tự học và tự học có hiệu quả Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
1.3.5 Tự học qua mạng và lợi ích của nó
1.3.5.1 Tự học qua mạng
Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu với nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nối mạng Internet Người học chủ động tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm…với sự hỗ trợ của máy tính
1.3.5.2 Lợi ích của tự học qua mạng
Trong thời đại “bùng nổ thông tin”, mỗi người muốn thoát khỏi lạc hậu với khoa học và kĩ thuật, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, vào bất
cứ lúc nào, cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học Tự học hoàn toàn thì rất khó, phải có một sự hướng dẫn được tổ chức chu đáo Tự học qua mạng ra đời nhằm cung cấp sự hướng dẫn cho bất cứ ai muốn học một chương trình nào đó hoặc xem lại, bổ sung, mở rộng phần kiến thức đã học ở trường lớp Sự hướng dẫn này có cấp độ chung
và cấp độ cụ thể Cấp độ chung hướng dẫn học về các mặt tư tưởng, quan điểm, phương pháp luận, những phương pháp chung nhất, phổ biến nhất Cấp độ cụ thể hướng dẫn học môn cụ thể, từng bài học cụ thể Cấp độ chung soi sáng cho cấp độ cụ thể và cấp độ cụ thể minh họa, củng cố cấp độ chung Cả hai cấp độ hướng dẫn này khi vào học sẽ hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau để tạo nên một phong cách tự học có hiệu quả, người học sẽ có trong tay một công cụ cơ bản để học suốt đời Một sự hướng dẫn được coi là
có hiệu quả nếu người tiếp thu thật sự chủ động khiến cho yêu cầu “được hướng dẫn” cũng sẽ giảm dần cho đến khi người học có thể tự học hoàn toàn
Tự học qua mạng, người học không bị ràng buộc vào thời khóa biểu chung, một kế hoạch chung, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn đề, phát hiện ra những khía cạnh xung quanh vấn đề đó và ra sức tìm tòi học hỏi thêm Dần dà, cách tự học đó trở thành
Trang 28thói quen, giúp người học phát triển được tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo
Tự học qua mạng giúp người học có thể tìm kiếm nhanh chóng và dễ dàng một khối lượng lớn thông tin bổ ích Về mặt này, người học hoàn toàn thuận lợi so với việc tìm kiếm trên sách báo
Tóm lại, tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của học sinh cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969) Giáo viên cần giúp cho học sinh tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho học sinh những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho học sinh biết cách
tự học qua mạng chính là một trong những cách giúp học sinh tìm ra chiếc chìa khóa vàng
để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý
1.4.1 Giáo dục và công nghệ
Công nghệ có nghĩa đơn giản là kĩ thuật hoặc công cụ và những phương pháp có thể
áp dụng được để giải quyết vấn đề cụ thể hoặc thực hiện một mục tiêu nhất định
Hiểu được như thế thì ngôn ngữ và sách vở là những dạng công nghệ đã được sử dụng
từ rất lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại Đầu tiên là ngôn ngữ, một công cụ rất
mạnh giúp cho kiến thức tích luỹ có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Hàng ngàn năm sau đó xuất hiện chữ viết, cho phép các suy nghĩ và ý tưởng có thể
truyền thụ vượt qua mọi giới hạn về thời gian Tiếp theo là kĩ thuật in cho phép tốc độ
và số lượng thông tin được chuyển giao tăng vọt Suốt một thời gian dài, công cụ giảng
dạy chủ yếu là sách và tập vở [31]
Cuối thế kỉ XX, các phát minh về máy tính, video, công nghệ thông tin - truyền thông (phần mềm máy tính, thiết bị tin học, hệ thống mạng Internet…) đã và đang có những tác động mạnh lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội : giáo dục, khoa học, giải trí, công việc gia đình… Các phương tiện truyền thông cùng với hệ thống mạng toàn cầu Internet đang làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức : không chỉ đọc để biết, mà còn nghe, thấy, cảm nhận sự kiện xảy ra ở xa như đang diễn ra trước mắt Sự phát triển
Trang 29nhanh chóng của công nghệ những thập niên cuối thế kỉ XX đến nay đã tạo ra một khối lượng thông tin khổng lồ, vượt các giới hạn về thời gian và không gian Chính vì thế, khả năng thu nhận, xử lý để hiểu biết thông tin một cách nhanh chóng và chính xác là yêu cầu quan trọng hơn nhiều so với trước đây Điều đó cũng có nghĩa là phải thay đổi
