1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần văn học dân gian lớp 10

101 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 903,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học, một dạng hoạt động của HS tiến hành ngoài giờ lên lớp chính thức, ngoài phạm vi quy định của chương trình bộ môn nhằm hỗ trợ cho ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THU LOAN

TỔ CHỨC HOA ̣T ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG DA ̣Y HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN LỚP 10 (BAN CƠ BẢN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Quang Cường

TS Lê Thời Tân

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (chưa chính xác lắm) 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Mẫu khảo sát 5

7 Câu hỏi nghiên cứu 5

8 Giả thuyết nghiên cứu 5

9 Phương pháp nghiên cứu 5

10 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1 Những vấn đề cơ bản trong dạy học 6

1.1.1 Khái quát về dạy học 6

1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường THPT 7

1.1.3 Các PPDH trong nhà trường hiện nay 10

1.2 Hình thức tổ chức dạy học trong trường THPT 21

1.2.1 Những vấn đề chung 21

1.2.2 Hoạt động ngoại khóa 22

1.3 Hoạt động ngoại khóa văn học ở THPT 25

1.3.1 Tầm quan trọng của ngoại khóa văn học trong trường THPT hiện nay 25

1.3.2 Nguyên tắc hoạt động ngoại khóa văn học ở THPT 26

1.3.3 Hình thức hoạt động ngoại khóa văn học 28

Chương 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN LỚP 10 32

2.1 Văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 32

2.1.1 Khái quát về văn học dân gian 32

2.1.2 Văn học dân gian trong chương trình 35

Trang 4

2.2 Thực trạng của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học trong

nhà trường THPT 39

2.2.1 Tình hình dạy và học phần văn học dân gian lớp 10 39

2.2.2 Tình hình tổ chức HĐNK VHDG ở trường THPT 40

2.3 Tổ chức hoạt động ngoại khóa phần văn học dân gian lớp 10 42

2.3.1 Diễn kịch 42

2.3.2 Tổ chức trò chơi 46

2.3.3 Các hoạt động khác 56

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 56

3.2 Đối tượng và kế hoạch thực nghiệm sư phạm 56

3.3 Qui trình triển khai thực nghiệm 56

3.3.1 Chuẩn bị 57

3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 61

3.4 Kết quả thực nghiệm 77

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

1 Kết luận 78

2 Khuyến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Chúng ta đã và đang có những đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp dạy học Chất lượng dạy học sẽ cao khi ta nó kích thích được hứng thú, nhu cầu, sở thích và khả năng độc lập, tích cực tư duy của

HS Để làm được điều đó, bên cạnh việc đổi mới nội dung và PPDH thì sự phối hợp các hình thức tổ chức dạy học là một việc làm cần thiết Trong nhà trường hiện nay, điều này vẫn còn chưa được quan tâm một cách thích đáng Hình thức lên lớp gần như đã trở thành một hình thức độc tôn

Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học, một dạng hoạt động của HS tiến hành ngoài giờ lên lớp chính thức, ngoài phạm vi quy định của chương trình bộ môn nhằm hỗ trợ cho chương trình nội khóa, góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của HS Thực tiễn các nhà trường trong những năm gần đây cho thấy: HĐNK văn học nói riêng và các môn học khác nói chung ít được tổ chức, lãnh đạo nhà trường và GV bộ môn chưa có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động này

Lâu nay trong nhà trường phổ thông, hoạt động ngoại khoá Văn học được hiểu là hoạt động ngoài giờ học, là một hoạt động phụ, nằm ngoài quản

lý chuyên môn Việc tổ chức ngoại khoá Văn học tuỳ thuộc vào quỹ thời gian vốn rất hẹp hòi, vào năng lực và nhiệt tình của người dạy, vào nhu cầu, hứng thú của người học Nó được coi là một hoạt động giải trí, tổ chức theo hình thức một chương trình văn nghệ (ca - múa - nhạc), thiếu nhất quán về chủ đề,

sơ sài, phiến diện về mặt nội dung Sở dĩ có tình trạng như vậy vì chương trình

nội khoá lâu nay chỉ chú trọng cung cấp kiến thức về mặt số lượng, coi nhẹ việc rèn luyện kĩ năng, tách rời lý thuyết với thực hành Mọi yêu cầu mục đích của môn học coi như đã được giải quyết triệt để khi bài giảng trên lớp chấm dứt Theo tôi, quan niệm về hoạt động ngoại khoá văn học như trên là chưa thoả đáng, chưa quan1 tâm đúng mức đến lợi ích của hoạt động này trong quá

Trang 6

trình giảng dạy và học tập bộ môn Tổ chức hoạt động ngoại khoá Văn học dân gian là một công việc vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có ý nghĩa khoa học

Hoạt động ngoại khoá văn học theo quan niệm đổi mới PPDH là một hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bục giảng với thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng - thẩm định về bài học cho

HS Hoạt động này phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, đồng thời có thể kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ chính khoá Hoạt động ngoại khoá Văn học càng cần thiết và bổ ích hơn khi được áp dụng vào

quá trình dạy học phần Văn học dân gian ở THPT vì những lí do sau:

Thứ nhất: Ngoại khoá văn học dân gian góp phần làm sáng tỏ những

đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian (tính tập thể, tính truyền miệng, gắn với sinh hoạt xã hội…) - điều mà GV và HS rất khó thực hiện trong giờ chính khoá do hạn chế về điều kiện và thời gian giảng dạy Nói cách khác, đặc trưng

cơ bản của văn học dân gian sẽ được soi sáng và cảm nhận một cách tự giác trực cảm hơn trong điều kiện tổ chức ngoại khóa Trong so sánh với dạy học

văn học viết, điều này lại càng trở nên rõ ràng hơn

Thứ hai: Ngoại khoá văn học dân gian cho phép chúng ta khai thác tác

phẩm Văn học dân gian ở nhiều góc độ, thoả mãn nhu cầu làm "sống lại" tác phẩm Văn học dân gian trong môi trường diễn xướng, thông qua các hình thức trình diễn bằng lời - nhạc - vũ Ngoại khóa văn học dân gian chính là một hình thức “trả tác phẩm văn học” trở về đời sống đích thực của chính nó, dẫn dắt học sinh hòa mình vào chính đời sống của tác phẩm

Thứ ba: Ngoại khoá văn học dân gian cho phép người dạy khắc phục

được những bất cập trong chương trình giữa thời gian cho phép và khối lượng kiến thức cần phải truyền đạt; hơn nữa có thể mở rộng và đào sâu những nội dung quan trọng

Thứ tư: Vì văn học dân gian suy cho cùng là văn học của vùng, miền, xứ -

gắn liền với địa phương cụ thể nên ngoại khoá văn học dân gian còn giúp HS có

thể hiểu sâu hơn về những giá trị văn hoá dân gian của quê hương, đất nước

Trang 7

Chính vì những lý do trên mà tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần văn học dân gian lớp 10 (Ban cơ bản)” làm đề tài cho luận văn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về mặt lí luận, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học trong nhà trường phổ thông cũng chưa được được các nhà lí luận dạy học bộ môn quan tâm nghiên cứu thích đáng

Tác giả Phan Trọng Luận trong cuốn Công tác ngoại khóa văn học

(1962) đã nêu lên vị trí của công tác ngoại khóa văn học, những hình thức tổ chức ngoại khóa văn học, kết quả ngoại khóa văn học của HS… Tuy nhiên những nghiên cứu đó dựa trên đặc thù điều kiện của nền giáo dục miền Bắc nước ta những năm 60 của thế kỉ trước nên một phần cũng không còn phù hợp với giáo dục hiện đại

Trong cuốn Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông (Ngọc

Toàn dịch, 1980), tác giả người Nga V.A Nhikônxki đã đề cập khá toàn diện đến công tác ngoại khóa văn học cho HS, vai trò và các hình thức tổ chức ngoại khóa văn học Tuy nhiên, ngoại khóa văn học mà tác giả nêu được xây dựng trên cơ sở nhà trường ở Liên Xô trước đây với nội dung chương trình và điều kiện cơ sở vật chất không tương đồng với Việt Nam nên cũng khó phù hợp với điều kiện giáo dục nước ta hiện nay

Trong các tài liệu về phương pháp giảng dạy văn học cũng như trong việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo trình hiện nay thì việc tổ chức hoạt động ngoại khóa cũng ít khi được đề cập đến và các tài liệu này chưa nêu được biện pháp cụ thể cho hoạt động ngoại khóa văn học Ta chỉ

có thể nói tới một số bài viết trong các cuốn sách tham khảo cho GV và HS xuất bản gần đây:

Bài viết về hoạt động ngoại khóa văn học trong cuốn sách Phương pháp

dạy văn (2003) do Phan Trọng Luận chủ biên Với bài viết này, tác giả đã

khẳng định được tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa văn học ở nhà

Trang 8

trường THPT trong giai đoạn hiện nay Hơn nữa, tác giả bài viết cũng nêu lên được các nguyên tắc cũng như hình thức hoạt động ngoại khóa văn học

