Bài giảng điện tử được hiểu khái quát như sản phẩm và quá trình về cơ bản khác với bài giảng truyền thống ở những điểm sau: - Không bị giới hạn bởi không gian, thời gian đẳng thời và bấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NGƯỜI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH
BGĐT
: Ban chấp hành : Bài giảng điện tử CNTT
: Thực nghiệm sư phạm : Trung ương
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
5 Vấn đề nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
8 Đóng góp của đề tài 4
9 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Những định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 5
1.2 Dạy học theo định hướng tăng cường tính tích cực của người học 6
1.2.1 Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo 6
1.2.2 Hoạt động học tập theo lý thuyết kiến tạo (Piaget) 9
1.3 Những đặc trưng cơ bản của dạy học tích cực (DHTC ) 12
1.3.1 Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh 12
1.3.2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực học của học sinh 12
1.3.3 Dạy học phân hoá trong hoạt động học tập hợp tác 13
1.4 Áp dụng BGĐT nhằm phát huy tính tích cực của người học 13
1.4.1 Một số hướng ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học 13
1.4.2 Khái quát về BGĐT 14
1.5 Xây dựng bài giảng điện tử 23
1.5.1 Những yêu cầu chung 23
Trang 41.5.2 Các phần mềm sử dụng trong thiết kế bài giảng điện tử 23
1.5.3 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 24
Kết luận chương 1 27
Chương 2: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN “DAO ĐỘNG CƠ” CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29
2.1 Tìm hiểu tình hình dạy học chương dao động cơ ở trường trung học phổ thông 29
2.1.1 Nội dung tìm hiểu 29
2.1.2 Phương pháp điều tra tìm hiểu 30
2.1.3 Kết quả điều tra tìm hiểu 30
2.2 Phân tích nội dung kiến thức chương “Dao động cơ” chương trình vật lý 12 THPT 32
2.2.1 Vị trí chương “Dao động cơ” trong chương trình Vật lý 12 THPT 32
2.2.2 Tiến trình hình thành khái niệm dao động cơ học theo SGK 33
2.2.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng 33
2.2.4 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương 35
2.3 Xây dựng bài giảng điện tử chương Dao động cơ 35
2.3.1 Ý đồ sư phạm của việc xây dựng bài giảng điện tử chương "dao động cơ học" 35
2.3.2 Qui trình thiết kế bài giảng điện tử 37
2.3.3 Giới thiệu về đĩa CD BGĐT-Dao động cơ 51
2.4 Sử dụng đĩa CD BGĐT-Dao động cơ trong Dạy – Học 54
2.4.1 Đối với giáo viên 54
2.4.2 Đối với học sinh 62
Kết luận chương 2 62
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 64
3.2 Đối tượng và phương thức thực nghiệm sư phạm 65
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm (TNSP) 65
Trang 53.2.2 Phương thức thực nghiệm sư phạm 65
3.3 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 66
3.3.1 Phân tích định tính diễn biến các giờ học trong quá trình TNSP 66
3.3.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm của các lớp TN và ĐC 72
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, và được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005) Luật giáo dục, điều 28.2 đã chỉ rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Một trong những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục được thực hiện theo định hướng tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những công nghệ thông tin Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo
và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả Để đổi mới phương pháp dạy học, người ta tìm những “phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn” Phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT không “thủ tiêu” vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy trong quá trình dạy học
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu việc đổi mới phương pháp giáo dục theo quan điểm ứng dụng CNTT và truyền thông như phần mềm hỗ trợ giảng dạy, minh họa trên lớp với máy chiếu; phần mềm dạy học giúp học sinh học trên lớp và ở nhà; công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy vi tính; sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện để dạy học… Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT trong
Trang 7cực tới việc giáo dục và phát triển tư duy của học sinh, đồng thời là thước đo thực chất đúng đắn sự nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu
Trong chương trình vật lý 12, phần “Dao động cơ” là chương mở đầu
và là nền tảng để học các chương tiếp theo: Sóng cơ, dao động điện từ, dòng điện xoay chiều Nội dung của chương nặng về lý thuyết, học sinh khó hiểu
và khó tưởng tượng Qua thực tế giảng dạy tại trường THPT Quốc Oai – Hà Nội, chúng tôi nhận thấy hầu hết ở chương này, giáo viên đều dạy học theo phương pháp thuyết trình Đặc biệt, phần “Dao động cơ” chứa số lượng câu hỏi và bài tập rất lớn trong đề thi tốt nghiệp và thi đại học
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế bài giảng phần
“Dao động cơ” chương trình vật lý 12 Trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của người học” làm đề tài của luận văn Ngoài mục đích chính là thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học phần “Dao động cơ” – chương trình vật lý 12 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đặc biệt là khả năng tự học, đề tài còn có thể cung cấp cho giáo viên và học sinh những hiểu biết về nguyên tắc xây dựng bài giảng điện tử và sử dụng những công cụ
để xây dựng bài giảng điện tử phục vụ dạy và học
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những luận điểm về phát huy tính tích cực của người học
- Nghiên cứu những quy trình, tính khả thi của việc áp dụng bài giảng điện tử trong dạy học
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của việc áp dụng BGĐT trong việc dạy học
Trang 83 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Tổng hợp và phân tích các quan điểm phát huy tính tích cực của người học trong lý thuyết kiến tạo
- Xây dựng qui trình thiết kế BGĐT: Sử dụng phần mềm VNUCE (để đóng gói bài giảng điện tử)
- Điều tra, khảo sát thực trạng áp dụng CNTT trong dạy học Vật lí ở trường THPT Quốc Oai
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo tiến trình dạy học đã soạn thảo
để đánh giá hiệu quả của sản phẩm
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Tính hiệu quả của việc áp dụng BGĐT nhằm tích cực hóa người học
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn vật lý chương “Dao động cơ” của giáo viên và học sinh lớp 12
5 Vấn đề nghiên cứu
Thiết kế bài giảng điện tử phần “Dao động cơ” như thế nào để hỗ trợ dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học?