những tiêu chí đào tạo trong xã hội thông tin hôm nay, cần phải thay khả năng ghi nhớ
bằng khả năng tìm kiếm, thu nhận và xử lý thông tin để đạt tới một mục tiêu đặt ra [12] Hiện nay, không còn tranh cãi gì về việc liệu có nên hay không nên ứng dụng công nghệ giáo dục mới trong trường học Hầu như mọi người đều đồng ý là HS phải tiếp cận được với máy vi tính, video và các công nghệ hiện đại khác Nhiều ngừơi còn tin tưởng những công nghệ này cần thiết vì khả năng sử dụng của chúng là đặc điểm thiết yếu cho việc chuẩn bị nghề nghiệp của HS [31]
1.4.2 Vai trò của CNTT trong dạy học Vật lý
Ứng dụng của CNTT đã thực sự trao quyền chủ động học tập cho HS và cũng làm thay đổi vai trò của người thầy trong giáo dục Từ vai trò là nhân tố quan trọng, quyết định trong kiểu dạy học tập trung vào thầy cô, thì nay các thầy cô phải chuyển sang giữ vai trò nhà điều phối theo kiểu dạy học hướng tập trung vào HS (dạy học lấy học sinh làm trung tâm) Kiểu dạy học hướng tập trung vào HS và hoạt động hoá người học có thể thực hiện được một cách tốt hơn với sự trợ giúp của máy tính và mạng Internet Với các chương trình dạy học đa môi trường (mutilmedia) và được chuẩn bị chu đáo có thể truy cập được nhờ các phương tiện siêu môi trường (hypermedia) giúp cho việc tự học của HS trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn bao giờ hết
Đối với ngành Vật lý, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy sẽ tạo ra một bước chuyển
cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Cụ thể hơn đó là :
- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới
- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập
- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và qua phản ánh
- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng hoá học chính xác, công bằng hơn
Để phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên có thể theo tuỳ từng bài giảng, từng mảng kiến thức hoặc tuỳ theo từng đối tượng học sinh mà vận dụng một
Trang 30cách linh hoạt, sáng tạo CNTT trong từng giờ, từng kiểu bài trên lớp Nhờ các công cụ
đa phương tiện (multimedia) của máy tính như: văn bản (text), đồ hoạ (graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound), giáo viên sẽ xây dựng được bài học sinh động, thu hút
sự tập trung của HS, dễ dàng vận dụng các phương pháp sư phạm : phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề Qua đó tăng tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập
Như thế trong dạy học ngày nay, vai trò của người thầy dần thay đổi Nhờ sự trợ giúp của CNTT, người thầy không giữ vai trò trung tâm mà chuyển sang vai trò nhà điều khiển trong kiểu dạy học hướng tập trung vào học sinh Theo dự đoán trong vài năm tới CNTT và phương pháp dạy học điện tử sẽ ảnh hưởng sâu sắc, thay đổi các phương pháp dạy và học, vai trò và chức năng của thầy dạy cũng như người học
1.4.3 Tình hình sử dụng máy tính và khai thác các phần mềm để dạy học ở nước ta hiện nay
1.4.3.1 Tình hình sử dụng máy tính ở nước ta hiện nay
Trước đây, trong điều kiện hệ thống giáo dục của nước ta chưa thích nghi được hoàn toàn với kỉ nguyên kinh tế tri thức Nghị quyết TW IV của Ban chấp hành TW Đảng
khoá VII đã nhấn mạnh: “Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những chương trình
của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kinh tế - xã hội” Nhìn lại những năm vừa qua chúng ta thấy nội dung giáo
dục ít gắn liền với yêu cầu của cuộc sống hàng ngày, dạy học vẫn bằng phương pháp lạc hậu : thầy giảng – trò ghi, chưa cập nhật được những thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới Do đó, sản phẩm giáo dục – con người thông qua giáo dục đào tạo thường thiếu năng động sáng tạo, còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi của cuộc sống vốn rất đa dạng và luôn luôn biến đổi không ngừng
