1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm thơ mới ở lớp 11, ban cơ bản, trung học phổ thông

135 382 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lợi thế của mình là thông qua việc đọc và các hoạt động hỗ trợ việc đọc, tác động tới người đọc bằng cả âm thanh và tư tưởng, phương pháp đọc sáng tạo góp phần phát triể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ NA

TẬN DỤNG LỢI THẾ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI Ở LỚP 11,

BAN CƠ BẢN, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

(Bộ môn Ngữ văn)

Mã sỗ: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Chữ

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiê ̣ u, các thầy cô giáo Trường Đa ̣i ho ̣c Giáo du ̣c – Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i đã tâ ̣n tình hướng dẫn , chỉ bảo, giảng dạy để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Viết Chữ - người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong thời gian qua

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Trung học phổ thông Quỳnh Minh và Quỳnh Thọ, Quỳnh Phụ, Thái Bình đã nhiệt tình trả lời phiếu điều tra và tham gia thực hiện lớp học đối chứng

Cảm ơn bố mẹ, anh chị em cùng bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần hỗ trợ tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Thị Na

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Đóng góp của luận văn 5

9 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: ĐỌC SÁNG TẠO VÀ NHỮNG LỢI THẾ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH, THƠ MỚI 6

1.1 Các phương pháp dạy học văn, phương pháp đọc sáng tạo 6

1.1.1 Học sinh với môn Ngữ văn 6

1.1.2 Cách tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường 7

1.1.3 Phương pháp đọc sáng tạo 11

1.2 Lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong tương quan các phương pháp dạy học Ngữ văn khác 22

1.3 Đọc sáng tạo và thơ, Thơ mới 25

1.3.1 Đặc trưng của thơ, Thơ mới 25

1.3.2 Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn, trung học phổ thông 33

1.3.2 Lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm thơ trữ tình, Thơ mới 41

Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI VÀ GIẢI PHÁP TẬN DỤNG LỢI THẾ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC THƠ MỚI 43

2.1 Đối tượng, tư liệu và quá trình điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Thơ mới trong trường trung học phổ thông 43

Trang 4

2.2 Kết quả điều tra và phân tích kết quả điều tra về thực trạng dạy

học Thơ mới trong trường trung học phổ thông 43

2.2.1 Kết quả điều tra từ phía học sinh 43

2.2.2 Kết quả điều tra từ phía giáo viên 51

2.2.3 Kết luận thực trạng 55

2.3 Phân tích nguyên nhân 56

2.4 Giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học Thơ mới 60

2.4.1 Tính cấp thiết của việc phải tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới 60

2.4.2 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học Thơ mới 64

2.4.3 Các biện pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới 69

2.4.4 Xây dựng quy trình giảng dạy các tác phẩm Thơ mới có tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo 75

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87

3.1 Mục đích thực nghiệm 87

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 87

3.3 Nội dung thực nghiệm 88

3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 117

3.5 Kết quả thực nghiệm 117

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC

Trang 5

Luật Giáo dục Việt Nam (1998) nêu: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Chính vì nhận thức

được tầm quan trọng của một nền giáo dục trong thời kì hội nhập khu vực và quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo toàn ngành giáo dục chủ động đổi mới ở tư tưởng, quan niệm, chính sách, chiến lược, chương trình, phương pháp dạy học

Bộ môn Ngữ văn không nằm ngoài yêu cầu phải đổi mới toàn diện đó

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã căn dặn: “dạy văn như cũ không có lợi cho đào tạo và không có lợi cho dạy văn” Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy

học văn không phải chỉ là đổi mới ở mặt hình thức, chỉ là một chút “gia giảm” (J.Vial) mà phải đổi mới triệt để Trong điều kiện dạy học hiện nay, rất nhiều các giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia, các thầy cô giáo ngành Ngữ văn đã tích cực tìm tòi, nhiều sáng kiến, nhiều cách thức giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức

Dạy học môn Ngữ văn không giống như dạy học các môn khoa học khác, nó giống như một môn nghệ thuật, một “trò diễn bằng ngôn từ”, lấy hoạt động làm trung tâm Đặc biệt là khi giáo viên dạy các bài thơ trữ tình,

Trang 6

giờ học đó phải kích thích được trí tưởng tượng, tính nhân văn, thẩm mĩ của tác phẩm bằng cả âm thanh và tư tưởng

Bởi vì bản chất của thơ rất đa dạng, với nhiều biến thái và màu sắc phong phú Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc, suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tưởng và những tưởng tượng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn từ giàu nhạc điệu Cũng chính vì điều này mà có thể khẳng định, đối với học sinh, thơ khó tiếp nhận hơn Đặc biệt là các tác phẩm Thơ mới

Thơ mới bộc lộ những “bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm”, thế giới nội cảm phức tạp của nhà thơ trước cuộc sống Theo Hoài Thanh trong cuốn Thi

nhân Việt Nam, tinh thần cốt yếu của Thơ mới chính là “chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó” Thể hiện cái tôi đặc sắc, rõ nét, cái bề sâu trong tâm hồn con người “mang theo quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân”, Thơ mới có nhiều sự cách tân táo bạo, mới mẻ về ngôn từ, cách diễn đạt, tinh thần cá thể, giai điệu… “như một luồng sinh khí thổi vào văn học cận đại đã già cỗi bởi những quy ước nặng nề” Trong lịch sử văn học nước

nhà, Thơ mới đánh dấu một bước đi lớn của văn học, là một giai đoạn phát triển và có sự cách tân táo bạo về ngôn từ, thể thơ, tư tưởng, chủ đề Thơ mới vẫn là một địa hạt thơ cần được khám phá, cần được cảm nhận, cần được hiểu thấu đáo hơn Chính vì vậy mà tiếp nhận Thơ mới không phải là điều dễ dàng đặc biệt là đối với các em học sinh

Với lợi thế của mình là thông qua việc đọc và các hoạt động hỗ trợ việc đọc, tác động tới người đọc bằng cả âm thanh và tư tưởng, phương pháp đọc sáng tạo góp phần phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và sự cảm thụ trực tiếp của học trò trong bài giảng đối với các tác phẩm trữ tình đặc biệt là Thơ mới

Trang 7

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông”

2 Lịch sử vấn đề

Trong nghiên cứu, Thơ mới dường như là đề tài bất tận của các học giả nhưng chủ yếu các nhà nghiên cứu đều tập trung vào lĩnh vực phê bình, nghiên cứu dưới góc độ văn học mà chưa tập trung nghiên cứu về phương pháp giảng dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình phổ thông Hiện chưa có một chuyên khảo hoàn chỉnh nào về vấn đề này

Ngay cả phương pháp đọc sáng tạo, một phương pháp có nhiều lợi thế nhưng chưa được chú ý, cũng có rất ít nghiên cứu về nó Điểm lại chỉ có cuốn

Phương pháp đọc diễn cảm của nhóm tác giả dưới sự chủ biên của Naiđixốp; một phần nhỏ đọc diễn cảm được nói tới trong cuốn Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Nhà xuất bản quốc gia, 2001 Đáng chú ý là cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường của

PGS.TS Nguyễn Viết Chữ, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2009 đã chỉ rõ vai trò quan trọng của phương pháp đọc sáng tạo trong các phương pháp dạy học văn Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở hệ thống lí thuyết chứ chưa ứng dụng cho việc thực nghiệm dạy học từng tác phẩm cụ thể

Ngoài ra còn có những ý kiến quý báu về đọc diễn cảm của PGS.TS Vũ Nho; một vài tài liệu gần đây viết về đọc hiểu lại nghiêng sang hướng phân tích văn học chưa chú ý tới lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo

Quan sát chung cho thấy, nghiên cứu về việc tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo vào dạy học các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11, trung học phổ thông là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ, có tính ứng dụng đối với công tác giảng dạy của giáo viên, phù hợp với đặc trưng loại thể của trào lưu thơ nói chung và những bài ở lớp 11 nói riêng

Trang 8

3 Mục đích nghiên cứu

Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới thuộc chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học

4.2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông Cụ thể là đi sâu vào 3 tác phẩm:

- Vội vàng (Xuân Diệu)

- Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

- Tràng giang (Huy Cận)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng hệ thống lí luận về phương pháp đọc sáng tạo và những lợi thế của nó trong dạy học thơ và Thơ mới

- Nghiên cứu thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới

- Thực nghiệm: Soạn giáo án theo phương pháp đọc sáng tạo, thực nghiệm đối chứng

6 Giả thuyết khoa học

Nếu giải quyết tốt việc tận dụng được lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới thì đạt được hiệu quả tối ưu trong dạy học thơ nói chung và Thơ mới nói riêng

Trang 9

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu lí thuyết kết hợp với đối chiếu thực tế dạy học Thơ mới ở Trung học phổ thông, cụ thể ở lớp 11

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Được áp dụng trong việc khảo sát thực trạng dạy học Thơ mới trong trường Trung học phổ thông, cụ thể ở lớp 11

- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm để xác định tính khả thi và chứng minh hiệu quả của việc tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, Ngữ văn 11

8 Đóng góp của luận văn

- Góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn có hiệu quả

- Đề xuất một hướng dạy học phù hợp với loại thể thiết thực có hiệu quả đối với các tác phẩm Thơ mới nói riêng và thơ trữ tình nói chung

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Đọc sáng tạo và những lợi thế trong dạy học thơ trữ tình, Thơ mới

Chương 2: Thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 10

Chương 1: ĐỌC SÁNG TẠO VÀ NHỮNG LỢI THẾ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH, THƠ MỚI

1.1 Các phương pháp dạy học văn, phương pháp đọc sáng tạo

1.1.1 Học sinh với môn Ngữ văn

Trong lịch sử, thời Khổng Tử ở Trung Hoa và Socrat ở phương Tây, học sinh đã là trung tâm trong giờ học Bằng chứng là sự đối thoại tự nhiên giữa trò và thầy mà chúng ta có hai tác phẩm Luận ngữ (Khổng Tử) và Đối thoại (Socrat) Ngày nay, lí luận dạy học hiện đại đề cao định hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm Người thầy chỉ là người cố vấn, người hướng dẫn còn học sinh mới là người tự mình chiếm lĩnh tri thức Lấy người học làm trung tâm sẽ phát huy được sức mạnh cá nhân của các em, giúp các em hiểu sâu, nhớ lâu, thấy việc học trở nên hấp dẫn, kích thích sự sáng tạo Tuy nhiên, cách dạy này tốn nhiều thời gian mà lượng kiến thức mà học sinh nhận được khá ít Sự hài hòa vẫn được coi là chuẩn mực cho mọi công việc Không quá thiên vai trò của người thầy, cũng không quá đề cao vai trò của học sinh mà cần hài hòa sự tương tác thầy – trò nhất là đối với môn Ngữ văn, đặc biệt hơn là trong những giờ dạy văn khi “không ai thay thế được ông thầy trong nhà trường” (V Lê nin)