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống BGĐT có tính sư phạm, có tính khoa học,
áp dụng các quan điểm dạy học hiện đại thì quá trình tổ chức dạy học sẽ kích thích được hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai theo những phương pháp sau:
Trang 97.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu tài liệu về tâm lý học, về lý luận dạy học nói chung và tài liệu về lý luận dạy học vật lý nói riêng có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Dao động cơ” theo chương trình sách giáo khoa Vật lý lớp 12 trung học phổ thông
- Nghiên cứu một số phần mềm: Office (word, powerpoint), Vnuce, Hot patatoes, flash…
8 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hoàn thiện lí luận và phương pháp dạy học Vật lý THPT
- Làm rõ thực trạng dạy học phần “Dao động cơ” chương trình vật lý
12 tại trường THPT Quốc Oai
- Xây dựng được hệ thống BGĐT phần “Dao động cơ” theo hướng phát huy tính tích cực của người học
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học phần “Dao động cơ” chương trình vật lý 12 THPT
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Những định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nhằm đào tạo ra những con người có những phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho học sinh những kiến thức công nghệ mà nhân loại đã tích lũy được mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý trí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thức hành giỏi, có phong cách công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội
vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn của Bác Hồ”
Đổi mới PPDH hiện nay được chú trọng đến những vấn đề sau:
- Khắc phục lối truyền thụ một chiều
- Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh
- Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Trang 11- Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học
1.2 Dạy học theo định hướng tăng cường tính tích cực của người học
1.2.1 Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Dạy học các môn khoa học ở nhà trường không chỉ đơn thuần nhằm một mục tiêu duy nhất là giúp cho HS có được một số kiến thức cụ thể nào
đó Điều quan trọng hơn là trong quá trình dạy học các tri thức cụ thể đó, rèn luyện cho HS tiềm lực để khi ra trường họ có thể tiếp tục tự học tập, có khả năng nghiên cứu tìm tòi giải quyết vấn đề, đáp ứng được những đòi hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn không ngừng phát triển Cũng chỉ trong điều kiện dạy học như vậy mới đảm bảo cho những kiến thức HS đã học được là những kiến thức thực sự có chất lượng, những kiến thức sâu sắc, vững chắc, vận dụng được
Theo quan điểm của thuyết kiến tạo, dạy học muốn đạt được hiệu quả phải chú trọng đến những vấn đề sau:
1.2.1.1 Hoạt động học trong quá trình dạy học
Sự học là sự thích ứng của người học với những tình huống thích đáng, làm nảy sinh và phát triển ở người học những dạng thức hoạt động xác định, phát triển ở người học những năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách cá nhân
Sự học có chất lượng một tri thức khoa học mới nào đó phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới, với tính cách là phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức, năng lực hoạt động thực tiễn và nhân cách của người học
Trang 12Bởi vậy, vai trò quan trọng của GV trong dạy học môn khoa học là tổ chức được những tình huống học tập và thực hiện được sự kiểm tra, định hướng hoạt động hữu hiệu, cho phép gợi ra ở HS hoạt động học tập tự chủ, tích cực, dẫn tới sự chiếm lĩnh được tri thức khoa học, theo cách tiếp cận hiện thực tương tự như các nhà khoa học
1.2.1.2 Tổ chức tình huống vấn đề trong dạy học
Tri thức khoa học được xây dựng khi nhà khoa học có động cơ giải quyết một vấn đề, tìm lời giải đáp cho một câu hỏi đặt ra, mà việc tìm lời giải đáp cho câu hỏi đó chính là phải tìm tòi một cái mới, chứ không chỉ đơn thuần là việc tái hiện, lặp lại các kiến thức và cách thức hoạt động quen thuộc sẵn có
Bởi vậy trong dạy học môn khoa học, GV cần tổ chức được những tình huống có vấn đề Đó chính là việc tổ chức những tình huống trong đó xuất hiện vấn đề cần giải quyết mà HS tự thấy mình có khả năng tham gia giải quyết, và do đó sẽ suy nghĩ đưa ra giải pháp riêng của mình, tự tìm tòi cách giải quyết thích hợp Chính trong điều kiện đó, với sự giúp đỡ định hướng của
GV, HS sẽ xây dựng được cho mình những tri thức khoa học sâu sắc, vững chắc và vận dụng được, đồng thời qua quá trình đó năng lực trí tuệ của HS sẽ phát triển
1.2.1.3 Huy động vốn kiến thức, kinh nghiệm của người học
Tri thức mới được xây dựng dựa trên những tri thức đã có và đồng thời phải đối chọi lại với các quan niệm đã có nhưng lại là trở lực đối với sự hình thành tri thức mới Tri thức mới, với ý nghĩa đúng đắn của nó, chỉ có thể thực
sự được xác lập, hoà nhập vào vốn hiểu biết riêng của HS, khi mà nó được xây dựng trên cơ sở tri thức đã có của HS, đồng thời làm biến đổi và khắc phục được các quan niệm cũ, cách hiểu cũ sai lệch, trái ngược với nó
Trang 13Bởi vậy trong dạy học cần nghiên cứu các quan niệm hoặc cách hiểu sai lầm vốn có của HS có liên quan với các tri thức cần xây dựng Chúng là chỗ dựa đồng thời là trở lực tất yếu cần khắc phục đối với quá trình xây dựng tri thức mới của HS Cần sử dụng những quan niệm vốn có đó của HS vào việc xây dựng tình huống vấn đề và định hướng hoạt động giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu sao cho tạo được điều kiện cho những quan niệm đó được
HS vận dụng, được thử thách trong quá trình kiểm tra, hợp thức hoá, khiến cho HS tự nhận thấy chỗ sai lầm, thấy cần thay đổi quan niệm, khắc phục sai lầm để xây dựng tri thức mới phù hợp
1.2.1.4 Tổ chức hoạt động học tập hợp tác trong dạy học
Sự xây dựng tri thức khoa học là một quá trình mang tính xã hội Nhận thức của mỗi cá nhân, thành viên xã hội, tiến triển trong sự tương tác xã hội
và xung đột xã hội - nhận thức Trong nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu của nhà khoa học có sự đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học Kết quả nghiên cứu của mỗi cá nhân nhà khoa học có sự hỗ trợ của người khác Kết quả đó được trình bày, thông báo và trải qua tranh luận, phản bác, bảo vệ trong cộng đồng các nhà khoa học Nhờ đó, kết quả nghiên cứu được chỉnh lý,
bổ sung, hoàn thiện và được cộng đồng khoa học chấp nhận Khi đó mới có được những tri thức khoa học có đầy đủ giá trị
Sự học tập, xây dựng tri thức của HS sẽ được tạo thuận lợi và có hiệu quả hơn nhờ sự trao đổi và tranh luận với những bạn học Trong điều kiện đó
sẽ phát huy được ảnh hưởng của sự môi giới, hỗ trợ của những người trong cộng đồng đối với mỗi cá nhân qua vùng phát triển gần nhất của cá nhân
1.2.1.5 Tổ chức hoạt động kiến tạo tri thức trong dạy học
Để phát huy tổng hợp các nhân tố tác động: vai trò của HS trong sự tự chủ hành động xây dựng kiến thức; vai trò của GV trong sự tổ chức tình