Để hoà cùng với nhịp độ phát triển giáo dục chung của các nước trên thế giới, trong những năm 1990 trở lại đây, Bộ giáo dục và đào tạo đã có những cố gắng trong việc tăng cường trang thiết bị, cung cấp thêm nhiều máy tính cho các trường phổ thông, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên khoa Công nghệ thông tin, cử nhiều giáo viên đi học thêm tin học, khuyến khích các cán bộ nghiên cứu các phần mềm dạy học Trong khoảng mười năm gần đây, các trường trung học đã triển khai chương trình dạy Tin học, trình độ giảng dạy và ứng dụng tin học đã có cơ sở vững chắc, nhiều phần mềm dạy học đã được thử nghiệm Nhiều GV đã thử ứng dụng phần mềm của nước
Trang 31ngoài để làm công cụ dạy học, song các phần mềm còn quá ít ỏi, các ứng dụng còn mang tính thử nghiệm Nếu xây dựng và đưa các phần mềm vào dạy học phổ biến sẽ là một bước ngoặc quan trọng cho nền giáo dục nước nhà
Hiện nay, ở nhiều trường THPT đã được trang bị máy tính để dạy môn Tin học.Từ năm 2006-2007, bộ môn Tin học được đưa vào giáo dục chính khóa cho HS THPT Một
số các GV bộ môn Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lí, Ngoại ngữ cũng bắt đầu nghiên cứu, khai thác các phần mềm có được để dạy học bộ môn của mình
Đối với bộ môn Vật lý, việc đổi mới PPDH, phương tiện, thiết bị dạy học đang từng bước cải tiến Hầu hết các GV đã thấy được vai trò quan trọng của việc khai thác các phần mềm phục vụ cho quá trình dạy học để nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên,
do trình độ tin học, ngọai ngữ của GV còn nhiều hạn chế, kinh phí đầu tư vào các phương tiện, thiết bị dạy học còn hạn hẹp nên việc khai thác các phần mềm vi tính trong dạy học Vật lý bước đầu gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã làm cho người học thấy hứng thú hơn, giờ học trở nên sôi động hơn, người học tiếp thu bài nhanh hơn và có cảm giác như tự mình đang tìm ra những điều mới lạ ở thế giới xung quanh
1.4.3.2 Khai thác và sử dụng một số phần mềm để dạy học môn Vật lý
Phần mềm Vật lý có thể kể đến sau đây: Phần mềm Crocodile Physics là phần mềm được dùng để thiết kế các thí nghiệm ảo môn Vật lý trong nhà trường phổ thông; PAKMA là một phần mềm chuyên dụng cho bộ môn Vật lý; phần mềm eXe để tập huấn giúp giáo viên thiết kế nội dung học tập môn Vật lý; Working Model để thiết kế thí nghiệm mô phỏng Vật lý…
Các đĩa CD về thí nghiệm Vật lý, các mô hình, các câu hỏi trắc nghiệm tự kiểm tra … Xu hướng chung của thế giới hiện nay là làm thế nào cho các phần mềm dễ sử dụng như dùng các đĩa CD âm nhạc, phim, phim hoạt hình, trò chơi điện tử, tất nhiên người đọc phải biết tiếng Anh và biết sử dụng vi tính ở mức độ tối thiểu nào đó
Phần mềm dạy học có thể hiểu là các phần mềm dùng cho việc dạy và học trên máy vi tính (có thể nối mạng LAN, WAN, và WWW), phần mềm dạy học Vật lý có thể
Trang 32- Xử lý các số liệu thực nghiệm
- Biểu diễn các mô hình để xây dựng các khái niệm trừu tượng
- Thực hiện các thí nghiệm mô phỏng trên máy
- Xem các thí nghiệm thực hiện trên đĩa
Sử dụng phần mềm trong giảng dạy là công cụ không thể thiếu được trong công nghệ giáo dục nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh Xu hướng học tập và giảng dạy đó đang được phổ biến ở các nước tiên tiến Tuy nhiên phần mềm dạy học không thể thay thế được vai trò của người thầy, SGK, các giáo trình, các công cụ dạy học khác Các thí nghiệm mô phỏng và các thí nghiệm ảo không thể thay thế được các thí nghiệm thật ở các phòng thí nghiệm dù là còn thô sơ Việc sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một hướng nghiên cứu còn mới mẻ cần được quan tâm nghiên cứu để tiếp tục phát triển
1.5 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học vật lý
1.5.1 Ưu điểm
- Là công cụ đắc lực, hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức
- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu một cách sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn do việc thu nhận thông tin từ các sự vật hiện tượng một cách sinh động, chính xác đầy đủ từ đó nâng cao hứng thú học tập, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học
- Giúp HS tiếp cận và làm việc với các khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại
- Giúp cho bài học của HS thêm sinh động, phong phú, hấp dẫn đối với HS