Bởi vì giờ dạy văn chính là một giờ học mang tính nghệ thuật, người giáo viên dạy văn đồng thời là một nhà khoa học, nhà sư phạm nhưng cũng là một nhà nghệ sĩ Để giờ văn thực sự đi sâu vào tâm trí của học sinh và đạt được ước vọng cao nhất là truyền tải tư tưởng, tình cảm của nhà văn đến với học sinh, để học sinh truyền tải nó đến với cuộc đời, người thầy phải cháy hết mình, phải như ngọn đuốc vừa có vai trò dẫn đường, vừa có sức nóng lan tỏa lay động tới tận tâm hồn các em

Trang 11

1.1.2 Cách tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường

1.1.2.1 Các quan điểm tiếp cận các tác phẩm văn học trong nhà trường

Để có được phương pháp dạy học thích hợp, đánh thức được những rung động sâu sa của học sinh, khơi gợi được khả năng sáng tạo văn học của các em, người giáo viên dạy văn phải nắm chắc được thế nào là một tác phẩm

văn học và tác phẩm văn học trong nhà trường bởi vì “Tác phẩm văn chương

là vũ khí, là công cụ của người giáo viên văn học” [17, tr.172] Tác phẩm văn

học có thể là một bài ca dao 4 câu, là một trường ca hoặc có khi chỉ là một bài thơ vẻn vẹn hai câu thơ, có khi là một bộ tiểu thuyết đồ sộ hoặc một truyện ngắn vẻn vẹn một trang giấy… Nó là một chỉnh thể thẩm mĩ thống nhất giữa nội dung (nội dung cụ thể và nội dung khái quát ) - hình thức (ngôn ngữ, cách kết cấu, xây dựng hình tượng…) Có thể nói sức mạnh của một tác phẩm văn học thể hiện ở tư tưởng, nghệ thuật của chính nó, ở tình cảm mà tác giả đã khơi gợi, đánh thức trong lòng người đọc những rung động sâu lắng, những khát khao, những vui sướng, những căm giận thông qua chất liệu ngôn từ Người đọc có thể cười, có thể khóc, có thể suy tư cũng có khi bùng nổ, giận giữ Đó chính là điều làm nên thành công của một tác phẩm văn học Trong mối giao tiếp giữa hiện thực cuộc sống – nhà văn – tác phẩm – người đọc thì mối quan hệ giữa tác phẩm – người đọc là mối quan hệ có sự tương tác mạnh

mẽ, chính người đọc làm cho tác phẩm văn học sống và truyền tải những thông điệp cuộc sống, đến được cái đích của một tác phẩm văn chương chính là cuộc đời

Mỗi tác phẩm văn học là máu xương, là kinh nghiệm đúc rút, là những kết tinh của một quá trình lao động mệt mài, là những trăn trở, đau đáu của nhà văn đối với hiện thực cuộc sống qua lời nhắn gửi trực tiếp hoặc gián tiếp bằng ngôn từ, bằng hình tượng nghệ thuật, bằng chủ đề - tư tưởng đến đối tượng “sinh mệnh của mình” là người đọc

Trang 12

Đối với việc dạy văn trong trường trung học phổ thông, chuyển tải cái đẹp của tác phẩm văn học đến cho người đọc, người giáo viên như người chèo lái con thuyền chở những tác phẩm văn chương, người học sinh như những người giữ neo, tiếp nhận và chuyển hóa tác phẩm văn chương đó thành món

ăn tinh thần không thể thiếu, để sống với cuộc đời và nhận thức cuộc đời

Để làm được điều đó, người giáo viên cần hiểu được mục đích, ý đồ sáng tác, nội dung, sức mạnh cuốn hút riêng của từng tác phẩm… tạo được cho mình một cách khai thác và giảng dạy riêng Năng lực tiếp nhận, phân tích tác phẩm của người giáo viên tác động to lớn đến việc truyền tải cái gì cho học sinh, giúp học sinh nắm được tư tưởng, chủ đề, hình thức nghệ thuật của một tác phẩm văn học

Theo GS Phan Trọng Luận, trong cuốn Phương pháp dạy học văn,

việc phân tích các tác phẩm văn học trong nhà trường có khá nhiều biến đổi, chịu ảnh hưởng từ các khuynh hướng và phương pháp phê bình văn học GS chia thành 3 nhóm tiếp cận như sau:

Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh hay là sự vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (xã hội, văn hóa, nhà văn…) để cắt nghĩa tác phẩm [17, tr.182] Mỗi tác phẩm văn học ra đời trong một bối cảnh lịch sử

cụ thể Nhà văn, thông qua hiện thực cuộc sống đó mà chắt chiu, kết tinh tư tưởng, tình cảm thông qua ngôn từ mà cấu thành nên tác phẩm văn học Muốn cắt nghĩa, tìm hiểu, tiếp cận và thẩm thấu một tác phẩm văn học, chúng ta cần phải tìm hiểu về bối cảnh và nhà văn

Quan điểm tiếp cận văn bản [17, tr.184]: Khi giảng dạy các tác phẩm văn học, giáo viên không thể thoát li văn bản Các yếu tố hoàn cảnh sáng tác, nhà văn chỉ là các yếu tố giúp ta hiểu thêm, còn yếu tố khám phá chính bản thân văn bản mới là yếu tố quan trọng nhất Văn bản chính là thông điệp, là lời gửi gắm, là cách thể hiện tư tưởng của nhà văn đến người đọc, thông qua

Trang 13

người đọc đến với cuộc đời Nhưng không phải vì thế mà mổ xẻ văn bản tác phẩm văn học theo hướng xã hội hóa dung tục cũng như không thể “xé lẻ, đập vụn” văn bản văn học thành những mảnh ghép chắp vá rời rạc Tác phẩm văn học như trên đã nói, là một chỉnh thể thẩm mĩ thống nhất giữa nội dung và hình thức Khi tiếp cận tác phẩm văn học dựa trên quan điểm tiếp cận văn bản, cần quan tâm tới yếu tố chỉnh thể thẩm mĩ của nó

Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh [17, tr.187]: Cách tiếp cận này đề cao mối quan hệ giữa tác phẩm – người đọc, nhấn mạnh vai trò của người đọc như sự quyết định tồn vong cho tác phẩm Theo đó, trong khâu giảng dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường xuất hiện sự tương tác, chú ý đến sự sáng tạo của học sinh nhiều hơn Đây là tư tưởng dạy văn hiện đại

Nhìn vào ưu điểm của 3 quan điểm tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường, chúng ta thấy được rằng, sự kết hợp khoa học, hài hòa giữa giáo viên và học sinh; kết hợp phân tích đồng bộ các yếu tố văn bản, ngoài văn bản sẽ giúp cho việc dạy học các tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông đạt được hiệu quả như mong muốn

1.1.2.2 Các phương pháp dạy học văn

Khái niệm “phương pháp” là một khái niệm phức tạp và có nhiều cách hiểu “Phương pháp” là tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “methodos” do hai yếu tố “meta” (có nghĩa là sau, theo sau) và “odos” (có nghĩa là con đường” hợp lại

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “phương pháp” là:

1 Cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội Phương pháp biện chứng Phương pháp thực nghiệm

Trang 14

2 Hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó Phương pháp học tập Làm việc có phương pháp

Nếu theo cách hiểu trên thì phương pháp chính là một hệ thống các hoạt động, các thao tác giúp chúng ta đạt mục đích đã đề ra

Ngoài ra, phương pháp còn được hiểu là sự tổng hợp các nguyên tắc, quy tắc để chỉ đạo hành động hoặc làm việc có kế hoạch, có quy trình, khoa học…

Lê nin trong Bút kí triết học dẫn ý kiến của Hê ghen về phương pháp,

theo đó, phương pháp có nghĩa là ý thức về sự vận động bên trong của nội dung Dựa trên ý kiến này, có thể hiểu, phương pháp chính là cách mà chủ thể

ý thức được sự vận động bên trong của nội dung để tìm ra con đường đạt được mục đích của mình

Dựa trên cách hiểu về khái niệm “phương pháp”, chúng ta có thể đưa đến khái niệm “phương pháp dạy học” chính là sự phối hợp hai hoạt động dạy (hoạt động của thầy) và hoạt động học (hoạt động của trò) nhằm tác động vào nội dung dạy học để đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra

Theo lí luận dạy học hiện đại, quá trình dạy học là một chu trình khép kín: mục tiêu dạy học – nội dung – phương pháp – phương tiện – hình thức tổ chức dạy học – đánh giá kết quả Như vậy, phương pháp dạy học chính là một

bộ phận quan trọng của quá trình dạy học, có mối quan hệ hữu cơ với các bộ phận khác

Mỗi môn học trong nhà trường có những đặc trưng riêng, vì thế, phương pháp dạy học của từng bộ môn ngoài việc sử dụng phương pháp chung còn cần phải sử dụng phương pháp riêng, theo đặc trưng của môn học

đó Dạy học văn trong nhà trường phổ thông chính là việc giúp học sinh nhận thức về các tác phẩm văn học Đây là một bộ môn nghệ thuật, là “trò diễn

Trang 15

bằng ngôn từ”, lấy hình tượng làm trung tâm Người thầy là người cố vấn, hướng đạo trong mối quan hệ với các tác phẩm văn học còn học sinh chính là người chủ động, tự giác, tích cực, tự lực nhận thức về các nội dung văn học, các vấn đề văn học Chính vì thế, phương pháp dạy học văn bao gồm các phương pháp đặc trưng là phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp gợi tìm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tái tạo [7, tr.19-27]

Phương pháp đọc sáng tạo lấy hoạt động trung tâm là hoạt động đọc

nhằm “phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và tạo được sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật” [7, tr.19]