ở THPT

Tạp chí Giáo dục, số 33/2002 có đăng bài Những nội dung cần bổ sung,

góp phần đổi mới giảng dạy Ngoại khóa tiếng Việt ở trường sư phạm Tác giả

bài viết Nguyễn Văn Tứ đã đề xuất một số định hướng cơ bản về đổi mới nội dung, hình thức tổ chức ngoại khóa Tiếng Việt như ngoại khóa chuyên đề về ngữ âm, ngữ pháp, vấn đề bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt hay hoạt động giáo dục ngôn ngữ có tính chất lồng ghép

Những bài viết trên đây vẫn chưa đề cập cụ thể vào việc tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học phần văn học dân gian lớp 10 Tuy nhiên, đó sẽ là

những kiến thức bổ ích giúp tôi bổ sung và hoàn thiện đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần văn học dân gian lớp 10 (Ban cơ bản)”

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phần văn học dân gian lớp 10, chương trình Ngữ văn

- Phạm vi: Giới hạn ở hoạt động ngoại khóa phần văn học dân gian lớp

10 (Ban cơ bản)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc trưng thể loại văn học dân gian để vận dụng vào việc xây dựng hình thức hoạt động ngoại khóa văn học cho phù hợp và hiệu quả

Trang 9

- Tìm hiểu các phương pháp da ̣y ho ̣c tích cực để áp dụng vào việc xây dựng các hình thức qui trình tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học cho hiệu quả

- Khảo sát thực tiễn tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học dân gian

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm phương án đề xuất nâng cao hiệu quả giờ dạy của luận văn

6 Mẫu khảo sát

Các hoạt động ngoại khóa văn học dân gian và các bài kiểm tra của HS lớp 10 ban Cơ bản trường THPT Alfred Nobel - Hà Nội

7 Câu hỏi nghiên cứu

Làm thế nào để tổ chức hoạt động ngoại khóa văn học dân gian nhằm ôn tập và bổ sung kiến thức cho HS THPT một cách có hiệu quả nhất?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Tổ chức hoạt động ngoại khóa phần văn học dân gian lớp 10 (ban Cơ bản) trong nhà trường THPT hiện nay vẫn chưa được chú trọng và chưa thật hiệu quả, chưa phát huy được tính chủ động và tích cực của HS Do đó, nếu tổ chức tốt HĐNK sẽ nâng cao được tính hiê ̣u quả trong viê ̣c ôn tâ ̣p và mở rô ̣ng kiến thức văn ho ̣c dân gian cho HS

9 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu, điều tra thực tiễn

- Thực nghiệm sư phạm

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần văn học dân gian lớp 10

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Những vấn đề cơ bản trong dạy học

1.1.1 Khái quát về dạy học

“Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt nhằm trang bị cho

HS hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [21; tr.52] Nói cách khác, quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy và hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học

Quá trình dạy học bao gồm các thành tố sau:

- Mục đích dạy học: là mô hình kết quả trong tương lai của hoạt động dạy học Câu hỏi cho vấn đề này là người học và người dạy sẽ đạt được cái gì sau khi kết thúc quá trình dạy học

- Nội dung dạy học: là hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà người học cần lĩnh hội

- Phương pháp dạy học: là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động chung của người dạy và người học nhằm giúp người học nắm vững kiến thức,

kĩ năng, kĩ xảo

- Phương tiện dạy học: Là vật thể hay tập hợp các vật thể mà giáo viên

sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp người học lĩnh hội kiến thức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo

- Kết quả dạy học: Là kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học thông qua việc kiểm tra, đánh giá, đó cũng là yếu tố kích thích, điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học

- Người dạy: Là giáo viên - chủ thể của hoạt động dạy

- Người học: Là học sinh - chủ thể của hoạt động học

Trang 11

Tất cả các thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học luôn thống nhất biện chứng với nhau, không tách rời nhau, tác động qua lại với nhau để tạo nên hiệu quả xuyên suốt một quá trình, đồng thời tạo nên tính đa dạng của hình thức tổ chức dạy học

1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường THPT

1.1.2.1 Phương pháp dạy học tích cực là gì?

PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể, chuyên biệt nào đó, cũng không phải là sự phủ nhận các PPDH truyền thống mà là muốn nhấn mạnh một định hướng khai thác mặt tích cực của các PPDH hiện có Những phương pháp như thuyết trình, đàm thoại…vẫn rất cần thiết trong quá trình dạy học Điều cốt yếu là phải lựa chọn và vận dụng các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung của bài dạy và đặc biệt là phù hợp với đối tượng HS, trong

đó cần chú ý khai thác và sử dụng các kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức và phát triển tư duy HS, hình thành cho các em khả năng độc lập, năng động, sáng tạo trong việc tiếp thu và xử lí thông tin, cũng như trong việc giải quyết những công việc cụ thể sau này

1.1.2.2 Đặc trưng của các PPDH tích cực

Trước hết ta hãy bàn về những dấu hiệu đặc trưng của PPDH tích cực

mà người thầ y giáo sử dụng trong các giờ học

Thứ nhất: Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS

Nét đặc thù của hoạt động dạy học là: HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình dạy học HS không chỉ tiếp thu những kiến thức từ người dạy,

mà phải thông qua hoạt động tự lực để chiếm lĩnh nó và làm biến đổi bản thân Tâm lí học sư phạm cũng khẳng định rằng: nhân cách của trẻ được hình thành

và phát triển thông qua các hoạt động có ý thức của chủ thể Vì vậy có thể nói, hoạt động học là cách tốt nhất để làm biến đổi chính người học Dạy học không còn là sự truyền thông tin từ thầy sang trò, thầy không còn là người truyền thông tin mà phải là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động học tập của HS

Trang 12

Thứ hai: Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học hơn là việc truyền

thụ kiến thức

Câu nói: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí” là hoàn toàn chính xác Rèn luyện cho HS phương pháp tự học không chỉ là biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu của dạy học Con người được đào tạo trước hết phải là con người năng động, có tính tích cực, có khả năng tự học, tự nghiên cứu để tự hoàn thiện mình

Mặt khác, trong một thời gian ngắn nhà trường phổ thông không thể kịp trang bị cho HS những kiến thức cần thiết trong kho tàng kiến thức của nhân loại đang ngày một phong phú thêm Do vậy, người thày phải tìm cách hình thành ở HS phương pháp và năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức và hoàn thiện bản thân sau này

Thứ ba: Tăng cường tính tự lực của cá nhân HS đồng thời chú trọng

phối hợp tương tác thầy - trò và tương tác nhóm

PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của mỗi HS trong quá trình

tự chiếm lĩnh kiến thức mới Vì vậy, phải chú ý đến vai trò của từng cá nhân trong hoạt động dạy học Tuy nhiên, vai trò cá nhân chỉ có thể phát huy tốt thông qua sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS và HS và tương tác giữa các nhóm với nhau, đó chính là phương pháp học tập hợp tác Trong phương pháp này, người ta đề cao vai trò giao tiếp giữa HS và HS Để phát huy vai trò của

HS người ta thường tổ chức việc học tập hợp tác theo kiểu nhóm, tổ từ 4 đến 6 người Học tập nhóm, tổ tạo cho HS có nhiều cơ hội bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết

và thái độ của mình, cũng như biết cách bảo vệ ý kiến của mình Đó là cách tốt nhất để hình thành cho HS tính tích cực, độc lập và sáng tạo trong suy nghĩ, cũng như hành động

Thứ tƣ: Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS

Quá trình dạy học bao gồm hai hoạt động dạy và học, với hai chủ thể là

GV và HS Trong quá trình này luôn có sự điều chỉnh và tự điều chỉnh Vì vậy, ngoài sự đánh giá của GV, phải có sự tự đánh giá của HS Qua tự đánh giá, HS

Trang 13

sẽ đưa ra những nhận định về bản thân và tự điều chỉnh cách học của mình cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập Trong PPDH tích cực, người ta chú trọng đến việc dạy cho HS cách tự học đi kèm theo là năng lực tự đánh giá của

HS Thiếu năng lực này, HS không thể tự điều chỉnh cách học của mình và không hoàn chỉnh được phương pháp tự học Như vậy, năng lực tự học luôn gắn liền với năng lực tự đánh giá, tự điều chỉnh, mà tự học là dấu hiệu của phương pháp tích cực Do vậy, khả năng rèn luyện năng lực tự đánh giá của

HS cũng là một dấu hiệu của PPDH tích cực

Trên cơ sở của các dấu hiệu đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS, cùng với những quan niệm về xu thế phát triển của dạy học hiện đại, trong lí luận dạy học xuất hiện nhiều PPDH theo hướng dạy học

tích cực Trong cuốn Dạy học và phương phá p dạy học trong nhà trường

(2005) do Phan Trọng Ngo ̣ chủ biê n có đưa ra một số PPDH điển hình theo hướng này:

* PPDH của Giôn Điuây (John Dewey, 1856 – 1952)

Theo ông, một PPDH phải đáp ứng những yêu cầu sau:

- Trước hết người học phải được đặt trong tình huống thể nghiệm xác thực, tình huống đó phải tạo được hứng thú đối với người học