Trang 14huống học tập và định hướng hành động tìm tòi xây dựng tri thức của HS; vai trò của tương tác xã hội của tập thể HS đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân HS; và đồng thời cho HS tập làm quen với quá trình xây dựng và bảo vệ cái mới trong nghiên cứu khoa học, thì cần tổ chức tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học
1.2.2 Hoạt động học tập theo lý thuyết kiến tạo (Piaget)
Theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo của Piaget, quá trình nhận thức của con người kể từ lúc sơ sinh cho đến khi tuổi già là một quá trình học tập dưới những hình thức khác nhau Sự học tập là kết quả của quá trình đồng hoá (Assimilation) và điều ứng (Accomodation) Theo Piaget đồng hoá là quá trình chủ thể (con người) tiếp nhận khách thể (một sự kiện từ bên ngoài tác động lên con người) và chủ thể xử lý khách thể này nhằm đạt một mục tiêu nào đó Như vậy, đồng hoá giúp chủ thể tích luỹ được những hiểu biết về môi trường vào kho tàng tri thức đã có trước đó của mình Điều ứng là quá trình chủ thể thích nghi với một sự kiện mới từ môi trường tác động vào và biến đổi nhận thức cũ đã có của mình sao cho phù hợp với bản chất của sự kiện tác động đó Nhờ sự đồng hoá và điều ứng mà chủ thể tạo được sự cân bằng mới
và quá trình đó cứ tiếp diễn làm cho nhận thức ngày càng phát triển Như vậy, học tập là quá trình cá nhân đồng hoá và điều ứng, tiếp nhận thông tin từ môi trường, xử lý thông tin đó và thích ứng với môi trường
Kiến thức của mỗi người là do bản thân mình xây dựng, là kết quả hoạt động của bộ óc của chủ thể phản ánh thực tế khách quan Vì vậy, không thể quan niệm sự hình thành kiến thức của học sinh chỉ đơn thuần là sự in vào đầu óc học sinh những câu chữ, xem như những cái đã có sẵn tồn tại độc lập với học sinh Không thể coi sự dạy của GV chỉ đơn thuần là sự trình diễn kiến thức, chỉ cần cố gắng trình diễn chính xác, rõ ràng và đầy đủ sao cho in đậm
Trang 15vào đầu óc HS được đúng những câu chữ như thế Nếu chỉ như vậy thì không thể đạt được hiệu quả của quá trình dạy học
Cũng không thể quan niệm thực chất của sự học chỉ ở chỗ người học đạt được (thể hiện ra được) những hành vi xác định nào đó Nghĩa là không thể quy chất lượng, hiệu quả của sự học chỉ về những biểu hiện hành vi bên ngoài của người học Do đó sẽ là phiến diện nếu quan niệm rằng dạy học chỉ cần làm sao cho HS thể hiện được những hành vi cụ thể nhất định nào đó Bởi
vì, theo quan điểm tâm lý học tư duy thì sự học là một sự phát triển về chất của cấu trúc hành động Cùng một hành vi biểu hiện bề ngoài giống nhau, nhưng chất lượng, hiệu quả của sự học (đối với kiến thức lĩnh hội được cũng như đối với sự phát triển tiềm lực của HS) vẫn có thể khác nhau tuỳ thuộc vào
sự phát triển cấu trúc của hành động học của chủ thể Ở đây hành vi được xem như kết quả biểu hiện ra ngoài của hành động, còn cách thức để đạt tới kết quả đó được xem như cấu trúc bên trong của hành động
Như vậy, sự học phải là quá trình hình thành và phát triển của các dạng thức hành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể với tình huống thông qua sự đồng hoá và điều ứng
Hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Hoạt động có đối tượng cấu thành từ các hành động, hành động gồm các thao tác Hành động có mục đích, điều kiện, phương tiện cụ thể
Mối quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc hoạt động được thể hiện như sau:
Trang 16Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc hoạt động
Cơ sở định hướng của hành động là những kiến thức cần thiết cho việc thực hiện hành động của chủ thể Cơ sở định hướng của hành động có tầm quan trọng đặc biệt đối với chất lượng, hiệu quả của hành động GV có vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ sở định hướng khái quát của hành động của HS Đó là cơ sở định hướng bao gồm những nội dung cơ bản nhất, cần thiết cho việc thực hiện thành công hành động của chủ thể
Bởi vậy trong dạy học, hoạt động dạy của GV phải có tác dụng chỉ đạo hoạt động học của HS phù hợp với con đường biện chứng của sự hình thành, phát triển và hoàn thiện của hành động
Sự học tập còn được nhìn nhận theo quan điểm xã hội – tâm lý Học là hoạt động của cá nhân chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội - lịch sử, biến thành năng lực thể chất và năng lực tinh thần của cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Sự học tập của cá nhân HS cần có sự môi giới, giúp
đỡ bởi người lớn hoặc người ngang hàng qua vùng phát triển kế cận Vùng phát triển kế cận được hiểu là khoảng cách giữa trình độ thực tại của cá nhân xác định bởi sự giải quyết một vấn đề không có sự giúp đỡ và trình độ phát
Điều kiện, phương tiện Thao tác
Trang 17lớn hoặc người ngang hàng có khả năng hơn Điều này nói lên vai trò xã hội, vai trò của sự can thiệp xã hội trong việc nhận thức của mỗi cá nhân
Nếu học là hành động của HS xây dựng kiến thức cho bản thân mình và vận dụng kiến thức của mình, thì dạy học là dạy hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) và do đó, trong dạy học, GV cần
tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của HS để qua đó HS chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình
Như vậy, muốn đạt chất lượng, hiệu quả cao trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học gồm người dạy (GV), người học (HS) và tư liệu họat động dạy học (môi trường) thì GV cần tổ chức, kiểm tra, định hướng hành động của
HS theo một chiến lược hợp lý sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho mình và do đó đồng thời năng lực trí tuệ và nhân cách toàn diện của
họ từng bước phát triển
1.3 Những đặc trƣng cơ bản của dạy học tích cực (DHTC )
1.3.1 Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh
Dạy học thay vì lấy “dạy” làm trung tâm sang lấy “học” làm trung tâm Trong phương pháp tổ chức, người học đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các hoạt động học tập
do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Hoạt động làm cho lớp học ồn ào hơn, nhưng là sự ồn ào hiệu quả
1.3.2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực học của học sinh
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý trí tự học thì sẽ tạo
Trang 18cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội
1.3.3 Dạy học phân hoá trong hoạt động học tập hợp tác
Trong một lớp học trình độ kiến thức, tư duy của HS thường không thể đồng đều, vì vậy khi áp dụng DHTC buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động đọc lập Áp dụng DHTC ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập
1.4 Áp dụng BGĐT nhằm phát huy tính tích cực của người học
1.4.1 Một số hướng ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học
Trong dạy học Vật lí có thể ứng dụng CNTT để hiện đại hóa phương thức dạy học theo các hướng sau:
- Xây dựng các phần mềm dạy học: Đây là hướng ứng dụng CNTT vào dạy học được nhiều nước trên thế giới quan tâm và phát triển Ở Việt Nam hiện nay cũng đang được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu và phát triển
- Xây dựng các mô hình vật lí, các thí nghiệm ảo: việc xây dựng các