Phương pháp gợi tìm dựa trên phương pháp nêu vấn đề, chủ yếu giúp người học đi tìm để tự chiếm lĩnh lấy tri thức của mình Phương pháp này giúp cho học sinh nỗ lực hơn trong việc chiếm lĩnh tác phẩm văn học, làm cho

sự cảm thụ văn học của các em sâu sắc hơn

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp giúp học sinh tìm ra những

yếu tố mới của đối tượng mà trước đó chưa biết “Phương pháp này nhằm phát triển kĩ năng tự phân tích tác phẩm, tự đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm” [7, tr.25]

Phương pháp tái tạo là phương pháp nhớ những cái cũ và tiếp thu tri thức mới một cách sáng tạo, tăng cường hoạt động của tư duy để thuộc nhớ bài đạt kết quả tối đa [7, tr.26]

Trong 4 phương pháp này thì phương pháp đọc sáng tạo là phương pháp dựa trên đặc trưng riêng của bộ môn, có ưu thế hơn các phương pháp khác Chúng tôi sẽ trình bày về phương pháp này kĩ hơn tại mục 1.1.3

1.1.3 Phương pháp đọc sáng tạo

Một giờ dạy văn thực sự hiệu quả chính là một giờ học mà dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh cảm nhận, khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm

Trang 16

để tự hoàn thiện bản thân về trí tuệ, năng lực, nhân cách Đây chính là mục đích cao nhất, mục đích cuối cùng của mọi sự đổi mới phương pháp dạy học Nghệ thuật tài ba của người giáo viên là biến một tác phẩm văn chương xa lạ thành một đối tượng khiến học sinh hứng thú, quan tâm Tư tưởng, tình cảm, chủ đề của tác phẩm, những tiếng lòng của nhà văn trở thành vấn đề khiến học sinh phải trăn trở, suy nghĩ biến chúng thành những hành động hướng đến Chân – Thiện – Mĩ Đó chính là những người thầy dạy văn thành công Có một điều ai cũng nhận ra rằng, những người thầy dạy văn nức lòng học sinh, những người thầy mà học sinh nhớ tới nhiều nhất, sâu sắc nhất là những người thầy có giọng đọc văn truyền cảm, lời giảng ngọt ngào, thấm đẫm chất văn chương Qua giọng đọc của thầy, học sinh tìm thấy “lửa” của tác phẩm, thấy sự nhiệt huyết, niềm yêu văn chương của thầy Tự nhiên, mặc nhiên, trò cũng yêu văn, yêu tác phẩm và hiểu, cảm tác phẩm nhuần nhị, sâu sắc Học trò chính là người phán xét thầy đúng nhất, khách quan nhất Trò không thể yêu, không thể quý thầy dạy không giỏi, nhân cách không tốt Trò cũng không thể nghe một người có giọng đọc the thé, chua loét, biến những câu thơ dịu dàng thành những câu thơ không thể lọt lỗ tai Trò không thể yêu văn nếu như cái hồn của tác phẩm bị nhòe nhoẹt bởi sự hoa lá cành, bởi sự biến báo, ngắt nghỉ nhịp điệu không đúng thông qua việc đọc Một cô giáo dạy văn đã vô cùng xúc động khi nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, học trò cũ gửi tặng bản thu âm những bài giảng văn của cô với lời ghi: “Con thích nghe giọng cô lúc giảng văn, con thêm yêu văn từ giọng đọc của cô” Hay ngay như một nhà giáo ở Nga đã nói rằng, bí quyết để họ thành công trong giờ giảng văn chính là nhờ việc đọc Ai đó đã nói rằng: “thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu vô vọng vang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại” Cần phải hiểu rằng, cả thầy và trò trong giờ giảng văn đều là người đọc của tác phẩm Đọc tác phẩm văn chương là cả một nghệ thuật, nó

Trang 17

được nâng lên thành phương pháp để dạy văn trong nhà trường phổ thông với tên gọi là phương pháp đọc sáng tạo

1.1.3.1 Đặc điểm của phương pháp đọc sáng tạo

Như trên đã nói, phương pháp đọc sáng tạo là một trong những phương pháp dạy học văn, trong đó, lấy hoạt động đọc làm trung tâm nhằm phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và tạo được sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật, đạt được mục đích giáo dục đã đề ra Chính vì lấy hoạt động đọc làm trung tâm nên phương pháp đọc sáng tạo là sự tổng hợp của nhiều các biện pháp hỗ trợ khác Đọc sáng tạo giúp tái hiện hình tượng, biến những kí hiệu phi vật chất thành cái hiện hữu tồn tại trong tâm trí người đọc, người nghe Nếu không có bước đọc tác phẩm (chưa nói đến việc đọc sáng tạo), cả thầy và trò chưa thể nhìn thấu tác phẩm, không thể hiểu được cốt truyện, nội dung, đặc điểm nhân vật, tứ thơ, hình tượng thơ… Chỉ thông qua việc đọc, như Gorki nói là thấy được nhân vật đi đứng, nói năng, khóc cười, cuộc sống đang vận động, đang chuyển động trước mắt người đọc Đây cũng được coi như là bước đầu tiên thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, sống và cảm nhận nó Với việc đọc, học sinh và cả giáo viên như phiêu lưu trong thế giới nghệ thuật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, chuyển những kí hiệu ngôn ngữ thành những hình tượng trong tâm trí, nắm bắt và hiểu rằng, tác phẩm đó đang nói gì Hoạt động đọc dù ở bất kì cơ chế dạy học văn nào thì cũng không thể thiếu Chỉ có điều, đọc đến độ “vang nhạc sáng hình”, đọc để cho cả giáo viên, học sinh, tác giả hiểu thấu được nhau thì mới là đọc sáng tạo

Đọc một tác phẩm văn chương hoàn toàn khác biệt với đọc một bài diễn văn, một báo cáo khoa học Nó đòi hỏi người đọc hiểu biết về từ, câu, nhịp điệu, cách ngắt nhịp, ngắt câu sao cho đúng, kích thích được người nghe, mang tới cho họ sự rung động sâu sa Chỉ bằng âm thanh mà kích thích được

Trang 18

cảm xúc, giác quan của con người, đó mới chính là nghệ thuật đọc sáng tạo của một người thầy tài ba Người thầy dạy văn cùng lúc đóng vai trò vừa là nhà khoa học, vừa là nhà sư phạm đồng thời là một nhà nghệ thuật Truyền tải và nắm bắt tất cả cái hồn tinh túy chắt lọc từ hiện thực cuộc đời của mỗi tác phẩm văn chương để chúng tác động tới nhân cách, trí tuệ một con người khác là điều mà không phải ai cũng làm được Nhiều thầy cô giáo dạy văn, cứ loay hoay đi tìm phương pháp mới, vận dụng hết thuyết này tới thuyết kia nhưng bỏ quên phương pháp đọc, khiến cho giờ văn trở thành giờ học nhàm chán, học sinh ngủ gật hoặc trở thành giờ văn kĩ xảo mà không có hồn, không

có những phản ứng linh diệu, những rung động tinh vi diễn ra như những đợt sóng ngầm giữa nhà văn – tác phẩm – giáo viên – học sinh

Với đặc điểm tác động tới người đọc cả bằng âm thanh và tư tưởng, đọc sáng tạo thể hiện rõ ưu thế trong dạy học văn trong nhà trường Tuy nhiên, tiến trình giảng văn theo lối mòn, chủ yếu đi vào phân tích, hoạt động đọc sáng tạo mới chỉ dừng lại ở việc giáo viên đọc, học sinh theo dõi hoặc gọi một học sinh đó đọc cả bài cho cả lớp nghe rồi đi vào phân tích tác phẩm, hoạt động đọc chỉ dừng lại ở mức đọc đúng mà chưa đọc sáng tạo, chưa phát huy được hết cái hồn của tác phẩm Đọc sáng tạo “khêu gợi” trí tưởng tượng của học sinh, đồng thời cũng là một con đường giúp học sinh hòa nhập được vào tác phẩm, từ đó hiểu được ý đồ nghệ thuật của nhà văn Có thể nói, đọc sáng tạo trong nhà trường phổ thông hiện nay không được các nhà sư phạm chú trọng và chưa được giáo viên chú ý phát huy hết khả năng kì diệu của nó

Một đặc điểm nữa của đọc sáng tạo là tính ứng dụng cao của nó Người giáo viên có thể thường trực sử dụng nó trong mọi tình huống, tiến trình dạy học: trong lúc vào bài, trong lúc phân tích hoặc khi kết thúc bài học Đọc những câu thơ có “nhãn tự” của toàn bài khi kết thúc để lại dư âm ngân vang mãi sẽ khiến học sinh hứng thú hơn với tiết học sau Đây cũng là một cách

Trang 19

“làm duyên” của người thầy dạy văn, đúng chất “nghệ sĩ” và để lại ấn tượng sâu sắc đối với học sinh

Đọc sáng tạo còn là phương pháp huy động tổng lực các biện pháp hỗ trợ khác nhằm kích thích tư duy hình tượng ở cả người đọc và người nghe Các biện pháp, các phương tiện hỗ trợ cho đọc sáng tạo ngoài những hình thức truyền thống như tranh ảnh minh họa, các ngành nghệ thuật khác như ngâm, vịnh… còn sử dụng các thành tựu, ứng dụng của công nghệ thông tin vào bài học Học sinh ngày nay tiếp cận với văn chương qua nhiều nguồn tư liệu phong phú đặc biệt là qua đường truyền internet Mạng xã hội, mạng thông tin, mạng thông tin chuyên ngành chính thống, không chính thống… đem đến cho học sinh cái nhìn phong phú hơn nhưng cũng đa chiều hơn Cái chính là học sinh biết chọn lọc thông tin để tiếp nhận Tuy nhiên, với trình độ học sinh phổ thông thì việc chọn lọc, tiết chế các thông tin thu nhận ở nhiều chiều để có một cách nhìn đúng thì không phải học sinh nào cũng làm được Chính vì thế mà vai trò người giáo viên trong dạy học hiện đại là người hướng dẫn, định hướng, là người giúp học sinh tiếp cận và tiếp nhận đúng các nội dung thông tin Giáo viên sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin như một công cụ hỗ trợ cho bài giảng hoặc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin như một mục tiêu dạy học Đối với phương pháp đọc sáng tạo, việc ứng dụng công nghệ thông tin hoàn toàn cần thiết, dễ dàng Giáo viên có thể sử dụng các video ngâm thơ, bình thơ, đọc thơ ở các giáo án điện tử hoặc yêu cầu học sinh tạo video thông qua các hình thức học nhóm, dự án…