- Xuất hiện vấn đề từ tình huống thực nghiệm, có tác dụng kích thích tư duy của người học

- Người học cần phải được cung cấp đầy đủ thông tin và được quan sát ( nếu cần thiết ) để có thể giải quyết vấn đề

- Khi đã đưa ra được một giải pháp tạm thời nào đó, ngay lập tức người học cần phải hoàn chỉnh lại cho chặt chẽ

- Phải cho người học có cơ hội được ứng dụng những ý tưởng đó nhằm xác định và khá, phá ra giá trị của chúng

* Quy trình dạy học của E.Claparet ( 1873 – 1940 )

- Khơi dậy một nhu cầu (tạo hứng thú) bằng cách đặt người học vào tình huống có vấn đề

Trang 14

- Khơi dậy phản ứng thích hợp của người học nhằm thỏa mãn nhu cầu

- Các phương pháp tích cực: hướng dẫn người học thực hành; thảo luận, học nhóm và người học trình bày; trò chơi, đóng vai, diễn kịch và mô phỏng; xemina, học cách nhớ…

- Phương pháp lấy người học làm trung tâm: học qua đọc; tự học và làm bài tập về nhà; bài tập nghiên cứu; tiểu luận; khám phá có hướng dẫn; sáng tạo, thiết kế và phát minh; học từ kinh nghiệm của mình

G.Petty đã dẫn ra công trình nghiên cứu để chứng minh hiệu quả của các phương pháp tích cực Theo điều tra của M.Hebditch (1990) về mức độ hứng thú với các PPDH của học viên từ 11 đến 18 tuổi Kết quả cho thấy là HS hứng thú nhất đối với các phương pháp hoạt động: thảo luận theo nhóm (80%), trò chơi (80%), đóng kịch (70%) Trong khi đó, các phương pháp giảng giải được

ít người hứng thú nhất (11%)

1.1.3 Các PPDH trong nhà trường hiện nay

Các PPDHdưới đây được sắp xếp theo lôgic giảm dần sự tác động, chi phối tính quy định trực tiếp của GV lên hoạt động học của HS, giảm dần tính khuôn mẫu và sự áp đặt trước của các nội dung bài dạy Đồng thời tăng dần tính độc lập, chủ động, chủ thể hoạt động của HS, tăng dần hành động trực tiếp của người học lên nội dung học tập, tăng dần các điều kiện giải phóng cơ hội

và tư duy sáng tạo của người học; tăng dần sự quan tâm đến nhu cầu và sự phát triển của người học, tức là tăng dần tính nhân văn của các phương pháp

Trang 15

1.1.3.1 Nhóm phương pháp chủ yếu dùng lời GV

“Phương pháp thuyết trình là phương pháp GV sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập Người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lí chúng tùy theo tính chủ thể người học và yêu cầu của dạy học” [17; tr.187]

- Ưu điểm của phương pháp thuyết trình

+ Người dạy chuyển tải đến được người học một khối lượng lớn thông tin cần thiết, cô đọng, phản ánh được nội dung môn học trong một khoảng thời gian khá ngắn

+ Cung cấp cho người học những thông tin cập nhật, chưa kịp trình bày trong các tài liệu giáo khoa, giáo trình

+ Sử dụng phi ngôn ngữ trong dạy học khiến cho bài dạy có sức lôi cuốn + Với những bài thuyết trình hay, nó có thể giúp người học trong việc định hướng và cấu trúc khi đọc tài liệu

- Hạn chế của phương pháp thuyết trình

+ Thu được rất ít thông tin phản hồi từ phía người học do dạy học chủ yếu là truyền thụ một chiều

+ Mức độ lưu giữ thông tin của người học là rất ít

+ Do người học gần như thụ động tiếp nhận thông tin từ phía người dạy nên bài dạy nhanh nhóng bị nhàm chán

+ Thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung học tập là rất thấp

1.1.3.2 Nhóm phương pháp trao đổi

* Phương pháp vấn đáp

“Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa người dạy với người học, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được người dạy và người học đặt ra.” [17; tr.209]

- Ưu điểm:

Trang 16

+ Cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của người học Người học thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình; khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập

+ Giúp người học hiểu nội dung bài học hơn là cách học vẹt hay thuộc lòng

+ Tạo động cơ học tập và không khí sôi nổi trong lớp học

+ Người dạy thu nhận được nhiều thông tin phản hồi từ phía người học, đánh giá được mức độ hiểu bài của người học

+ Giúp người học hình thành và phát triển kỹ năng nói, diễn đạt ý tưởng

có nhiều tình huống ngẫu nhiên có thể xảy ra

* Phương pháp thảo luận

“Thảo luận trên lớp là PPDHtrong đó người dạy tổ chức và điều khiển các thành viên trong lớp học trao đổi ý kiến và tư tưởng của mình về nội dung học tập, qua đó đạt được mục đích dạy học.” [17; tr.215]

- Ưu điểm:

+ Người học được học cách suy nghĩ

+ Người dạy đánh giá được kiến thức, kinh nghiệm và tư duy của người học; người học cũng tự đánh giá được bản thân và những người học khác

+ Người học có cơ hội nâng cao nhận thức và kỹ năng phát biểu vấn đề,

kỹ năng sử dụng những kiến thức đã có của mình vận dụng tìm hiểu bài học

+ Kích thích thái độ tích cực tham gia học tập của người học

- Hạn chế:

+ Thời gian ngắn nhưng lượng thông tin cần thu được lại nhiều

+ Người dạy sẽ không kiểm soát được lớp học nếu thiếu kinh nghiệm

Trang 17

Ngoài phương pháp vấn đáp và thảo luận nhóm, trong nhóm phương pháp này còn có phương pháp động não và xemina

* “Động não là một kĩ thuật dạy học, trong đó nội dung dạy học không được cấu trúc thành bài dạy chặt chẽ, cho trước, tất cả học viên đều được đưa

ra ý kiến, ý tưởng của mình về một vấn đề nào đó Kết quả là người học thu nhận được các ý tưởng, các giải pháp chung, sau khi đã sàng lọc các ý tưởng được đưa ra” [17; tr.231]

Phương pháp động não đặc biệt thích hợp với các hoạt động dạy học hướng đến mục đích phát triển ở người học những phẩm chất của người hoạt động độc lập, nhất là khả năng sáng tạo và óc phê phán Với những ý tưởng và phám phá mới mẻ của người học, GV cũng có thể thu nhận nhiều điều bổ ích

từ các kết quả đó Tuy nhiên, thời gian để tiến hành dạy học theo phương pháp này không hề ít, và đôi khi kết quả thu được có thể là những ý tưởng nghèo nàn, xa rời chủ đề

* Xemina là hình thức học tập trong đó một nhóm học viên được giao chuẩn bị trước vấn đề nhất định Sau đó trình bày trước lớp (nhóm) và thảo luận vấn đề đã được chuẩn bị

Điểm mạnh của xemina là ở chỗ nó hội tụ và tổng hợp khá nhiều kĩ thuật dạy học: các phương pháp dùng lời (người học phải học cách thuyết trình vấn

đề được chuẩn bị), kĩ thuật trao đổi – vấn đáp (người học phải trả lời và bảo vệ

ý kiến của mình trước các câu hỏi, chất vấn của lớp), các kĩ thuật thảo luận nhóm… Vì vậy xemina được coi là một trong những PPDH chủ yếu ở các lớp dành cho người lớn

1.1.3.3 Nhóm phương pháp tổ chức hành động của HS

* PPDH chương trình hóa

Dạy học chương trình hóa là phương pháp GV điều khiển hành động học tập của từng học học viên, thông qua việc cung cấp cho họ chương trình học tập đã được cấu trúc từ trước Kết quả là sau khi thực hiện xong chương trình, người học đạt được tri thức, phát triển kĩ năng và các mục đích dạy học khác

Trang 18

* PPDH theo mô hình thầy thiết kế - trò thi công

Dạy học theo mô hình thầy thiết kế - trò thi công là PPDH trong đó GV

tổ chức cho HS tiến hành các hành động bằng cách thiết kế hệ thống việc làm theo quy trình hành động trí óc; tổ chức cho HS triển khai việc làm đó theo bản thiết kế đã có Kết quả sau khi thực hiện đầy đủ các việc làm, người học đạt được mục tiêu học tập của mình

+ GV có thể trực tiếp kiểm soát và điều khiển hành động học của HS

- Hạn chế:

Tính khuôn mẫu trong cách dạy này là rất cao, và việc các thế hệ HS được đúc theo một khuôn mẫu chung về các thao tác tư duy, trí tuệ là điều khó

Trang 19

tránh Mỗi hoàn cảnh mỗi cơ chế khác, nếu cứ làm theo khuôn mẫu đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng học tập

* Phương pháp định hướng khái quát hành động học của HS

* PPDH giải quyết tình huống có vấn đề

Dạy học giải quyết tình huống có vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra tình huống có vấn đề, điều khiển người học phát hiện vấn đề, tự giác, tích cực hoạt động giải quyết tình huống, thông qua đó lĩnh hội tri thức, phát triển kĩ năng và đạt được các mục đích dạy học khác