mô hình, các quá trình Vật lí để hỗ trợ, thậm chí thay thế môt số hiện tượng vật lí mà thực tế không thể quan sát được qua tranh, nghe mô tả qua lời nói là rất cần thiết vì nó sẽ làm giảm bớt tính trừu tượng, giảm bớt chi phí trong dạy học tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh có thể tiếp thu kiến thức nhanh và chính xác hơn Từ đó, sẽ góp phần nâng cao khả năng khám phá, nắm bắt tri
Trang 19đòi hỏi cần phải có nhiều công cụ hỗ trợ và nhà lập trình có trình độ chuyên nghiệp cao Vì vậy hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Các đề tài nghiên cứu phần mềm dạy học có liên quan đến các mô hình, quá trình vậy lí hầu như sử dụng các mô hình, các quá trình được lập trình sẵn của các nước có trình độ khoa học kĩ thuật cao như Mĩ, Anh, Pháp…
- Xây dựng các Website dạy – học vật lí
- Thiết kế bài giảng điện tử: Đây là một hướng đi thuận lợi, mỗi giáo viên đều có thể sử dụng một số phần mềm thông dụng như: PowerPoint, Frontpage, hot patatoes, Vnuce … để soạn giáo án điện tử Theo con số điều tra ban đầu ở học sinh trường THPT Quốc Oai – Hà Nội cho thấy 75% học sinh biết truy cập thông tin trên mạng internet Vì vậy việc xây dựng các BGĐT kết hợp với học tập trên mạng là một ảnh hưởng khả quan, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tích tích cực, tự học, năng lực tìm tòi và khám phá tri thức của học sinh
1.4.2 Khái quát về BGĐT
Hiện vẫn chưa có một định nghĩa chính thức, thống nhất về loại bài giảng này Có thể bắt gặp nhiều tên gọi như “bài giảng số hóa”, “bài giảng qua mạng”, “bài giảng kết nối (trực tuyến/ngoại tuyến)” Cách hiểu như vậy
về bài giảng điện tử (BGĐT) mới chỉ dừng ở hình thức thể hiện chứ chưa nói hết được bản chất của nó
Bài giảng điện tử có thể được hiểu theo 2 cách:
- Như một “sản phẩm” điện tử, được số hóa (giáo trình điện tử, giáo án điện tử, hồ sơ dạy học, học liệu điện tử ) được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định Dạng thức số hóa có thể là văn bản, âm thanh,
hình ảnh, đồ họa, ký hiệu, thí nghiệm mô phỏng…
Trang 20- Như một “quá trình” dạy học được điện tử hóa, số hóa Quá trình dạy
học “không truyền thống” này cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức tương tác với nhau trong một môi trường số hóa (thường là mạng
Internet) ở mọi nơi, mọi lúc
Các bài giảng, khoá học được thiết kế và triển khai với sự trợ giúp của CNTT có thể tạo ra những chuyển biến vượt trội về chất so với các bài giảng,
khoá học truyền thống: người học có thể “thao tác” được với nội dung
Nội dung của dạy học truyền thống là những kiến thức khoa học được chắt lọc và đóng gói trong giáo trình, sách giáo khoa và được chuyển đến người học một cách cứng nhắc (người học không thể “tương tác”, “thao tác”
được với nội dung)
Trong khi đó, nội dung của bài giảng điện tử (E-lesson) lại không phải
ở chính bản thân thông tin, tri thức, mà là cách tìm kiếm, lựa chọn, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề (Hiện vẫn tồn tại những quan niệm sai lầm cho rằng việc thiết kế nội dung cho bài giảng điện tử chẳng qua chỉ là quá trình chuyển một cách cơ học thuần túy từ sách giấy thành “sách số” hay “sách
điện tử” - E-book)
Bài giảng điện tử (được hiểu khái quát như sản phẩm và quá trình) về
cơ bản khác với bài giảng truyền thống ở những điểm sau:
- Không bị giới hạn bởi không gian, thời gian (đẳng thời và bất đẳng
thời)
- Mềm dẻo, có thể tương tác được
- Tạo sự linh hoạt trong tốc độ triển khai học tập tùy thuộc vào năng lực
của cá nhân người học
- Tạo ra môi trường học tập bình đẳng, phù hợp với các đối tượng khác
Trang 21- Tạo ra khả năng tích hợp mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ trong dạy
học
- Tạo ra sự thay đổi căn bản trong quan niệm về vị trí, vai trò của người
dạy, người học
Một cách khái quát có thể coi bài giảng điện tử là một tổ hợp sản phẩm
và các dịch vụ, hoạt động (được thiết kế nhờ ứng dụng mạnh mẽ CNTT) của người dạy và người học nhằm giải quyết những mục tiêu dạy học, đảm bảo
tính toàn vẹn và thống nhất của quá trình dạy học
Ở cấp độ cấu trúc kỹ thuật, bài giảng điện tử là một tổ hợp các nội dung dạy học (bao gồm cả nguồn học liệu) được thiết kế phù hợp với các ý đồ triển khai dạy học (hoạt động dạy, hoạt đông học và tự học, hoạt động kiểm tra đánh giá) nhằm giúp cho người dạy và người học thực thi các nhiệm vụ theo
mục tiêu và kịch bản sư phạm đã định ra
Hiện nay trong nhiều tài liệu nói về các hình thức giáo dục không truyền thống cũng xuất hiện một số khái niệm liên quan mật thiết đến khái
niệm bài giảng điện tử:
- Khóa học điện tử (E-course, E-Learning): là phương thức đào tạo, dạy
học dựa trên các ứng dụng CNTT (chủ yếu là ứng dụng máy tính, mạng
Internet và công nghệ web)
- Học liệu điện tử (E-resource, Course-ware): là các tài nguyên học tập
đã được số hóa, định dạng theo những cấu trúc và ý đồ (sư phạm) nhất định, được lưu giữ trong các dạng thể chứa dữ liệu (ổ cứng, ổ mềm của máy tính,
mạng Internet, trang web cơ sở dữ liệu, thư viện điện tử, kho dữ liệu )
- Giáo trình, sách điện tử (E-book): là các dữ liệu (chủ yếu là văn bản)
đã được số hóa, định dạng chuẩn nhất định, có kèm các công cụ Multimedia
làm tăng khả năng đa giác quan hóa và thao tác hóa của người đọc
Trang 22- Giáo án điện tử: là kế hoạch trển khai các bài giảng điện tử cụ thể
(độc lập hoặc được tích hợp trong dạy học truyền thống), được xây dựng trên những nguyên tắc sư phạm nhất định đảm bảo tính logic của nội dung
dạy học
Bài giảng điện tử được phát triển qua 3 thế hệ:
+ Thế hệ 1: Các bài giảng điện tử (giáo án điện tử) có chức năng chủ
yếu là trình diễn nội dung: sử dụng đa dạng các hiệu ứng trình diễn, tích hợp các công cụ Multimedia, siêu liên kết Chưa có tính tương tác cao giữa người
học với nội dung dạy học, không có tính “mở”
+ Thế hệ 2: Các bài giảng điện tử có tích hợp các công cụ Multimedia
giúp người học tương tác được với nội dung dạy học: quan sát, làm bài tập,
thực hành, kiểm tra đánh giá
+ Thế hệ 3: Các bài giảng điện tử có tính tương tác cao giữa người dạy,
người học và nội dung dạy học (trực tuyến/ngoại tuyến; trực tiếp/gián tiếp) trong đó người học có thể tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nội dung
học liệu, các hoạt động dạy học, giao tiếp với nhau…
1.4.2.1 Cấu trúc của bài giảng điện tử
Xét theo quan điểm sư phạm, có thể coi bài giảng điện tử là một tổ hợp các thành tố nội dung và phương pháp dạy học cho một bài học, chương học cụ thể Tuy nhiên, bài giảng điện tử không chỉ đơn thuần là sự tập hợp các thông tin, dữ liệu được số hóa kèm theo đa phương tiện Mỗi một bài giảng điện tử cần được coi như là sự trợ giúp cho người học chiếm lĩnh hệ thống các vấn đề lý thuyết, hình thành những thao tác, kỹ năng cụ thể theo một hệ mục tiêu đã định thông qua các con đường tri nhận, tư duy, minh họa, tra cứu, chỉ dẫn, luyện tập, kiểm tra và ra quyết định
Trang 23Về tổng thể, mô hình của bài giảng điện tử có thể bao gồm các thành phần sau:
- Thông tin chung về bài giảng (người dạy, mục tiêu, lịch trình )
- Giáo trình, sách giáo khoa điện tử (các văn bản, nguồn tài liệu phục