- Giúp tiết kiệm thời gian trong mỗi tiết học
- Giải phóng được người thầy khỏi khối lượng công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học
Đặc biệt nếu áp dụng hình thức đào tạo điện tử (E-Learning) sẽ đáp ứng được mọi tiêu chí Hình thức đào tạo đa dạng, học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ và học mềm dẻo, học một cách mở, học suốt đời và tiết kiệm chi phí cho cả người dạy lẫn người học Bởi đặc điểm của E-Learning là hệ thống giảng bài và tài liệu học tập được ghi dưới dạng số hóa, được đặc trưng bởi tính đa dạng và siêu phương tiện, có sự tương tác giữa người học, hệ thống dạy học và người dạy [3]
Với các lý do nêu trên, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình và PPDH
1.5.2 Hạn chế
Trang 33Tuy nhiên, không thể nói việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý không có những hạn chế Có thể nêu một số hạn chế thường gặp như sau:
- Chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất lớn
- Đòi hỏi đội ngũ GV và HS phải có trình độ tin học, ngoại ngữ; nhất là tiếng Anh ở mức độ nhất định
- Khi sử dụng máy tính điện tử, người ta dễ đánh mất cảm giác chân thực thiếu đi những cảm xúc, xúc giác và ấn tượng thực Do đó CNTT chỉ hỗ trợ chứ không thay thế được các thí nghiệm thực hành
Việc sử dụng CNTT tự phát đã tạo ra nhiều bài giảng chỉ đơn thuần là đưa nội dung bài học trong sách giáo khoa sang văn bản bảng điện tử với màu sắc sỡ, đồ họa vui nhộn Và người GV dùng máy tính để dạy học cần phải biết chắc rằng, mình thiết kế cái
gì, mình trình bày cái gì trước, cái gì sau Nếu không chú ý có thể làm lộ thông tin mà đáng lẽ HS phải là người khám phá và phát hiện
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng “Đổi mới phương pháp dạy học Vật lý bằng CNTT là xu thế của thời đại ngày nay ” Tuy nhiên việc ứng dụng làm sao để khai thác hợp lí và hiệu quả CNTT vào dạy học nói chung và dạy học Vật lý nói riêng lại cần phải
có những nghiên cứu cụ thể và nghiêm túc
1.6 Giới thiệu về E-Learning
Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này
E-learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người hiện nay Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của E-learning Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này
1.6.1 Khái niệm E-learning
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet … trong đó nội dung học có
Trang 34thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
1.6.2 Một số hình thức E-learning
Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau:
- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin
- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training
- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa HS với nhau và với GV
- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm
1.6.3 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới
E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ Ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn Trong những gần đây, châu
Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục
Trang 35Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục
Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ
có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Năm 2000 là năm bùng nổ các khóa đào tạo trực tuyến và số lượng sinh viên tham gia Đại học Stanford hiện tại đã có hơn 50 chương trình đào tạo trực tuyến khác nhau, hầu hết là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật Tài liệu nghiên cứu tình hình học và đào tạo trực tuyến ở Mỹ năm 2006 “Making the Grade, Online Education in the United States” của tổ chức Sloan Consortium cho biết số lượng sinh viên Mỹ tham gia ít nhất một khoá học trực tuyến tăng từ 1.602.907 người năm 2002 lên đến 3.488.381 năm 2006, tăng hơn 117,6% Theo các chuyên gia phân tích của công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm
2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình e-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian từ 1999 – 2004
Tại châu Á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công Tuy nhiên, các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,