Trang 20

- Những tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động và thái độ mà người học thu nhận được trong quá trình dạy học là hệ quả trực tiếp từ hành động học của chính họ

- Người học được hành động trong các tình huống dạy học và trong môi trường đó phải tồn tại ba mối tương tác trực tiếp: người học – nội dung học tập; hành động học của người học – hành động dạy của người dạy; hành động của người học – hành động của người học

- Người dạy có nhiệm vụ ủy thác tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động vào tring tình huống; giúp đỡ người học trong quá trình hành động và xác nhận những tri thức, kĩ năng người học thu nhận được qua hành động

- Dựa vào mục đích và tính chất của các mối tương tác trong dạy học, có thể quy thành ba nhóm PPDH tổ chức tương tác hành động: phương pháp kịch, các PPDH bằng trò chơi, dạy học tương tác theo lí thuyết lịch sử văn hóa về sự phát triển các chức năng tâm lí cấp cao của L.X Vưgotxki

* Các phương pháp kịch

Phương pháp kịch trong dạy học là GV cung cấp kịch bản và đạo diễn học viên hành động theo các vai diễn Qua đó, người học học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng như các kĩ năng ứng xử khác của các nhân vật trong kịch bản

- Ưu điểm:

+ Đây là cách tốt nhất để người học thâm nhập vào thế giới nội tâm con người cũng như vào thế giới các quan hệ xã hội Là cách tốt để người học thu nhận những kinh nghiệm, kiến thức, thái độ và kĩ năng ứng xử trong thế giới quan hệ đó

+ Đây là phương pháp sinh động để gắn kết giữa lí luận và thực tiễn Qua đó, người học học được nhiều cách giải quyết những tình huống đa dạng, phức tạp hàng ngày trong cuộc sống và trong công việc

+ Đây là cơ hội để người học thể hiện hiểu biết, kĩ năng và phương pháp ứng xử của mình; thể hiện thái độ và cá tính của mình trước người khác

Trang 21

- Hạn chế:

+ Các tình huống của vai diễn thường có tính phi cấu trúc về khuôn mẫu nội dung học tập Do đó, việc truyền thụ hệ thống tri thức được đúc khuôn từ trước sẽ gặp nhiều khó khăn nếu chỉ sử dụng phương pháp này

+ Với tâm lí e ngại, thụ động và ngượng ngùng của nhiều học viên, hiệu quả của phương pháp này sẽ bị giảm Hơn nữa, với những tình huống, vai diễn đòi hỏi phải có diễn xuất tinh tế sẽ vượt quá khản năng của học viên

+ Thời gian để chuẩn bị cho phương pháp này không phải là ít nên dễ ảnh hưởng đến kế hoạch chung của quá trình dạy học

Để đảm bảo tính hiệu quả cho phương pháp này, người GV cần chú ý những điểm sau:

Thứ nhất: Lên kế hoạch cho bài tập đóng vai bằng việc xác định mục đích và nội dung các vai diễn, sau đó lên chương trình để thực hiện mục tiêu Yếu tố quyết định thành công của phương pháp này là kịch bản Kịch bản phải được soạn thảo chi tiết từ lời thoại cho đến hành động của nhân vật, tuy nhiên cũng không nên ép học viên nhất thiết phải khuôn theo các chi tiết đó, cần phải tạo điện kiện để người diễn có những sáng tạo riêng Mặt khác cần có kế hoạch phân công rõ ràng cho từng học viên, thông tin cần phải đầy đủ và rõ ràng Trong trường hợp các vai diễn có nhiều hành động phức tạp, GV cũng có thể làm mẫu cho HS

Trang 22

Thứ hai: Điều khiển thực hiện bài tập đóng vai Để đóng vai tốt, người học cần phải có sự chuẩn bị kĩ càng, GV chỉ là người cung cấp những thông tin cần thiết hoặc có những gợi ý để người học có thể hiểu sâu hơn Tiếp theo là việc quay video cảnh diễn để người học có thể nhận xét và thảo luận

Thứ ba: Tổng kết Sau mỗi lần diễn như vậy sẽ có sự tổng kết lại toàn bộ vai diễn GV đưa ra các câu hỏi xung quanh vai diễn và nội dung học tập, từ đó

HS sẽ thảo luận và đưa ra những ý kiến nhận xét khác nhau, cuối cùng GV sẽ

là người nhận xét cuối cùng và tổng kết lại nội dung học tập cần phải lĩnh hội

+ Diễn kịch

So với phương pháp đóng vai, diễn kịch đòi hỏi người học cần phải làm việc nhiều hơn Nếu trong đóng vai, GV là người cung cấp kịch bản cho HS thì trong diễn kịch, người học phải tự soạn thảo kịch bản từ chủ đề được đưa ra Xét về quy mô, đóng vai thường gắn với những tình huống cụ thể, ngắn, có tính chất minh họa; diễn kịch thường có quy mô lớn hơn và đòi hỏi nhiều người tham gia hơn

Để thu được kết quả cao khi sử dụng phương pháp này, các chủ đề đưa

ra cần được rõ ràng Khi HS đã hình thành kịch bản, GV cần đọc và góp ý về xây dựng cốt truyện, nhân vật và dàn cảnh; GV cũng sẽ hỗ trợ người học chuẩn

bị về thiết bị, phục trang Cũng như đóng vai, sau khi diễn kịch sẽ có buổi thảo luận, nhận xét và cuối cùng GV là người tổng kết lại toàn bộ về buổi học

* Các PPDH bằng trò chơi:

PPDH bằng trò chơi là GV cung cấp và tổ chức cho người học tiến hành các trò chơi Hệ quả là người học thu nhận được các tri thức khoa học, kĩ năng hành động (trí óc và chân tay) và thái độ sau khi kết thúc trò chơi

Cũng như tình huống gắn liền với thực tiễn trong PPDH bằng tình huống, các trò chơi cũng có nguồn gốc từ các trò chơi trong thực tế Từ đó, GV chỉ cần ủy thác nội dung học tập vào nội dung trò chơi

Ví dụ: trò chơi xếp hình trong dạy và học ngôn ngữ

Trang 23

Một trò chơi học tập cần có những yêu cầu sau: Hình thức là trò chơi nhưng nội dung chơi là nội dung học tập; Luật chơi trong trò chơi là những điều kiện, phương tiện để người họctrieern khai việc học tập thông qua hoạt động chơi; Trò chơi học tập yêu cầu tính tự giác của người học rất cao; Bất kì trò chơi nào cũng cần phải có động lực kích thích, thúc đẩy người chơi, động lực đó có thể nằm trong chính nội dung chơi, hoặc cũng có thể ở bên ngoài trò chơi (phần thưởng); Kết thúc một trò chơi, người chơi phải thu nhận được kiến thức, kĩ năng, phương pháp hành động và những gì lĩnh hội được đó cần phải

- Trong dạy học, GV có thể sử dụng rất nhiều trò chơi để dạy tri thức,

kĩ năng, phương pháp mới hoặc nhằm củng cố ở học viên những điều đã được học Dưới đây là một số dạng trò chơi phổ biến phục vụ trong quá trình dạy học:

+ Các loại trò chơi tranh tài theo nhóm nhỏ:

Đây là loại trò chơi phổ biến với nhiều hình thức phong phú với các vật liệu đơn giản, không tốn quá nhiều chi phí; cách thực hiện không quá khó và cầu kỳ Ví dụ: trò chơi ghép chữ cái, tìm chủ đề trong phát triển ngôn ngữ ( sử dụng bộ chữ cái); trò chơi ghép hình (ghép từ các hình ảnh được tách rời)…

Trang 24

Trong trò chơi này, GV thường bố trí các nhóm nhỏ từ 3 - 5 người chơi theo chủ đề nhất định Từ đó, GV có thể tạo ra không khí thi đua giữa các cá nhân hoặc các nhóm

+ Các trò chơi đố vui:

Đây là một biến thể của trò chơi tranh tài theo nhóm nhỏ Trò chơi này

có thể chơi theo nhóm hoặc chơi theo từng cá nhân Chủ đề và luật chơi sẽ được GV thống nhất trước, các câu hỏi đố có thể là do GV đưa ra cho HS hoặc

là do HS tự đặt ra và đố các bạn khác Đối với các câu đố HS tự đưa ra cho nhau, GV cần phải kiểm tra trước và giúp HS xây dựng đáp án trả lời

+ Các trò chơi tung hứng:

Đây là loại trò chơi có thể dùng để củng cố các kiến thức và kĩ năng đã được học Sau khi đã thống nhất được nội dung học tập cần ôn luyện, từng đôi

HS có thể đặt câu hỏi cho nhau và tính điểm, ai có điểm cao hơn sẽ thắng

+ Các trò chơi truyền hình và máy tính

Các trò chơi trên truyền hình ngày càng phổ biến và chiếm vị trí không nhỏ trong việc cung cấp và quảng bá các kiến thức kèm theo các kĩ năng, phương pháp giải quyết các tình huống học tập và các kĩ năng sống khác GV

có thể sử dụng hình thức chơi như truyền hình và nội dung trong đó là nội dung học tập