vụ dạy học, nội dung bài học, tài liệu tham khảo đã được số hóa)
- Sách chỉ dẫn điện tử (văn bản, từ điển chú giải thuật ngữ đã được
số hóa)
- Hệ thống các nhiệm vụ luyện tập, thực hành (các phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo, bài tập mô phỏng )
- Hệ thống kiểm tra đánh giá
Mô hình này có thể được điều chỉnh về tỷ lệ và dung lượng phù hợp với yêu cầu đặc thù của từng chương bài, môn học, chuyên ngành cụ thể
Một bài giảng điện tử hiệu quả sẽ phải được cấu trúc thành những bài
giảng con dưới dạng các “khối nội dung” nhỏ như: “Khối nội dung lí thuyết”
(Theoretical Block), “Khối nội dung nghiên cứu” (Research Block), “Khối
thực hành” (Practical Block), “Khối học liệu đọc” (Reading Block), “Khối
sáng tạo” (Creative Block) v.v., đảm bảo chứa đựng đầy đủ nội dung học liệu
về các mặt như sự kiện, khái niệm, nguyên lý, quá trình, nguyên tắc
Mỗi “khối” chứa đựng các Module nhỏ (có thể là tuyến tính hoặc phi tuyến tính) như “Module lý thuyết 1,2”, “Module thực hành 1,2”, “Module thí nghiệm, tình huống”, “Module kiểm tra, đánh giá” , được thiết kế tuân thủ theo nguyên tắc sao cho người học có khả năng tự do lựa chọn, liên kết chéo (phi tuyến tính), tạo hướng giải quyết mở, đảm bảo giao tiếp và phản hồi v.v
1.4.2.2 Ưu thế của bài giảng điện tử
Với các tính năng kể trên, các bài giảng điện tử có thể tích hợp được
ngay vào quá trình dạy học thực tiễn hiện nay với kiểu học giáp mặt
Trang 24(Face-to-Face), cho lớp học đông người mà vẫn đảm bảo được yêu cầu phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học
Thứ nhất, việc triển khai các bài giảng điện tử cho phép người học tìm tới sự cân bằng giữa việc tích luỹ nội dung tri thức môn học và các chiến lược học tập thông qua việc tự định hướng, tự điều khiển, tổ chức, quản lý, tự đánh giá chính việc học của mình Thay vào lối truyền giảng, thông báo thông tin một chiều, người dạy sẽ giữ vai trò điều khiển, định hướng người học vào quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin, đưa ra các phương án để giải quyết nội dung bài học bằng những chiến lược dạy mới:
- Dạy học bằng bằng chính hoạt động học tập của người học
- Dạy học cá thể hoá trong hoạt động tương tác, hợp tác
- Dạy học hướng vào dạy cách tự học, tự nghiên cứu
- Dạy học dựa trên sự đánh giá và tự đánh giá
Thứ hai, việc tích hợp bài giảng điện tử vào quá trình dạy học truyền
thống sẽ kéo theo những biến đổi căn bản trong hoạt động của người dạy và người học như sau:
- Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác;
- Phá bỏ sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá trình dạy học (người học có thể nghe, nhìn, học qua bài giảng điện tử đã được đóng gói, vào đĩa CD-Rom chẳng hạn, với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi );
- Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu sang làm việc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ
để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trong bài giảng điện tử );
Trang 25- Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học (mỗi người sẽ
tự chọn cho mình cách thức, cấp độ và tốc độ giải quyết nhiệm vụ học tập);
- Hoạt động đánh giá dựa trên mục tiêu cụ thể (có thể sử dụng bất cứ hình thức nào để giải quyết nhiệm vụ, miễn là đạt mục tiêu);
- Tiếp cận theo hướng cạnh tranh lành mạnh sẽ chiếm vị thế chủ đạo trong mọi hoạt động (cạnh trạnh ngay giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm, giữa các hình thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập );
- Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh được một loại kiến thức (đơn ngành) sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực);
- Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa giác quan hóa trong quá trình dạy học (người học có thể “sờ mó”, thao tác được với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động )
Như vậy, BGĐT có một số ưu thế sau :
*Tạo môi trường học tập mới
Môi trường học tập hiện nay có tích hợp bài giảng điện tử sẽ mang một cấu trúc mới đầy triển vọng với những đặc trưng sau:
- Hệ thống tự tổ chức (có định hướng của người dạy), mang tính mở;
- Cấu trúc ngang trong dạy học, không thứ bậc (hoàn toàn khác với các
mô hình tổ chức dạy học quen thuộc từ trước đến nay với những vấn đề tranh cãi: đâu là đỉnh của tam giác sư phạm: người dạy, người học hay nội dung môn học)
- Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện giúp nâng cao hiệu quả
chất lượng quá trình dạy học nhờ việc cải tiến hoạt động nhận thức tích cực mang định hướng cá nhân của người học, dạy học dựa trên năng lực và đánh giá thực
Trang 26* Phát huy vai trò, vị trí của người dạy và người học
Trong môi trường học tập mới có sử dụng các công nghệ hiện đại người học thực sự đứng ở trung tâm, là người chủ, người khám phá của việc học với đầy đủ các đặc điểm: cá thể hoá, hoạt động tương tác, hợp tác, tính tích hợp và đa dạng về phong cách học tập (Moffett J & Wagner B.J, 1992) Người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, học bất cứ điều gì quan tâm, hứng thú, học bất cứ với ai, tự lựa chọn cho mình cấp độ và tốc độ học phù hợp ,
từ một “khách hàng sử dụng” để trở thành “nhà sản xuất”, “người sáng tạo”,
“người biết hợp tác” trong việc tạo ra các “học phẩm” nhờ có CNTT
* Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy-học
Đổi mới phương pháp dạy và học vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của việc tích hợp bài giảng điện tử vào dạy học truyền thống hiện nay
Việc áp dụng các bài giảng điện tử vào quá trình dạy học truyền thống
sẽ tạo cơ hội cải tiến cách dạy và học Bài giảng điện tử cho phép triển khai rộng rãi quá trình dạy học theo mô hình: “Một người dạy, nhiều người học (đồng thời hay không đồng thời)” hoặc “Nhiều người dạy, rất nhiều người học” Như vậy người học sẽ có cơ hội tham khảo các bài giảng của nhiều người dạy khác nhau về cùng một vấn đề, từ đó có thể chọn lựa, tìm ra cho bản thân phương pháp học tập tối ưu
Áp dụng vào thực tiễn dạy học trong thời điểm hiện nay chúng ta có thể
sử dụng mô hình tích hợp sau:
Người dạy + E-lesson Người học
Người dạy Người học + E-lesson hoặc
Trang 27Việc tích hợp bài giảng điện tử hiện nay sẽ phải đối mặt với những khó khăn trước hình thức dạy học truyền thống vốn dĩ đã quá quen thuộc với nhiều người Rõ ràng hình thức lên lớp theo kiểu “tổng lực”, “đọc chép” sẽ không thể phù hợp với cách dạy có tích hợp bài giảng điện tử
Dạy học theo nhóm nhỏ, tranh luận và trình bày, nêu vấn đề và giải quyết, dạy học theo kiểu “dự án” càng ngày sẽ càng chiếm ưu thế trước hình thức thuyết giảng, độc thoại một chiều Do bài giảng điện tử không bị ràng buộc bởi yếu tố không gian và thời gian, được lưu giữ dưới nhiều dạng khác nhau (trong đĩa CD-Rom, VCD, DVD, băng video, mạng Internet ), nên người học và người dạy có thể không cần giáp mặt thường xuyên trong quá trình tổ chức một nội dung dạy học cụ thể Chẳng hạn, chuẩn bị cho một giờ học sắp tới, người học có thể đến thư viện, lên mạng để xem, phân tích, đánh giá bài giảng từ trước với số lần không hạn chế Điều này không chỉ tạo ra một tâm lý học tập thoải mái, tăng thời gian cho thảo luận, trao đổi trên giờ học “giáp mặt”, đồng thời còn góp phần hạn chế, loại bỏ ngay từ đầu sức ỳ, tính thụ động của những người học thiếu động cơ học tập