1.6.4 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển
Trang 36và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học
“Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông…
Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu Á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông
Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước
1.7 Cơ sở lí thuyết về E-Book
1.7.1 Khái niệm về E-book
E-book là từ viết tắt của electronic book (E - book) Hiểu theo cách đơn giản nhất, E - book (E-books hay digital books) là phiên bản dạng số ( hay điện tử) của sách Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc nội dung độc lập tùy theo người biên soạn Một số người còn dùng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bị dùng để đọc sách dạng số (còn gọi là book – reading appliances hay E-book readers)
Giống như E – mail (thư điện tử) E-book có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi tính, máy trợ giúp kĩ thuật số cá nhân để xem
- Sách điện tử cũng có những “định dạng” khác nhau Nói một cách dễ hiểu là sách
có nhiều tập tin mở rộng như PDF, PRC, CHM v.v… Những tập tin này sở dĩ khác nhau là vì chúng được làm từ những chương trình khác nhau và vì thế, muốn đọc được chúng, bạn cần phải có những chương trình tương ứng
Trang 37• Là một cuốn sách chuyên ngành, giải quyết một tình huống cụ thể nào đó
• E-Book có thể là một CD-ROM đa năng có đầy đủ âm thanh, hình ảnh và video clips
1.7.2 Ưu và nhược điểm của E – book
1.7.2.1 Ưu điểm của E – book:
- E-book có những lợi thế mà sách in thông thường không có được: rất gọn nhẹ,
có thể tinh chỉnh về kích cỡ, màu sắc và các thao tác cá nhân hóa tùy theo sở thích của người đọc Một đặc điểm nỗi bật của E-book chính là khả năng lưu trữ thông tin một cách đồ sộ của nó (một đĩa CD – ROM có thể lưu trữ đến hơn 2000 quyển sách số hóa) Ngoài ra E-book còn có những điểm nổi bật sau đây:
- Chuyển tải được thông tin kiến thức bằng đầy đủ các media: văn bản, hình ảnh,
âm thanh, tiếng nói …
- Tạo đươc giao tiếp hai chiều, đối thoại người – máy
- Có thể sử dụng nhiều lần, sử dụng nọi nơi, mọi lúc lặp lại từng phần cụ thể của từng người học
- Kích thước gọn nhẹ, dễ mang đi, dễ dàng sử dụng chỉ cần một máy tính với cấu hình vừa phải
- Giá thành rất rẻ có hiệu quả về mặt kinh tế
- Tính tái sử dụng cao:
Có thể chỉnh sửa nếu cần
Sử dụng độc lập trên web
Sử dụng trên các LMS khác
- Dễ vận chuyển mọi nơi thông qua e – mail hoặc truyền tệp trên internet
- Dễ dàng đưa vào các thư viện điện tử hiện đang rất phổ biến
1.7.2.2 Nhược điểm của E – book:
Tuy nhiên trong quá trình dạy học, có những điểm khác biệt giữa học tập theo lớp học có GV giảng dạy (face to face) và học tập từ xa hay tự học thông qua việc sử dụng E-book là: người tự học (học tại nhà, HS từ xa , HS cô độc – isolated learner) thiếu hẳn những tương tác hết sức quan trong như:
Tương tác thầy - trò
Tương tác trò - bạn đồng học
Trang 38 Tương tác Trò – môi trường học tập
1.7.3 Các yêu cầu của việc thiết kế E – book [31]
Thiết kế E-book dạng web cho giáo dục có những yêu cầu riêng rẽ, đặc trưng về mặt hiệu quả nghe, nhìn, tương tác Để xây dựng E-book, mà bản chất chính là quá trình thiết kế dạy học, đặc biệt để áp dụng nhu cầu tự học ta phải tuân thủ các bước của việc thiết kế dạy học (ADDIE) :
1.7.3.1 Analysis : Phân tích tình huống để đề ra chiến lược phù hợp
- Hiểu rõ mục tiêu
- Các tài nguyên có thể có
- Đối tượng sử dụng
1.7.3.2 Design : Thiết kế nội dung cơ bản
- Các chiến lược dạy học
- Siêu văn bản (hypertext) siêu môi trường (hypermedia)
- Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng
1.7.3.3 Development : phát triển các quá trình
- Thiết kế đồ họa
- Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường multimedia
- Hình thức và nội dung các trang
- Phương tiện thực tế ảo
1.7.3.4 Implementation: triển khai thực hiện cần tích hợp với chương trình công nghệ
thông tin của trường học
- Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế của các phòng máy tính
- Thủ tục tiến hành với GV
- Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học, quản lí