Trên đây là một số trò chơi học tập tiêu biểu, các trò chơi có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: khởi động buổi học, làm quen môn học, truyền thụ kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ… Tuy nhiên không nên quá lạm dụng các trò chơi, cần phải kết hợp các phương pháp khác để tăng tính hiệu quả trong bài dạy

Trên đây là một số PPDH phổ biến trong nhà trường hiện nay Người

GV không nên chỉ sự dụng duy nhất nột phương pháp mà phải có sự kết hợp các phương pháp để tăng tính hiệu quả trong dạy học Và với mỗi hình thức tổ chức dạy học, GV cần có sự chọn lựa các phương pháp sao cho phù hợp nhất với hình thức đó

Trang 25

1.2 Hình thức tổ chức dạy học trong trường THPT

1.2.1 Những vấn đề chung

“Hình thức tổ chức dạy học là những cách thức tiến hành hoạt động dạy

và học thống nhất giữa các GV và HS, được thực hiện theo một trình tự và chế

độ nhất định nhằm đảm bảo các nhiệm vụ dạy học” [21; tr.24] Hình thức tổ chức dạy học là các biểu hiện bên ngoài của hoạt động phối hợp giữa GV và

HS, được xác định bởi mục tiêu và điều kiện thực tế của quá trình dạy học, trong đó GV truyền đạt những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và những kinh nghiệm nghề nghiệp đã được tích lũy được cho người học, hình thức đó được thực hiện theo một trình tự và chế độ nhất định nhằm đảm bảo các nhiệm vụ dạy học

Các hình thức tổ chức dạy học hình thành và phát triển trong lịch sử loài người, phụ thuộc vào những biến đổi về kinh tế, chính trị, xã hội…Chẳng hạn, vào thời kỳ bình minh của lịch sử, dạy học được tiến hành theo hình thức cá nhân dưới dạng truyền thụ kinh nghiệm; đến thời kỳ Trung cổ, ở cả phương Tây và phương Đông, hình thức dạy học cá nhân vẫn tồn tại; và chỉ đến thế kỷ

16, 17 – khi nền kinh tế phát triển mạnh, hình thức dạy học cá nhân không còn phù hợp và hình thức dạy học theo lớp bài xuất hiện; và hiện, cùng với sự phát triển không ngừng về mọi lĩnh vực trên toàn thế, đặc biệt trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, các hình thức tổ chức dạy học ngày càng phong phú hơn Căn cứ vào một số dấu hiệu cơ bản, người ta có thể phân biệt các hình thức tổ chức dạy học như sau:

+ Xét theo số lượng HS: dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm và dạy học theo lớp

+ Xét theo thời gian học tập: dạy học theo tiết học và dạy học theo buổi; dạy học chính khóa và dạy học ngoại khóa (hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp)

+ Xét theo không gian tiến hành hoạt động dạy học: dạy học trên lớp, dạy học ngoài lớp, dạy học ngoại khóa, dạy học tham quan cơ sở thực địa, dạy học qua mạng…

Trang 26

+ Xét theo tính chất tương tác hoạt động giữa GV và HS: dạy học trực tiếp và dạy học gián tiếp

+ Xét theo mục tiêu cần đạt của bài dạy: giờ học kiến thức mới, giờ học hình thành kĩ năng, giờ học ôn tập, giờ kiểm tra

Như vậy, các hình thức tổ chức dạy học rất đa dạng Mỗi hình thức có những đặc điểm riêng, ưu điểm cũng như hạn chế.Việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khách quan và chủ quan, từ mục đích, nội dung, phương tiện, trình độ sư phạm của GV và HS… Chọn đúng hình thức tổ chức dạy học phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học

1.2.2 Hoạt động ngoại khóa

1.2.2.1 Khái niệm hoạt động ngoại khóa

Theo GS Phan Trọng Luận, “Hoạt động ngoại khoá là một thuật ngữ dùng để chỉ các hình thức hoạt động kết hợp dạy học với vui chơi ngoài lớp, nhằm mục đích gắn việc giảng dạy, học tập trong nhà trường với thực tế xã hội [11; tr.3]

Nói về giáo dục toàn diện, Rabơle (1494 - 1553) nhà tư tưởng, nhà giáo

dục thời kỳ Phục Hưng đã từng nhấn mạnh “Việc giáo dục phải bao hàm

các nội dung trí dục, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ… ngoài việc học ở nhà, còn

có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày.”

Makarenco – nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga đầu thế kỷ XX, cũng đã nói: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước ta…Nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp”

Trong chương trình sách giáo khoa mới, hoạt động ngoại khoá có thể xem như tương đương với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Mục tiêu của

Trang 27

môn này nhằm củng cố, khắc sâu những tri thức đã học qua các môn học trên lớp, mở rộng, nâng cao hiểu biết cho HS về các lĩnh vực đời sống xã hội, tăng vốn hoạt động thực tiễn…

1.2.2.2 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong trường THPT

Chương trình của Bộ Giáo dục – Đào ta ̣o qui định thì công tác tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (hoạt động ngoại khóa) ở trường phổ thông bao gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn Phần bắt buộc được tổ chức theo các chủ điểm sinh hoạt hàng tháng Phần tự chọn là các hoạt động phong phú

để đáp ứng nhu cầu đa dạng của HS

- Đối với HS : HĐNK (hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp) là một trong những mảng hoạt động giáo dục quan trọng ở nhà trường phổ thông Hoạt động này có ý nghĩa hỗ trợ cho giáo dục nội khóa, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của HS Nội dung của giáo dục ngoại khóa rất phong phú và đa dạng thể hiện qua các hoạt động xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan, lao động, nghiên cứu khoa học v.v…nhờ đó các kiến thức tiếp thu được ở trên lớp có cơ hội được

áp dụng, mở rộng thêm trên thực tế, đồng thời có tác dụng nâng cao hứng thú học tập nội khóa

- Đối với GV : Giáo dục ngoại khóa có thể do GV bộ môn, GV chủ nhiệm, Đội thiếu niên tiền phong, Đoàn thanh niên cộng sản v.v… tổ chức thực hiện Với chương trình học kết hợp với những hoạt động ngoại khoá như vậy, người GV không đơn thuần chỉ đóng vai trò là người cung cấp kiến thức cho

HS, mà còn được tiếp nhận, bổ sung thêm những kiến thức từ chính những HS của mình Hơn nữa, đây cũng là điều kiện thuận lợi để GV ứng dụng những PPDH mới, đồng thời có thể đánh giá năng lực cũng như ý thức học tập của

HS một cách khách quan nhất Ngoài ra, việc tham gia vào các hoạt động ngoại khoá gắn liền với các môn học như thế này cũng sẽ phát huy và kích thích khả năng nghiên cứu, tìm tòi thêm của các GV, từ đó góp phần nâng cao

chất lượng giảng dạy

Trang 28

1.2.2.3 Các hình thức hoạt động ngoại khóa

Hoạt động ngoại khoá bao gồm những hoạt động ngoài giờ học chính thức như các buổi dã ngoại, tham quan phục vụ môn học, các phong trào đoàn thể, hoạt động xã hội, các hoạt động văn thể mỹ

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường phổ thông rất đa

dạng và phong phú, thường diễn ra trong một không gian rộng, thời gian

không cố định Do đó, muốn thu hút HS tham gia đầy đủ các hoạt động cần phải thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Tuỳ theo tính chất, mức độ của mỗi hoạt động, các trường sẽ xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cho phù hợp Chẳng hạn, thông qua các đợt thi đua chào mừng những ngày lễ lớn trong năm, nhà trường kết hợp tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao lồng ghép các cuộc thi nhỏ như thi tìm hiểu, thi hát theo chủ đề hoặc tham quan các di tích lịch sử Giờ chào cờ đầu tuần nên tổ chức thi thuyết trình theo chủ đề, nói chuyện chuyên đề thi vấn đáp về các kiến thức khoa học nhằm giảm bớt tình trạng khô khan, căng thẳng và tính giáo dục thấp Giờ sinh hoạt 15 phút đầu buổi học cần có sự quản lí chặt chẽ và tạo cho HS sự say mê, hứng thú trong việc truy bài, sinh hoạt tập thể, trao đổi hoặc tranh luận các vấn đề khoa học… Tiết sinh hoạt cuối tuần nên tìm những tư liệu có tính chất tư vấn về hôn nhân, gia đình, định hướng nghề nghiệp để GV chủ nhiệm kết hợp triển khai cho HS Thu hẹp hơn là trong lớp học, GV bộ môn sẽ tổ chức những buổi ngoại khóa phục vụ cho chính môn học mình dạy Mỗi môn học cũng như từng nội dung

cụ thể trong môn học đó sẽ có những hình thức tổ chức khác nhau phù hợp với đặc thù môn học