Một đặc điểm đáng chú ý hơn hết là đọc sáng tạo còn gắn liền với năng khiếu văn chương của người dạy Năng khiếu văn chương bộc lộ ở việc giáo viên thường có tư duy hình tượng Học sinh không thể nào cảm được một đoạn thơ, ý thơ nếu như người giáo viên đó dạy giống như đọc thuộc giáo án, dạy khô khốc, đọc thơ mà rời rạc như cơm nguội hay đọc thơ mà như tra tấn

Trang 20

người nghe với giọng đọc the thé, chua loét Nếu người giáo viên dạy văn có lòng nhiệt tình nghề nghiệp, lòng yêu văn nhưng trời không phú cho giọng đọc văn mượt mà, giọng giảng văn lúc tràn đầy lửa, lúc êm như ru thì cần tìm cách khắc phục bằng những biện pháp hỗ trợ khác như sử dụng công nghệ thông tin (mượn giọng đọc bình thơ qua video) hoặc rèn thanh luyện đạo để

có được một giọng giảng, giọng đọc “tươm tất” Điều này không có nghĩa là những người không có giọng đọc mượt mà, giọng nói dễ nghe, truyền cảm thì không thể dạy văn Mà nghiệp dạy văn để thành công sẽ khó hơn bởi vì còn mất thời gian chinh phục cái nghe của học trò Nhiều người biện minh rằng, chỉ cần dạy đúng, đủ ý cho học sinh, có nhiều học sinh đỗ đạt là đã dạy giỏi không cần “khua môi múa mép”, công phu luyện tập, truyền tải đam mê Nghĩ như thế không hẳn sai nhưng thiết nghĩ, một người giáo viên dạy văn, để học sinh nhớ, học sinh ấn tượng thì cần nói, cần chuyển tải những suy nghĩ thành hình tượng, nói hay nói giỏi, lại vừa truyền tải được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn chương tới học sinh, biến những tư tưởng đó thành những hành động nhân văn Đó mới có thể gọi đó là những người giáo viên dạy văn giỏi

Bởi vì, như trên đã nói, xã hội đang ngày càng phát triển không ngừng và học sinh không như một “cái phễu” để giáo viên rót kiến thức vào nữa mà học sinh bây giờ giống như một cái cây tự tìm chất dinh dưỡng cho tâm hồn mình giữa bốn bề thông tin ngồn ngộn qua các phương tiện truyền thông Học sinh hoàn toàn có thể tự đọc, tự nghiên cứu về bài học trước khi tới lớp thông qua việc khai thác thông tin trên mạng internet, sách báo… Do đó, ngày nay giáo viên không thể “vẽ hươu”, muốn nói gì thì nói nữa mà chúng ta cần phải định hướng cho học sinh những thông tin, nội dung nào là chính thống để học sinh tiếp cận Và điều cần hơn nữa là truyền đam mê học văn cho học sinh

“Văn học là nhân học”, chính những tác phẩm văn chương là “cây gậy” chỉ

Trang 21

đường, định hướng những giá trị đạo đức, giá trị nhân văn giúp học sinh hoàn thiện bản thân Có thể yêu cái đẹp, thương những người nghèo, rung động trước một nhành hoa nở, trong sáng nên thơ của cảnh vật, biết mình là ai, sống như thế nào cho đúng văn hóa, đúng đạo… là trách nhiệm của văn chương, của người thầy dạy văn - những người nuôi dưỡng tâm hồn của nhiều thế hệ

1.1.3.2 Yêu cầu của phương pháp đọc sáng tạo

Không có người đọc và người nghe thì đọc sáng tạo không thể phát huy được tác dụng của nó Phương pháp đọc sáng tạo cần cả thầy và trò cùng tham gia hoạt động đọc Trong đó năng lực diễn tả của người thầy là then chốt Có thể mượn lời tác giả Văn Tâm trong bài báo trên Văn học và tuổi trẻ

số 11/2002: “Cán bộ giảng dạy môn Văn bậc Đại học cần có giáo trình đạt tính khoa học cao (tư liệu phong phú, chính xác, thẩm định đúng đắn, khám phá mới mẻ, độc đáo…) chứ ít cần năng lực diễn tả (tất nhiên trên bục giảng đại học mà hành ngôn “tiếng khoan” “tiếng mau”… “thao thao bất tuyệt” khiến “con rắn trong lỗ cũng phải bò ra” như Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai thì cũng tốt; nhưng cứ rủ rỉ thầm thì khiến sinh viên phải căng tai ra mới

“thủng” được đôi điều như phong cách giảng triết học của cố Giáo sư Trần Đức Thảo cũng chẳng sao…) Không giống thế, thầy cô dạy Văn bậc Trung học lại cần năng lực diễn giả, đặng có thể lôi cuốn những nam nữ thanh thiếu niên lứa tuổi 15,17 “dễ ăn dễ ngủ”, tỉnh thức được họ ngay khi họ mơ màng

“tâm bất tại”, có khi đến mức “người một nơi, hồn một nẻo” trên lớp” Ai dạy văn ở bậc Trung học cũng đều nhận thấy điều tác giả Văn Tâm nói có lý Năng lực diễn tả của giáo viên và sự cộng hưởng của học sinh cả về chất và lượng sẽ trở thành điểm mấu chốt của đọc diễn cảm, nó phải đảm bảo các yêu cầu cần thiết như:

Trang 22

Thứ nhất, cần đọc giản dị và tự nhiên Không cần lên gân lên cốt, đọc quá “điệu” thành ra nhịu lưỡi, đọc sai từ, biến chuyển thành những từ tục tĩu, khiến phản cảm, dễ thành trò cười với học sinh nhất là đối với lứa tuổi nhạy cảm như lứa tuổi vị thành niên

Thứ hai, khi đọc cần phát âm rõ ràng, chính xác, đúng giọng của mình, biểu cảm được thái độ của mình với tác phẩm Khi nghe thầy đọc tác phẩm, học sinh phải cảm thấy được thầy như hòa mình vào tác phẩm, cảm thấy

“lửa”, thấy sức nóng toát ra trong từng câu, từng chữ, có sức vọng, ngân nga trong tâm hồn học sinh Lúc này người thầy phải như một “diễn viên chân chính dưới ánh đèn sân khấu”

Thứ ba, đọc đúng đặc điểm thể loại tác phẩm và phong cách tác giả để toát lên được tư tưởng của tác phẩm Không thể dùng giọng đọc trữ tình vào các tác phẩm tự sự và ngược lại Cũng không thể dùng cái giọng đều đều nhẹ nhàng đọc các tác phẩm của nhà văn Thạch Lam sang đọc các tác phẩm thơ ngông, ngạo nghễ của Nguyễn Công Trứ Đọc sáng tạo đúng thể loại tác phẩm và phong cách tác giả là bước đầu tiên của công việc phân tích, bình giảng Đây là cơ chế dạy học văn có tính ưu việt hơn hẳn các cơ chế dạy học văn từ trước tới nay Dạy văn theo loại thể mang hơi hướng hiện đại và đạt hiệu quả cao

Thứ tư, thể hiện được thái độ tiếp xúc nhiệt tình đối với người nghe Ngoài giọng đọc, sự biểu hiện của ngôn ngữ cơ thể, điệu bộ, cử chỉ cũng thể hiện được phần nào tinh thần của tác phẩm Khi ngôn ngữ không biểu hiện được hết cái thần thái của tác phẩm thì cử chỉ sẽ là cứu cánh cho nó

Những yêu cầu trên là những yêu cầu nền tảng, cơ sở để đảm bảo hai yêu cầu quan trọng và cốt yếu nhất:

Trang 23

Một là, đọc sáng tạo cần tái hiện được giọng điệu tình cảm của tác giả

thông qua tác phẩm “Đọc văn thơ, cái khó là bắt được giọng điệu tình cảm của tác giả (có thể qua nhân vật, nhân vật ngôi thứ nhất qua lời của chính tác giả, của nhân vật trữ tình, qua âm hưởng chung của nội dung bài văn)” [17,

tr.268] Khi người đọc nắm được giọng điệu tình cảm của tác giả chính là bước đầu cảm nhận được tác phẩm, có những suy nghĩ đầu tiên về tác phẩm Giống như bắt mạch kê đơn bốc thuốc, đọc sáng tạo cần sự nhạy bén của người đọc để hòa mình vào dòng chảy của tác phẩm, sống cùng nó và để lắng nghe tiếng nói tình cảm của chính tác giả thông qua ngôn từ, giọng điệu của tác phẩm để rồi nâng nhận thức của mình từ cảm tính thành lý tính Đọc sáng tạo giống như một chiếc đòn bẩy cơ bản giúp học sinh phân tích, nhận thức đúng về tư tưởng, tình cảm của tác phẩm Hiếm khi có tác phẩm mà không thể hiện thái độ của người viết Tác giả hả hê, sung sướng, ngòi bút như áng hùng ca khi cái thiện thắng cái ác, căm phẫn, đau đớn khi cái ác chà đạp cái thiện… Thái độ, tình cảm của tác giả có khi thể hiện trực tiếp qua nhân vật, qua lời kể nhưng có khi nó được ẩn sâu giữ kín trong mỗi câu mỗi chữ Điển hình cho phong cách này là Nam Cao Nam Cao có thể gọi các nhân vật của mình là thị, là hắn, cái giọng khách quan như vô tâm, cái giọng cay nghiệt như bóp nghẹt nhân vật Nhưng hãy để ý một chút trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã dùng những ngôn từ xấu xí nhất cho Thị Nở, đã dùng cái giọng

vô cảm khi kể lại cuộc đời của Chí Phèo nhưng khi kể về giấc mơ của Chí Phèo về một ngôi nhà nho nhỏ, vợ cuốc mướn, chồng làm thuê, về sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo khi được ăn bát cháo hành đạm bạc của Thị Nở, tiếng day dứt “Ai cho tao lương thiện?” dường như ngòi bút Nam Cao đang bật khóc Giọng điệu tình cảm chỗ này của tác giả không phải cái giọng bình bình, vô cảm nữa mà là cái giọng tha thiết, cái giọng lay động tâm trí người đọc, cái giọng kêu thét thảm thương cho số phận bi ai, bần cùng của người nông dân trước cách mạng tháng 8 Khi học sinh bắt được cái giọng điệu cảm

Trang 24

xúc của tác giả, học sinh đã bước đầu thâm nhập vào tác phẩm, có như vậy, tác phẩm mới trở thành một đối tượng hứng thú của học sinh để các em tìm tòi, nghiên cứu, chiếm lĩnh tác phẩm, chuyển tư tưởng của tác phẩm thành những nhận thức bên trong giúp hoàn thiện tâm hồn