1.4.2.3 Những khó khăn khi triển khai giảng dạy bằng bài giảng điện tử
- Thời gian để giáo viên soạn giáo án điện tử là rất nhiều Bình quân một bài dạy một tiết có thể tốn đến hàng chục tiết chuẩn bị Vì rất hiện đại nên nó mang đầy đủ khuyết điểm của mọi phương tiện hiện đại tại nước ta Chưa thể sử dụng giáo án điện tử trên cả nước Cho dù ở các trường tiên tiến, được trang bị tốt, việc sử dụng giáo án điện tử cũng chưa hợp lí Vì vậy cho đến nay giáo án điện tử thường chỉ dùng để trình diễn hơn là để thực dạy
- Trình độ tin học, ngoại ngữ của giáo viên còn hạn chế
- Điều kiện trang thiết bị còn thiếu và chưa đồng bộ
Trang 281.5 Xây dựng bài giảng điện tử
1.5.1 Những yêu cầu chung
Để thiết kế một bài giảng bằng giáo án điện tử đòi hỏi rất nhiều yếu
tố Ngoài việc đòi hỏi giáo viên có một kiến thức nhất định về tin học như sử dụng thành thạo phần mềm thiết kế bài giảng thì nó còn yêu cầu giáo viên phải có khả năng vận dụng hợp lí giữa việc trình bày bài giảng một cách khoa học gắn với phương pháp sư phạm
Muốn ứng dụng CNTT trong giảng dạy có hiệu quả, theo chúng tôi giáo viên phải có sự thay đổi về nhận thức, vượt lên sự bảo thủ, quen lối mòn, ngại khó, ngại đổi mới, dần dần tạo được động lực, sự hứng thú với các phương tiện kĩ thuật Thứ nữa, muốn ứng dụng CNTT, giáo viên không chỉ có trình độ nhất định về CNTT, mà phải biết ngoại ngữ
1.5.2 Các phần mềm sử dụng trong thiết kế bài giảng điện tử
Nếu chỉ đơn thuần máy tính điện tử mà thiếu đi các phần mềm dạy học thì hiệu quả của việc dạy học với trợ giúp của máy tính điện tử sẽ rất hạn chế Mặt khác, chất lượng của việc dạy học với sự trợ giúp của máy tính điện
tử phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của các phần mềm, trong đó có các phần mềm dạy học Người ta dự đoán rằng trong những năm tới phần mềm tin học dạy học sẽ trở thành phần mềm rộng rãi nhất trên thế giới Nhiều hội nghị tin học quốc tế về dạy học với sự hỗ trợ của máy tính điện tử (CAI – computer – Aided instruction) đã được tiến hành hàng năm
Ở nước ta đang ở giai đoạn đầu của các dự án tin học vào nhà trường phổ thông Máy tính đã được trang bị trong các nhà trường nhưng chúng ta vẫn thiếu giáo viên, nội dung tin học và các phần mềm dạy học đặc biệt là các phần mềm dạy học hiệu quả thích hợp đối với học sinh
Trang 29Vì thế khi nghiên cứu sử dụng máy tính điện tử làm công cụ trợ giúp dạy học không thể tách rời việc nghiên cứu thiết kế và cài đặt các hệ phần mềm, đồng thời việc sử dụng các hệ phần mềm này cũng cần phải quán triệt các quan điểm như đã trình bày ở trên
Trong các hướng làm phần mềm nói trên chúng tôi quan tâm nhiều đến hướng ứng dụng các phần mềm dạy học dựa trên những nguyên lí của tin học nhà trường vào nghiên cứu giáo dục
Có thể thấy các ứng dụng này hiện nay rất được phổ biến như: MS office, Openoffice (soạn văn bản giáo trình), MathCAD, Cabri, Sketpach (toán), MultiSIM (điện), Working Model (vật lí), GIF Movie Gear (làm hoạt hình), Windows Movie Maker (làm phim), … Crocodille Clips (tạo các thí nghiệm mô phỏng) Microsoft Producer (miễn phí): Công cụ giúp đưa thêm Multimedia (audio và video) vào các bài trình bày của Microsoft Powerpoint, giúp bài trình bày trở nên sống động gấp nhiều lần; phần mềm Vnuce để đóng gói bài giảng; phần mềm tạo web trên Word; phần mềm tạo đề trắc nghiệm Hot potatoes……
1.5.3 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
Tính hiệu quả của một bài giảng điện tử phụ thuộc vào cả hai yếu tố: ý tưởng sư phạm và ý tưởng công nghệ Do vậy, để xây dựng được một bài giảng điện tử cần phải tích hợp một cách hài hòa giữa 2 yếu tố trên Có thể tóm tắt qui trình xây dựng bài giảng điện tử thành các bước sau :
Bước 1: Thiết kế ý đồ bài giảng (xây dựng kịch bản sư phạm và kịch
bản công nghệ)
Kịch bản sư phạm có thể được ví như linh hồn của bài giảng điện tử, mang lại một cái nhìn xuyên suốt, nhất quán về tính logic của nội dung, cấu trúc các thông tin liên quan đến bài học, tính tuần tự, hợp lý, tương thích của
Trang 30các phương pháp, kỹ thuật triển khai quá trình dạy học, các hình thức giao tiếp, hoạt động của người dạy và người học Trong quá trình xây dựng kịch bản sư phạm, người dạy cần tính đến: mục tiêu của bài học (dạy học để làm được gì, dạy học cái gì, như thế nào, bằng phương tiện gì ?); nội dung của bài học (bao nhiêu là đủ, đâu là nội dung cốt lõi, cơ bản, bổ trợ ?); phương pháp triển khai (người dạy sẽ làm gì, người học sẽ phải làm gì, đặc điểm tương tác hoạt động giữa người dạy và người học trong từng giai đoạn triển khai là gì, những khó khăn gì có thể người học sẽ mắc phải ?); hình thức triển khai (người học có thể học dưới những hình thức nào với bài giảng điện tử này?); đặc điểm khái quát về đối tượng người học; tính khả thi về các yếu tố công nghệ khi truyền tải nội dung
Trong quá trình xây dựng kịch bản công nghệ cần chọn lựa các công cụ
đa phương tiện phù hợp (tránh lạm dụng các yếu tố công nghệ) giúp cho việc thể hiện nội dung được hiệu quả ; lựa chọn giao diện thân thiện với người học ; tính toán khả năng đáp ứng ý đồ sư phạm về mặt kỹ thuật và tính khả thi
về kinh tế
Bước 2: Chọn lựa và chuẩn bị học liệu
Giáo viên lựa chọn, phân loại, sắp xếp toàn bộ học liệu liên quan đến nội dung bài giảng; phân loại các học liệu theo tiêu chí phục vụ cho nội dung cốt lõi-phải biết; Nội dung cơ bản-nên biết ; Nội dung nên-có thể biết, tham khảo ) hoặc các hoạt động chính diễn ra trong quá trình dạy học
Các tài liệu cần được chuẩn bị trước, phân chia thành các “gói” một cách logic, khoa học để tiện sử dụng Có thể tập hợp tài liệu thành các gói:
* Gói nội dung (Content based package):
- Tài liệu giới thiệu, hướng dẫn
Trang 31- Tài liệu đọc thêm
- Tài liệu thực hành
- Tài liệu kiểm tra đánh giá v.v
* Gói định dạng (Format based package):
- Tài liệu văn bản (Word, PDF…)
- Học liệu Multimedia (Audio/Video file)
- Học liệu tranh ảnh minh họa, học liệu được số hóa (các file ảnh tĩnh/động)
- Học liệu web (HTML) v.v
* Gói chủ thể hoạt động (Performance based package):
- Nội dung dành cho người dạy
- Nội dung dành cho người học
- Nội dung dành cho nhà quản lí v.v
Bước 3: Số hóa các học liệu
Lựa chọn các định dạng phù hợp để số hóa học liệu; ví dụ : lựa chọn các định dạng số hóa phù hợp cho các loại học liệu là văn bản, hình ảnh, âm thanh, ảnh, đồ họa, bản đồ, biểu đồ )
Việc số hóa các học liệu cần đến sự trợ giúp của các phương tiện công nghệ phần cứng (ví dụ: máy ảnh kỹ thuật số, camera, máy quét v.v.) và các phần mềm chuyên dụng xử lí và đóng gói các định dạng văn bản, hình ảnh, đồ họa, video/audio file v.v
Bước 4: Chọn lựa, thiết kế đa phương tiện
Lựa chọn và phối kết hợp các công cụ kỹ thuật công nghệ phù hợp để thiết kế các học liệu của bài giảng đã được số hóa
Trang 32- Các phần mềm xử lí văn bản, số liệu (Microsoft Office, Adobe v.v.)