Các hình thức sinh hoạt khác như hoạt động thể dục thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt ngoại khoá, tham quan, du lịch… là những hoạt động mang tính tự nguyện cao, có sức hút với những HS có cùng

sở thích, cùng nguyện vọng tham gia hoạt động Do đó, nhà trường cần bố trí

Trang 29

kinh phí tương ứng để tổ chức các hoạt động phù hợp nhằm góp phần củng cố

và bổ sung kiến thức học trên lớp, rèn luyện, giáo dục năng khiếu, thể lực, giáo dục giới tính, mĩ thuật, hội họa… cho HS

Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hiện nay rất phong phú, đòi hỏi người hiệu trưởng phải thường xuyên quan tâm, suy nghĩ, tìm tòi các hình thức hoạt động phù hợp với mục tiêu, đối tượng, thời gian, cơ sở vật chất, nguồn kinh phí, môi trường sư phạm và con người hiện có Nội dung và hình thức hoạt động phải bao hàm các mặt giáo dục đức, trí, thể, mĩ Tiến trình

tổ chức hoạt động phải hài hoà, khoa học và hợp lí, phải có bộ máy tổ chức,

có kế hoạch, chương trình, hoạt động cụ thể, có nội dung hoạt động, có người phụ trách, có qui định lề lối làm việc, điều kiện hoạt động và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nhà trường

1.3 Hoạt động ngoại khóa văn học ở THPT

1.3.1 Tầm quan trọng của ngoại khóa văn học trong trường THPT hiện nay

Một yêu cầu lớn đặt ra trong việc bồi dưỡng HS có năng khiếu nói riêng, dạy học đối với HS phổ thông nói chung là luôn phải nuôi dưỡng, phát triển hứng thú của các em đối với môn học, đặc biệt là đối với môn Ngữ văn Việc bồi dưỡng niềm say mê hứng thú đối với việc học văn, được thực hiện trước hết là thông qua các hoạt động chính khoá trên lớp, nhưng do những đặc trưng của bộ môn, một môn học đòi hỏi phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa kiến thức và tình cảm thẩm mĩ trong cách dạy của GV

và cách học của HS, các hoạt động ngoại khoá văn học cũng đóng vai trò rất quan trọng

Hoạt động ngoại khoá văn học không là vấn đề mới Từ lâu, nó đã trở thành một bộ phận cấu thành không thể tách rời của quá trình giáo dục, do tập thể sư phạm của nhà trường tổ chức và lãnh đạo, thông qua hoạt động của

tổ bộ môn Nhất là trong bối cảnh cuộc cải cách giáo dục ở nước ta đang diễn

ra toàn diện, sôi nổi, trong đó có sự đổi mới thật sự của việc dạy và học bộ môn Ngữ văn, thì hoạt động ngoại khoá văn học với những hình thức phong

Trang 30

phú, thiết thực, phù hợp càng trở nên quan trọng và bổ ích Với môn học này, hoạt động ngoại khoá rất có hiệu quả đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy – học tập trong trường phổ thông, HS không chỉ học chay, học thụ động

mà các em sẽ trực tiếp được tìm hiểu các vấn đề mà sách đã viết và cả không viết, những điều mà thầy cô không có điều kiện để truyền thụ cho các em trong giờ dạy chính khoá

1.3.2 Nguyên tắc hoạt động ngoại khóa văn học ở THPT

Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có những đặc điểm riêng, do đó

mà nó có những nguyên tắc riêng phù hợp Theo tác giả Phan Trọng Luận [11; tr.386], HĐNK văn học có những nguyên tắc cơ bản sau:

1.3.2.1 Nguyên tắc gắn với thực tiễn đời sống

HĐNK văn học không chỉ gắn với đời sống của việc dạy học Văn mà còn phải gắn với đời sống thực tiễn, đời sống văn hóa xã hội để tiếp tục thực hiện việc giáo dục thẩm mĩ, để hình thành và phát triển nhân cách cho HS Đối với GV, nguyên tắc này rất quan trọng, GV sẽ được bồi dưỡng thêm vốn sống, vốn hiểu biết từ thực tế vì giờ dạy không còn nghèo nàn, thiếu cơ sở minh hoạ cho lý luận

1.3.2.2 Nguyên tắc phối hợp

HĐNK văn học không phải là việc giảng dạy và học tập lại bộ môn Văn

mà cần phải phối hợp các hình thức và mở rộng nội dung phong phú để thu hút

và tạo hứng thú cho HS tham gia Đây là cũng nguyên tắc cần thiết đối với các hình thức tổ chức dạy học khác

1.3.2.3 Nguyên tắc tự nguyện

Ngoại khóa là phần hoạt động không bắt buộc, nhưng cần thiết Ngoại khoá Ngữ văn lại cần có sự hăng say, thích thú và sự thể hiện khả năng riêng của từn học sinh Ngoại khoá ít nhiều có ảnh hưởng đến thời gian học tập nội khoá, nhất là với các em học kém Vì vậy, hoạt động ngoại khoá cần chú ý khơi dậy sự tự giác, tự nguyện của học sinh Khi đã tự nguyện, tự giác, HS

sẽ khắc phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ được giao, mặt khác, gặp

Trang 31

thất bại các em sẽ không bao giờ nản chí Các nhóm học sinh tự nguyện tham gia ngoại khoá Ngữ văn là các nhóm bạn tâm đắc về ý thức và sở trường, như vậy hoạt động ngoại khoá còn có tác dụng hình thành các tập thể học sinh liên kết với nhau theo hứng thú Trong các tập thể tự nguyện này, học sinh

sẽ tự bộc lộ đầy đủ hơn những kĩ năng, năng lực mà trong quá trình học tập các em ít được bộc lộ Cũng trong điều kiện này, hoạt động ngoại khoá còn giúp giáo viên hiểu và thông cảm, thương yêu học sinh của mình hơn

1.3.2.4 Nguyên tắc phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS

Trong bất cứ hoạt động nào cũng cần có sự chủ động, sáng tạo, trong HĐNK văn học thì điều này lại càng cần thiết Với lượng thời gian lớn, không

gò bó như những giờ học chính khóa tạo điều kiện thuận lợi để các em phát huy khả năng của mình Để nâng cao những năng lực đó, người GV nên hướng dẫn cách thức tổ chức hoặc có những gợi ý để các em có thể thiết kế và lên kế hoạch thực hiện ý tưởng của mình một cách tốt nhất

1.3.2.5 Nguyên tắc góp phần hoàn thiện nội dung môn học

Với bất kỳ hình thức dạy học nào, nguyên tắc này luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu Hơn nữa, công tác ngoại khoá Ngữ văn chỉ hấp dẫn học sinh khi nó phục vụ cho chương trình nội khoá, tức là việc học môn Ngữ văn theo chương trình Ngoại khoá hướng về các tri thức, các kỹ năng không có trong chương trình nhưng lại liên quan chặt chẽ với chương trình và phục vụ việc củng cố hoặc nâng cao các tri thức và các kỹ năng trong chương trình Trong những giờ học nô ̣i khóa , nội dung HS cần lĩnh hội là tương đối lớn, trong khi đó thời gian dạy không nhiều, những thông tin mà HS thu nhận được chưa phải là hoàn toàn đủ và HĐNK đã khắc phục được điểm này Trong giờ học văn trên lớp, GV chỉ đưa ra được những thông tin cơ bản phục vụ cho bài dạy mà có rất ít thời gian để tìm hiểu sâu hoặc bình văn Vì thế đối với GV dạy Văn, HĐNK rất quan trọng và cần thiết Hoạt động này sẽ giúp họ nâng cao chất lượng giảng dạy và hoàn thiện nội dung môn học

Trang 32

1.3.3 Hình thức hoạt động ngoại khóa văn học

Do đặc trưng môn Văn đa dạng và gắn liền với lĩnh vực nghệ thuật nên chúng ta có thể thực hiện nhiều loại hình ngoại khoá phong phú Theo tác giả Phan Trọng Luận [14; tr.388], ngoại khóa văn học chia thành năm hình thức cơ bản:

Thứ nhất: Thông qua tổ chuyên đề

Với hình thức này, GV sẽ tổ chức các HĐNK theo chủ đề cho HS

Ví dụ: Dựa trên giai đoa ̣n văn ho ̣c , có thể tổ chức những buổi n goại khóa Văn học trung đại; Ngoại khóa Thơ mới…

Thứ hai: Công tác quần chúng

Ngoại khóa văn học thông qua công tác quần chúng có liên quan đến việc lĩnh hội các loại hình nghệ thuật GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu thêm kiến thức văn ho ̣c ngoài chương trình trên lớp hoă ̣c có thể ta ̣o mô ̣t môi trường

mà ở đó HS được học, đươ ̣c tìm hiểu mở rô ̣ng kiến thức văn ho ̣c

Ví dụ: Sưu tầm văn học, xây dựng tủ sách văn học, tọa đàm văn học…

Thứ ba: Công tác nghệ thuật nghiệp dư của HS

Ví dụ: Sáng tác thơ văn, câu lạc bộ kịch, đội văn nghệ…

Thứ tư: Các biện pháp không thường xuyên cho HS

Ví dụ: Tham gia hội diễn nghệ thuật, giao lưu với các tác giả văn học, tham quan thực địa…