Hai là, đọc sáng tạo tái hiện được cảm xúc của nhân vật trong tác phẩm Cảm xúc của nhân vật chính là tấm gương phản chiếu tình cảm của tác giả

1.1.3.3 Các biện pháp đọc sáng tạo

Đọc đúng, tròn vành rõ chữ: đọc phải đúng chính tả Một giáo viên đọc văn không thể ngọng l/n, s/x, ch/tr Nhiều giáo viên ở các địa phương không coi trọng việc sửa ngọng khiến cho bài giảng trở thành trò cười của học sinh, mất đi cái uy của người thầy dù giáo viên đó có kiến thức sâu rộng, uyên bác đến mấy Đây là mức thấp nhất của đọc sáng tạo Đọc đúng còn phải đúng

giọng điệu, ngắt nghỉ lấy hơi hợp lí Ví như câu “Trời Hậu Giang tù và dậy rúc”, nếu đọc đứt quãng giữa “tù” và “dậy rúc” thì ở đây “và” được hiểu như

một liên từ Như thế không phải đọc thơ mà chỉ là phát âm mặt chữ Ngắt nghỉ không đúng, đọc không đúng giọng điệu sẽ khiến câu thơ, lời văn trở nên

vô nghĩa, vô hồn thậm chí là phản cảm Đọc rõ, đọc chính xác, trôi chảy chỉ đảm bảo ở mức đọc đúng mà thôi, chưa tiệm cận, bắt được đến cái giọng điệu tình cảm của tác giả và cảm xúc của nhân vật trong tác phẩm

Đọc diễn cảm: Đây chính là trung tâm của phương pháp đọc sáng tạo Đọc diễn cảm thể hiện được năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn chương Những câu thơ hay, được coi là tuyệt bích trong văn học như những câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng” hay như “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”… chỉ là những con chữ vô hồn, những chữ chết trên trang giấy nếu không được tri giác, không được tiếp nhận Chỉ có người đọc mới làm chúng sống, chúng run rẩy, phập phồng, chúng dâng hiến vẻ đẹp của mình cho đời Đây là bước đầu tiên đánh dấu con đường tiếp cận tác phẩm

Trang 25

Khi đã tri giác được ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm thì dĩ nhiên sẽ tái hiện được hình tượng, cảm xúc, thẩm mĩ của tác phẩm, từng bước chiếm lĩnh tác phẩm qua việc chuyển hóa hình tượng trong tác phẩm thành biểu tượng, hình tượng trong tâm trí của mình Chỉ có thông qua hoạt động đọc diễn cảm, cảm xúc, tình cảm của nhà văn, nhà Thơ mới tái hiện được, làm cơ sở cho các

công đoạn như phân tích, khái quát, cảm nhận, bình giảng… Khi “đọc phải huy động đồng thời nhiều năng lực của các giác quan, khả năng phát âm, hình dung tưởng tượng, phán đoán, liên tưởng, suy luận, nắm vững các biện pháp tu từ, các phong cách ngôn ngữ, năng lực về văn hóa, cắt nghĩa ngôn từ, điển cố, tái tạo thế giới nghệ thuật” [17, tr.431] Đọc diễn cảm nếu bắt đúng

giọng điệu tình cảm của tác giả và cảm xúc của nhân vật trong tác phẩm thì sẽ khiến cả thầy và trò rung cảm sâu sắc với tác phẩm, phát hiện ra những điều thú vị từ tác phẩm, cái hay, cái đẹp của từng câu từng chữ Đọc diễn cảm đồng thời gây hứng thú, mang lại sức quyến rũ, thu hút cho tác phẩm nếu người giáo viên biết cách tiết chế, sử dụng chúng một cách hiệu quả

Như tên gọi của chính nó, đọc diễn cảm thể hiện sự sáng tạo trong giọng đọc tác động chủ yếu đến tình cảm của người nghe Đọc diễn cảm có tố chất nghệ thuật Nó cũng giống như việc hát một bài hát Nó mang đến cho lớp học của giáo viên một luồng sinh khí mới, giúp học sinh có được những

ấn tượng, sự xúc động tự nhiên đối với tác phẩm văn chương Bằng hình thức đọc diễn cảm này, giáo viên tạo cho học sinh sự hứng thú và cảm nhận mới

mẻ đối với tác phẩm dù đã đọc ở nhà nhiều lần hoặc nghe người khác đọc Nếu việc đọc diễn cảm này lại do một học sinh đọc thì sẽ giúp các em có cơ hội bộc lộ bản thân, thể hiện sự cảm nhận ban đầu về tác phẩm Những tình cảm, xúc động về tác phẩm được truyền tải để làm sao học sinh khác hay nói rộng ra người nghe có được những cảm xúc tương tự như mình Nói cách khác, đọc diễn cảm phải xuất phát từ trái tim, đó là sự xúc động của tâm hồn chứ không phải là uốn giọng cho hay, cho ngọt Dù ngọt ngào đến mấy mà

Trang 26

không xuất phát từ trái tim thì những âm thanh phát ra chỉ là những âm thanh

vô hồn, nhàm chán Để đọc diễn cảm trước hết phải đọc đúng, tròn vành rõ chữ sau đó là đọc đúng giọng điệu, bắt được giọng điệu tình cảm của tác giả và cảm xúc của tác phẩm

Đọc nghệ thuật là mức cao hơn đọc diễn cảm, thể hiện ở các hình thức biểu diễn như ngâm thơ, hát ru, hát quan họ, hò… Đọc nghệ thuật là một thứ

“gia giảm” để giúp cho giờ học thêm phong phú chứ không thay thế được đọc diễn cảm và phải tiết chế nó trong một thời gian hợp lí, phù hợp với hoàn cảnh thì giờ giảng mới có hiệu quả

Bên cạnh đó, còn có các hình thức đọc hỗ trợ cho việc đọc hiểu văn bản: Bản chất của đọc hiểu vẫn là hoạt động đọc song nó là mức cao nhất để học sinh tiếp cận tới được ý nghĩa thẩm mĩ và nhân văn của tác phẩm Học sinh trong nhà trường phổ thông là chủ thể của hoạt động đọc và cũng đối tượng bạn đọc đặc biệt với trải nghiệm đời sống, kinh nghiệm hiểu biết văn chương nghệ thuật còn hạn chế, tính tập trung nhận thức và hứng thú chưa cao Để dạy đọc hiểu thực sự là quá trình biến văn bản thành tác phẩm của mỗi học sinh, cần chú ý tới vấn đề hình thành phương pháp đọc văn theo quá trình vật chất hoá hoạt động cảm thụ và nhận thức thẩm mỹ bên trong của người học, từng bước khám phá các lớp cấu trúc sự kiện, cấu trúc hình tượng và cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm theo một lộ trình hợp lí Có các kiểu đọc hiểu như: đọc thầm và đọc thành tiếng; đọc ở nhà và đọc trên lớp; đọc nhanh và đọc chậm; đọc lướt và đọc kỹ theo những yêu cầu nhất định và đọc nâng cao có tính chất nghiên cứu

1.2 Lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong tương quan các phương pháp dạy học Ngữ văn khác

Phương pháp đọc sáng tạo dựa trên đặc trưng bộ môn và thể hiện rõ ưu thế của nó trong tương quan với các phương pháp dạy học Ngữ văn khác Bản

Trang 27

chất của quá trình dạy học hiện đại chính là việc học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức thông qua hướng dẫn của giáo viên Giáo dục hiện đại đề cao năng lực của học sinh đồng thời không phủ nhận năng lực hướng dẫn của giáo viên Nếu trước đây, người thầy đơn thuần là người truyền đạt tri thức thì bây giờ, giáo viên là một người hướng dẫn, định hướng cho học sinh tiếp nhận tri thức Vai trò của người thầy không hề mờ nhạt đi mà trở nên quan trọng hơn Vì để định hướng cho học sinh tiếp nhận tri thức đúng, đủ, vươn tới tầm cao tri thức của nhân loại thì cần trang bị cho học sinh một điều cốt yếu: đó là hứng thú học tập – đây là một điều mà giáo viên không phải ai cũng làm được Khi học sinh đã chuyển động cơ học tập bên ngoài thành động cơ bên trong thì việc học trở nên dễ dàng hơn rất nhiều và việc khiến cho học sinh trở thành những thành viên ưu tú trong xã hội là điều có thể làm được Động cơ xuất phát từ hứng thú Chính vì vậy, hứng thú với bộ môn là nguồn gốc dẫn tới thành công của cả thầy và trò, cộng với tố chất, sự cần cù, linh hoạt, sáng tạo, học sinh có thể làm được những điều mà lớp cha anh đi trước không thể làm được

Nói như vậy để khẳng định rằng, hứng thú là một yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của học sinh, của một giờ dạy thuộc bất kì môn học nào Nếu học sinh học lấy vì, học chỉ để cho có, giờ học không khơi dậy được bất kì hứng thú nào thì học sinh không thể tiếp nhận được kiến thức mà giáo viên hướng dẫn, định hướng đặc biệt là môn Văn Môn Văn, bản chất của nó là một môn khoa học nhưng đồng thời nó thuộc lĩnh vực nghệ thuật Đã là nghệ thuật thì cái niềm đam mê, khát khao sáng tạo và khát khao chiếm lĩnh đóng vai trò vô cùng quan trọng, có thể coi là nền tảng Dựa theo đặc trưng của bộ môn, học sinh và giáo viên học văn cần có sự nhạy cảm với văn bản nghệ thuật ngôn từ hay nói cách khác chính là cảm xúc Cảm xúc là cái cốt lõi để học sinh và giáo viên có thể tương tác trong một giờ giảng văn Một tâm hồn khô héo khó có thể cảm nhận được vẻ đẹp của văn chương Cảm xúc mà

Trang 28

người đọc tác phẩm văn chương có chính là cái tinh túy, là cái hồn, cái thần của tác phẩm Khi người đọc đọc văn mình, có cảm xúc chứng tỏ nhà văn đó