- Các phần mềm xử lí đồ họa (Flash, Corell Draw, Photoshop, Autocad, Picasa v.v.) và xử lí Audio/Video (Herosoft, VCD Cutter, Total Converter v.v.)
- Các phần mềm trình diễn (MS PowerPoint, Adobe Presenter, Proshow Gold v.v.)
- Các phần mềm hỗ trợ học tập, kiểm tra đánh giá, phần mềm mô phỏng
Bước 5: Đóng gói bài giảng theo chuẩn
Cần thống nhất trước với các nhà quản lý về chuẩn đóng gói bài giảng nhằm tạo thuận lợi cho người học, các nhà quản lý, xây dựng, tổ chức chương trình đào tạo, các giáo viên trực tiếp thiết kế bài giảng )
- Văn bản: sử dụng font Unicode
- Picture/Audio/Video file: định dạng phù hợp, kích thước nhỏ gọn
- Các chuẩn đóng gói thông dụng: HTML, SCORM…
Bước 6: Vận hành thử : Triển khai dạy học thí điểm trên nền thiết kế
công nghệ, bài giảng đã đựoc số hóa, tích hợp bài giảng điện tử trong dạy học
truyền thống )
Bước 7: Đánh giá cải tiến (điều chỉnh): Dựa trên kết quả của quá
trình vận hành thử, tiến hành đánh giá, điều chỉnh lại BGĐT
Kết luận chương 1
Trên đây, chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận của đề tài luận văn Những vấn đề đã trình bày có thể tóm tắt thành những luận điểm chính sau:
Học chính là hành động của người học thích ứng với tình huống, qua
đó người học chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội - lịch sử, biến thành năng lực thể
Trang 33chất và năng lực tinh thần của cá nhân Dạy học là dạy học sinh giải quyết vấn
đề do nhiệm vụ học tập đề ra
Vai trò của giáo viên trong dạy học là tổ chức tình huống học tập trong
đó xuất hiện vấn đề cần giải quyết mà học sinh có nhu cầu, hứng thú và tự thấy mình có khả năng giải quyết vấn đề, nâng cao tính tự lực học tập của học sinh Giáo viên còn có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và hướng dẫn quá trình giải quyết vấn đề tích cực, tự lực của học sinh
Sự nghiệp giáo dục phải đáp ứng được cuộc cách mạng KHKT Tin học thâm nhập vào mọi lĩnh vực, đưa Tin học vào nhà trường hết sức cần thiết Công nghệ thông tin đã tạo điều kiện khách quan cho việc đưa Tin học vào nhà trường Khi xây dựng BGĐT có thể giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh được tri thức khoa học sâu sắc, vững chắc và vận dụng được, đồng thời phát triển năng lực nhận thức của mình
Cùng với sự phát triển của công nghệ phần mềm, việc xây dựng BGĐT
để hỗ trợ dạy và học không yêu cầu người thiết kế phải là một chuyên gia về Tin học Nếu sưu tầm và lựa chọn các công cụ tốt sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi để xây dựng các BGĐT dạy học một cách nhanh chóng Vấn đề quan trọng ở chỗ BGĐT cần được thiết kế một cách khoa học và được áp dụng hợp
lí trong các hoạt động sư phạm của quá trình dạy học
Trang 34CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC
PHẦN “DAO ĐỘNG CƠ” CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Tìm hiểu tình hình dạy học chương dao động cơ ở trường trung học phổ thông
Để chuẩn bị cho việc xây dựng bài giảng điện tử hỗ trợ tính tích cực, tự lực giải quyết vấn đề của học sinh, chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy
và học chương dao động cơ ở trường THPT Quốc Oai – Hà Nội với mục đích tìm ra các ưu nhược điểm của thực trạng việc dạy và học phần kiến thức này, đồng thời tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng máy tính hỗ trợ dạy và học
2.1.1 Nội dung tìm hiểu
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu:
- Thực trạng thiết bị, cơ sở vật chất (đặc biệt quan tâm đến trang thiết bị trong phòng thí nghiệm phục vụ bộ môn Vật lý và phòng máy tính) và phong trào chung của nhà trường
- Tình hình dạy: Tìm hiểu các phương pháp dạy học chủ yếu mà giáo viên sử dụng, việc sử dụng các phương tiện dạy học khi dạy chương dao động cơ
- Tình hình học tập của học sinh: tìm hiểu tình hình học tập ở trên lớp
và ở nhà; những khó khăn, sai lầm phổ biến của học sinh trong quá trình học tập chương này
- Tìm hiểu thực trạng của việc ứng dụng tin học vào dạy và học các môn học
Trang 35- Tìm hiểu khả năng sử dụng máy tính, truy cập internet của giáo viên
và học sinh
2.1.2 Phương pháp điều tra tìm hiểu
- Gặp gỡ lãnh đạo nhà trường, tham quan phòng thí nghiệm, phòng máy tính của nhà trường
- Dự giờ, gặp và trao đổi với tổ bộ môn và giáo viên bộ môn
- Quan sát học sinh học trên lớp và gặp gỡ, trao đổi với một số học sinh
- Tổng kết, phân tích số liệu trong sổ đăng kí dạy học bằng máy chiếu, thiết bị thí nghiệm
2.1.3 Kết quả điều tra tìm hiểu
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy:
- Trường THPT Quốc Oai là một trường công lập, được thành lập năm
1962, có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có truyền thống dạy và học tốt Đội ngũ giáo viên giảng dạy có nhiều kinh nghiệm, kết hợp với đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình, năng động
- Hệ thống phòng thí nghiệm được trang bị tương đối đầy đủ
+ Phòng thí nghiệm Vật lý: hàng năm được cung cấp đầy đủ các bộ thí nghiệm phục vụ dạy và học Xong, phòng thí nghiệm còn chật hẹp, thiết bị thí nghiệm chưa được bảo quản tốt
+ Phòng thực hành máy tính: gồm 2 phòng, mỗi phòng có 24 máy tính, tất cả các máy đều được nối mạng
- Về hoạt động dạy của giáo viên: qua tìm hiểu cho kết quả:
Trang 36+ Hầu hết các bộ môn, giáo viên đều có sử dụng máy chiếu để hỗ trợ việc dạy học, đặc biệt là giáo viên ở bộ môn Sinh học và Vật lý Nhưng đối với chương “Dao động cơ” chương trình vật lý 12 thì hầu hết giáo viên dạy theo phương pháp thuyết trình, giáo viên thường là người nêu vấn đề sau đó thuyết trình theo trình tự nội dung sách giáo khoa
+ Giảng dạy và học tập bộ môn Vật lý cần phải có thí nghiệm và rèn luyện cho học sinh phương pháp thực nghiệm Tuy nhiên khi dạy phần này, giáo viên chỉ mô tả thí nghiệm bằng hình vẽ hoặc mô tả các hiện tượng dưới hình thức “kể chuyện” theo trình tự SGK đã trình bày
- Về học tập của học sinh: Qua trao đổi với một số học sinh và theo dõi trong một số tiết học cho thấy:
+ Trong giờ học: học sinh chủ yếu là người nghe thầy, cô giảng giải, các câu phát biểu trong giờ học phần lớn là những câu có nội dung nặng
về tái tạo Việc vận dụng kinh nghiệm, kiến thức đã có để xây dựng bài hầu như rất hiếm
+ Về kĩ năng: học sinh thường tỏ ra lúng túng khi cần phải trình bày các vấn đề, biểu hiện ở chỗ dùng từ ngữ không chuẩn xác, chưa đúng nghĩa hoặc câu trình bày không đúng ngữ pháp; đặc biệt học sinh e ngại bộc lộ quan điểm riêng trước một vấn đề cần phải lựa chọn
Khi học chương dao động cơ, học sinh thường nhầm lẫn khi phân biệt các khái niệm như: dao động tuần hoàn và dao động điều hòa Đặc biệt, các em không hiểu hoặc không nắm được đầy đủ ý nghĩa vật
lý của khái niệm (ví dụ: khái niệm pha dao động, pha ban đầu, vận tốc góc, chu kì dao động, độ lệch pha của hai dao động cùng tần số)
Trang 37+ Cách học của phần đông các em là thuộc lòng, học sinh thường tiếp thu bài một cách thụ động, ít động não và ít có cơ hội được tham gia vào các hoạt động tích cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức
Tóm lại, qua tìm hiểu tình hình dạy học chương “Dao động cơ” tại trường phổ thông cho thấy những vấn đề sau:
- Về trang thiết bị thí nghiệm cần dùng để dạy học phần : "Dao động cơ học" không nhiều
- Phương pháp được sử dụng trong phần này nặng về việc thông báo, giảng giải từ phía giáo viên
- Việc tổ chức hoạt động học tập, thảo luận nhóm của học sinh, giúp học sinh tích cực, tự lực sáng tạo tham gia xây dựng bài hoàn toàn chưa được chú ý
- Kiến thức học sinh nắm được chủ yếu thông qua hoạt động ghi nhớ, làm bài tập
- Việc ứng dụng máy tính và các tính năng đa phương tiện để dạy học các bộ môn và phát huy tính tự lực, tích cực học tập của học sinh nhất là vật
lý còn hạn chế và chưa đồng đều do các vấn đề về trang bị CSVC, về khả năng tin học của giáo viên và học sinh Hệ thống máy tính chỉ dùng vào dạy
bộ môn tin học như là một môn dạy nghề
- Việc sử dụng máy tính của học sinh chỉ dùng để soạn thảo, hoặc lập trình các bài toán mang tính tư duy về tin học, chơi trò chơi điện tử Internet chỉ dùng để giải trí
2.2 Phân tích nội dung kiến thức phần “Dao động cơ” chương trình Vật
lí 12 THPT
2.2.1 Vị trí chương “Dao động cơ” trong chương trình Vật lí 12 THPT
Kiến thức của chương dao động cơ được áp dụng cho các phần kiến
thức sau:
Trang 38- Sóng cơ học
- Dao động điện từ
- Dòng điện xoay chiều
2.2.2 Tiến trình hình thành khái niệm dao động cơ học theo SGK
Các tri thức về dao động cơ học được trình bày theo trình tự
Các khái niệm về dao động, dao động tuần hoàn nhằm chuẩn bị cho khái niệm trọng tâm là dao động điều hoà
Khi xét đến vận tốc, gia tốc của một vật dao động điều hoà, SGK có đưa thêm khái niệm đại lượng biến thiên điều hoà, đây là sự mở rộng khái niệm dao động, nhằm chuẩn bị cho những khái niệm hiệu điện thế biến thiên điều hoà, dòng điện biến thiên điều hoà sau này
2.2.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng
Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuẩn kiến thức, kĩ năng của phần “Dao động cơ” như sau:
- Phát biểu được định nghĩa dao động điều hòa
- Nêu được li độ, biên độ, tần số, chu kỳ, pha, pha ban đầu
- Viết được phương trình động lực học và
- Dao động của con lắc lò
xo và con lắc đơn khi bỏ qua các ma sát và lực cản
dao động
dao động tuần hoàn
dao động điều hoà
dao động
tự do
dao động tắt dần
dao động cưỡng bức
Trang 39- Trình bày được nội dung của phương pháp giản đồ Fre-nen
- Nêu được cách sử dụng phương pháp giản đồ Fre-nen để tổng hợp hai dao động điều hòa cùng phương, cùng tần số
- Nêu được dao động riêng, dao động tắt dần, dao động cưỡng bức là gì
- Nêu được điều kiện để hiện tượng cộng hưởng xảy ra
- Nêu được các đặc điểm của dao động tắt dần, dao động cưỡng bức, dao động duy trì
- Trong các bài toán đơn giản, chỉ xét dao động điều hòa của riêng một con lắc, trong đó: Con lắc lò xo gồm một lò xo, được nằm ngang hoặc treo thẳng đứng; con lắc đơn chỉ chịu tác dụng của trọng lực và lực căng của dây treo
Trang 402.2.4 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương
Toàn bộ phần “Dao động cơ” được cấu trúc như sau:
2.3 Xây dựng bài giảng điện tử phần “Dao động cơ”
2.3.1 Ý đồ sư phạm của việc xây dựng bài giảng điện tử chương "dao động
cơ học"
a Vận dụng lý luận phương pháp dạy học tích cực vào các bài giảng
điện tử Chúng tôi thấy một con đường mới giúp học sinh học tập và giúp giáo viên dạy học trên cơ sở tự lực, tích cực chiếm lĩnh tri thức, phát triển tư duy của học sinh, đó là con đường:
Tổng hợp dao động điều hòa