Thứ năm: Trong giờ học tự nguyện về các loại hình nghệ thuật

Ví dụ: Tùy theo năng lực mỗi nhà trường có thể tổ chức lớp học cho HS

về nghệ thuật nghiệp dư như múa dân gian, sân khấu dân gian…linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện của HS từng trường, từng địa phương

Về mă ̣t hình thức hoa ̣t đô ̣ng , chúng ta có thể thấy một số hình thức ngoại khoá văn học tiêu biểu như:

* Ngoại khóa tham quan - sáng tác:

Đây là hình thức thông dụng phổ biến nhất vừa giúp HS đến với thiên nhiên đất nước và các di tích lịch sử để mở mang kiến thức về tác giả,

Trang 33

tác phẩm lại vừa tạo cảm hứng sáng tác Chúng ta nên chọn những địa danh gắn liền với những tác phẩm trong chương trình để tạo cho chuyến đi dã ngoại vừa bổ ích vừa thú vị Với những trường học ở Huế, GV sẽ tổ chức cho

HS đi du thuyền và nghe hò Huế trên sông Hương, hoặc đến thăm Vĩ Dạ và nghe kể chuyện về nhà thơ Hàn Mặc Tử

* Ngoại khóa thực hành (Thuyết trình, bình văn, văn nghệ)

Với hình thức thuyết trình, GV không nên để HS viết những bản thuyết trình lê thê rồi trình bày theo kiểu áp đặt cả lớp phải nghe Như thế sẽ nhàm chán và hầu như không có tác dụng gì Thay cho những bài viết các tác phẩm, các vấn đề đã được học, GV có cách làm riêng Với lớp chuyên văn, mỗi cá nhân đều chuẩn bị theo đề tài, ví dụ: Một bài làm văn bạn tâm đắc nhất Các

em sẽ giới thiệu bài văn của mình, tự mình nhận xét đề văn, hướng giải quyết

đề, cảm nhận riêng khi viết bài, suy nghĩ về những lời phê của thầy cô, lí giải những vấn đề các bạn khác đặt ra với mình… Như thế, hầu như buổi thuyết trình nào cũng sôi nổi, tự nhiên, cuốn hút và ai cũng nuối tiếc thời gian khi buổi ngoại khoá kết thúc

* Ngoại khóa củng cố kiến thức (Đố vui văn học )

Hình thức Đố vui văn học là một hình thức ngoại khoá rất phổ biến Ngoài việc chuẩn bị nội dung câu hỏi thật phong phú, hấp dẫn, vừa bao

quát được chương trình ôn tập, vừa mở rộng hiểu biết thuộc lĩnh vực văn

chương, thì hình thức đố vui cũng là vấn đề quan trọng để buổi ngoại khoá

thành công Hiện nay nhờ sự phát triển của khoa học, của công nghệ thông tin, chúng ta có thể vận dụng nhiều cách để tổ chức đố vui như: viết câu đố trên giấy rôki, dán kín những phần trả lời, HS đoán đến đâu, bóc tách đến đó; đưa nội dung lên chương trình Powerpoint, dùng công nghệ tin học để điều khiển buổi ngoại khoá thì sẽ hấp dẫn hơn, vì ngoài nội dung câu hỏi, còn kèm theo nhạc nền, tranh ảnh minh hoạ, các phần thi hiện lên theo từng phần hiệu ứng, rất có hiệu quả HS tham dự luôn có cảm giác mình được tham gia trò chơi, nhất là khi hình thức tổ chức, câu hỏi, quà tặng đều bất ngờ, lí thú

Trang 34

* Ngoại khóa mở rộng kiến thức (Câu lạc bộ văn học, Hội thảo khoa học

về văn học, Thi hùng biện về văn học, Thi sáng tác văn học, Lễ kỉ niệm theo chủ đề, Trò chuyện – giao lưu văn học)

Hội thảo khoa học về văn học cũng là một hình thức ngoại khoá không

mới Hội thảo là nơi rộng rãi để bày tỏ, trao đổi ý kiến về một vấn đề Cần làm sao để người điều khiển nắm chắc vấn đề, nghiên cứu nội dung và hình thức một cách khoa học; còn người dự không cho phép mình đến hội thảo với hai bàn tay trắng Mục đích của hội thảo trong nhà trường là bước đầu tập cho HS

về khả năng nghiên cứu khoa học và khả năng trình bày trước đông người một cách tự tin, hấp dẫn, cách ứng xử, xử lí thông minh Đề tài hội thảo rất phong phú, có thể là vấn đề nghị luận văn học, nhưng trước tình hình đổi mới của việc dạy và học Văn hiện nay, GV có thể dành hội thảo cho những vấn đề nghị luận xã hội Điều này, gần gũi và thiết thực với từng HS nên sẽ tạo được sự sôi nổi, cuốn hút ở hai phía: các em điều khiển chương trình và các em tham dự chương trình Sau các buổi hội thảo đó, bài viết của mỗi HS đều trưởng thành hơn, có độ sâu sắc và chân thành hơn

Một trong những HĐNK văn học sinh động có hiệu quả cao là hình

thức Câu lạc bộ Văn học Đây là một hình thức sinh hoạt tập thể, lôi cuốn

được nhiều HS ở các khối lớp, các ban khác nhau cùng t ham gia, khiến Văn học không chỉ là một môn học mà còn là một sinh hoạt văn hoá tinh thần vui tươi bổ ích Một hình thức khác của câu lạc bộ thơ văn là tổ chức ngoại

khoá với hình thức Sân khấu hoá tác phẩm văn học HS được GV bộ môn

hướng dẫn tự chọn tác phẩm, tự chuyển sang kịch bản, sau đó biểu diễn dưới hình thức hát, múa, kịch Nhờ vậy việc học văn trở nên nhẹ nhàng, thú vị hơn Những em có năng khiếu phát huy được vai trò cuả mình, em viết kịch bản,

em biểu diễn, em hoá trang… Ai cũng có đóng góp, khiến các em vừa hào hứng vừa có tinh thần tập thể và ý thức thi đua

Giao lưu Văn học, chủ yếu là giao lưu với các nhà văn có tác phẩm

được học trong nhà trường, các nhà phê bình văn học như: nhà văn Nguyễn

Trang 35

Quang Sáng, nhà văn Nguyễn Khải, nhà thơ Nguyễn Duy, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên,… Những buổi giao lưu như thế không chỉ bổ ích cho HS

chuyên văn mà còn hấp dẫn với HS ở các ban khác Trong buổi giao lưu như

thế giúp GV và HS được tiếp xúc trực tiếp với các nhà văn, cảm nhận được những điều các nhà văn tâm đắc, biết được những mảng hiện thực mà nhà văn đã từ đó mà xây dựng nên những nhân vật, tình huống truyện, các nhà thơ tạo nên những câu thơ hay, những tứ thơ đẹp, xúc động lòng người…

Còn rất nhiều những hình thức ngoại khóa văn học khác được thực hiện

ở nhiều trường học nhằm đem lại những hiệu quả thiết thực, bổ ích, lý thú cho việc dạy và học văn HĐNK văn học không chỉ là một hình thức, nó còn là sự hóa thân sinh động của nguyên lý dạy học đối với bộ môn Ngữ văn – một bô môn có những đặc thù riêng Bởi theo Gớt (J.W.Goethe – Đại thi hào Đức)

“Mọi lý thuyết luôn là màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi”

Trang 36

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG DẠY HỌC

PHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN LỚP 10

2.1 Văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn 10

2.1.1 Khái quát về văn học dân gian

VHDG là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng Ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, văn học dân gian đã trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế

độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay

* Đặc trưng cơ bản của VHDG:

- Tính truyền miệng (VHDG là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng): Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa văn học viết và VHDG Ngôn từ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung, ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của tác phẩm VHDG nhằm phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống Tính truyền miệng của VHDG thể hiện ở quá trình diễn xướng dân gian Quá trình diễn xướng bao gồm các hoạt động kể – hát – diễn tác phẩm VHDG Có thể nói tác phẩm văn học dân gian trên thực tế sinh thành, tồn tại trong diễn xướng “Văn bản ngôn từ truyề n miệng” của tác phẩm VHGD không tách rời sinh hoạt diễn xướng Đó là điểm khác biệt rất căn bản

so với văn học viết vốn tồn tại bằng văn tự và giao lưu đọc Đặc trưng truyền miệng trong diễn xướng khiến cho việc dạy học tác phẩm VHDG phải chú ý thích đáng đến việc “khôi phục” / “hoàn nguyên” tra ̣ng thái tồn tại thực tế của sáng tác dân gian Do vậy việc tổ chức ngoại khóa văn học dân gian là một điều cần thiết, phù hợp với đặc trưng tác phẩm mang ra dạy-học

- Tính tập thể (VHDG là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể) : Quá trình sáng tác tập thể diễn ra bát đầu từ một người khởi xướng để tác phẩm

Trang 37

hình thành, sau đó là sự tiếp nhận của tập thể, về sau được lưu truyền nhưng có

sự sáng tạo làm cho tác phẩm biến đổi dần, phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật “Do đặc trưng này mà tác phẩm VHDG tồn tại thông qua nhiều dị bản, thể hiện tính chất động về cả văn bản lẫn nghệ thuật diễn xướng tác phẩm, tính không xác định của hình tượng VHDG” [2; tr.48] Tính tập thể của VHDG cũng là một thuộc tính gợi ý cho việc tổ chức ngoại khóa văn học dân gian khi dạy học Những hình thức ngoại khóa “diễn xướng” tác phẩm VHDG là cơ hội để tô đậm tính tập thể của tác phẩm VHDG Thầy và trò trong ngoại khóa chính là đang tham gia vào lưu truyền, sáng tạo tác phẩm VHDG Trong ngoại khóa họ đã trở thành “đồng tác giả” với dân gian Dạy học ngoại khóa tác phẩm VHDG là một hình thức làm

“sống lại” tác phẩm VHDG – những tác phẩm của tập thể!