- Quản lí tài nguyên ( nhân lực và vật lực)
1.7.3.5 Evaluation (lượng giá): đánh giá hiệu quả sử dụng thường áp dụng theo mô
hình bốn bậc do Donald Kirkpatrick phát triển (1994) Theo mô hình này, quá trình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ tự vì thông tin ở bậc trước sẽ làm nền cho việc đánh giá ở các bậc tiếp theo:
- Bậc 1: Phản ứng tích cực hay tiêu cực (Reactions)
- Bậc 2: Hiệu quả học tập (Learnings)
Trang 39Trong luận văn chúng tôi đã sử dụng các phần mềm : Windows, Macromedia Dreamweaver, PowerPoint, Violet, Flash… và các phần mềm khác có thể áp dụng trong dạy học Vật lý như : M.S Publisher, Crocodile, PhyLab …
1.8.1 Phần mềm hệ thống Windows
Windows là một hệ thống điều hành bao gồm 1 bộ chương trình để liên kết và điều khiển mọi hoạt động các bộ phận của máy tính ổ đĩa, máy in, bàn phím con chuột màn hình,… Nó tạo ra lệnh để con người có thể trực tiếp ra lệnh cho máy Nhờ hệ điều hành
mà các chương trình khác nhau có thể chạy được Nếu không có hệ điều hành thì máy tính chỉ là phần cứng vô dụng Windows là phần mềm được sử dụng rộng rãi không những ở lĩnh vực kinh tế - XH mà còn ở trong lĩnh vực giáo dục Windows có khả năng khai thác xây dựng các phần mềm nói chung và các phần mềm dạy học nói riêng
1.8.2 Phần mềm thiết kế Web Macromedia Dreamweaver
Phần mềm Dreamweaver do hãng Macromedia sản xuất là một công cụ biên soạn HTML chuyên nghiệp nhằm để thiết kế và quản lý các Website Môi trường đồ họa của Dreamweaver với các bảng điều khiển và các cửa sổ sẽ cho phép những người mới sử dụng tạo được các Website cao cấp cho dù chưa từng viết mã HTML
Với Dreamweaver ta có thể bổ sung các đối tượng Flash mà chúng ta tạo trực tiếp trong Dreamweaver như : Flash Button, Flash text và Flash Movie
Ngoài ra ta có thể tạo và chỉnh sửa các hình ảnh trong Macromedia Firework, sau đó cập nhật trực tiếp vào Dreamweaver và mã nguồn HTML tự động được cập nhật
Trong Dreamweaver có chứa nhiều công cụ tạo mã và nhiều tính năng khác như: HTML CSS và tham chiếu Javasript, Javasript Debugger và các công cụ tạo mã khác nhằm cho phép chúng ta biên soạn Javasript
1.8.3 Phần mềm trình diễn Power Point
Trang 40Power Point là một phần mềm chuyên thiết kế để trình diễn, đối với bộ môn Hóa học, chương trình trình diễn Power Point có thể tạo ra những Slide mới làm cho việc dạy học trên máy vi tính cũng tương tự như việc dạy học bằng giáo án, nhưng chương trình trình diễn Power Point có nhiều ưu điểm về các hiệu ứng dịch chuyển trang, nối kết, truy cập thông tin từ bất cứ file dữ liệu nào trong cùng hệ thống máy tính cũng như các hiệu ứng về màu sắc, âm thanh…
1.8.4 Phần mềm Violet
Violet là công cụ giúp cho các giáo viên có thể tự xây dựng được phần mềm hỗ trợ dạy học theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, mô phỏng, chuyển động và tương tác… rất phù hợp với học sinh trung học
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lecture Editor for Teacher (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên)
Tương tự phần mềm thiết kế Power Point, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như nhập các dữ liệu văn bản, công thức toán, các dữ liệu multimedia (ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash…), sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các chuyển động và hiệu ứng, xử lý các tương tác với người dùng Riêng đối với việc xử lý dữ liệu multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn hẳn so với PowerPoint, ví dụ như cho phép nhập và thể hiện các file Flash hoặc cho phép điều khiển quá trình chạy của các đoạn phim.v.v
Violet cung cấp nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và sách bài tập như :
- Bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại : một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn đúng sai…
- Bài tập ô chữ : học sinh phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc
- Vẽ đồ thị hàm số
- Bài tập kéo thả chữ/ kéo thả hình ảnh
Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn có thể chạy được trên mọi máy tính, hoặc đưa lên máy chủ thành các bài giảng trực tuyến để sử dụng qua mạng Internet