đã thành công Dù tác phẩm đó không nổi tiếng, không xuất bản hàng nghìn cuốn thì vẫn sống trong lòng người đọc, vì nó thuộc về cảm xúc Mà cảm xúc

có khi là cái mà con người không thể điều khiển được kể cả có dùng sức mạnh của lí trí đến bao nhiêu chăng nữa Ngày nay, khi mà đời sống càng ngày càng chú trọng đến nhu cầu vật chất, xu hướng học sinh thích học các môn tự nhiên để thi các ngành để tìm được việc làm khiến cho các môn xã hội trong đó có môn Văn mất dần vai trò của nó Tuy nhiên, môn Văn ngoài sứ mệnh mang đến cái hay cái đẹp “trò diễn bằng ngôn từ” tới học sinh, nó còn

có sứ mệnh cao cả hơn đó là góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi con người Có khi chỉ cần đọc một tác phẩm văn chương thôi, một người đang đi trong tội lỗi có thể quay tìm đường, trở về với ánh sáng lương thiện Văn chương giúp thức tỉnh tâm hồn con người, bồi dưỡng nó, hoàn thiện nó Văn chương cũng nâng giấc cho những giấc mơ, cho những tình yêu thương vô bờ bến, cho những khát khao, nó phục vụ tất cả các tầng lớp trong xã hội Học văn chính là học cách làm người, học cách sống Chính vì vậy, người giáo viên dạy Văn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc khơi dậy cảm xúc văn chương, yêu môn Văn, hứng thú với môn Văn bằng những biện pháp thích hợp, sáng tạo của mình

Chính vì phương pháp đọc sáng tạo dựa trên việc truyền cảm xúc, khơi dậy cảm xúc, khơi dậy sự tương thông giữa học sinh – tác phẩm – giáo viên – nhà văn, sự say mê, hứng thú tìm hiểu, tìm cái hay cái đẹp của tác phẩm, cảm nhận, hòa mình vào không khí tình cảm của tác phẩm nên nó có những lợi thế mà không phương pháp nào có được đặc biệt là khi dạy các tác phẩm trữ tình

Vì sao lại như vậy?

Trang 29

Như chúng ta đã biết, ngôn từ trong các tác phẩm văn chương được tổ chức đặc biệt Nhà văn là một người nghệ sĩ dùng chất liệu của mình là ngôn

từ để tạo ra một sản phẩm nghệ thuật là tác phẩm văn chương Ngôn từ văn chương không giống như ngôn từ trong các văn bản ngôn từ khác, nó giàu

tính hình tượng, biểu cảm “hình tượng quyết định sự tồn vong của nghệ thuật văn chương” [7, tr.21] Đối với các tác phẩm trữ tình, ngôn từ còn giàu tính

nhạc Có một nhà nghiên cứu văn học đã khẳng định, đọc thơ là phải làm sao cho tác phẩm thơ đó “sáng hết hình và ngân hết nhạc”, giáo viên và học sinh phải làm sao mà lột tả hết được những nội dung tình cảm chứa trong tác phẩm

đó, thể hiện được những rung động mãnh liệt, nồng nàn, cháy bỏng của người nghệ sĩ với cuộc đời thông qua tác phẩm Chính vì vậy, có thể khẳng định khi dạy các tác phẩm trữ tình thì phương pháp đọc sáng tạo là một lựa chọn hàng đầu vì tính ứng dụng cao của nó Nếu biết sử dụng một cách hợp lí, phương pháp đọc sáng tạo sẽ kích thích khả năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, giúp các em thâm nhập dễ dàng vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm và mục đích cao hơn nữa là giúp rèn luyện năng lực cảm thụ văn học của các em đồng thời khiến các em hứng thú học văn Chúng tôi sẽ làm rõ ý này trong mục 1.3.2 dưới đây

Giáo viên có thể sử dụng biện pháp này trước khi hướng dẫn học sinh bước vào phân tích cụ thể văn bản, hoặc kết hợp với việc phân tích; cũng hoàn toàn có thể sử dụng sau khi đã hoàn tất việc tìm hiểu văn bản ở mỗi thời điểm nó đều có tác dụng riêng; hoặc là tạo những ấn tượng chung; hoặc kiểm nghiệm hay khắc sâu một sắc thái tình cảm nào đó; hoặc củng cố, thống nhất, nâng cao mọi ấn tượng về văn bản

1.3 Đọc sáng tạo và thơ, Thơ mới

1.3.1 Đặc trưng của thơ, Thơ mới

(Có khá nhiều nghiên cứu sâu sắc về đặc trưng của thơ, Thơ mới; về vị trí của thơ, Thơ mới trong các thể loại văn học, giai đoạn văn học Ở đây,

Trang 30

chúng tôi chỉ tập trung vào sự biểu cảm của thơ, tính nhạc của thơ để phục vụ cho đề tài của mình)

1.3.1.1 Đặc trưng của thơ

Thơ là một lĩnh vực có nhiều màu sắc phong phú, nó tác động tới người

đọc “bằng sự nhận thức cuộc sống vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc, suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tưởng và những tưởng tượng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn từ giàu nhạc điệu” [11, tr.165] Cuộc sống trong thơ là

cuộc sống hiện thực và đời sống nội tâm Thơ phản ánh khách quan và biểu hiện tinh vi những tình cảm, tâm tư của người nghệ sĩ đồng thời khiến người đọc rung động vì những biểu cảm trong đó Chính vì thế mà thơ rất khó nắm bắt, không dễ gì lí giải đúng, đủ, trọn vẹn Bởi vì thơ thuộc về cảm xúc, mà đã là cảm xúc thì nó vô cùng mênh mông, khó định Nói về bản chất thơ có nhiều ý kiến khác nhau, người cho rằng, bản chất của thơ ca là tôn giáo, có người lại cho rằng, thơ ca thoát ra ngoài xã hội, hiện thực cuộc sống, có người lại cho rằng, thơ thuộc về những nhân tố hình thức Chính vì thơ tự bộc lộ mình qua ngôn ngữ cho nên nó có những điều vô cùng kì diệu Từ việc thơ giàu nhạc điệu, gợi cảm, gợi hình tượng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thơ chính là việc tổ chức ngôn ngữ, là sự cần mẫn gọt giũa, sáng tạo ngôn từ của người nghệ sĩ Các nhà thơ thuộc lĩnh vực coi trọng hình thức hơn nội dung trong thơ đã đẩy thơ lên mức bỏ qua nội dung Những cách lí giải bản chất thơ ở trên đều chưa trọn vẹn Thơ không phải là cách sắp xếp ngôn từ, sáng tạo ngôn từ vô hồn mà thơ xuất phát từ đời sống nội tâm con người, từ cuộc sống, là sự thể hiện của tâm tư, tình cảm của nhà thơ trước cuộc sống hàng

ngày, trước sự đổi thay của xã hội Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn” hay như Ngô Thì Nhậm chiêm nghiệm: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Thơ chính là người

Trang 31

thư kí của trái tim, là những thứ cảm xúc vô hình vui sướng, khổ đau, mừng tủi, lo lắng, an lòng, bình yên… Những thứ tình cảm ấy có khi cháy rạo rực trong mỗi lời thơ, có khi ẩn sâu kín trong mỗi ý thơ Nhưng nó được bộc lộ trực tiếp, nó khiến cho những câu chữ - là những kí hiệu âm thanh trở nên sống động, run rẩy Tình cảm là một lĩnh vực thiêng liêng của con người Thứ tình cảm đó có thể khiến cho con người ta có thể căm hận nhau, có thể yêu thương nhau, có thể nước mất, có thể khiến nhà tan… Sức mạnh vô biên của tình cảm, thứ quyền năng vô hình ấy có thể nhấn chìm tất cả Và thơ chính là

sự bộc lộ, sự thể hiện rõ ràng nhất của tình cảm, của thế giới nội tâm

Nhân tố trực tiếp xây dựng hình tượng thơ chính là tình cảm Tình cảm

ấy luôn luôn vận động Nó khiến cho những rung động, những cảm xúc được đẩy lên cao hơn thành suy nghĩ, chiêm nghiệm và cuối cùng là đi đến chiều sâu của nhận thức qua những tình cảm cụ thể và những hình ảnh sống động về cuộc sống hiện thực Chính từ điều này hình thành nên phong cách thơ của từng tác giả Đôi khi, thơ còn là mộng ảo, là tưởng tượng nhưng không nên thoát li khỏi hiện thực Người ta có quyền mộng, quyền mơ, thơ không bắt người ta phải thế này hay phải thế khác, thơ là thơ, là tình cảm, là máu thịt chắt lọc ra từ những lần xúc động mạnh mẽ Có khi thơ phản ánh hiện thực trong tưởng tượng Tưởng tượng mang lại cho thơ sự phong phú và những miền vô biên để khai thác, để nhà thơ xúc động mà viết lên những dòng thơ

ấn tượng Tình cảm phong phú, sức tưởng tượng sáng tạo vô biên là những đặc trưng tiêu biểu của thơ Thơ còn là cái đẹp và phản ánh cái đẹp của con

người Cái đẹp tự nó đã là một nét thơ, một con mắt nhìn thấu lẽ đời “biểu hiện những tình cảm sâu sắc và mơ ước cao đẹp của con người” [11, tr.179]

Khác với tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, thơ chú trọng đến cái đẹp truyền cảm của đối tượng phản ánh, tới vẻ đẹp của hiện thực chứ không ở chỗ

sự kiện, xung đột, tích cách nhân vật… đồng thời lại thể hiện cá tính sáng tạo

Trang 32

độc đáo của chủ thể sáng tạo Nhà thơ thể hiện cuộc sống qua lăng kính của chính mình, qua tình cảm bộc lộ trực tiếp, vì thế mà nó có tính chủ quan, cá nhân của chủ thể sáng tạo Khi đó, nhà thơ thông qua thơ bộc lộ được những tình cảm sâu kín mà họ không thể bộc lộ trực tiếp với đối tượng họ hướng đến, mà trong đời họ không thể thực hiện được Có thể nói, thơ chính là tình cảm, cảm xúc được thể hiện qua sáng tạo ngôn từ

1.3.1.2 Đặc trưng của Thơ mới

Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã có một bước tiến quan trọng chuyển đổi từ hệ hình văn học trung đại sang hệ hình văn học hiện đại, từ quỹ đạo văn học vùng Đông Á sang quỹ đạo văn học toàn thế giới Đó là sự chiến

thắng rực rỡ của phong trào Thơ mới trước Thơ cũ, làm nên cả một “thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh)

Theo dõi quá trình vận động của phong trào Thơ mới với những nỗ lực đổi mới không ngừng nghỉ, Thơ mới đã hai lần cách tân: cách tân để vượt thoát ra khỏi những ràng buộc ước lệ, khuôn sáo của thơ ca truyền thống, với khát vọng hiện đại hoá thơ ca dân tộc; cách tân để vượt lên những thành công