Đây là hai đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu truyền tác phẩm VHDG, thể hiện sự gắn bó mật thiết của VHDG với các sinh hoạt khác trong đời sống cộng đồng

* Hệ thống thể loại của văn học dân gian Việt Nam

VHDG Việt Nam cũng như VHDG của nhiều dân tộc khác trên thế giới

có những thể loại chung và riêng, hợp thành một hệ thống Mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo những nội dung và cách thức riêng Hệ thống thể loại của VHDG thường có:

- Thần thoại: xuất hiện từ thời nguyên thủy; là tác phẩm tự sự dân gian thường kể về các vị thần, nhằm giải thích tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của con người thời cổ đại

- Sử thi: xuất hiện khi có hình thức sơ khai của Nhà nước , khi dần dần

có sự kết hợp giữa các thị tô ̣c , bộ lạc; Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy

mô lớn, sử dụng ngôn từ có vần, nhịp; xây dựng những hình tượng nghệ thuật

Trang 38

hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân, một tộc người thời cổ đại

- Truyền thuyết: là tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân một vùng

- Truyện cổ tích: xuất hiện khi có chế độ phong kiến thống trị ở nước ta;

là tác phẩm tự sự dân gian mà hình tượng và cốt truyện được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động

- Truyện ngụ ngôn: là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặc chẽ thông qua các ẩn dụ (phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm về cuộc sống hoặc về triết lí nhân sinh Và như vậy truyện ngụ ngôn có hai phần: phần

cụ thể là truyện kể, phần trừu tượng là ý niệm rút ra từ truyện đó

- Truyện cười: là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán và có ý nghĩa đấu tranh xã hội mạnh mẽ

- Truyện thơ: là những tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình, phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt

- Tục ngữ: là những câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần, nhịp, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nhân dân

- Câu đố: là những bài văn vần hoặc những câu nói thường có vần, mô tả đối tượng đố bằng những hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời

Trang 39

giải, nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp những tri thức về đời sống

- Ca dao: là những lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người

- Vè: là tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần phát triển nhất trong thời

kì cận đại; vè có lối kể mộc mạc, phần lớn nói về các sự việc, sự kiện thời sự của làng, của vùng quê, thậm chí là của cả nước

- Chèo: là tác phẩm sân khấu dân gian , kết hợp các yếu tố trữ tình và trào lộng để vừa ca ngợi những tấm gương đạo đức , vừa phê phán, đả kích cái xấu trong xã hội Ngoài chèo, sân khấu dân gian còn có những hình thức khác như: tuồng dân gian, múa rối, các trò diễn mang tích truyện

* Những giá trị cơ bản của VHDG Việt Nam

- VHDG là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc: Tri thức trong VHDG thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống, hơn nữa đó còn là những kinh nhiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn Việt Nam có 54 tộc người, mỗi tộc người lại có một kho tàng VHDG riêng, vì thế vốn tri thức của toàn dân tộc rất phong phú và đa dạng Có thể nói rằng VHDG như một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của nhân dân lao động, được ghi lại bằng một phương thức nghệ thuật độc đáo

- VHDG có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người: đây là phương tiện giáo dục những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người như tình yêu Tổ quốc, lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, lòng ngay thẳng, ý thức về điều thiện

và tinh thần đấu tranh chống điều ác

- VHDG có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc

2.1.2 Văn học dân gian trong chương trình

* Trong chương trình Ngữ Văn 10- Ban Cơ bản, phần VHDG có tất cả

10 bài, được phân phối trong 7 tuần gồm 13 tiết học:

Trang 40

Tuần Tiết Tên bài dạy

2 4,5 Khái quát văn học dân gian Việt Nam

3 8, 9 Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săn)

4 11, 12 Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

5 13, 14 Uy- lít- xơ trở về (trích Ô- đi - xê)

Đọc thêm: Ra- ma buộc tội (trích Ra-ma-ya-na)

6 17,18 Tấm Cám

Nhưng nó phải bằng hai mày

23, 24 Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa (bài 1,4,6)

9 26 Ca dao hài hước (bài 1,2)

Đọc thêm: Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)

10 28, 29 Ôn tập văn học dân gian

Như vậy, so với chương trình Ngữ Văn 10 cũ thì phần VHDG ở chương trình Ngữ Văn 10 mới đã được rút gọn khá nhiều về cả nội dung, số lượng bài

(9 bài) Ở chương trình cũ bao gồm 10 bài, trong chương trình mới chỉ còn 9 bài, và trong một số bài có giảm tải phần nội dung (bài “Ca dao than thân” và

“Ca dao hài hước”), một số bài chuyển sang phần đọc thêm (bài “Ra-ma buộc tội”) Trong tất cả 12 thể loại của VHDG thì vẫn có 5 thể loại được đưa vào chương trình mới (sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ca dao – dân ca) Nội dung các bài học tương đối gần gũi và quen thuộc với HS, nội dung bài khái quát ngắn gọn, súc tích, hướng vào kiến thức cơ bản để HS có thể nắm được

Với số lượng bài như vậy, có nhiều ý kiến cho rằng thời gian trên lớp không đủ để truyền tải hết kiến thức, đồng thời nội dung bài dạy chưa thực sự hấp dẫn Vì vậy, việc lựa chọn hinh thức ngoại khóa là hoàn toàn hợp lý để củng cố cũng như mở rộng kiến thức (bổ sung thêm nội dung về thể loại chèo, câu đố, thần thoại…)

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. B.D.Ê-xi-pôp (1977), Những cơ sở của lí luận dạy học – Nguyễn Ngọc Quang dịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của lí luận dạy học
Tác giả: B.D.Ê-xi-pôp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1977
3. Ban tư tưởng văn hóa trung ương (2001), Tài liệu học tập văn kiện Đại hội IX của Đảng, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập văn kiện Đại hội IX của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy Văn – dạy cái hay cái đẹp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy Văn – dạy cái hay cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
5. Hoàng Hữu Bội (2006), Thiết kế dạy học Ngữ văn 10 (phần văn học), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ văn 10 (phần văn học)
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
6. Nguyễn Hải Châu (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục phổ thông: Hoạt động ngoài giờ lên lớp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục phổ thông: Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Tác giả: Nguyễn Hải Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Ngô Thu Dung (2005), Tập bài giảng Lí luận dạy học, Khoa Sư phạm – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Lí luận dạy học
Tác giả: Ngô Thu Dung
Năm: 2005
8. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
9. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Phương pháp dạy học Ngữ Văn trung học phổ thông – những vấn đề cập nhật, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ Văn trung học phổ thông – những vấn đề cập nhật
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
10. Đinh Gia Khánh (2005), Văn học dân gian Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
11. Phan Trọng Luận (1962), Công tác ngoại khóa văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác ngoại khóa văn học
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1962
12. Phan Trọng Luận (1961), Mấy vấn đề giảng dạy văn học sử. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề giảng dạy văn học sử
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
Năm: 1961
13. Phan Trọng Luận (2003), Phương pháp dạy học văn – tập 1 , NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn – tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
14. Phan Trọng Luận (2005), Phương pháp dạy học văn , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
15. Phan Trọng Luận (2008) Phương pháp dạy học văn . Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Phan Trọng Luận (1998), Xã hội – văn học – nhà trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội – văn học – nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
17. Phan Trọng Ngọ (2005) Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
18. Võ Thị Quỳnh (2002), Hoạt động ngoại khóa văn học trong nhà trường: Điểm hẹn của những tâm hồn đồng điệu, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động ngoại khóa văn học trong nhà trường: Điểm hẹn của những tâm hồn đồng điệu
Tác giả: Võ Thị Quỳnh
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2002
19. Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề về giảng dạy văn học dân gian, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về giảng dạy văn học dân gian
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
20. V.A Nhikônxki (1980), Phương pháp dạy văn học ở trường phổ thông – Ngọc Toàn dịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy văn học ở trường phổ thông
Tác giả: V.A Nhikônxki
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1980
21. Phạm Viết Vượng (2007), Giáo dục học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nô ̣iTẠP CHÍ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nô ̣i TẠP CHÍ
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Câu 7: Hình thức thể hiện nghệ thuật của bài ca dao: “ - Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần văn học dân gian lớp 10
u 7: Hình thức thể hiện nghệ thuật của bài ca dao: “ (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w