đã định hình vững chắc để thoát khỏi “từ trường” của chính nó khi đi vào bế tắc

Có khá nhiều người nghiên cứu về Thơ mới và có những thành công nhất định, phần nào đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của Thơ mới Công trình tiêu biểu nhất là cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân Đây là công trình đã tổng kết được một thời đại trong thi ca

Một đặc trưng có thể thấy đầu tiên ở Thơ mới, đó là Thơ mới đã thực hiện cuộc chuyển mình ngoạn mục bằng việc xuất hiện cái tôi cá nhân cá thể thay cho các dạng thái của cái tôi cá nhân của thơ trung đại do điều kiện xã hội, lịch sử giai đoạn 1930-1945

Trang 33

Phong trào Thơ mới đã làm nên cuộc cách mạng trong lịch sử thơ ca dân tộc, đánh thức “bình minh thơ ca văn học hiện đại” Phong trào Thơ mới quy tụ một lực lượng trí thức Tây học trẻ, táo bạo, có tâm huyết muốn cách tân đem lại những cấu trúc hiện đại phương Tây vào thi ca Việt Nam Trong

sự va chạm với tiếng nói văn hóa phương Tây trước hết là “cuộc gặp gỡ với văn học Pháp và nhất là thơ ca pháp mang lại (…) một dòng máu mới của tâm hồn” tạo nên “cái vẻ đẹp riêng huy hoàng của buổi bình minh thơ văn học hiện đại, đa giọng điệu, nhiều trường phái lắm phong cách”

Phong trào Thơ mới là nơi gặp gỡ, kết tinh văn hóa Đông - Tây Theo

GS Hoàng Nhân, nó “không phải chỉ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạng Pháp đầu thế kỷ XIX mà còn chịu ảnh hưởng tổng hợp của các khuynh hướng văn học cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX như chủ nghĩa tượng trưng, nghệ thuật vị nghệ thuật, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa siêu thực” Như vậy

chỉ hơn một thập kỷ, Thơ mới đã đi trọn con đường hơn một trăm năm thơ Pháp

Thơ mới bắt đầu chịu sự ảnh hưởng của văn học Pháp từ chủ nghĩa lãng mạn với dấu ấn hiện hữu là chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới Theo Hoài

Thanh - Hoài Chân, trong cuốn Một thời đại trong thi ca thì người đầu tiên chịu ảnh hưởng của Pháp rất đậm là Thế Lữ Tác giả Huy Thông đã “đôi ba lần nhập tịch được vào thơ Việt cái không khí mơ màng của vở kịch Shakespeare và cái giọng hùng tráng của Victo Hugo”, rồi tới Xuân Diệu thì

ảnh hưởng của thơ ca Pháp đã lên đến cực điểm Huy Cận đi giữa đường

thơm đã cảm thấu “trong không khí… hương với màu hòa hợp” Cái nhìn thế giới trong tính thống nhất “tối tăm và sâu thẳm”, “thiên nhân hợp nhất” giúp

họ phát huy tối đa sức mạnh giao thoa, mở rộng tâm hồn, thăng hoa cảm xúc Hàn Mặc Tử khi tan biến vào ánh trăng định mệnh đã ngửi thấy mùi hương

Vọng nghe tiếng nhạc: “Trăng là ánh sáng nhất là giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm và nếu người cho thơ lắng nghe một cách ung

Trang 34

dung, sẽ nhận thấy có nhiều tiếng nhạc say say gió xé rách lả tả” (Chơi giữa mùa trăng)

Một đặc điểm nữa là Thơ mới in dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng “là để thể nghiệm thế giới tiên nghiệm, thế giới chiêm bao và tiềm thức” cần phải

“mang tinh thần âm nhạc” vào thơ ca Thơ mới đã nhấn mạnh thêm một bước trên con đường chinh phục âm nhạc hiện đại cho thơ Đó cũng là nguyên nhân dẫn dến sự bùng nổ và thắng thế của Thơ mới

Trong Thơ mới, âm nhạc là vị cứu tinh giúp thơ đạt tới quyền lực siêu nhiên, đi sâu khám phá bản chất của tạo vật và nội tâm Đồng thời, nhạc điệu Thơ mới ngân lên từ điệu tâm hồn của chủ thể không bị gò ép, uốn nắn cho hợp thể nên giữ được tính độc lập, đa dạng, tinh tế Đỗ Đức Hiểu cho rằng:

“Tính nhạc trong Thơ mới, luôn biến đổi, nó phối hợp hòa âm với nghịch âm, tính nhạc hòa trộn với tâm trạng thi nhân chuyển động từng giây, từng phút”

Vì vậy, nhạc không tách rời ý nghĩa, nói như Valery: “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa” Nhạc ở đây được cất lên một cách tự nhiên từ cõi

lòng sâu thẳm của nhà thơ Luật bằng trắc bị đẩy xuống hàng thứ yếu Tính nhạc được vang lên từ điệu thơ, mà cội nguồn sâu thẳm của nó là cảm xúc của thi nhân Bởi vậy, trong thơ hiện đại phương Tây cũng như Thơ mới Việt Nam, có những bài thơ không vần nhưng vẫn mang nhạc tính cao Chẳng hạn trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu, tuy không phụ thuộc vào niêm luật chặt chẽ như trong thơ cổ điển nhưng vẫn mang tính nhạc cao:

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạc mất Tôi muốn buột gió lại Cho hương đừng bay đi

(Xuân Diệu) Tất nhiên, vần bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng trong thơ, nhưng đến Thơ mới, vần không còn là một yếu tố mà nghệ sĩ phải “nô lệ” chúng

Trang 35

Vần bị lôi kéo bởi nhạc lòng, bởi cảm hứng êm dịu hoặc cuồng nhiệt của nhà thơ Bởi vậy mà âm nhạc trong thơ được thể hiện muôn hình vạn trạng như thế giới tâm hồn đa dạng của thi nhân Đây là một cách tân lớn trong sự thể hiện cảm xúc và quan niệm thẩm mỹ của thơ ca Việt Nam

Âm nhạc đã mê hoặc, dẫn dắt thi sĩ bước đi như người mộng du vào thế giới thực hư, huyền ảo của miền quá khứ trong cảm xúc bồng bềnh, chơi vơi:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lên lòng chơi vơi

(Nhị hồ - Xuân Diệu) Như vậy, có thể nói, Thơ mới có những cuộc bứt phá ngoạn mục, nhanh chóng bắt kịp nhịp độ phát triển và hòa vào dòng chảy của thi ca hiện đại thế giới Đến nay, chúng ta vẫn còn ngỡ ngàng, thán phục trước sự sáng tạo vô biên của các thi sĩ thời bấy giờ Chỉ hơn một thập kỷ đón cơn gió ngược từ phương Tây thổi lại mà cánh diều Thơ mới đã vụt bay cao Đặc biệt, là sự gặp gỡ thơ tượng trưng Pháp là tâm điểm thu hút các nhà thơ trẻ, giúp

họ tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa thơ ca dân tộc.Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu: Thơ mới Việt Nam chưa thể hình thành một chủ nghĩa tượng trưng như ở phương Tây Song không thể phủ nhận chủ nghĩa tượng trưng đã in dấu ấn rõ nét và góp phần làm nên giá trị của Thơ mới

Nhưng khách quan mà nhìn nhận rằng, dù chịu ảnh hưởng thế nào, Thơ mới cũng không làm mất đi bản sắc, truyền thống của tâm hồn tư tưởng Việt Nam mà ngược lại chính là điều kiện quan trọng để phát huy hơn nữa tinh

thần dân tộc ấy Như Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ tiếng Việt là được Việt hóa hoàn toàn Thi văn Pháp không làm mất đi bản sắc Việt Nam Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải”

Trang 36

Nhưng Thơ mới vẫn chịu ảnh hưởng của thơ Đường về mặt chất liệu Khảo sát các tác phẩm Thơ mới của một loạt các tác giả như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ… đều có thể nhận thấy, các tác phẩm Thơ mới chịu ảnh hưởng chất liệu của Đường thi nhưng lại ít chịu ảnh hưởng của liên thơ, của cấu trúc ngữ pháp trong Đường thi Điều này cho thấy Đường thi ảnh hưởng vào Thơ mới không nguyên khối Ngôn từ, hình ảnh Đường thi đã trở nên đa âm hơn

Tóm lại, Thơ mới đã khiến cho diện mạo thi ca Việt Nam thay đổi Sự bứt phá của nó về nội dung, hình thức thể hiện, thi hứng, bút pháp đã khiến cho vị trí của nó ở một tầm cao, khó có điều gì có thể thay thế được Để học sinh cảm thụ được các tác phẩm Thơ mới, người giáo viên cần nắm vững thi hứng, bút pháp của từng tác phẩm, phong cách của tác giả Và để có thể bắt được cái giọng điệu tình cảm trong các tác phẩm Thơ mới, học sinh cần hứng thú và có cảm nhận, ấn tượng, xúc cảm đầu tiên về tác phẩm mới có thể có được những phân tích, đánh giá, nhận xét sâu sắc Từ trước tới nay, chúng ta chỉ chú ý đi vào phân tích thuần túy văn bản ngôn từ của các tác phẩm Thơ mới, mặc dù thầy giảng hay, trò say sưa nghe nhưng cũng không thể đi tới cái hiệu quả sâu sa của dạy học là khiến cho các em chuyển hóa những kiến thức thu được thành những suy nghĩ, chiêm nghiệm, trở thành nhận thức thành lẽ sống, hoàn thiện nhân cách Để làm được điều này, con đường đi đúng nhất là tác động tới cảm xúc, thông qua cảm xúc để tác động tới nhận thức Cảm xúc trong thơ rất dễ truyền đạt nếu người thầy có khả năng “truyền lửa” cho các

em thông qua phương pháp dạy học của chính mình Khi đã có những cảm xúc, ấn tượng đầu tiên về tác phẩm, học sinh sẽ cố gắng đi sâu vào tư tưởng, chủ đề và hiểu, cảm tác phẩm sâu sắc hơn Để làm được điều này, cần có phương pháp đọc sáng tạo

Trang 37

1.3.2 Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn, trung học phổ thông

1.3.2.1 Về phân phối chương trình

Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), các tác phẩm Thơ mới được đưa vào chương trình Trung học phổ thông là 3 tác phẩm: 1 Vội vàng – Xuân Diệu; 2 Tràng giang – Huy Cận; 3 Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, được bố trí trong khung chương trình Ngữ văn lớp 11 Các tác phẩm

được dạy lần lượt ở các tuần 21; 22; 23 với mức độ cần đạt là: “Hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các bài thơ; Nhận ra được nội dung cảm hứng, hình tượng nhân vật trữ tình, phát hiện các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi bài thơ” [2, tr.120]

1.3.2.2 Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu được chọn lựa vào chương trình dạy học Ngữ văn

(Các tác phẩm của các tác giả Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, các nhà giáo đi sâu, mổ xẻ, phân tích, phê bình từ rất lâu và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Ở đây, chúng tôi chỉ dám khái quát lại một số điều về bút pháp, phong cách, hình thức thể hiện thơ và tư tưởng nghệ thuật của các tác giả thông qua các tác phẩm để từ

đó làm cơ sở vững chắc cho việc vì sao lại tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm này)

a Xuân Diệu – Ông hoàng thơ tình

Xuân Diệu (1916-1985) được Hoài Thanh mệnh danh là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” và được giới nghiên cứu sùng ái gọi tên “ông

Trang 38

hoàng thơ tình” “Ông đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đày sáng tạo” [4, tr.21] Thơ Xuân Diệu thời kì này chứa

đầy những nỗi ưu tư, sầu muộn nhưng xét đến cùng, những nỗi buồn ấy, dù thoáng qua, tưởng là thơ thoát ly hiện thực nhưng trái lại đó chính là niềm khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu Thơ Xuân Diệu nổi bật nhất là thơ ái tình Trong quan niệm của nhà thơ thì tình yêu rộng hơn rất nhiều so

với bản thân nó hoặc ít ra, so với điều mà người ta nghĩ về nó “Ta để trong

ái tình không biết ngần nào là thơ với mộng, những mơ ước bao la, những khát khao vòi vọi, đại dương của thương nhớ và sa mạc của cô đơn, những rừng rú của lo toan và những đồng bằng của chán nản” Và cũng từ đó,

người thi sĩ trẻ đã đưa ra một định nghĩa mới, một tuyên ngôn mới về thơ

tình: “Thơ ái tình, ấy là sự dồi dào của tình yêu sông núi, chim cá; thơ ái tình, ấy là nỗi khô cháy của một cửa hầu khát nước, cảnh đêm sau khi một lữ khách lạc đường, ấy là chân trời mênh mông, thau biển đắng đót, ấy cũng là miền huyền ảo của quá khứ, xứ bí mật của chiêm bao Thơ ái tình, ấy là tình riêng, ấy là tình chung, ấy là sự thâu gồm cả thế giới trong một người, ấy là tất cả, ấy là thơ…” Như vậy, với Xuân Diệu, thơ tình không chỉ là thơ của

hai người, của những tiếng anh – em, thứ thơ ấy cũng giống như bao nhiêu

“lời bướm ong mà trai gái hát qua hàng rào, và hết mùa gió nồm là câu ca cũng mất”

Trong bài tuỳ bút “Thơ và người” khi luận về thi sĩ, Xuân Diệu cũng quan niệm rằng: Người thi sĩ bao giờ cũng điên Tất nhiên cái điên trong quan niệm của Xuân Diệu hoàn toàn khác xa với cái điên trong quan niệm của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử Nếu với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, điên là hình thức của sáng tạo, là sự hiện hình, sự cất tiếng của đau thương, là một thứ siêu nghiệm [22, tr.231] thì với Xuân Diệu, điên lại là sự say mê, sự say đắm, sự

Trang 39

cảm xúc quá mức thường Quan niệm về những phẩm chất khác thường của nhà thơ ở Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Thế Lữ trong phong trào Thơ mới lúc

bấy giờ đều là quan niệm về một “kiểu thi nhân mới, tức là một nhãn quan Thơ mới về con người và thế giới” [23, tr.113] Và như thế, theo Trần Đình Sử: “Quan niệm này dù trong ngữ cảnh chính trị chưa được đánh giá là tích cực thì về phương diện mỹ học vẫn là một bước tiến không nhỏ của ý thức nghệ thuật để khắc phục chủ nghĩa giáo huấn và chủ nghĩa duy lý trung đại”

[23, tr.116] Thơ mới giúp người ta thấy được vai trò của nhà thơ và quá trình sáng tạo thi ca, phá vỡ tính qui phạm trong quan niệm về nhà thơ của văn học trung đại Đây chính là những đóng góp quan trọng của các nhà Thơ mới

Với Xuân Diệu, vẫn là cái tôi duy cảm nhưng làm thơ là bày tỏ cảm xúc của một cái Tôi cá nhân bám chặt vào đời Thơ phải súc tích, phải rắc lại như một thứ thuốc nấu nhiều lần Những sự vật thường vẫn nhạt vẫn loãng, thi sĩ đem kết đọng lại, tụ lại làm nên những câu thơ đậm đà, tài liệu thì vẫn lấy trong đời thường, trong cuộc sống hàng ngày, trong những sự rung động của trái tim, của xương thịt nhưng khi đã đem vào thơ thì tài liệu biến đi và thành ngọc châu Nhà thơ Phontan đã từng nói: Bạn ơi, hãy học suy nghĩ bằng trái tim Và hãy học cảm xúc bằng lí trí Tư tưởng là một bộ khung quan trọng của thơ Với Xuân Diệu, làm thơ không chỉ là thể hiện những rung động sâu

xa trên những câu chữ lung linh mà còn là cách thể hiện một tư tưởng về cuộc sống: hãy yêu lấy cuộc đời Và cũng trên tinh thần ấy, ông kêu gọi: Hãy mở rộng văn chương ra, ta có thể phô diễn tất cả cái buồn xa vắng, lạ lùng của tâm hồn mới, trước cảnh một buổi chiều quê Văn chương không chỉ mô tả mà văn chương còn là sự dò đoán, sự đoán hiểu và nhất là sự sáng tạo Ông chủ trương một thứ thơ ngắn, có thể hiểu là ông nói về sự hàm súc, sự tinh túy

của thơ “Nhà thi sĩ không bán những thùng nước loãng chỉ cốt đẻ tưới đường cho vạn chân đi; người chỉ tặng một hai giọt thơm đựng trong những bình

Trang 40

thủy tinh sáng loáng… như một thứ hương, như một giọt sương tình mà gió đêm gieo trên trời làm làm bằng sự kết đọng của muôn thước khối bong trăng” Bản chất của quá trình làm thơ với Xuân Diệu cũng bao gồm cả khao

khát: Thơ hãy vì con người, khám phá sự sống và tâm hồn con người Thơ là hoa là mộng, thơ cũng là cơm Ta hãy viết những điệu thơ cho đời uống, cho đời ăn Làm thơ không phải là phân tích từng cảm giác một, chỉ ghép những vật liệu cũ càng, những tình cảm giả dối Và Xuân Diệu nhận xét về quá trình

sáng tác thơ của những người hời hợt: “Làm thơ người, làm thơ thực thì khó, cho nên chúng ta tránh sự thực của tâm hồn để tạo nên những lâu dài vu vơ bằng mù sương”

Trong quy trình sáng tạo thơ, theo Xuân Diệu cái chính không phải là vấn đề kỹ thuật mà cái chính phải là chất cảm xúc Nhưng nói như thế không

có nghĩa là ông không coi trọng kỹ thuật làm thơ Trái lại, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ có quan niệm hết sức nghiêm túc, công phu, tỉ mỉ và sâu sắc về nghề thơ, “công việc bếp núc” của nhà thơ Tấy cả những điều đó đặng

đi đến một quan niệm có tính chất then chốt, điểm đến cuối cùng, hay điểm hội tụ các quan niệm về thơ của ông Đó là chất lượng của thơ Xuân Diệu quan niệm một bài thơ hay cũng cho biết được cả một tác giả, hay “tính sổ xong, cái còn lại của các nhà thơ là những bài thơ hay” Ông quan niệm thơ hay là “một vấn đề quan trọng, một vấn đề nền tảng” Việc ông khẳng định thơ hay và phê phán thơ dở là làm tăng mỹ cảm cho người đọc, góp phần nâng cao chất lượng thơ

Tóm lại, với Xuân Diệu, quan niệm nhất quán, bao trùm: Thơ là sự sống tươi trẻ, say mê, nồng ấm; thơ là sản phẩm của cảm xúc, của trí tuệ, là tinh chất cuộc đời Thơ là cuộc sống mà “Đã là cuộc sống, thì chẳng bao giờ

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh. Văn học Việt Nam hiện đại – nhận thức và thẩm định, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại – nhận thức và thẩm định
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Nhóm tác giả. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Nhóm tác giả. Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngữ văn 11, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11, tập 2
5. Nguyễn Ngọc Bích. Tâm lí học nhân cách, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học nhân cách
6. Lê Thị Bừng (và Nguyễn Thị Vân Hương). Những điều kì diệu về tâm lí con người, Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều kì diệu về tâm lí con người
7. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
8. Đỗ Minh Cương (và Nguyễn Thị Doan). Phát triển nguồn nhân lực giáo dục học đại học Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục học đại học Việt Nam
9. Phan Cự Đệ. Tuyển tập, tập 1, Nhà xuất bản Văn học, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2000
10. Phan Cự Đệ (và Nguyễn Toàn Thắng). Hàn Mặc Tử về tác gia tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử về tác gia tác phẩm
Tác giả: Phan Cự Đệ, Nguyễn Toàn Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
11. Hà Minh Đức (chủ biên). Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
12. Nguyễn Thúy Hồng. Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THCS, THPT, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THCS, THPT
Tác giả: Nguyễn Thúy Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
13. Đỗ Đức Hiểu. Đổi mới phê bình văn học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phê bình văn học
14. Lê Đình Kỵ. Thơ mới những bước thăng trầm, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới những bước thăng trầm
15. Mã Giang Lân. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1997
16. Mã Giang Lân. Thơ hình thành và tiếp nhận, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ hình thành và tiếp nhận
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
17. Phan Trọng Luận. Phương pháp dạy học văn, tập 1, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn, tập 1
19. Lữ Huy Nguyên. Xuân Diệu thơ và đời, Nhà xuất bản Văn học, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu thơ và đời
Tác giả: Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2004
20. Vũ Quần Phương. Thơ với lời bình, Nhà xuất bản Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ với lời bình
21. Chu Văn Sơn. Ba đỉnh cao Thơ mới, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao Thơ mới

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  về  không  gian - Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm thơ mới ở lớp 11, ban cơ bản, trung học phổ thông
nh ảnh về không gian (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm